Lời nói đầu
Sự phát triển kinh tế của nớc Cộng hoà nhân dân Trung hoa trong một kỷ
rỡi vừa qua từ bớc ngoặt lịch sử Hội nghị trung ơng III khoá XI Đảng cộng sản
Trung Quốc (tháng 12/1978) đã thu hút sự chú ý của thế giới cũng nh của nớc ta.
Rất nhiều công trình nghiên cứu đã viết về hiện tợng chuyển mình đi lên của đất
nớc khổng lồ vốn trì trệ này với tốc độ cao, liên tục chỉ có các "con rồng Châu
á" mới sánh đợc. Trong những năm xây dựng Trung Quốc hoà nhập vào dòng
chảy kinh tế của thế giới thì thời kỳ cải cách là nhân tố quyết định sự phát triển
kinh tế của đất nớc, khẳng định vị trí của Trung Quốc trên vũ đài kinh tế thế
giới. Thực hiện cải cách kinh tế, Trung Quốc đã từ bỏ nền kinh tế kế hoạch tập
trung cao độ, chuyển dần sang nền kinh tế thị trờng XHCN mà đặc điểm của nó
là năng động và hiệu quả. Thành tựu của cuộc cải cách đã khai thông luồng chảy
cho những trào lu mới mà trớc đây cha bao giờ có đợc ở nớc này. Đó là việc tìm
lối thoát cho xã hội, cách đây khá lâu, một nhà lý luận phơng Tây đã đặt ra câu
hỏi "Những vấn đề gay gắt mà nhân loại phải đơng đầu không thể giải quyết
bằng con đờng TBCN đợc, nhng một xã hội không phải t bản mà đứng vững và
hấp dẫn là xã hội thế nào ? Rồi với nhân loại đang đi tìm một lối thoát, đó là các
cuộc thử nghiệm". Nếu coi cuộc cải cách ở Trung Quốc những năm qa là một
cuộc thử nghiệm thì trong chặng đờng đầu tiên cuộc thử nghiệm đó đã thành
công dù gặp nhiều khó khăn và vấp váp.
Đối với Việt Nam - nớc láng giềng gần gũi của Trung Quốc công cuộc cải
cách kinh tế mà Trung Quốc đã tiến hành trong những năm qua sẽ là bài học
kinh nghiệm quý báu cho quá trình cải cách kinh tế trong nớc, sẽ là động lực
thúc đẩy nền kinh tế thế giới.
Page 1
Đặt vấn đề
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn
phát triển t bản chủ nghĩa, nên cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhiều yếu kém, lạc
hậu và khả năng cạnh tranh còn rất hạn chế. Trong khi đó, thị trờng thế giới và
khu vực đã đợc phân chia bởi hầu hết các nhà sản xuất và phân phối lớn. Ngay cả
thị trờng nội địa cũng cùng chịu sự phân chia này.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế xã hội để ổn định kinh tế
trong nớc và hội nhập quốc tế ta phải chủ trơng xây dựng một nền kinh tế mới,
một nền kinh tế nhiều thành phần đa dạng hoá các hình thức sở hữu.
A- Nội dung và kết quả của công cuộc cải cách kinh tế từ 1978 - 2000.
I-
Cải cách nông nghiệp là nhiệm vụ cần thiết.
Cuộc cải cách lần này thực chất là giao ruộng cho nông dân để họ thực sự
làm chủ đồng ruộng của mình, chỉ trong 5 đến 6 tháng 5,7 triệu đội sản xuất
nông nghiệp đã chuyển thành 180 triệu đơn vị sản xuất gia đình. Trong thời gian
này, toàn bộ ruộng đất, gia súc, nông cụ và các tài sản công hữu khác đã đợc
chia cho các gia đình nông dân. Cuộc cải cạch đã cải thiện đáng kể đời sống
nông thôn, đồng thời cũng đã làm nảy nhiều vấn đề cần giải quyết.
Sau cải cách, toàn bộ số ruộng trên cả nớc đã đợc chia ra nhiều mảnh nhỏ
chia cho nông dân. Kết quả của cuộc cải cách là đáng mừng cho Trung Quốc đã
tìm ra cơ chế, chính sách quản lí nông nghiệp mới phù hợp với quy luật phát
triển kinh tế khách quan đi vào cải cách thực hiện khoán trách nhiệm đến từng
hộ nông dân đi đôi với cải cách chính sách giá cả và cơ chế lu thông nông sản,
thúc đẩy nông nghiệp tăng trởng và phát triển, đi đôi với khoán hệ tạo điều kiện
cho nông nghiệp hơng trấn để phát triển công nghiệp nông thôn, chuyển dịch cơ
cấu nông nghiệp theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Thời kỳ đầu cải cách, nông nghiệp Trung Quốc đã đạt đợc những thành
tựu to lớn, làm rung động cả nớc, nhng từ 1985 sản xuất nông nghiệp bị chững
lại. Nông thôn xuất hiện nhiều vấn đề cấp bách làm tổn hại đến lợi ích của nông
dân, tác hại đến tính tích cực của sản xuất. Nhng không phải tất cả các ngành
kinh tế ở nông thôn Trung Quốc đều gặp khó khăn, các ngành phi nông nghiệp
Page 2
ở nông thôn lại đang rất phát đạt. Cuộc cải cách 1978 đã có 1,5 triệu xí nghiệp
xã đội và khoảng 28 triệu lao động, cuộc cải cách ở nông thôn đã tạo ra những
tiền đề quan trọng cho sự phát triển các xí nghiệp xã đội nhỏ sản xuất tăng trởng
nhanh đòi hỏi các ngành phi nông nghiệp thu nhận. Do vậy 1983 số ngời lao
động trong các xí nghiệp này đã lên khoảng 32 triệu ngời. Năm 1984 xí nghiệp
xã đội đổi tên thành "Xí nghiệp hơng chấn" bao gồm các xí nghiệp tập thể của
xã thôn, xí nghiệp hội kinh doanh 5 ngành lớn công nghiệp , công nghiệp chế
biến nông sản, xây dựng, giao thông vận tải, dịch vụ thơng nghiệp...
+ Những thành tựu phát triển và cải cách nông nghiệp Trung Quốc.
Trong 50 năm qua, đặc biệt là 20 năm cải cách nông nghiệp Trung Quốc
đã có những thành tựu đáng ghi nhận về cơ chế tổ chức, chính sách quản lý nông
nghiệp thích hợp về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, về khoa học công nghệ
nông nghiệp...
Kết quả là tổng sản lợng các loại nông sản chủ yếu đều tăng trởng với mức
độ cao. Diện tích cach tác đến năm 1999 - 2000 đã duy trì ở mức 95 - 96 triệu
ha, trong đó diên tích lúa nớc trên 25 triệu ha, diện tích đất trồng cạn khoảng 70
triệu ha, diện tích gieo trồng khoảng 150 triệu ha, diện tích gieo trồng cây lơng
thực khoảng 110 triệu ha. Thành tựu to lớn nhất của nông nghiệp Trung Quốc 50
năm qua đặc biệt là 20 năm cải cách là sản xuất lơng thực, đảm bảo có cái ăn
cho hơn 1,2 tỉ ngời Trung Quốc, với diện tích canh tác chỉ chiếm khoảng 7%
diện tích canh tác của thế giới nhng đến nay Trung quốc đã sản xuất đợc trên
20% sản lợng lơng thực của thế giới và nuôi sống đợc 22% dân số thế giới. Đây
không chỉ là kỳ tích là niềm tự hào của nền nông nghiệp Trung Quốc trong nửa
thế kỷ qua, mà còn đợc coi là một thành tựu nổi bật đáng khâm phục của nông
nghiệp thế giới. Đến nay Trung Quốc đáng đầu thế giới về tổng sản lợng hạt cốc,
lúa mì, lúa nớc, khoai tây, rau, dầu, lợn và cá. Đứng thứ 2 thế giới về tổng sản lợng ngô, bông, chè, trái cây, cừu và lợng gỗ khai thác hàng năm. Sản lợng nông
sản bình quân đầu ngời của Trung Quốc cha cao vì dân số quá đông trên 1,2 tỷ
ngời. Nhng đối với các nông sản chủ yếu đã có mức tăng trớng nhanh.
Nông nghiệp Trung Quốc chuyển động mạnh mẽ từ công nghiệp cổ truyền
sang công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nửa thế kỷ qua, nông nghiệp Trung
Page 3
Quốc không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng khoa học công nghệ thâm canh cổ
truyền mà đã tích cực nghiên cứu, tìm tòi ứng dụng các công nghệ mới phù hợp
với yêu cầu tăng năng xuất cây trồng và vật nuôi, tăng năng xuất nông nghiệp và
tăng sản lợng đất đai trong từng niên vụ sản xuất.
II- Hiện đại hoá công nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu.
1. Tăng cờng vốn đầu t hiện đại hoá trang thiết bị của các ngành công
nghiệp để sản xuất nhiều hàng xuất khẩu.
Để hiện đại hoá nền công nghiệp Trung Quốc trớc hết tăng cờng đầu t cho
các cơ sở sản xuất bằng các nguồn vốn của Nhà nớc, của t bản nớc ngoài đa vào
và vốn đi vay của nớc ngoài. Vốn của nớc ngoài đợc sử dụng trong thời gian từ
1979 đến 1982 đã lên tới khoảng 98 tỷ USD trong đó có khoảng 34 tỉ USD là
đầu t trực tiếp, khoảng 60 tỉ USD là tín dụng. Trung Quốc nhập nhiều thiết bị
máy móc để thế cho các máy cũ, khuyến khích phát triển các xí nghiệp vừa và
nhỏ, xây dựng thêm nhiều công trình mới, nhằm sản xuất ra nhiều sản phẩm có
chất lợng cao để xuất khẩu. Trung Quốc đã dùng 80% số vốn vay đợc, chủ yếu
để phát triển các ngành mũi nhọn và xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng cho công
nghiệp.
Để sử dụng vốn có hiệu quả, Trung Quốc cũng thay đổi cách quản lý trong
công nghiệp. Các xí nghiệp quốc doanh đợc nới rộng quyền hạn kinh doanh (tự
lập kế hoạch, tự tìm nguyên liệu và thị trờng tiêu thụ...) Nhà nớc chỉ làm nhiệm
vụ điều tiết, chỉ đạo ở cấp vĩ mô. Để có các mặt hàng có sức cạnh tranh trên thị
trờng quốc tế, Trung Quốc một mặt hết sức coi trọng việc nhập khẩu kỹ thuật từ
nớc ngoài, những mặt khác cũng ra sức phát triển và nâng cao chất lợng những
sản phẩm của các ngành công nghiệp truyền thống, các mặt hàng tiêu dùng vốn
có tiếng nh: tơ lụa, dụng cụ gia đình... với chính sách tận dụng nguồn nhân lực
trong nớc để chế biến và để bán ra nớc ngoài các thành phần với giá cao, Trung
quốc vừa giải quyết đợc tình trạng thừa lao động, vừa thu hút đợc nhiều ngoại tệ
mạnh.
2. Những thay đổi trong sản xuất và phân bố công nghiệp.
Page 4
Giá trị sản lợng công nghiệp đã chiếm 45% GDP tỉ lệ hàng công nghiệp
tham gia vào cán cân buôn bán với nớc ngoài ngày càng tăng. Trung Quốc đứng
đầu thế giới về sản lợng than, xi măng, vải bông sợi. Trớc năm 1988 Trung Quốc
phát triển mạnh các ngành công nghiệp truyền thống nh: luyện kim, dệt, công
nghiệp nhẹ.v.v... gần đây Trung Quốc tập trung phát triển nhiều ngành công
nghiệp hiện đại nh: điện tử, cơ khí chính xác, hoá chất và du lịch vv.... nhằm
thay đổi đáng kể cơ cấu các ngành công nghiệp. Các trung tâm công nghiệp cũ ở
vùng Đông Bắc Trung Quốc nh Cáp Nhĩ Tân, Thẩm Dơng, An Sơn với các ngành
công nghiệp nặng đợc tiếp tục phát triển. Các thành phố Bắc Kinh, Thái nguyên,
Bao Đầu (vùng Hoa Bắc) có cả các ngành công nghiệp nặng) công nghiệp nhẹ
và thực phẩm. Ngày nay vùng hạ lu sông Trờng Giang (hoa trung) cũng trở thành
vùng công nghiệp quan trọng với hai trung tâm lớn: Thợng Hải, Vũ Hán. Ngoài
ra các ngành công nghiệp năng lợng, khai khoáng, hoá chất cũng bắt đầu đợc
phát triển mạnh ở các tỉnh và thành phố miền Tây (Lan Châu, Tây An...) đặc biệt
các mặt hàng vậy liệu xây dựng, đồ gốm, sứ, hàng dệt đợc sản xuất ở khắp các
vùng nông thôn.
Tốc độ phát triển công nghiệp tăng nhanh, mức tăng bình quân hàng năm
thời khì 1978 - 1992 là 13,2% giá trị sản phẩm công nghiệp thời kỳ này tính theo
giá so sánh tăng 1,7 lần. Năm 1993 sản xuất tăng trởng mạnh mẽ so với năm
1992 tăng tới 23,6% giá trị sản lợng đạt khoảng 4000 tỉ USD. Giá trị tài sản cố
định của công nghiệp cá nớc năm 1993 tức là tăng 7,3 lần; tỉ trọng hàng xuất
khẩu từ cha đầy một nửa tăng lên 82%. Do đó công nghiệp đã trở thành ngành
sản xuất máy cái, máy dệt, máy chế biến lơng thực, thực phẩm, xe hơi, máy
khâu, quạt điện, đồng hồ... và gần đây còn thêm các ngành máy bay dân dụng,
tàu biển, đồ dùng điện gia đình.
III- Cải cách thế chế ngoại thơng.
Trung Quốc đã thực hiện cải cách điều chỉnh mạnh mẽ trong cả hai mặt
quản lý hành chính ngoại thơng và quản lý kinh doanh của các xí nghiệp, công
ty ngoại thơng bằng các chinh sách:
+ Điều chính cơ cấu quản lý hành chính ngoại thơng.
+ Thực hiện tách chức năng chính quyền xí nghiệp
Page 5
+ Cải cách thể chế kế hoạch ngoại thơng.
+ Cải cách thể chế quản lý ngoại hối và thuế
Sau năm 1979 Trung Quốc đã chú trọng cải cách thể chế qản lý ngoại hối
thông qua một số hình thức, điều chính hối xuất, năm 1994 để thực hiện tốt
chiến lợc phát triển kinh tế đối ngoại. Trung quốc đã bắt đầu thả nổi ngoại tệ có
quản lý. Việc thả nổi hối xuất, không những đã phù hờp với xu thế phát triển của
của nền kinh tế Trung quốc mà nó còn tạo điều kiện cho đồng NDT đi vào thị trờng thế giới.
áp dụng một số biện pháp điều chỉnh trong quản lý ngoại tệ vốn có trong
nhân dân. Trong hoạt động ngoại thơng Trung Quốc cũng đã thực hiện một loạt
các cải cách sau:
- áp dụng một số biện pháp thu thuế xuất nhập khẩu. Đối với hàng hoá xuất
khẩu, nếu hàng hoá có doanh thu lớn thì thu thuế điều tiết xuất khẩu, nếu xuất
khẩu không có lãi hoặc lợi nhuận dới 7,5% thì không thu...
- tăng cờng thúc đẩy các xí nghiệp từng bớc thực hiện đổi lợi nhuận sang thuế,
độc lập kinh doanh, tự chịu lỗ lãi...
- Thực hiện chế độ hoàn vốn xuất khẩu.
Ngoài ra, các quan hệ kinh tế đối ngoại đã góp phần quan trọng vào việc
cải cách kinh tế - xã hội của Trung quốc. Từ năm 1978 tới nay, Trung quốc đã
mạnh dạn thực hiện chính sách mở cửa, tận dụng các điều kiện thuận lợi trong
quan hệ quốc tế để phát triển nền kinh tế quốc dân, để thu hút vốn đầu t của nớc
ngoài. Trung Quốc đã thành lập các đặc khu kinh tế một số thành phố và vùng
ven biển, trong các đặc khu kinh tế, các dịch vụ kinh doanh và hàng hoá xuất
khẩu đều đợc hởng chính sách u đãi. Các đặc khu kinh tế đợc coi là đội quân tiên
phong mở cửa với thế giới bên ngoài của Trung Quốc, một kênh độc đáo để
Trung Quốc tận dụng vốn, kỹ thuật nớc ngoài và liên hệ với thị trờng thế giới và
cũng là nơi thử nghiệm tổng hợp chính sách cải cách của Trung Quốc. Các đặc
khu lớn nh Thẩm Quyến, Chủ Hải, Hạ Môn và Sán Dầu đã đóng góp rất lớn cho
nền kinh tế quốc dân. Các đặc khu kinh tế còn là nơi thí điểm các biện pháp cải
cách kinh tế mới nhằm nêu gơng và thúc đẩy caỉ cách trong nội địa nh lập thị trờng chứng khoán, mua bán cổ phiếu, tuyển chọn ngời tài giỏi. Đây cũng là trờng
Page 6
học đào tạo cán bộ quản lý kinh doanh giỏi, thích nghi vơi thị trờng quốc tế. Mối
giao thơng và liên hệ với Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan cũng tăng lên rõ rệt. Các
đặc khu kinh tế với bốn cửa sổ phục vụ cho mực tiêu kinh tế và chính trị của
Trung Quốc đã làm đợc chức năng của chúng về cơ bản.
Trung quốc còn tích cực vay tiền của nớc ngoài (Nhật, Bỉ, Hà Lan, ngân
hàng thế giới...) để phát triển kinh tế trong nớc. Cho tới năm 1995 Trung Quốc
đã dùng trên 160 tỉ USD vốn đầu t của nớc ngoài để xây dựng các công trình
trong các lĩnh vực khác nhau nh năng lợng, giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng.
Trung Quốc một mặt tăng cờng trao đổi khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý
kinh tế với nớc ngoài, mặt khác mở rộng buồn bán với thế giới. Hàng xuất khẩu
chủ yếu là hàng dệt, sản phẩm công nghiệp nhẹ, thực phẩm, gia cầm... Hàng
nhập khẩu phần lớn là máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, một ít hàng tiêu dùng
và nông phẩm. Tổng xuất khẩu kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1993 lên tới 280
tỉ USD. Trung Quốc còn chú ý đến việc khai tác các di tích văn hoá, lịch sử và
cảnh quan thiên nhiên để phục vụ du lịch. Năm 1995 đã có khoảng 46 triệu
khách du lịch đã tới thăm Trung Quốc. Năm 1995 nguồn thu của ngành này nên
đến khoảng 9 tỉ USD.
B. Công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay:
1- Chủ trơng đổi mới về kinh tế của Đảng và Nhà nớc:
Đại hội VI (12-1986) của Đảng là mốc lịch sử quan trọng trên con đờng
đổi mới toàn diện và sâu sắc ở nớc ta, trong đó có sự đổi mới về các quan điểm
kinh tế. Đến các hội nghị lần thứ hai (4 - 1987), lần thứ 3 (8- 1987) và thứ sáu 4 1989). Ban chấp hành trung ơng lại cụ thể hoá một bớc những quan điểm mới về
kinh tế của Đảng ta, một số quan điểm đó là:
a- Về cải tạo xã hội chủ nghĩa:
Dựa trên sự tổng kết thực tiễn của nhiều năm qua. Đại hội VI đã xem xét
lại một cách căn bản vấn đề cải tạo xã hội chủ nghĩa và đã đa ra một số quan
điểm mới về vấn đề này nh:
Page 7
- Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần: Kinh tế t bản chủ nghĩa, kinh tế
tiều sản xuất hàng hoá, kinh tế t bản t nhân, kinh tế t bản Nhà nớc, kinh tế tự
nhiên tự cấp tự túc trong một bộ phần đồng bào dân tộc thiểu số.
Phát triển kinh tế nhiều thành phần là một chủ trơng chiến lợc lâu dài và là
một đặc trng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
- "Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm xvụ thờng xuyên, liên tục
trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bớc đi
thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, luôn luôn có tác dụng thúc đẩy phát triển của lực lợng sản xuất.
b- Về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.
Trong những năm qua do nhận thức phiến diện về công nghiệp hoá xã hội
chủ nghĩa đã dẫn đến khuynh hớng ham xây dựng công nghiệp nặng, ham quy
mô lớn và thiên về xây dựng mới, làm gay gắt thêm nhiều mặt mất cân đối trong
nền kinh tế. Để khắc phục tình trạng đó, đại hội VI đã đề ra chủ trơng điều chỉnh
lại cơ cấu đầu t theo hớng "Phải thật sự tập trung sức ngời, sức của vào việc thực
hiện cho đợc ba chơng trình mục tiêu về lơng thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu".
Đại hội VI đã khẳng định vị trí hàng đầu của nông nghiệp, kể cả lâm, ng
nghiệp, cũng nh vài trò to lớn của công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, còn
công nghiệp nặng phải phát triển một cách có chọn lọc, hợp với sức mình nhằm
phục vụ đắc lực yêu cầu phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
c- Về cơ cấu quản lý kinh tế:
Cơ cấu quản lý tập trung quan liêu bao cấp từ nhiều năm đã không tạo đợc
động lực phát triển và gây ra nhiều hiện tợng tiêu cực trong xã hội. Do đó, Đại
hội VI đã chủ trơng đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế, mà thực chất của cơ chế
mới đó là: cơ chế kế hoạch hoá theo phơng thức hạch toán kinh tế xã hội chủ
nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Hội nghị trung ơng lần thứ VI (4 - 1989) đã khẳng định đờng lối đổi mới
do đại hội VI đề ra là đúng đắn và nêu lên phơng hớng chỉ đạo công cuộc đổi
mới trong thời gian tới.
Page 8
d- Về kinh tế đối ngoại:
Đại hội VI đã rút ra một bài học kinh nghiêm đó là phải biết kết hợp sức
mạnh của cả dân tộc, sức mạnh của thời đại. Do đó chính sách kinh tế đối ngoại
của nớc ta trong sự nghiệp đổi mới đã đợc đề ra nh sau:
- Đẩy mạnh xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu
- Phát triển và mở rộng hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật với bên ngoài,
áp dụng rộng rãi các hình thức hợp tác và liên kết với các nớc xã hội chủ nghĩa
và các nớc khác.
- Đa dạng hoá thị trờng và phơng hớng hoạt động theo quan điểm mở cửa
và từng bớc gắn niền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, thị trờng trong nớc
với thị trờng quốc tế trên nguyên tắc bảo đảm độc lập, chủ quyền dân tộc, an
ninh quốc gia và cùng có lợi.
2- Các phơng hớng lớn về kinh tế do đại hội VII đề ra:
Đại hội VII (6-1991) của Đảng càng tiếp tục khẳng định và hoàn thiện
thêm đờng lối mới do đại hội Đảng VI đã đề ra mà cụ thể nh sau:
a- Về cơ cấu ngành và vùng:
- Phát triển nông lâm ng nghiệp với công nghiệp chế biến, phát triển một
cách toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn đây mới là nhiệm vụ
hàng đầu và quan trọng để ổn định tình hình kinh tế xã hội ở nớc ta.
- Đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu đáp ứng nhu cầu
đa dạng, chất lợng ngày càng đợc nâng lên, phục vụ tốt tiêu dùng trong nớc và
xuất khẩu. Từ đó làm tăng thêm nhiều việc làm cho ngời lao động, giảm bớt tỷ lệ
thất nghiệp.
- Phát triển một số ngành nông nghiệp nặng mà trớc hết là phục vụ cho
sản xuất nông - lâm - ng nghiệp, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
- Phát triển kết cấu hạ tầng, sớm khắc phục tình trạng xuống cấp, mở rộng
hiện đại hoá có trọng điểm mạng lới giao thông vận tải, chú trọng cho việc phát
triển vận tải đờng sông, đờng biển, đờng sắt và hàng không quốc tế. Ngoài ra
cũng luôn chú trọng đến sự phát triển của giao thông nông thôn và miền núi.
- Sắp xếp lại và phát triển các loại hình dịch vụ kinh tế - ký thuật đáp ứng
yêu cầu của sản xuất, đời sống và với sự hợp tác quốc tế.
Page 9
b- Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đổi mới quản lý
kinh tế.
Đảng và Nhà nớc ta nhanh chóng sắp xếp lại và củng cố các đơn vị kinh
tế, tiếp tục đổi mới và kiện toàn kinh tế tập thể theo nguyên tắc bình đẳng, dân
chủ và tự nguyện, phát triển mạnh kinh tế gia đình bằng nhiều hình thức. Nâng
cao chất lợng kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân, lấy thị trờng làm đối tợng và là
căn cứ quan trọng nhất.
3- Những thành tựu kinh tế đã đạt đợc trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Trải qua gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế, nền kinh tế nớc ta
đã đạt đợc những thành tựu to lớn và có ý nghĩa rất quan trọng cụ thể nh:
a- Nhịp độ phát triển kinh tế hoá nhanh và ổn định: Trong nông nghiệp
sản lợng lơng thực đã tăng rất nhanh từ 21,5 triệu tấn (năm 1990) lên 27,5 triệu
tấn (năm 1995). Những chuyển biến trên đã góp phần vào việc ổn định đời sống
cho nhân dân và cải thiện đợc tình trạng xuất nhập khẩu lơng thực.
b- Đẩy lùi nạn lạm phát: Nạn lạm phát ở nớc ta là một vấn đề hết sức bức
xúc và đáng đợc quan tâm, trong những năm gần đây tỷ lệ lạm phát ở nớc ta đã
đợc đẩy lùi một cách đáng kể từ 3 con số xuống còn ở mức 2 con số, trong khi
đó tốc độ tăng trởng kinh tế khá cao.
c- Đời sống nhân dân: Tuy còn nhiều khó khăn nhng nhìn chung đời sống
của nhân dân cũng đã đợc cải thiện. Sau 10 năm đổi mới nớc ta đã ra khỏi tình
trạng khủng hoảng kinh tế xã hội, nhng vẫn còn một số mặt vẫn cha đợc củng cố
vững chắc.
Những thành tựu kinh tế - xã hội đã đạt đợc ở trên là kết quả của đờng lối
đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo, những kết quả đó có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc nâng cao lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nớc và chế độ
ra. Uy tín của nớc ta trên trờng quốc tế cũng đợc nâng cao.
4- Những khó khăn, hạn chế và bài học kinh nghiệm:
a- Khó khăn - yếu kém.
Tuy nớc ta đã bớc ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế nhng nền kinh
tế nớc ta vẫn mang tính chất nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp còn nhỏ bé, kết
cấu hạ tầng kém phát triển, cơ sở vật chất, kỹ thuật cha xây dựng đáng kể. Nớc ta
Page 10
còn nghèo nhng cha thực hiện tốt cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu
dùng.
Nền kinh tế có mức tăng trởng khá nhng năng xuất, chất lợng và hiệu quả
còn rất thấp. Vai trò quản lý của Nhà nớc đối với nền kinh tế - xã hội còn yếu,
khả năng ngăn chặn nạn lạm phát còn cha vững chắc. Ngân sách thu không đủ
chi, tỷ lệ bộ chi ngân sách còn cao.
Tình trạng bất công trong xã hội vẫn còn, tham ô, tham nhũng, buôn lậu, vi
phạm kỷ cơng còn rất nạng nề và phổ biến. Mà nguyên nhân chính là do kết quả
của nhiều năm trớc để lại và do những tác động bất lợi của tình hình thế giới.
b- Bài học kinh nghiệm:
Từ thực tiễn gần 20 năm đổi mới, chúng ta có thể rút ra một bài học kinh
nghiệm cho mình đó là phải giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội trong quá trình đổi mới, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới hệ thống
chính trị với đồi mới kinh tế, kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu giữa đổi mới kinh tế
với đổi mới chính trị.
C- Kết luận
Qua nghiên cứu ta cần khẳng định rằng, cuộc cải cách kinh tế cảu Trung
Quốc là nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế của riêng ngời Trung Quốc và
cũng chỉ ngời Trung Quốc giải quyết đợc. Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt
Nam trong những năm qua thu đợc những kết quả tuy còn khiêm nhờng, song đó
là do Đảng và Nhà nớc Việt Nam đã biết tiếp thu thành quả và kinh nghiệm của
các nớc, trong đó có Trung Quốc, đề ra những chủ trơng biện pháp gắn liền với
thực tế Việt Nam. Chính vì vậy cả những tơng đồng và khác biệt của Việt Nam
và Trung Quốc trong sự nghiệp chuyển đổi thể chế kinh tế cần đợc tiếp thu
nghiên cứu một cách kỹ lỡng và sâu sắc hơn.
Page 11
Năm 1978 ghi nhận sự kiện lịch sử quan trọng của Trung Quốc vào tháng
11/1978. Tại Hội nghị lần 3 của Đại hội 11, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã vạch
rõ những quan điểm tả khuynh về kinh tế, chính trị của thời gian trớc đó là
nguyên nhân gây nên sự trì trệ về kinh tế xã hội.
Tại Hội nghị lần 3 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xem xét đánh giá
toàn diện thực trạng của nền kinh tế Trung Quốc với nông nghiệp thì 700 triệu
nông dân dòng lao động thủ công là phổ biến, với công nghiệp thì nhiều ngành
sản xuất còn lạc hậu. Sản xuất công nông nghiệp còn thấp, trình độ khoa học kỹ
thuật còn kém,... nền kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên còn chiếm tỉ trọng tơng đối
lớn trong nền kinh tế.
-Với thực trạng kinh tế nói trên, nếu tiếp tục kéo dài sẽ đa đất nớc vào con đờng
bế tắc, khủng hoảng. Từ những xem xét và đánh giá thực trạng nền KTXH Trung
Quốc đã nhìn nhận lại Trung Quốc đang ở giai đoạn nào của sự phát triển lịch sử
có những nhìn nhận về đất nớc mình nh vậy nên Trung Quốc đã coi đây là một
vấn đề rất quan trọng và có nh vậy mới xác lập đợc hệ thống quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ cuả lực lợng sản xuất trong hoàn cảnh cụ thể.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy trớc đây Trung Quốc có xu hớng đốt cháy giai
đoạn, đặt đất nớc vào tình trạng mà nó cha đạt tới. Do vậy đã áp đặt quan hệ sản
xuất "XHCN tiên tiến " vào điều kiện sản xuất thủ công lạc hậu. Bức tranh quá
khứ về các công xã nhân dân quy mô tới 5000 hộ, khi nông nghiệp mới ở trình
độ "Nền văn minh đòn gánh" bên cạnh đó các công xã này còn áp dụng chế độ
phân phối theo nhu cầu, với t tởng "cả nớc ăn chung một nồi cơm to" "Cả nớc
cùng quá độ nghèo đi lên chủ nghĩa xã hội". Trên thực trạng kinh tế.
*Trung Quốc cho rằng đất nớc đang ở giai đoạn đầu của CNXH, giai đoạn này
kéo dài ít nhất là 100 năm. Đó là thời gian cần thiết để Trung Quốc thực hiện
những việc mà nhiều nớc đang thực hiện trong điều kiện TBCN. Trớc khi các nớc này tiền hành cách mạng XHCN, thơng phẩm hoá, xã hội hoá và hiện đại hoá
sản xuất.
Từ xem xét thực trạng kinh tế xã hội, chuyển sang phơng diện lý luận.
Trung quốc cho rằng trong quá trình nghiên cứu, C. Mác không đặt ra cho mình
nhiệm vụ đa ra mô hình cụ thể về xã hội tơng lai, C.Mác đã đa ra những dự án
Page 12
thiên tài về xã hội tơng lai. Đó là sự hiện tợng hoá cao độ với nền kinh tế có lực
lợng sản xuất đạt tới trình độ cao, nhng trên thực tế, công cuộc xây dựng,
"CNXH hiện thực" ở mỗi nớc lại tiến hành trong điều kiện lịch sử khác nhau và
có khoảng cách rất lớn so với sự trừu tợng hoá của C.Mác. Đặc biệt với Trung
Quốc, nền kinh tế còn ở trình độ rất thấp với cách xem xét và đánh giá về phơng
diện lý luận và thực tiễn nói trên là cơ sở cho việc khởi thảo đờng lối cải cách và
mở cửa của nền kinh tế ở Trung quốc.
B- Nội dung và kết quả của công cuộc cải cách kinh tế từ 1978 - 2000.
II-
Cải cách nông nghiệp là nhiệm vụ cần thiết.
Cuộc cải cách lần này thực chất là giao ruộng cho nông dân để họ thực sự
làm chủ đồng ruộng của mình, chỉ trong 5 đến 6 tháng 5,7 triệu đội sản xuất
nông nghiệp đã chuyển thành 180 triệu đơn vị sản xuất gia đình. Trong thời gian
này, toàn bộ ruộng đất, gia súc, nông cụ và các tài sản công hữu khác đã đợc
chia cho các gia đình nông dân. Cuộc cải cạch đã cải thiện đáng kể đời sống
nông thôn, đồng thời cũng đã làm nảy nhiều vấn đề cần giải quyết.
Sau cải cách, toàn bộ số ruộng trên cả nớc đã đợc chia ra nhiều mảnh nhỏ
chia cho nông dân. Kết quả của cuộc cải cách là đáng mừng cho Trung Quốc đã
tìm ra cơ chế, chính sách quản lí nông nghiệp mới phù hợp với quy luật phát
triển kinh tế khách quan đi vào cải cách thực hiện khoán trách nhiệm đến từng
hộ nông dân đi đôi với cải cách chính sách giá cả và cơ chế lu thông nông sản,
thúc đẩy nông nghiệp tăng trởng và phát triển, đi đôi với khoán hệ tạo điều kiện
cho nông nghiệp hơng trấn để phát triển công nghiệp nông thôn, chuyển dịch cơ
cấu nông nghiệp theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Thời kỳ đầu cải cách, nông nghiệp Trung Quốc đã đạt đợc những thành
tựu to lớn, làm rung động cả nớc, nhng từ 1985 sản xuất nông nghiệp bị chững
lại. Nông thôn xuất hiện nhiều vấn đề cấp bách làm tổn hại đến lợi ích của nông
dân, tác hại đến tính tích cực của sản xuất. Nhng không phải tất cả các ngành
kinh tế ở nông thôn Trung Quốc đều gặp khó khăn, các ngành phi nông nghiệp
ở nông thôn lại đang rất phát đạt. Cuộc cải cách 1978 đã có 1,5 triệu xí nghiệp
xã đội và khoảng 28 triệu lao động, cuộc cải cách ở nông thôn đã tạo ra những
tiền đề quan trọng cho sự phát triển các xí nghiệp xã đội nhỏ sản xuất tăng trởng
Page 13
nhanh đòi hỏi các ngành phi nông nghiệp thu nhận. Do vậy 1983 số ngời lao
động trong các xí nghiệp này đã lên khoảng 32 triệu ngời. Năm 1984 xí nghiệp
xã đội đổi tên thành "Xí nghiệp hơng chấn" bao gồm các xí nghiệp tập thể của
xã thôn, xí nghiệp hội kinh doanh 5 ngành lớn công nghiệp , công nghiệp chế
biến nông sản, xây dựng, giao thông vận tải, dịch vụ thơng nghiệp...
+ Những thành tựu phát triển và cải cách nông nghiệp Trung Quốc.
Trong 50 năm qua, đặc biệt là 20 năm cải cách nông nghiệp Trung Quốc
đã có những thành tựu đáng ghi nhận về cơ chế tổ chức, chính sách quản lý nông
nghiệp thích hợp về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, về khoa học công nghệ
nông nghiệp...
Kết quả là tổng sản lợng các loại nông sản chủ yếu đều tăng trởng với mức
độ cao. Diện tích cach tác đến năm 1999 - 2000 đã duy trì ở mức 95 - 96 triệu
ha, trong đó diên tích lúa nớc trên 25 triệu ha, diện tích đất trồng cạn khoảng 70
triệu ha, diện tích gieo trồng khoảng 150 triệu ha, diện tích gieo trồng cây lơng
thực khoảng 110 triệu ha. Thành tựu to lớn nhất của nông nghiệp Trung Quốc 50
năm qua đặc biệt là 20 năm cải cách là sản xuất lơng thực, đảm bảo có cái ăn
cho hơn 1,2 tỉ ngời Trung Quốc, với diện tích canh tác chỉ chiếm khoảng 7%
diện tích canh tác của thế giới nhng đến nay Trung quốc đã sản xuất đợc trên
20% sản lợng lơng thực của thế giới và nuôi sống đợc 22% dân số thế giới. Đây
không chỉ là kỳ tích là niềm tự hào của nền nông nghiệp Trung Quốc trong nửa
thế kỷ qua, mà còn đợc coi là một thành tựu nổi bật đáng khâm phục của nông
nghiệp thế giới. Đến nay Trung Quốc đáng đầu thế giới về tổng sản lợng hạt cốc,
lúa mì, lúa nớc, khoai tây, rau, dầu, lợn và cá. Đứng thứ 2 thế giới về tổng sản lợng ngô, bông, chè, trái cây, cừu và lợng gỗ khai thác hàng năm. Sản lợng nông
sản bình quân đầu ngời của Trung Quốc cha cao vì dân số quá đông trên 1,2 tỷ
ngời. Nhng đối với các nông sản chủ yếu đã có mức tăng trớng nhanh.
Nông nghiệp Trung Quốc chuyển động mạnh mẽ từ công nghiệp cổ truyền
sang công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nửa thế kỷ qua, nông nghiệp Trung
Quốc không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng khoa học công nghệ thâm canh cổ
truyền mà đã tích cực nghiên cứu, tìm tòi ứng dụng các công nghệ mới phù hợp
Page 14
với yêu cầu tăng năng xuất cây trồng và vật nuôi, tăng năng xuất nông nghiệp và
tăng sản lợng đất đai trong từng niên vụ sản xuất.
II- Hiện đại hoá công nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu.
3. Tăng cờng vốn đầu t hiện đại hoá trang thiết bị của các ngành công
nghiệp để sản xuất nhiều hàng xuất khẩu.
Để hiện đại hoá nền công nghiệp Trung Quốc trớc hết tăng cờng đầu t cho
các cơ sở sản xuất bằng các nguồn vốn của Nhà nớc, của t bản nớc ngoài đa vào
và vốn đi vay của nớc ngoài. Vốn của nớc ngoài đợc sử dụng trong thời gian từ
1979 đến 1982 đã lên tới khoảng 98 tỷ USD trong đó có khoảng 34 tỉ USD là
đầu t trực tiếp, khoảng 60 tỉ USD là tín dụng. Trung Quốc nhập nhiều thiết bị
máy móc để thế cho các máy cũ, khuyến khích phát triển các xí nghiệp vừa và
nhỏ, xây dựng thêm nhiều công trình mới, nhằm sản xuất ra nhiều sản phẩm có
chất lợng cao để xuất khẩu. Trung Quốc đã dùng 80% số vốn vay đợc, chủ yếu
để phát triển các ngành mũi nhọn và xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng cho công
nghiệp.
Để sử dụng vốn có hiệu quả, Trung Quốc cũng thay đổi cách quản lý trong
công nghiệp. Các xí nghiệp quốc doanh đợc nới rộng quyền hạn kinh doanh (tự
lập kế hoạch, tự tìm nguyên liệu và thị trờng tiêu thụ...) Nhà nớc chỉ làm nhiệm
vụ điều tiết, chỉ đạo ở cấp vĩ mô. Để có các mặt hàng có sức cạnh tranh trên thị
trờng quốc tế, Trung Quốc một mặt hết sức coi trọng việc nhập khẩu kỹ thuật từ
nớc ngoài, những mặt khác cũng ra sức phát triển và nâng cao chất lợng những
sản phẩm của các ngành công nghiệp truyền thống, các mặt hàng tiêu dùng vốn
có tiếng nh: tơ lụa, dụng cụ gia đình... với chính sách tận dụng nguồn nhân lực
trong nớc để chế biến và để bán ra nớc ngoài các thành phần với giá cao, Trung
quốc vừa giải quyết đợc tình trạng thừa lao động, vừa thu hút đợc nhiều ngoại tệ
mạnh.
4. Những thay đổi trong sản xuất và phân bố công nghiệp.
Giá trị sản lợng công nghiệp đã chiếm 45% GDP tỉ lệ hàng công nghiệp
tham gia vào cán cân buôn bán với nớc ngoài ngày càng tăng. Trung Quốc đứng
đầu thế giới về sản lợng than, xi măng, vải bông sợi. Trớc năm 1988 Trung Quốc
phát triển mạnh các ngành công nghiệp truyền thống n h: luyện kim, dệt, công
Page 15
nghiệp nhẹ.v.v... gần đây Trung Quốc tập trung phát triển nhiều ngành công
nghiệp hiện đại nh: điện tử, cơ khí chính xác, hoá chất và du lịch vv.... nhằm
thay đổi đáng kể cơ cấu các ngành công nghiệp. Các trung tâm công nghiệp cũ ở
vùng Đông Bắc Trung Quốc nh Cáp Nhĩ Tân, Thẩm Dơng, An Sơn với các ngành
công nghiệp nặng đợc tiếp tục phát triển. Các thành phố Bắc Kinh, Thái nguyên,
Bao Đầu (vùng Hoa Bắc) có cả các ngành công nghiệp nặng) công nghiệp nhẹ
và thực phẩm. Ngày nay vùng hạ lu sông Trờng Giang (hoa trung) cũng trở thành
vùng công nghiệp quan trọng với hai trung tâm lớn: Thợng Hải, Vũ Hán. Ngoài
ra các ngành công nghiệp năng lợng, khai khoáng, hoá chất cũng bắt đầu đợc
phát triển mạnh ở các tỉnh và thành phố miền Tây (Lan Châu, Tây An...) đặc biệt
các mặt hàng vậy liệu xây dựng, đồ gốm, sứ, hàng dệt đợc sản xuất ở khắp các
vùng nông thôn.
Tốc độ phát triển công nghiệp tăng nhanh, mức tăng bình quân hàng năm
thời khì 1978 - 1992 là 13,2% giá trị sản phẩm công nghiệp thời kỳ này tính theo
giá so sánh tăng 1,7 lần. Năm 1993 sản xuất tăng trởng mạnh mẽ so với năm
1992 tăng tới 23,6% giá trị sản lợng đạt khoảng 4000 tỉ USD. Giá trị tài sản cố
định của công nghiệp cá nớc năm 1993 tức là tăng 7,3 lần; tỉ trọng hàng xuất
khẩu từ cha đầy một nửa tăng lên 82%. Do đó công nghiệp đã trở thành ngành
sản xuất máy cái, máy dệt, máy chế biến lơng thực, thực phẩm, xe hơi, máy
khâu, quạt điện, đồng hồ... và gần đây còn thêm các ngành máy bay dân dụng,
tàu biển, đồ dùng điện gia đình.
III- Cải cách thế chế ngoại thơng.
Trung Quốc đã thực hiện cải cách điều chỉnh mạnh mẽ trong cả hai mặt
quản lý hành chính ngoại thơng và quản lý kinh doanh của các xí nghiệp, công
ty ngoại thơng bằng các chinh sách:
+ Điều chính cơ cấu quản lý hành chính ngoại thơng.
+ Thực hiện tách chức năng chính quyền xí nghiệp
+ Cải cách thể chế kế hoạch ngoại thơng.
+ Cải cách thể chế quản lý ngoại hối và thuế
Sau năm 1979 Trung Quốc đã chú trọng cải cách thể chế qản lý ngoại hối
thông qua một số hình thức, điều chính hối xuất, năm 1994 để thực hiện tốt
Page 16
chiến lợc phát triển kinh tế đối ngoại. Trung quốc đã bắt đầu thả nổi ngoại tệ có
quản lý. Việc thả nổi hối xuất, không những đã phù hờp với xu thế phát triển của
của nền kinh tế Trung quốc mà nó còn tạo điều kiện cho đồng NDT đi vào thị trờng thế giới.
áp dụng một số biện pháp điều chỉnh trong quản lý ngoại tệ vốn có trong
nhân dân. Trong hoạt động ngoại thơng Trung Quốc cũng đã thực hiện một loạt
các cải cách sau:
- áp dụng một số biện pháp thu thuế xuất nhập khẩu. Đối với hàng hoá xuất
khẩu, nếu hàng hoá có doanh thu lớn thì thu thuế điều tiết xuất khẩu, nếu xuất
khẩu không có lãi hoặc lợi nhuận dới 7,5% thì không thu...
- tăng cờng thúc đẩy các xí nghiệp từng bớc thực hiện đổi lợi nhuận sang thuế,
độc lập kinh doanh, tự chịu lỗ lãi...
- Thực hiện chế độ hoàn vốn xuất khẩu.
Ngoài ra, các quan hệ kinh tế đối ngoại đã góp phần quan trọng vào việc
cải cách kinh tế - xã hội của Trung quốc. Từ năm 1978 tới nay, Trung quốc đã
mạnh dạn thực hiện chính sách mở cửa, tận dụng các điều kiện thuận lợi trong
quan hệ quốc tế để phát triển nền kinh tế quốc dân, để thu hút vốn đầu t của nớc
ngoài. Trung Quốc đã thành lập các đặc khu kinh tế một số thành phố và vùng
ven biển, trong các đặc khu kinh tế, các dịch vụ kinh doanh và hàng hoá xuất
khẩu đều đợc hởng chính sách u đãi. Các đặc khu kinh tế đợc coi là đội quân tiên
phong mở cửa với thế giới bên ngoài của Trung Quốc, một kênh độc đáo để
Trung Quốc tận dụng vốn, kỹ thuật nớc ngoài và liên hệ với thị trờng thế giới và
cũng là nơi thử nghiệm tổng hợp chính sách cải cách của Trung Quốc. Các đặc
khu lớn nh Thẩm Quyến, Chủ Hải, Hạ Môn và Sán Dầu đã đóng góp rất lớn cho
nền kinh tế quốc dân. Các đặc khu kinh tế còn là nơi thí điểm các biện pháp cải
cách kinh tế mới nhằm nêu gơng và thúc đẩy caỉ cách trong nội địa nh lập thị trờng chứng khoán, mua bán cổ phiếu, tuyển chọn ngời tài giỏi. Đây cũng là trờng
học đào tạo cán bộ quản lý kinh doanh giỏi, thích nghi vơi thị trờng quốc tế. Mối
giao thơng và liên hệ với Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan cũng tăng lên rõ rệt. Các
đặc khu kinh tế với bốn cửa sổ phục vụ cho mực tiêu kinh tế và chính trị của
Trung Quốc đã làm đợc chức năng của chúng về cơ bản.
Page 17
Trung quốc còn tích cực vay tiền của nớc ngoài (Nhật, Bỉ, Hà Lan, ngân
hàng thế giới...) để phát triển kinh tế trong nớc. Cho tới năm 1995 Trung Quốc
đã dùng trên 160 tỉ USD vốn đầu t của nớc ngoài để xây dựng các công trình
trong các lĩnh vực khác nhau nh năng lợng, giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng.
Trung Quốc một mặt tăng cờng trao đổi khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý
kinh tế với nớc ngoài, mặt khác mở rộng buồn bán với thế giới. Hàng xuất khẩu
chủ yếu là hàng dệt, sản phẩm công nghiệp nhẹ, thực phẩm, gia cầm... Hàng
nhập khẩu phần lớn là máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, một ít hàng tiêu dùng
và nông phẩm. Tổng xuất khẩu kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1993 lên tới 280
tỉ USD. Trung Quốc còn chú ý đến việc khai tác các di tích văn hoá, lịch sử và
cảnh quan thiên nhiên để phục vụ du lịch. Năm 1995 đã có khoảng 46 triệu
khách du lịch đã tới thăm Trung Quốc. Năm 1995 nguồn thu của ngành này nên
đến khoảng 9 tỉ USD.
C- So sánh kinh tế Trung Quốc và Việt Nam trong công cuộc cải
cách và mở cửa.
Những điểm giống và khác nhau giữa 2 nớc.
Cải cách kinh tế ở Trung Quốc hay đổi mới kinh tế ở Việt Nam đều có
mục tiêu chung là loại bỏ thể chế kinh tế cũ đã lỗi thời, tìm tòi và thiết lập thể
chế kinh tế mới phù hợp hơn với những hoàn cảnh thực tế và những điều kiện
thay đổi. Tuy nhiên, chúng diễn ra trên những tập quán, những chính sách quản
lý xã hội khác nhau... do đó, chúng có những sự tơng đồng cũng nh dị biệt rất cơ
bản về quan điểm, chính sách cũng nh biện pháp thực hành.
1- Những điểm giống nhau giữa 2 nớc.
Mô hình kinh tế mới mà Trung Quốc và Việt Nam lựa chọn về từ ngữ có
đôi chút khác nhau song căn cứ vào cách giải thích chính thức về nội dung
chúng có nhiều cái chung.
- Thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu trong đó sở hữu cộng đồng
làm nền tảng.
- Nhà nớc có vai trò định hớng, điều hành nền kinh tế chủ yếu bằng kế hoạch
gián tiếp và các công cụ thị trờng.
Page 18
- Hình thành một cách đồng bộ các thị trờng tiêu dùng t liệu sản xuất, tiền tệ,
sức lao động...
- Coi phân phối lao động là chính, đồng thời thừa nhận các hình thức phân phối
khác nh nhờ thời cơ, nh lợi tức cho vay, nhờ mở doanh nghiệp....
- Mở cửa nền kinh tế thị trờng phát triển rộng rãi ra thị trờng thế giới.
ở Trung Quốc cũng nh ở Việt Nam, nông nghiệp và các xí nghiệp quốc
doanh có vai trò trụ cột trong nền kinh tế quốc dân. Song trớc đây cả hai trụ cột
này đều bị lung lay nghiêm trọng do chính sách công hữu hoá và quản lý điều
hành chính sách mệnh lệnh, do đó cả hai nớc đều phải tìm cách giải phóng năng
lực sản xuất, trả quyền tự chủ cho các đơn vị kinh doanh. Trên thế giới, không có
quốc gia nào có thể làm giàu, cất cánh đợc nhờ phát triển nông nghiệp nhng Việt
Nam và Trung Quốc đều vẫn phải đang ở giai đoạn phải coi trọng nông nghiệp.
Trong quá khứ cả hai nớc đều đã phải trả giá đắt cho chính sách u tiên phát triển
công nghiệp nặng một cách vội vã, để rồi luôn luôn phải điều chỉnh lại, đa nông
nghiệp lên hàng đầu. Là những nớc nông nghiệp, tiểu nông chiếm u thế tuyệt
đối, đại bộ phận ngời lao động còn tập trung sản xuất khai thác ruộng đất thì
khâu đột phá quan trọng nhất mà Trung Quốc và Việt Nam pảhi thực hiện trớc
hết và chủ yếu là giải phóng năng lực sản xuất tạo quyền tự chủ kinh doanh cho
hàng trăm triệu nông hộ ở Trung Quốc và hàng chục triệu nông hộ ở Việt Nam.
Thực ra cải cách nông thôn ở Trung Quốc cũng nh ở Việt Nam đều do nông dân
tự phát làm từ lâu, đều bị vùi dập và phê páhn nhng vẫn tồn tại một cách âm
thầm và dai dẳng cho đến khi các cấp lãnh đạo phát hiện và thừa nhận hiệu quả
đã nâng lên thành chính sách chung và lan nhanh cả nớc. Điều đó xảy ra ở các
tỉnh Tứ Xuyên, An Huy của Trung Quốc và tỉnh Vĩnh Phúc của Việt Nam những
năm 60.
Trung Quốc và Việt Nam đều chủ trơng mở cửa nền kinh tế với thế giới,
thu hẹp khoảng cách kinh tế với các nớc phát triển.
Các dn Nhà nớc ở Việt Nam và Trung Quốc tuy đều đã đợc áp dụng nhiều
biện pháp cải cách, nhng phần lớn đều kinh doanh kém hiệu quả, thậm chí thua
lỗ kéo dài. Một số giám độc lộng hành, chiếm dụng tài sản xí nghiệp, tình trạng
đó đặt Nhà nớc trớc tình thế khó xử, nếu để chúng phá sản thì lại đẩy công nhân
Page 19
ra lề đờng, đồng thời những món nợ khổng lồ với ngân hàng không đợc thanh
toán, nhng nếu cứ để cho chúng tồn tại thì Nhà nớc lại phải bù lỗ, không thể
giảm đợc thâm hụt ngân sách, việc chuyển dn Nhà nớc thành công ty cổ phần đợc coi là một nối thoát, song ở Việt Nam và Trung Quốc đều đang ở giai đoạn
thử nghiệm.
Trung Quốc và Việt Nam hiện nay đang chịu sức ép mạnh mẽ của một
loạt vấn đề xã hội, nh thất nghiệp, phân hoá giầu nghèo, trộm cớp, buôn lậu,
tham nhũng... và nổi bật lên là tệ nạn tham nhũng lan tràn và nghiêm trọng.
Trung Quốc và Việt Nam đều coi đây nh "quốc nạn".
Trung Quốc và Việt Nam đều đang đứng trớc những thách thức nhân đôi.
Vừa phải tự chiến thắng sự lạc hậu trí tuệ của mình, vừa phải cố gắng rút bớt
khoảng cách với các nớc xung quanh. Trong một vùng phát triển nhanh và năng
động nhất thế giới nên buộc phải có sự tăng trởng nhanh và liên tục, do đó sự
thận trọng phải đi kèm với sự khẩn trơng. Nó đòi hỏi những phơng thức thích
hợp và sáng tạo.
Những điểm khác nhau giữa 2 nớc trong công cuộc cải cách và mở cửa.
Cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc và cuộc đổi mới kinh tế của Việt
Nam đã diễn ra không đồng thời, trên 2 đất nớc khác nhau rất nhiều về diện tích,
tài nguyên, lịch sử, văn hoá và dân số, những hoạt động kinh tế cụ thể cũng khác
nhau, những ban lãnh đạo khác nhau, dẫn dắt những dân tộc khác nhau. Việt
Nam thực hiện đổi mới kinh tế năm 1986. Khi quan hệ giữa Trung Quốc và Việt
Nam đang ở thời kỳ căng thẳng. Ngoài quan hệ ngoại giao, không có sự giao lu
kinh tế, văn hoá khoa học nào, khi quan hệ 2 nớc đợc bình thờng hoá vào năm
1992, cuộc đổi mới của kinh tế ở Việt Nam đã không có nhiều điều kiện tham
khảo trực tiếp những kinh nghiệm của cải cách kinh tế ở Trung Quốc ngay từ
đầu.
a/ Trung Quốc là một thị trờng to lớn, nhiều u thế hấp dẫn về tài nguyên và sức
lao động hơn hẳn Việt Nam. Đó là một quốc gia khổng lồ, có diện tích lãnh thể
lớn thứ 3 thế giới, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng vào
bậc nhất thế giới. Trung Quốc chiếm vị trí số 1 về dân số.
Page 20
Việt Nam có chừng 73 triệu dân và diện tích bằng 1/30 của Trung Quốc,
là nớc trung bình cả về ba mặt dân số, lãnh thổ, tài nguyên. Nếu so về trình độ
phát triển Việt Nam cũng thấp hơn so với Trung Quốc khi bắt đầu cải cách.
GDP/ngời của Trung Quốc khoảng 300USD, trong khi đó Việt Nam là 150USD.
Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi hơn Trung Quốc là Việt Nam có
địa hình trải dài trên bán đảo Đông Dơng ven biển Đông. Việt Nam có vị trí
quan trọng trong giao lu quốc tế.
b/ Khi bớc vào cải cách và đổi mới, nền kinh tế Trung Quốc và Việt Nam đều bị
tàn phá nặng nề. Ngoài nguyên nhân chung là do cả hai nớc đều thực hiện thể
chể kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ, áp dụng nhiều chính sách kinh tế sai
lầm, duy ý chí, mỗi nớc đều có lý do riêng . Sự xâm lợc của Pháp - Nhật - Mỹ Trung Quốc... những cuộc xâm lợc và chiến tranh của các nớc trên đã gây hậu
quả nghiêm trọng đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam. Còn
Trung Quốc, kể từ năm 1950 đã không có chiến tranh trừ một số cuộc đụng độ
biên giới... cũng không ảnh hởng đến nền kinh tế Trung Quốc mấy. Do có
những nguyên nhân khác, dẫn đến khủng hoảng kinh tế, nên nhận thức để khắc
phục hậu quả cũng khác nhau. Ngời Việt Nam phải có thời gian để phân biệt đâu
là do chiến tranh, đâu là lỗi tại mình. Còn ngời Trung Quốc sớm tỉnh ngộ, sớm
huỷ bỏ các chiến dịch "đấu tranh giai cấp"; coi "ngọn cỏ của CNXH còn hơn
cây lúa của chủ nghĩa bản".
c/ Trung Quốc và Việt Nam có những điều kiện khác nhau trong quan hệ đối
ngoại, nên tiến trình hoà nhập vào thị trờng thế giới của hai nớc khác nhau về
thời gian và mức độ.
Ngay từ đầu những năm 60 Trung Quốc đã có sự phân biệt trong quan hệ
với Liên Xô và Đông Âu. Để bắt đầu bỏ mô hình kinh tế xô viết mở của kinh tế
sang các nớc phơng Tây, và sớm tiếp cận với nền kinh tế thế giới, Trung Quốc
không bị lệch cấm vận về kinh tế của các nớc t bản lớn.
Việt Nam bên cạnh việc cần có thời gian chuyển biến nhận thức trong
quan hệ kinh tế quốc tế, còn bị tác hại nặng nề do chính sách cấm vận kinh tế
của cờng quốc hàng đầu về kinh tế là Mỹ.
Page 21
d/ Do hoàn cảnh cụ thể nên Trung Quốc có quốc sách "một nớc hai chế độ", do
đó hai nền kinh tế (của lục địa và của Đài Loan - Hồng Kông) song song tồn tại
và bổ xung cho nhau. Sự phát triển và năng động của hai con sông châu á đã tạo
điều kiện thuận lợi cho việc Trung Quốc chuyển sang nền kinh tế thị trờng...
Còn Việt Nam tình hình khác hẳn. Sau khi thống nhất đất nớc, nền kinh tế
thị trờng ở niềm Nam vốn đã có sự phát triển nhất định, song đã bị thể chế kinh
tế, kế hoạch tập trung cùng các chiến dịch, cải tạo, hợp tác hoá... du nhập từ
miền Bắc làm cho yếu đi rất nhiều, phải nhiều năm mới khôi phục lại đợc.
C- Một vài suy nghĩ về công cuộc cải cách đổi mới kinh tế Việt Nam.
Thành quả của hơn 10 năm kinh tế ở Việt Nam phản ánh những nét khác
biệt so với các hình mẫu từng đợc áp dụng ở một số nền kinh tế chuyển đổi khác
nhau, ngoại trừ Trung Quốc. Cách làm của Việt Nam ngẫu nhiên mà có nhiều
điểm tơng đồng với Trung Quốc, mà trớc hết là mọi nỗ lực cải cách chuyển đổi
đều đảm bảo duy trì tính ổn định bền vững của hệ thống chính trị xã hội. Thực
tiễn cải cách ở hai Quốc gia láng giềng, cùng thể chế chính trị xuất phát điểm và
cùng định hớng mục tiêu chính trị lâu dài, đã chỉ rõ để cải cách thành công vấn
đề không phải là tốc độ mà là phạm vi cải cách vừa tầm. Nhờ vậy mà cả Trung
Quốc và Việt Nam là hai nớc chiếm một vị trí đặc biệt trong nhóm nớc có mức
độ tăng trởng nhanh, bên vững, liên tục trong suốt thời kỳ cải cách chuyển đổi và
có nền kinh tế ổn định.
Bớc đầu cải cách kinh tế ở Việt Nam đã khá thành công với 5 nội dung
then chốt là:
- Tự do hoá phần lớn giá cả và thị trờng.
- Chú trọng về điều kiện sản xuất, quản lý kinh tế trong nông nghiệp.
- Kiềm chế lam phát, ổn định sức mua đồng tiền.
- Cải cách tài chính, tiền tệ ngân hàng.
- Bớc đầu sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp Nhà nớc (Doanh nghiệp Nhà nớc)
và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, tập chung khai thác nội lực gắn
với sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực huy động từ bên ngoài, từng bớc hội
nhập cộng đồng kinh tế khu vực và thế giới. Cải cách tập trung vào 5 nội
dung then chốt đã góp phần nới lỏng có kiểm soát tổng cầu vốn bị kìm hãm
Page 22
trớc đây, tạo ra kích thích tăng trởng về tổng cung đúng mức tiềm năng của
toàn bộ nền kinh tế do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan từ 1997 trở
lại đây, dờng nh tốc độ cải cách bị chững lại. Hiệu năng hoạt động của nền
kinh tế Việt Nam bị giảm sút, phản ánh những vấn đề bất cập về cơ cấu kinh
tế, đặc biệt là cũng chịu những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ khu vực, yêu cầu đẩy mạnh cải cách đi vào chiều sâu ở giai đoạn
hiện nay phải nhằm hai hớng cơ bản.
- Một là, cơ cấu lại nền kinh tế, thiết lập tơng quan tổng cung - tổng cầu trên
bình diện vĩ mô mới chủ yếu khai thác những mặt mạnh của các yếu tố nội
lực, có tính đến "mở cửa" rộng hơn ra thị trờng bên ngoài, mặt khác, nâng cao
hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh của nền sản xuất hàng hoá nội lực, đáp ứng
đợc yêu cầu ngày càng khắt khe hơn trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế
trong và ngoài khu vực.
Đờng hớng tiếp tục cải cách nền kinh tế của Việt Nam là hoàn toàn nhất
quán với những mục tiêu đã đợc vạch ra t ừ nhiệm kỳ Đại hội VI (năm 1986), có
đợc bổ sung ở đại hội VII (1997) và các nghị quyết của ban chấp hành Trung ơng Khoá VIII, cũng nh sự tiếp tục kiên trì định hớng trong nhiệm kỳ đại hội IX
sắc tới. Tuy nhiên trong bối cảnh mới của tình hình kinh tế trong nớc, khu vực và
quốc tế, phạm vi nội dung cải cách phải đi vào trọng tâm, trọng điểm và có hiệu
quả hơn. Chất lợng cải cách cần phải đợc nâng cao, nhất là việc tái hiện cơ cấu
hệ thống tài chính - ngân hàng, sắp xếp kiện toàn khu vực doanh nghiệp Nhà nớc
và tự do hoá hoạt động thơng mại, đầu t.
Trớc thềm thiên niên kỷ mới này, cũng nh hệ thống ngân hàng của nhiều
nớc , ngân hàng của Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực từ sự suy giảm
tăng trởng và tình hình tài chính yếu kém của các DNNN. Bản thân của các ngân
hàng cũng gặp nhiều khó khăn là sự rủi ro lớn về ngoại hối. Nợ khê động chồng
chất, cơ sở vốn hoạt động còn nhỏ nhoi và khả năng sinh lời thấp. Để giải quyết
tình hình này, một số biện pháp nhằm tạo điều kiện cho việc cơ cấu lại khu vực
ngân hàng kiện toàn thể chế pháp lý và khởi thảo xây dựng chiến lợc cải cách
ngân hàng toàn diện trên một lộ trình nhiều năm đã đợc đa vào. Ngay trong lĩnh
vực cốt tử này, kinh nghiệm Trung Quốc có thể học hỏi cũng rất phong phú.
Page 23
Việc thúc đẩy nhanh hoạt động sắp xếp lại DNNN ngày càng trở nên bực
xúc, nhằm đảm bảo duy trì đợc các hoạt động cải cách hệ thống ngân hàng,
khiến các khoản thua lỗ lớn của các DNNN không gây ra hiệu ứng đổ vỡ lan
truyền, đe doạ sự ổn định kinh tế vĩ mô. Cũng từ kinh nghiệm của Trung quốc
lành mạnh hoá khu vực tài chính Nhà nớc là phơng cách căn bản để dần phế bỏ
nhiều điều kiện u đãi bất hợp lý đối với DNNN, vì đó là nguyên nhân tăng sự ỷ
lại vào Nhà nớc gây ra sự xói mòn khả năng sinh lời tự thân của chúng. Theo
đánh giá gần đây của nhóm chuyên gia thuộc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) có cha
đầy 40% các DNNN kinh doanh có lãi, còn lại chủ yếu trong tình trạng mắc nợ
chồng chất hoặc trạng thái tài chính có vấn đề. Số này sớm muộn phải có sự giải
quyết bằng nhiều cách đồng bộ, kể cả việc đẩy nhanh tiến bộ cổ phần hoá theo
kế hoạch hàng năm. Một mặt, phải đảm bảo cải thiện hiệu năng hoạt động của
các doanh nghiệp Nhà nớc sau cổ phần hoá theo phơng châm "chính xí, phân
khai" và "phân lu, hạ cơng" theo nh kinh nghiệm của Trung Quốc, đồng thời với
việc củng cố sự phát triển của khu vực t nhân nhằm tạo việc làm, thay thế số lao
động bị mất việc và hình thành môi trờng cạnh tranh thực sự bình đẳng, khả thi
cho sự phát triển chung.
Định hớng hớng ngoại của nền kinh tế Việt Nam là hỗ trợ cải thiện lâu dài
chất lợng hoạt động của các doanh nghiệp trong nớc và khai thác, sử dụng có
hiệu quả mọi nguồn lực bên ngoài. Mức độ bảo hộ coa phải đợc giảm nhẹ từng
bớc có thời hạn, gắn với kiên quyết khắc phục những non kém của sản xuất nội
địa, đồng thời tích luỹ nhiều kinh nghiêm hơn trong việc thu hút, sử dụng nguồn
vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI), tránh thiên về thiết lập các ngành sản xuất
thay thế nhập khẩu kém hiệu quả. Việc triển khai các kế hoạch "mở cửa" hội
nhập thơng mại nằm trong khuôn khổ AFTA< APEC. Hiệp định thơng mại Việt
- Mỹ, tiến tới trở thành thành viên WTO phải đợc chuẩn bị chu đáo theo một lộ
trình thống nhất. Đó là những yếu tố quan thiến đa nền kinh tế Việt Nam đi đúng
quỹ đạo tiếp tục cải cách mở cửa, khắc phục sự suy giảm tăng trởng, vợt qua khó
khăn, trở ngại và tiếp tục phát triển tốt.
Cuối cùng, cần khẳng định lại rằng, cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc
nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế của riêng ngời Trung Quốc và cũng chỉ
Page 24
ngời Trung Quốc giải quyết đợc. Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam hơn 9
năm qua thu đợc những kết quả tuy còn khiêm nhờng, song đó là do Đảng và
Nhà nớc Việt Nam đã biết tiếp thu thành quả và kinh nghiệm của các nớc, trong
đó có Trung Quốc, đề ra những chủ trơng biện pháp gắn liền với thực tế Việt
Nam. Chính vì vậy cả những tơng đồng và khác biệt của Việt Nam và Trung
Quốc trong sự nghiệp chuyển đổi thể chế kinh tế cần đợc tiếp thu nghiên cứu
một cách kỹ lỡng và sâu sắc hơn.
Page 25