Tải bản đầy đủ (.doc) (12 trang)

Cán cân thương mại và nguyên nhân gây thâm hụt thương mại ở Việt Nam (từ năm 2000 đến nay)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (240.59 KB, 12 trang )

Đề tài: Cán cân thương mại và nguyên nhân gây thâm hụt thương mại ở
Việt Nam (từ năm 2000 đến nay)
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, vai
trò của cán cân thương mại ngày càng quan trọng và có ảnh hưởng đến các vấn đề
kinh tế - xã hội của các nước. Tình trạng của cán cân thương mại (thâm hụt hay
thặng dư) của một quốc gia thể hiện trạng thái của nền kinh tế qua: những thông tin
liên quan đến cung - cầu tiền tệ, đánh giá khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc
tế, thể hiện mức độ an toàn hoặc bất ổn của nền kinh tế, phản ánh hành vi tiết kiệm,
đầu tư và tiêu dùng. Như vậy, cán cân thương mại thể hiện một cách khá tổng quát
các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô như chính sách thương mại, chính sách tiền tệ
(tỷ giá, lãi suất), chính sách cơ cấu, chính sách đầu tư và tiết kiệm, chính sách cạnh
tranh...
Bên cạnh đó, sự mất cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu, tức là nhập khẩu
vượt quá xuất khẩu (thâm hụt cán cân thương mại) duy trì trong dài hạn và vượt quá
mức độ cho phép có thể ảnh hưởng xấu đến cán cân vãng lai và gây nên những biến
động bất lợi đối với nền kinh tế như gia tăng tình trạng nợ quốc tế, hạn chế khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế, tác động tiêu cực đến thu nhập và việc làm ở mức
trầm trọng có thể gây nên khủng hoảng tài chính tiền tệ. Bởi vậy việc điều chỉnh
cán cân thương mại nhằm cân đôi vĩ mô và kích thích tăng trưởng kinh tế, nâng cao
khả năng cạnh tranh được các quốc gia trên thế giới hết sức quan tâm. Đặc biệt
trong bối cảnh tự do hóa thương mại, biến động của cán cân thương mại trong ngắn
hạn và dài hạn là cơ sở để các chính phủ điều chỉnh chiến lược và mô hình phát
triển, kinh tế, chính sách cạnh tranh...
Vậy đâu là gốc rễ cơ bản của thâm hụt cán cân thương mại? Giải pháp cho
nhằm cải thiện cán cân thương mại? Bài thảo luận của chúng tôi sẽ đưa ra câu trả
lời thông qua nghiên cứu về thực trạng cán cân thương mại Việt Nam trong giai
đoạn từ năm 2000 đến nay dưới góc nhìn từ năng lực cạnh tranh quốc gia và mô
hình tăng trưởng.

1




CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Khái niệm cán cân thương mại và thâm hụt cán cân thương mại
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh
toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập
khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng
như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng. Khi mức chênh lệch
là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư. Ngược lại, khi mức chênh lệch
nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt. Khi mức chênh lệch đúng bằng 0,
cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng.
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương
mại. Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại
mang giá trị dương. Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư
thương mại mang giá trị âm. Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại. Tuy
nhiên, cần lưu ý là các khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu ròng, thặng
dư/thâm hụt thương mại trong lý luận thương mại quốc tế rộng hơn các trong cách
xây dựng bảng biểu cán cân thanh toán quốc tế bởi lẽ chúng bao gồm cả hàng hóa
lẫn dịch vụ.
1.2 Ý nghĩa của việc cân bằng cán cân thương mại
Cân bằng cán cân thương mại là rất quan trọng do cán cân thương mại có ảnh
hưởng rất lớn đến cán cân thanh toán quốc tế đồng thời tác động trực tiếp đến cung,
cầu, giá cả hàng hoá và sự biến động của tỷ giá, tiếp đến, sẽ tác động đến cả cung
cầu nội tệ và tình hình lạm phát trong nước.
Tình trạng của cán cân thương mại thặng dư hay thâm hụt trong ngắn hạn
chưa nói lên được trạng thái thực của nền kinh tế. Chẳng hạn, để giữ cho cán cân
thương mại trong trạng thái thặng dư hay cân bằng mà chính phủ áp dụng các biện
pháp cứng rắn để hạn chế nhập khẩu (nhất là nhập khẩu cạnh tranh) thì việc hạn chế
này có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn và việc cải thiện cán cân
thương mại sẽ hết sức khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh tự do hóa thương mại. Kinh

nghiệm của các nước tiến hành công nghiệp hóa ở các nước xã hội chủ nghĩa trước
đây và các nước bảo hộ cao cho thấy rõ điều này. Khảo sát thực tiễn của một số
nước (Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ) cho thấy trong tình trạng thâm hụt
cán cân thương mại, nền kinh tế vẫn có thể ổn định và đạt được sự tăng trưởng cao.
Vấn đề là ở chỗ thâm hụt cán cân thương mại ở mức có thể đảm bảo sức chịu đựng
của cán cân tài khoản vãng lai và nợ nước ngoài.
Tuy nhiên, khi mất cân bằng thương mại của một quốc gia nằm ngoài mức
trọng yếu trong một thời gian dài (thường là chiếm một vài % của GDP trong một
vài năm), thì phải có xu hướng điều chỉnh. Nếu không việc mất cân bằng vượt khỏi
2


tầm kiểm soát tồn tại trong một thời gian dài do sự di chuyển nhiều của cải của một
quốc gia sang một quốc gia khác thường dẫn đến ảnh hưởng không tốt đến sự tăng
trưởng của nền kinh tế.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới cán cân thương mại
1.3.1. Tác động của chính sách tỷ giá
a, Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái: là nhân tố quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng
đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường
thế giới. Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa
nhập khẩu sẽ trở lên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở lên đắt đỏ hơn so
với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất
khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm. Ngược
lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu
gặp khó khăn và xuất khẩu ròng tăng lên.
b, Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá thường có ảnh hưởng quan trọng đến CCTM của một nước.
Các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF) thường khuyến nghị phá giá đồng nội tệ khi cac nước gặp khó khăn về cán

cân thanh toán quốc tế với lập luận cho rằng, phá giá sẽ làm tăng giá trong nước của
hàng nhập khẩu và giảm giá ngoài nước của hàng xuất khẩu của nước đó. Cả hai tác
động này đều cải thiện sức cạnh tranh quốc tế của hãng trong nước. Các nguồn lực
sẽ được thu hút vào các ngành sản xuất nội địa mà giờ đây có thể cạnh tranh có hiệu
quả hơn so với hàng nhập khẩu và nguồn lực cũng sẽ được thu hút vào các ngành
xuất khẩu mà giờ đây có thể cạnh tranh có hiệu quả hơn trên các thị trường quốc tế.
Kết quả là: xuất khẩu tăng lên và nhập khẩu giảm đi. Cả hai điều này làm cho cán
cân thương mại của nước phá giá được cải thiện.
1.3.2. Tác động của chính sách thương mại
Chính sách thương mại là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thương
mại. Điều chỉnh cán cân thương mại thường được thực hiện thông qua các biện
pháp như khuyến khích xuất khẩu, quản lý nhập khẩu. Chính sách thương mại là
chính sách quốc gia dùng để phân biệt đối xử với các nhà sản xuất nước ngoài. Nó
bao gồm một hệ thống hoàn chỉnh các luật lệ, quy định, các chính sách và các tập
quán của chính phủ có ảnh hưởng đến thương mại. Các công cụ chủ yếu của chính
sách thương mại bao gồm thuế quan nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, trợ cấp xuất
khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện… Chúng có thể được phân chia ra làm hai loại
là thuế quan và phi thuế quan. Điều tiết chính sách thương mại có ảnh hưởng đến
tình trạng của cán cân thương mại. Chính sách khuyến khích xuất khẩu hoặc hạn
3


chế nhập khẩu ảnh hưởng đến tình trạng cán cân thương mại. Khuyến khích nhập
khẩu hàng tiêu dùng (nhập khẩu phi cạnh tranh) sẽ làm xấu đi tình trạng cán cân
thương mại. Ngược lại, khuyến khích nhập khẩu tư liệu sản xuất sử dụng để phát
triển xuất khẩu sẽ cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn.
1.3.3. Tác động của chính sách đầu tư
Các chính sách và biện pháp liên quan đến đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián tiếp đối với cán cân thương mại. Các nước đang phát triển không có và không
tự sản xuất đủ các nguyên liệu đầu vào cũng như các loại máy móc, thiết bị cần thiết

để đầu tư cho sản xuất nên cần nhập khẩu chúng. Hiệu quả đầu tư liên quan đến khả
năng cạnh tranh của hàng thay thế nhập khẩu và hàng xuất khẩu. Các luồng vốn đầu
tư gián tiếp hoặc nguồn viện trợ nước ngoài, kiều hối cũng ảnh hưởng đến cán cân
thương mại. Những yếu tố nêu trên có thể có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, cải
thiện hoặc gây tình trạng thâm hụt cán cân thương mại.
1.3.4. Tác động của các chính sách khác
Các chính sách như chính sách thuế, tài khóa, chính sách lãi xuất, quản lý nợ
nước ngoài, chính sách tiêu dùng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đối với cán
cân thương mại. Chẳng hạn, chính sách quản lý nợ nước ngoài có tác dụng điều tiết
luồng vốn vay theo hướng sử dụng có hiệu quả và phân bổ hợp lý, tài trợ hợp lý đối
với thâm hụt thương mại... có tác dụng làm lành mạnh hóa cán cân thương mại.
Chính sách thuế có tác dụng hạn chế hoặc mở rộng xuất khẩu hoặc nhập khẩu.
Chính sách lãi suất có tác dụng kích thích hoặc hạn chế đầu tư, tiêu dùng, do đó ảnh
hưởng đến xuất nhập khẩu. Những thay đổi về lãi suất dẫn đến những thay đổi trong
đầu tư kinh doanh. Nhưng kênh tác động của các chính sách nói trên đối với cán cân
thương mại hết sức phức tạp. Cần có những nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này.
Một số chính sách khác cũng có thể ảnh hưởng đến cán cân thương mại như
chính sách bảo hộ như đã phân tích ở trên. Sự yếu kém của thể chế kinh tế thị
trường, chính sách kinh tế (không minh bạch, khó dự đoán) gây ra tình trạng tham
nhũng, lãng phí, gian lận thương mại làm trầm trọng hơn tình trạng cán cân thương
mại
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
2.1. Thực trạng cán cân thương mại ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000
đến nay
2.1.1. Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2011
Trong hai năm liên tiếp 2000 - 2001, cán cân thương mại Việt Nam ở trạng
thái thặng dư, hoạt động xuất khẩu khởi sắc và đạt được những kết quả hết sức khả
4



quan. Từ năm 2002 trở lại đây, cán cân thương mại Việt Nam lại rơi vào tình trạng
thâm hụt. Kim ngạch nhập khẩu tăng từ 17,76 tỷ USD năm 2002 lên đến mức kỷ lục
97,4 tỷ USD vào năm 2011. Tương tự, kim ngạch xuất khẩu cũng tăng lên nhanh
chóng nhưng nhìn chung cho cả giai đoạn, kim ngạch nhập khẩu luôn vượt trội so
với kim ngạch xuất khẩu dẫn đến cán cân thương mại vẫn thường xuyên trong trạng
thái thâm hụt.
Bảng 1. Cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2000-2011
Đơn vị: Tỷ USD
Năm
Kim ngạch
xuất khẩu
Kim ngạch
nhập khẩu
Cán
cân
thương mại

2000 2001
14,45 15,0
3
14,0 14,4
7
0,38 0,63

2002
16,7
1
17,7
6

-1,05

2003 2004 2005 2006
20,15 26,49 32,45 39,8
3
22,73 28,77 34,8 42,6
9
-2,58 -2,28 -2,44 -2,77

2007
48,56

2008
62,69

2009 2010 2011
57,1 72,2 96,9

58,92

75,47

65,4

77,3

97,4

-10,36


-12,78 -8,3

-5,1

-0,4

Nguồn: IMF Country Report Vietnam No 03/382, 06/423, 07/386, 09/110, 10/281, 12/165

Nếu so sánh giá trị thâm hụt thương mại với giá trị GDP qua các năm thì từ
năm 2002 (năm bắt đầu có thâm hụt thương mại) tỷ lệ thâm hụt thương mại so với
GDP ngày càng gia tăng và trở nên đáng báo động trong những năm gần đây (20072010), khi tỷ lệ này vượt trên 10%GDP. Theo IMF, mức độ thâm hụt tài khoản
vãng lai so với GDP nếu vượt quá 5% thì được xem là nghiêm trọng, vì vậy vấn đề
thâm hụt thương mại của Việt Nam cần phải được xem xét thấu đáo.
2.1.2. Giai đoạn 2012 đến nay
Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình bày tại Hội nghị trực tuyến giữa
Chính phủ với các địa phương ngày 23-24/12/2013 cho biết, trong năm 2013 xuất
khẩu của Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng và cao hơn nhiều chỉ tiêu đề ra, cơ
bản cân bằng xuất nhập khẩu, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng
dự trữ ngoại tệ Nhà nước. Theo đó, ước cả năm 2013, tổng kim ngạch xuất khẩu
ước đạt khoảng 132,2 tỷ USD, tăng 15,4%, vượt chỉ tiêu kế hoạch Quốc hội đề ra
(10%) nhưng thấp hơn so với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của năm 2012 (tăng
18,2% so với năm 2011). Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt khoảng 131,3 tỷ USD,
tăng 15,4% so với năm 2012 (cùng kỳ tăng 6,6%); xuất siêu khoảng 863 triệu USD,
bằng 0,65% tổng kim ngạch xuất khẩu. Cán cân thương mại (tính theo giá CIF)
thặng dư khoảng 863 triệu USD (năm 2012 thặng dư khoảng 749 triệu USD). Tuy
nhiên, nếu tính theo giá FOB, cán cân thương mại năm 2013 thặng dư khoảng 11-12
tỷ USD, cao hơn mức 9 tỷ USD năm 2012. Cán cân thanh toán tổng thể năm 2013
ước thặng dư khoảng 2 tỷ USD, là năm thứ 3 liên tiếp Việt Nam đạt được mức
thặng dư cán cân tổng thể so với mức thâm hụt trong 2 năm 2009-2010.
5



2.1.3. Nhận xét
Từ số liệu thống kê phản ánh tình trạng cán cân thương mại của Việt Nam
trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay cho chúng ta thấy: Cán cân thương mại trong
2 năm gần đây (2012 – 2013) thặng dư trong khi ở giai đoạn từ năm 2002 – 2011
diễn ra thâm hụt thương mại. Nếu tính tổng giá trị thâm hụt thương mại và thặng dư
thương mại trong giai đoạn này ta có: tổng giá trị thâm hụt thương mại (2002-2011)
là 48,06 tỷ USD và tổng giá trị thặng dư thương mại (2012-2013) là 20 tỷ USD.
Như vậy, xét tổng thể giai đoạn từ năm 2000 đến nay, cán cân thương mại của Việt
Nam vẫn rơi vào tình trạng thâm hụt nghiêm trọng.
2.2. Nguyên nhân gây thâm hụt cán cân thương mại
2.2.1. Chênh lệch lớn giữa đầu tư và tiết kiệm
Về lý thuyết, cán cân thương mại phản ánh chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu
tư trong nước (tiết kiệm ròng) của một quốc gia. Tiết kiệm ròng quốc gia cân bằng
với tiết kiệm ròng của Chính phủ (cán cân ngân sách) và chênh lệch tiết kiệm - đầu
tư của khu vực tư nhân. Như vậy, nếu một quốc gia có thâm hụt thương mại (nhập
siêu), thì đó là sự phản ánh của tiết kiệm ròng mang dấu âm (có nghĩa tỉ lệ đầu tư
cao hơn tỉ lệ tiết kiệm).
Hình 2.1. Thâm hụt thương mại, chênh lệch đầu tư - tiết kiệm và thâm hụt ngân sách (%GDP)

Nguồn: IFS (IMF), WDI (WB) và Tổng cục Thống kê
Hình 2.1 cho thấy chênh lệch đầu tư - tiết kiệm của nền kinh tế đã tăng mạnh
kể từ năm 2007, và đi kèm là thâm hụt thương mại cũng gia tăng. Chênh lệch đầu tư
- tiết kiệm/GDP đã đạt mức rất cao là 11,5% trong giai đoạn 2006-2011.
Nếu cán cân thương mại thâm hụt chỉ vì lượng vốn dành cho đầu tư vượt quá
tiền tiết kiệm của nền kinh tế thì vấn đề không đáng lo ngại vì hiệu quả đầu tư sẽ
góp phần tạo ra sản phẩm có khả năng xuất khẩu và cán cân thương mại có thể cải
thiện trong tương lai. Tuy nhiên nếu cán cân thương mại thâm hụt do đầu tư nhiều
6



nhưng kém hiệu quả và (hoặc) bội chi ngân sách lớn thì muốn giảm thâm hụt cán
cân thương mại chính phủ cần thắt chặt chi tiêu và kiểm soát đầu tư. Trong những
năm qua, nguồn vốn đầu tư trong nền kinh tế Việt Nam tăng vượt trội; tuy nhiên
hiệu quả đầu tư vẫn chưa đáp ứng được sự kỳ vọng của nền kinh tế. Tình trạng lãng
phí trong đầu tư còn phổ biến, chiến lược kinh doanh không tốt…kết quả cuối cùng
là năng lực cạnh tranh hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới chưa cao. Có thể
thấy sự mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư của Việt Nam được thể hiện ở hình 2.1.
Tỷ lệ tiết kiệm ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010 liên tục biến động, năm 2008, tiết
kiệm giảm thấp nhất là 26,5% (GDP) so với hơn 30% GDP vào các năm 2005 và
2006. Trong khi đó nhu cầu đầu tư lại có xu hướng tăng mạnh, tỷ lệ đầu tư cao nhất
vào năm 2007 với 43,1% GDP. Sau đó đầu tư có xu hướng giảm do ảnh hưởng của
khủng hoảng tài chính toàn cầu, song tỷ lệ đầu tư trên GDP vẫn luôn cao hơn tỷ lệ
tiết kiệm trong cả giai đoạn.
Hình 2.1 cũng chỉ rõ mối quan hệ giữa mất cân đối đầu tư – tiết kiệm và thâm
hụt cán cân thương mại qua biến động của một số năm. Nếu như năm 2007 khi đầu
tư đạt tỷ lệ cao nhất thì cán cân thương mại của Việt Nam cũng thâm hụt nặng nhất
14,6% GDP. Tuy nhiên đến năm 2009 khi tỷ lệ đầu tư đã giảm chỉ còn 38,1% GDP
thì thâm hụt cán cân thương mại cũng giảm xuống còn 8,5% GDP. Như vậy, một
trong những nguyên nhân căn bản gây thâm hụt cán cân thương mại của Việt
Nam là mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư.
Về chi tiêu ngân sách, trong những năm gần đây chính phủ đã đưa ra nhiều gói
hỗ trợ để kích thích nền kinh tế phát triển. Chính sách kích cầu đã giúp Việt Nam
vượt ra khỏi khủng hoảng tài chính toàn cầu và đã đạt được mức tăng trưởng nhất
định. Tuy nhiên thâm hụt ngân sách Việt Nam năm 2009 đã lên đến 6,9%GDP.
Hiệu quả chi ngân sách chưa cao, các dự án về đô thị, hạ tầng kém chất lượng,
chương trình cải tổ thể chế, thủ tục hành chính chậm chạp, tham nhũng… tạo sức ì
và làm cản trở tiến trình tăng trưởng bền vững của quốc gia. Thâm hụt ngân sách
tăng tức là làm giảm tổng tiết kiệm của toàn nền kinh tế, do vậy sẽ nới rộng hơn

khoảng các giữa tiết kiệm và đầu tư và gia tăng thâm hụt cán cân thương mại. Hình
4 cũng chỉ ra rằng trừ thâm hụt thương mại trong năm 2006-2007 và thay đổi thâm
hụt của thâm hụt thương mại 2008-2009, trong các năm còn lại từ 2001 đến 2010,
thâm hụt thương mại của Việt Nam luôn biến động cùng chiều với thâm hụt ngân
sách năm trước đó. Như vậy thâm hụt ngân sách gia tăng trong giai đoạn 2005-2010
có quan hệ mật thiết với thâm hụt cán cân thương mại Việt nam.
2.2.2. Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu
a, Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
Hơn một thập niên qua, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng nông lâm
sản, công nghiệp nặng và khoáng sản, công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp
7


(TTCN).Theo thống kê của GSO, trung bình giai đoạn 1999 - 2010, hàng nông lâm
sản chiếm khoảng 15%, trong đó chủ yếu là hàng nông sản với các sản phẩm chính
như gạo, hồ tiêu, cao su; hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm khoảng 34%
mà chủ yếu là khoáng sản với mặt hàng chính là than đá và dầu thô; hàng công
nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm khoảng 40% với sản phẩm chủ yếu là
hàng dệt may và giầy da (Hình 2.1).
Hình 2.2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo nhóm (trung bình) giai đoạn
1999 - 2010

Nguồn: số liệu GSO
Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu cho thấy hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam không
có gì nổi trội so với các quốc gia trong khu vực, cơ cấu mặt hàng của Việt Nam
giống với các nước khác trong ASEAN. Có rất nhiều mặt hàng trong nhóm hàng
công nghiêp nhẹ tiểu thủ công nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu, nhập khẩu dây
chuyền sản xuất. Đây cũng là tình trạng chung của nhiều ngành nghề sản xuất trong
nước. Không chỉ vậy, nhiều mặt hàng xuất khẩu khả năng gia tăng sản lượng khi giá
cả có lợi, chẳng hạn như tỷ giá hối đoái tăng thì nhiều mặt hàng xuất khẩu không

thể tăng sản lượng vì hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đã phát huy hết công suất sản
xuất và không thể khai thác tiếp nhằm đảm bảo tính bền vững dài hạn (như dầu thô,
than đá,...) hay một số nhóm hàng phụ bị tác động quá nhiều của thời tiết (như nông
sản, thủy sản,...)
Có thể nói thâm hụt thương mại ở Việt Nam là hậu quả của sự biến dạng cấu
trúc nền kinh tế. Ngoài việc nhập khẩu vốn hàng hóa, ngành xuất khẩu ở Việt Nam
phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, đầu vào trung gian để sản xuất và
lắp ráp hàng xuất khẩu. Hệ quả là, các ngành xuất khẩu có đặc điểm là phụ thuộc rất
nhiều nhập khẩu và giá trị gia tăng trong nước thấp. Tiếp đó là hậu quả từ thất bại
của các ngành xuất khẩu trong việc chuyển lên chuỗi giá trị và đa dạng hóa nhằm
thoát khỏi tình trạng xuất khẩu với giá thành thấp, kỹ năng hạn chế, và dựa vào sản
xuất hàng loạt và khối lượng hàng hóa. Theo tiêu chuẩn ngoại thương được Tổng
8


cục Thống kê công bố, tỉ trọng các ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu chỉ chiếm
khoảng 50% tổng giá trị xuất khẩu trong nhiều năm gần đây và hầu như không có
xu hướng tăng, trong khi nhóm nông lâm thủy sản vẫn duy trì ở mức 20%. Trong cơ
cấu của các ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu thì tỉ trọng của nhóm ngành máy
vi tính, linh điện điện tử (thuộc ngành hàng có hàm lượng công nghệ trung bình) chỉ
chiếm tỉ trọng 10% trong các năm, trong khi phần lớn đều thuộc nhóm ngành hàng
có công nghệ thấp hoặc dựa vào tài nguyên thô (giày dép, may mặc, sản phẩm đồ
gỗ, v.v…).
b, Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu
Từ số liệu thống kê của GSO, dễ dàng nhận thấy suốt giai đoạn 2000 - 2010,
tổng giá trị nhập khẩu ngày càng gia tăng và nhập khẩu thuộc nhóm hàng tư liệu sản
xuất chiếm tỷ trọng rất lớn, trung bình khoảng 92% tổng giá trị nhập khẩu, 8% còn
lại chủ yếu là hàng tiêu dùng. Trong nhóm hàng tư liệu sản xuất thì nhóm hàng máy
móc thiết bị chiếm khoảng 29% tổng giá trị nhập khẩu; nhóm hàng nguyên nhiên,
vật liệu chiếm khoảng 63,5% tổng giá trị nhập khẩu.Có nhiều nguyên nhân dẫn đến

nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất cao. Nhiều mặt hàng sản xuất trong nước phải nhập
khẩu máy móc thiết bị và nguyên vật liệu, cùng với đó là quá trình công nghiệp hoá
đang diễn ra mạnh mẽ nên nhu cầu thay thế thiết bị lạc hậu bằng cách nhập khẩu
công nghệ từ các nước phát triển góp phần làm gia tăng nhu cầu nhập khẩu chung.
Ngoài ra, lộ trình tự do hoá thương mại của Việt Nam nhất là kể từ năm 2007 - năm
Việt Nam trở thành thành viên WTO đã thu hút một nguồn vốn FDI khá lớn hàng
năm và kèm theo đó là nhu cầu nhập khẩu trang thiết bị, dây chuyền sản xuất phục
vụ đầu tư. Ngoài những nguyên nhân làm gia tăng việc nhập khẩu như đã nêu trên,
nguyên nhân nhập khẩu tăng cao còn phải kể đến:
- Tỷ lệ nhập khẩu trong sản phẩm xuất khẩu ở mức khá cao dẫn tới thực tế là
nếu xuất khẩu muốn tăng lên thì nhất thiết nhập khẩu sẽ tăng;
- Thu nhập ở Việt Nam tăng lên sẽ tạo thêm nhu cầu đối với hàng tiêu dùng và
xa xỉ phẩm;
- Đầu cơ bất động sản và các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng là lý do dẫn
tới nhập khẩu gia tăng trong những năm gần đây;
- Sự biến động trong giá hàng hoá thế giới dẫn tới hoạt động đầu cơ hàng hoá,
nên nhiều hàng hoá được nhập khẩu để tích trữ trước khi giá tăng.
Hình 2.3. Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu khẩu theo nhóm (trung bình) giai đoạn
1999 - 2010.

9


Nguồn: số liệu GSO
2.2.3. Tỷ giá hối đoái
Ngày nay, quan hệ thương mại là đa phương, một nước có quan hệ buôn bán
với rất nhiều nước trên thế giới, để có cái nhìn toàn diện hơn về vị thế cạnh tranh
của hàng hóa trong nước với các đối tác thương mại khác người ta dùng tỷ giá thực
đa phương (tỷ giá trung bình), tỷ giá thực đa phương là một chỉ số phản ánh mức độ
cạnh tranh về giá cả của quốc gia và là cơ sở để đánh giá đồng nội tệ bị định giá cao

hay thấp.
Hình 2.3. Tỷ giá thực và Cán cân thương mại Việt Nam theo quý giai đoạn
1999- 2010

Nguồn: IFS
Từ kết quả tính toán và đồ thị Hình 4 có thể nhận thấy rằng, trong giai đoạn
quý 1/1999 đến quý 4/2003, REER có giá trị lớn hơn 100 và có xu hướng tăng, đến
quý 1/2004 RERR vẫn có giá trị lớn hớn 100 nhưng có xu hướng giảm dần và đến
quý 1/2008 REER có giá trị nhỏ hơn 100 và tiếp tục có xu hướng giảm cho những
quý tiếp sau. Theo lý thuyết kinh tế học, nếu REER lớn hơn 100 thì VND được coi
là giảm giá so với các đồng tiền còn lại và ngược lại khi REER nhỏ hơn 100 thì
VND được coi là tăng giá so với các đồng tiền còn lại. Khi VND giảm giá sức cạnh
10


tranh quốc tế của hàng hoá Việt Nam được cải thiện, xuất khẩu có lợi thế hơn nhập
khẩu nên cán cân thương mại thời kỳ này sẽ được cải thiện. Ngược lại, khi VND
tăng giá thực sức cạnh tranh quốc tế của hàng hoá Việt Nam sẽ bị hạn chế, nhập
khẩu sẽ có lợi thế hơn xuất khẩu vì vậy cán cân thương mại thời kỳ này sẽ nghiêng
về nhập siêu. Xét trong thực tế, từ quý 1/1999 đến quý 4/2003 là giai đoạn VND
giảm giá thực. So với quý 1/1999 tại thời điểm quý 4/2003 VND giảm giá thực
khoản 16,01%, nên trong thời kỳ này cán cân thương mại Việt Nam có nhiều cải
thiện (nhiều quý có thặng dư thương mại). Trong giai đoạn tiếp sau, từ quý 1/2004
đến quý 4/2007, VND giảm giá thực nhưng tỷ lệ giảm so với thời điểm quý 1/1999
giảm dần, cán cân thương mại mất cân bằng mức thâm hụt thương mại bắt đầu gia
tăng. Đến quý 1/2008, VND không còn lợi thế giảm giá thực so với các đồng tiền
khác, từ thời điểm này VND bắt đầu tăng giá thực. VND tăng giá đã hỗ trợ cho hoạt
động nhập khẩu gia tăng và thực tế số liệu thống kê cho thấy từ Quý 1 năm 2004
đến nay cán cân thương mại đã nghiêng hẳn về nhập siêu.


11


KẾT LUẬN
Bài thảo luận trình bày những phân tích về mức độ, nguyên nhân và giải pháp đối
với tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam. Thâm hụt cán cân
thương mại không phải luôn là yếu tố tiêu cực. Tùy thuộc vào tình hình kinh tế vĩ
mô mà thâm hụt cán cân thương mại là dấu hiệu tích cực hay là yếu tố ảnh hưởng
tiêu cực đến nền kinh tế. Hiện tại, mức độ thâm hụt cán cân thương mại và tài
khoản vãng lai của Việt nam là nghiêm trọng cả về tương đối và tuyệt đối. Thâm
hụt thương mại đã vượt quá ngưỡng được coi là an toàn, đồng thời so với các nước
trong khu vực và các nền kinh tế mới nổi trên thế giới, tình trạng thâm hụt cán cân
thương mại của Việt nam là cao và kéo dài dai dẳng. Nguyên nhân chính dẫn đến
thâm hụt thương mại ngày càng tăng là do cơ cấu kinh tế, mất cân đối vĩ mô giữa
tiết kiệm và đầu tư, thâm hụt ngân sách chính phủ, và việc sử dụng chưa hiệu quả
của các dòng vốn nước ngoài. Như vậy, về ngắn hạn Việt Nam nên sử dụng các
công cụ trực tiếp của chính sách thương mại để hạn chế thâm hụt cán cân thương
mại, cùng với đó là chính sách tiền tệ thắt chặt, thực hiện chính sách tỷ giá linh
hoạt, tìm kiếm và sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn ngoài nước một cách hiệu quả.
Về dài hạn cần tích cực cắt giảm đầu tư công, giảm thâm hụt ngân sách, phát triển
các ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm xây dựng cơ cấu hợp lý cho nền kinh tế, nâng
cao hiệu quả sản xuất và khả năng hấp thụ công nghệ từ các nguồn vốn nước ngoài.
Để có thể thực hiện triệt để các biện pháp này đòi hỏi chính phủ phải kiên quyết.
Điều này có thể ảnh hưởng tới quyền lợi của các nhóm lợi ích khác nhau song chính
phủ cần phải cân nhắc sao cho hài hòa những lợi ích đó nhằm giải quyết vấn đề
nhập siêu, lấy lại ổn định vĩ mô cho nền kinh tế Việt Nam hướng tới một giai đoạn
phát triển bền vững.

12




×