1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, thuế là một trong những công cụ quan trọng của
Nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế. Thông qua công cụ thuế, Nhà nước không chỉ
tăng thu cho ngân sách, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của
Nhà nước mà còn sử dụng nó để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng,
phát triển kinh tế nhanh, bền vững, tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế
giới, bên cạnh đó thực hiện mục tiêu bình đẳng và bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn cho
xã hội đồng thời bảo vệ tài nguyên, môi trường của đất nước.
Thời gian qua, công tác quản trị hoạt động thu thuế nói chung và đối với hộ kinh
doanh cá thể nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực góp phần nâng cao ý thức
tuân thủ pháp luật về thuế của các hộ kinh doanh, hạn chế thất thu, tăng thu cho ngân
sách. Tuy nhiên, tiềm năng vẫn còn và có thể khai thác thu để đạt ở mức cao hơn.
Tình trạng thất thu tuy có giảm nhưng vẫn còn tình trạng quản lý không hết hộ kinh
doanh, doanh thu tính thuế không sát thực tế, dây dưa nợ đọng thuế còn nhiều … Tình
hình quản trị hoạt động thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế thành
phố Biên Hòa cũng nằm trong thực trạng chung đó.
Qua các cuộc giám sát của Ban kinh tế xã hội Hội đồng Nhân dân thành phố,
cũng như kết quả kiểm toán của Đoàn Kiểm toán Nhà nước tại Chi cục thuế thành
phố Biên Hòa về công tác thu ngân sách cho thấy công tác quản trị hoạt động thu thuế
và khai thác nguồn thu còn một số bất cập trong đó nổi cộm là tình trạng quản lý và
lập bộ sổ các hộ kinh doanh cá thể còn bỏ sót rất lớn. Từ đó cần sớm tìm ra giải pháp
để nhanh chóng khắc phục.
Nhận thức được tầm quan trọng do thực tiễn đặt ra, tác giả muốn tìm ra giải pháp
quản lý một cách hiệu quả nguồn thu thuế từ các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn nên
đã quyết định chọn đề tài “Giải pháp cải thiện công tác quản trị hoạt động thu thuế
đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế thành phố Biên Hoà” làm đề tài bảo
vệ luận văn thạc sĩ của mình với mục đích giúp cho Chi cục Thuế giải quyết được
những khó khăn trong công tác quản lý thu thuế hoàn thành dự toán ngân sách nhà
nước được giao.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng công tác quản trị hoạt động thu thuế theo đúng quy định
đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Biên Hòa.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị hoạt
động thu thuế theo đúng quy định đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố
Biên Hòa.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Vấn đề quản trị hoạt động thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn
thành phố Biên Hòa.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Đề tài nghiên cứu quá trình quản trị hoạt động thu thuế
đối với hộ kinh doanh cá thể, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản trị hoạt động
thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể.
Phạm vi về không gian: Đề tài được tập trung nghiên cứu về thực trạng công
tác quản trị hoạt động thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trong thành phố Biên
Hòa.
Phạm vi về thời gian:
+ Về thời gian thu thập số liệu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động thu thuế đối
với hộ kinh doanh cá thể trong 3 năm: năm 2011, năm 2012 và năm 2013.
+ Về thời gian thực hiện: 12 tháng, bắt đầu từ tháng 11/2013 đến tháng 11/2014.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phần lý thuyết: tham khảo những tài liệu, văn bản pháp luật liên quan đến công
tác quản trị hoạt động thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể làm cơ sở lý luận của
đề tài.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này là: phương pháp tổng
hợp; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích các nhân tố
ảnh hưởng đến hoạt động thu thuế.
4.1 Phƣơng pháp tổng hợp thu thập số liệu
- Thu thập và sử dụng các nguồn thông tin đã được công bố trên Internet như:
Thông tư, Nghị định và thông qua báo cáo kết quả thực hiện của các ngành chức năng
của thành phố như Chi cục Thuế, Phòng Đăng ký Kinh doanh,…
3
- Kết quả kiểm tra, đánh giá của các đơn vị trong và ngoài thành phố Biên Hòa
như kết luận của Kiểm toán Nhà nước.
4.2 Phƣơng pháp thống kê
Mô tả số tuyệt đối, tương đối để xác định sự biến động của các hiện tượng kinh
tế xã hội trong một thời gian và không gian nhất định, qua đó phân tích, đánh giá thực
trạng tình hình hoạt động của Chi cục thuế thành phố Biên Hòa mà cụ thể là tình hình
quản trị hoạt động thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể.
4.3 Phƣơng pháp so sánh
Trên cơ sở các chỉ tiêu đã được tính toán, tiến hành so sánh các chỉ tiêu có mối
quan hệ tương quan như kết quả thực hiện so với kế hoạch... và các chỉ tiêu tương
ứng. Phương pháp so sánh giúp phát hiện những sự khác biệt, những bất cập trong
công tác quản lý thu thuế. Từ đó thấy được những ưu, khuyết điểm, khó khăn, thuận
lợi làm cơ sở để đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện công tác quản trị hoạt động thu
thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng vào thực tiễn trong công tác quản trị hoạt
động thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế thành phố Biên Hòa, giúp
cho Chi cục Thuế nhận ra những hạn chế và thực hiện những giải pháp khắc phục.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung chính của đề tài được chia
làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về thuế và công tác quản trị hoạt động thu thuế
đối với hộ kinh doanh cá thể.
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị hoạt động thu thuế đối với các hộ kinh
doanh cá thể tại Chi cục thuế thành phố Biên Hoà.
Chương 3: Giải pháp cải thiện công tác quản trị hoạt động thu thuế đối với hộ
kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế thành phố Biên Hoà.
4
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG
THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
1.1 Tổng quan về hộ kinh doanh cá thể và thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
1.1.1 Hộ kinh doanh cá thể (KDCT)
a) Khái niệm:
Trước khi có Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 về đăng ký kinh
doanh và hiện nay là Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về đăng ký doanh
nghiệp thì "Hộ kinh doanh" được gọi là "Hộ kinh doanh cá thể". Tên gọi "Hộ KDCT"
được ghi nhận tại Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004. Tại Điều 24, khoản
1, Nghị định số 109/2004/NĐ-CP thể hiện "Hộ KDCT do một cá nhân hay một gia
đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10
lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với
hoạt động kinh doanh".
Hiện nay theo Điều 49 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP định nghĩa: Hộ kinh doanh
do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một gia đình làm
chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có
con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh
doanh.
b) Đặc điểm:
Hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ KDCT chủ yếu dựa vào vốn và sức lao
động của bản thân và hộ gia đình mình là chính. Quy mô của hộ KDCT thường nhỏ
lẻ, rời rạc; điều kiện áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến hạn chế và luôn tìm mọi
cách để tìm ra những chỗ sơ hở trong quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu
thuế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hộ KDCT phát triển khá nhanh trong
cả nước, hoạt động trong mọi ngành nghề như sản xuất, giao thông vận tải, thương
nghiệp, ăn uống, dịch vụ...
Hộ KDCT chủ yếu dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người chủ hộ tự
quyết định từ quá trình sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ.
Hoạt động kinh doanh của hộ KDCT mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực,
5
vốn, sức lao động. Hộ KDCT thường rất nhạy bén trong kinh doanh, luôn sẵn sàng
chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị trường và nền
kinh tế.
Bộ phận hộ KDCT có một tiềm năng phát triển to lớn về trí tuệ, sáng kiến, có
kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất và sở hữu những bí quyết sản xuất truyền
thống, gia truyền được tích luỹ từ nhiều thế hệ, qua đó cho phép phát huy những
ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và
xuất khẩu.
c) Vai trò của hộ kinh doanh cá thể trong nền kinh tế:
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hộ KDCT có một vai trò hết sức to lớn đó là
góp phần tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, đồng thời đóng vai trò
làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn của nền kinh tế trong quá trình phân phối, luân
chuyển hàng hóa, dịch vụ. Thông qua các hộ KDCT có thể huy động được nguồn vốn
lớn còn đang tiềm năng trong nhân dân cho nền kinh tế. Đặc biệt trong điều kiện cạnh
tranh của nền kinh tế thị trường, tình trạng thất nghiệp đang ngày càng gia tăng thì
chính việc thu hút một số lượng lao động đáng kể của hộ KDCT đã góp phần giải
quyết vấn đề thất nghiệp cho xã hội.
Mặc dù có vai trò hết sức quan trọng song thành phần kinh tế hộ cá thể cũng có
một số mặt hạn chế đó là: Khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất
rất hạn chế. Sự năng động mang tính chất tự phát, luôn tìm những chỗ sơ hở để kinh
doanh trái phép và trốn lậu thuế, gây khó khăn cho công tác quản lý. Chính vì vậy cần
phải cải thiện sự quản lý của Nhà nước thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành
lang pháp lý và môi trường hoạt động lành mạnh, giúp thành phần kinh tế này hoạt
động có hiệu quả.
1.1.2 Các sắc thuế chủ yếu áp dụng đối với hộ kinh doanh cá thể
Kể từ ngày 01/01/1999 thực hiện chương trình cải cách thuế bước hai, hệ thống
thuế của nước ta bao gồm 10 sắc thuế, trong đó có 4 sắc thuế chủ yếu áp dụng đối với
hộ kinh doanh.
Thuế môn bài:
Trong hệ thống thuế nước ta, thuế môn bài là một sắc thuế trực thu rất quen
thuộc với quần chúng, là thuế đăng ký kinh doanh được tính theo năm, mức thuế được
áp dụng theo số tuyệt đối căn cứ vào loại hình doanh nghiệp. Đối với hộ KDCT, mức
6
thuế môn bài được áp dụng 6 mức từ 50.000 đồng/năm đến 1.000.000 đồng / năm căn
cứ vào mức thu nhập tháng của hộ kinh doanh.
Đối với các hộ KDCT; cán bộ công nhân viên, xã viên HTX, người lao động
trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhận khoán tự trang trải mọi khoản chi phí,
tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh; nhóm cán bộ công nhân viên,
nhóm xã viên HTX, nhóm người lao động nhận khoán nhưng từng cá nhân trong
nhóm nhận khoán lại kinh doanh riêng rẽ, từng cá nhân trong nhóm còn phải nộp thuế
môn bài riêng; Các cơ sở kinh doanh trên danh nghĩa là các Công ty Cổ phần, Công ty
Trách nhiệm Hữu hạn...nhưng từng thành viên của công ty vẫn kinh doanh độc lập chỉ
nộp một khoản tiền nhất định cho công ty để phục vụ yêu cầu quản lý chung thì thuế
môn bài thu theo từng thành viên. Các đối tượng nêu trên có mức thuế môn bài được
áp dụng 6 mức từ 50.000 đồng/năm đến 1.000.000 đồng/năm căn cứ vào mức thu
nhập tháng của hộ kinh doanh, cụ thể theo biểu dưới đây.
Bảng 1.1 Bảng thuế môn bài
(ĐVT: đồng)
Bậc thuế
Thu nhập/tháng (đồng)
Mức thuế cả năm
1
Trên 1.500.000
2
Trên 1000.000 đến 1.500.000
750.000
3
Trên 750.000 đến 1.000.000
500.000
4
Trên 500.000 đến 750.000
300.000
5
Trên 300.000 đến 500.000
100.000
6
Bằng hoặc thấp hơn 300.000
50.000
1.000.000
(Nguồn: Thông tư số 96/2002/TT-BTC ngày 24/10/2002 của Bộ Tài chính)
Riêng xã viên, nhóm xã viên HTX nhận nhiệm vụ HTX giao nếu đáp ứng đủ
điều kiện quy định tại tiết c điểm 1 phân II của Thông tư số 44/1999/TT-BTC ngày
26/4/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn ưu đãi về thuế đối với HTX thì không phải
nộp thuế môn bài riêng, nếu không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định thì phải nộp
thuế môn bài riêng.
- Về thời gian tính và nộp thuế môn bài: Hộ ra kinh doanh vào thời gian 6
tháng đầu năm thì nộp mức thuế môn bài cả năm, hộ ra kinh doanh vào 6 tháng cuối
7
năm thì nộp 50% mức thuế môn bài cả năm. Hộ đang kinh doanh thì nộp thuế môn bài
ngay tháng đầu của năm dương lịch, hộ mới ra kinh doanh thì nộp thuế môn bài ngay
trong tháng bắt đầu kinh doanh.
Tuy số thu hàng năm của thuế môn bài luôn giữ một địa vị khiêm nhường so với
số thu các loại thuế khác nhưng đây lại là một tài nguyên tương đối vững chắc cho
NSNN, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngay từ đầu mỗi năm khi các
nguồn thu khác chưa phát sinh hoặc có phát sinh nhưng chưa nhiều. Một ưu điểm
quan trọng nhất của thuế môn bài là nó có giá trị chỉ dẫn cho thuế TNDN và thuế
GTGT, thuế TTĐB. Mọi tổ chức, cá nhân muốn kinh doanh đều phải đăng ký kinh
doanh và nộp thuế môn bài. Vì thế, thuế môn bài có tác dụng kiểm kê, kiểm soát, các
cơ sở kinh doanh nhằm hỗ trợ cho việc hành thu các loại thuế có số thu cao như thuế
TNDN và thuế GTGT... Đồng thời qua đó làm cơ sở cho việc phân loại cơ sở kinh
doanh theo quy mô lớn, vừa hay nhỏ để có biện pháp quản lý thích hợp với từng đơn
vị và động viên một phần đóng góp của họ ngay từ đầu mỗi năm.
Thuế giá trị gia tăng (GTGT):
Thuế GTGT là loại thuế gián thu đánh vào phần giá trị tăng thêm của các sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
- Đối tượng chịu thuế GTGT là tất cả các hộ có hoạt động sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế.
- Các hộ KDCT áp dụng đồng thời cả hai phương pháp tính thuế GTGT là: phương
pháp khấu trừ và phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT.
+ Phƣơng pháp khấu trừ (thực hiện theo quy định tại Điều 10 Luật thuế
GTGT): Áp dụng đối với các hộ kinh doanh lớn chấp hành đầy đủ chế độ kế toán, hoá
đơn, chứng từ mua bán hàng hoá, hạch toán được cả đầu vào, đầu ra.
Thuế GTGT phải nộp đối với các hộ kinh doanh áp dụng theo phương pháp này
được xác định như sau:
Số thuế GTGT phải nộp
=
Thuế GTGT đầu ra
-
Thuế GTGT đầu vào
được khấu trừ
Trong đó thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hóa dịch vụ bán
ra ghi trên hóa đơn GTGT và được xác định như sau:
8
Thuế GTGT
đầu ra
Giá tính thuế của
=
hàng hoá, dịch vụ
Khối lượng
Thuế suất thuế
x hàng hoá bán ra x GTGT của hàng hoá,
chịu thuế bán ra
dịch vụ tương ứng
Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì thuế
GTGT đầu ra được xác định bằng giá thanh toán trừ giá tính thuế xác định theo quy
định tại Điều 7 của Luật thuế GTGT.
Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế GTGT được ghi trên hoá
đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ, chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa nhập khẩu
và đáp ứng quy định tại Điều 12 của Luật thuế GTGT.
+ Phƣơng pháp tính trực tiếp trên GTGT (thực hiện theo quy định tại Điều
11 Luật Thuế GTGT): phương pháp này có 3 hình thức khác nhau.
Đối với các hộ kinh doanh đã thực hiện đầy đủ chế độ hoá đơn, chứng từ theo
quy định: Hàng hoá dịch vụ mua vào và bán ra đều có hoá đơn, chứng từ hợp lệ thì
thuế GTGT phải nộp được xác định theo công thức sau:
Thuế GTGT phải nộp
=
GTGT của hàng hoá,
dịch vụ bán ra
x
Thuế suất thuế GTGT
tương ứng
Trong đó:
GTGT của hàng hoá, dịch
vụ bán ra
Giá thanh toán của
= hàng hóa, dịch vụ bán
Giá thanh toán của hàng
-
hoá, dịch vụ mua vào
ra
tương ứng
Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra là giá thực tế bán ghi trên hoá đơn
bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả thuế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà
bên bán được hưởng.
Giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng
hóa, dịch vụ mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra tương ứng.
Đối với các hộ kinh doanh đã thực hiện chế độ lập hoá đơn, chứng từ khi bán
hàng hoá, dịch vụ nhưng không có đủ hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá, dịch vụ
mua vào thì thuế GTGT phải nộp được xác định theo công thức sau:
Thuế GTGT
phải nộp
=
Doanh số bán ra
x Tỷ lệ % GTGT x
Thuế suất thuế
GTGT tương ứng
Trong đó tỷ lệ % GTGT tính trên doanh thu được quy định như sau:
9
- Phân phối, cung cấp hàng hóa: 10%;
- Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 50%;
- Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên
vật liệu: 30%;
Đối với các hộ kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán, chế độ lập hoá
đơn, chứng từ khi mua bán hàng hoá, dịch vụ. Những hộ loại này thường là những hộ
kinh doanh nhỏ, bán lẻ, giá trị hàng hóa thấp và kinh doanh nhiều mặt hàng vụn vặt,
hàng bán có thể không có hoá đơn, chứng từ thì nộp thuế GTGT theo phương pháp
khoán thuế quy định tại Điều 38 Luật Quản lý thuế. Theo đó, CQT căn cứ vào tài liệu
kê khai của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, cơ sở dữ liệu của CQT, ý kiến của
Hội đồng tư vấn thuế các xã, phường, thị trấn để xác định mức thuế khoán. Mức thuế
khoán được tính theo năm dương lịch và phải được công khai trong địa bàn xã,
phường, thị trấn. Trường hợp có thay đổi ngành, nghề, quy mô kinh doanh, người nộp
thuế phải khai báo với CQT để điều chỉnh mức thuế khoán.
Thuế tiêu thu đặc biệt (TTĐB):
Thuế TTĐB là loại thuế gián thu đánh vào việc sản xuất, nhập khẩu một số loại
hàng hoá và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thu đặc biệt.
- Đối tượng nộp thuế TTĐB là những hộ có sản xuất hàng hóa, kinh doanh dịch
vụ mặt hàng thuộc diện chịu thuế TTĐB.
- Phƣơng pháp tính thuế
Số thuế TTĐB
phải nộp
=
Giá tính thuế
TTĐB
x
Thuế suất
thuế TTĐB
Trong đó:
- Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán ra, giá cung
ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt và chưa có thuế giá trị gia tăng.
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN):
Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của
các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần.
- Phƣơng pháp tính thuế
Số thuế TNCN
phải nộp
Trong đó:
=
Thu nhập chịu
thuế
x
Thuế suất
thuế TNCN
10
Thu nhập
chịu thuế
=
Doanh thu để tính
thu nhập chịu thuế
-
Chi phí hợp lý
+
Thu nhập khác
Các hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, đúng chế độ
kế toán, hóa đơn, chứng từ, CQT sẽ ấn định thu nhập chịu thuế để tính thuế TNCN.
1.2 Quản trị hoạt động thu thuế hộ kinh doanh cá thể
1.2.1 Khái niệm về quản trị hoạt động thu thuế
1.2.1.1 Khái niệm
Quản trị: là những hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết hợp
với nhau trong các tổ chức nhằm đạt những mục tiêu chung.
Quản trị có 4 chức năng gồm:
- Hoạch định: gồm có những việc định rõ những mục tiêu của tổ chức, thiết lập
một chiến lược toàn bộ để thực hiện mục tiêu và phát triển một hệ cấp những kế hoạch
để hội nhập và phối hợp những hoạt động.
- Tổ chức: những nhà quản trị còn có trách nhiệm vạch ra cấu trúc, gồm xác
định những nhiệm vụ phải làm, ai sẽ thực hiện những nhiệm vụ đó.
- Điều khiển: một tổ chức bao giờ cũng gồm nhiều người, công việc của quản
trị là điều khiển và phối hợp những người đó. Nó còn bao gồm động viên những
người dưới quyền, điều khiển những hoạt động của người khác.
- Kiểm tra: sau khi những mục tiêu đã được đặt ra, những kế hoạch đã được
xác định, việc xếp đặt cơ cấu đã được vạch rõ. Để bảo đảm công việc thực hiện như
dự tính, quản trị phải theo dõi xem tổ chức của mình hoạt động như thế nào, phải so
sánh kết quả thực hiện với mục tiêu đã đặt ra nếu có những lệch hướng đáng kể thì
quản trị có nhiệm vụ đưa tổ chức trở lại đúng hướng.
Hoạt động thu thuế: là quá trình hoạt động thu nộp một khoản đóng góp bắt
buộc của các tổ chức, cá nhân kinh doanh cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn
được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho
mục đích chung của toàn xã hội
Quản trị hoạt động thu thuế: là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo
động viên và kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu những khoản thu bắt
buộc dưới sự điều hành và giám sát của CQT nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp
hành đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN theo quy định của pháp luật.
11
1.2.1.2 Tầm quan trọng của hoạt động thu thuế
a) Tăng số thu cho Ngân sách nhà nước.
Ở nước ta, số thu thuế hàng năm chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng số thu của
NSNN. Số thuế thu được từ khu vực kinh tế cá thể tuy chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong
tổng thu nhập ngân sách nhưng đây lại là lĩnh vực phức tạp, khó quản lý. Vì vậy, làm
tốt công tác quản lý thu thuế đối với hộ KDCT sẽ có tác dụng động viên, tăng thu cho
NSNN.
b) Thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước đối với các khu vực kinh tế.
Vai trò của thuế mang tính toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Song, những vai trò đó
không mang tính khách quan, mà nó là kết quả của những tác động từ phía con người.
Những tác động này được thực hiện thông qua những nội dung, những công việc cụ
thể của công tác quản lý thuế.
c) Cải thiện ý thức chấp hành pháp luật cho các hộ KDCT.
Qua công tác tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các luật
thuế cùng với việc cải thiện tính pháp chế của các luật thuế, ý thức chấp hành các luật
thuế được nâng cao, từ đó tạo thói quen "Sống và làm việc theo pháp luật" trong mọi
tầng lớp dân cư.
1.2.1.3 Yêu cầu của công tác quản trị hoạt động thu thuế đối với hộ kinh
doanh cá thể
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục sâu rộng thường xuyên các Luật thuế và các
văn bản dưới luật để người nộp thuế hiểu và tự giác chấp hành.
- Tận thu, khai thác triệt để các nguồn thu, kết hợp nuôi dưỡng nguồn thu:
+ Thu hết số thuế ghi thu, không để nợ đọng.
+ Kiểm tra, giám sát chặt chẽ hộ nghỉ kinh doanh.
+ Quản lý hết các đối tượng tham gia sản xuất, kinh doanh (gồm cố định có cửa
hàng - cửa hiệu và đối tượng kinh doanh vãng lai).
+ Quản lý sát doanh thu thực tế của đối tượng nộp thuế (thường xuyên kiểm tra
sổ sách kế toán, hóa đơn, chứng từ..., rà soát điều chỉnh thuế hộ khoán ổn định).
- Phải thực hiện đầy đủ, đúng quy trình nghiệp vụ của ngành đã đề ra cho từng
loại đối tượng kinh doanh.
12
1.2.2 Quá trình quản trị hoạt động thu thuế
1.2.2.1 Lập kế hoạch thực hiện hoạt động thu thuế
Kế hoạch thu thuế được sắp xếp theo các bước sau:
Đăng ký thuế
Kê khai thuế
Quản lý các thủ
tục hành chính
thuế
Điều tra doanh số ấn
định
Xét miễn, giảm thuế
Quản lý
thu thuế
Nộp thuế
Quản lý thông tin
NNT
Giám sát việc
tuân thủ pháp
luật thuế
Kiểm tra thuế
Thu nợ thuế
Hình 1.1: Sơ đồ các giai đoạn lập kế hoạch thu thuế
(Nguồn: Chi cục thuế thành phố Biên Hoà)
Quản lý các thủ tục hành chính thuế
a) Đăng ký thuế:
Các hộ KDCT sau khi được phòng Đăng ký kinh doanh thành phố cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh có trách nhiệm liên hệ với CQT để làm thủ tục đăng
ký cấp MST theo quy định. Sau khi cấp MST cho hộ KDCT, Đội KKKTT-TH của
Chi cục Thuế cập nhật thông tin vào danh bạ quản lý hộ kinh doanh để theo dõi quản
lý thuế.
Các hộ trước đó đã được cấp MST nhưng nghỉ kinh doanh dài hạn, sau đó lại ra
kinh doanh lại vẫn phải thực hiện đăng ký nộp thuế lại với CQT, nhưng không cấp
MST mới.
13
b) Kê khai thuế:
Sau khi các hộ mới ra kinh doanh đăng ký MST với CQT, Đội thuế LPX hoặc
cán bộ thuế có trách nhiệm cấp phát tờ khai đăng ký thuế và hướng dẫn cách kê khai
để các hộ KDCT kê khai đăng ký thuế với CQT theo đúng quy định “tự khai, tự nộp,
tự chịu trách nhiệm” đối với việc khai thuế của mình. Sau khi nhận tờ khai đăng ký
thuế của các hộ KDCT, Đội thuế tiến hành kiểm tra các chỉ tiêu kê khai và trực tiếp
liên hệ với các hộ KDCT chỉnh sửa tờ khai đăng ký thuế nếu có lỗi. Qua kiểm tra tờ
khai đăng ký thuế, nếu phát hiện các hộ KDCT khai chưa đúng hoặc chưa có giấy
phép đăng ký kinh doanh thì đề nghị các hộ KDCT lập thủ tục đăng ký kinh doanh
hoặc phối hợp với các Cơ quan liên quan xử phạt hành chính.
c) Điều tra doanh số ấn định:
Qui định về ấn định thuế đối với hộ kinh doanh còn nhiều vấn đề bất cập. Qua
công tác nắm bắt địa bàn, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và các thông tin kê
khai đăng ký thuế của các hộ KDCT, các Đội thuế LPX tiến hành sắp xếp phân loại
các hộ kinh doanh theo ngành nghề kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, quy mô kinh
doanh theo phương pháp tính thuế: phương pháp khoán và phương pháp kê khai.
- Hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán là các hộ kinh doanh:
+ Không có đăng ký kinh doanh hoặc không phải đăng ký kinh doanh, không
đăng ký thuế;
+ Không thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ;
+ Có mở sổ sách kế toán, nhưng thực hiện không đúng chế độ kế toán, không
thực hiện đúng quy định về chế độ hóa đơn, chứng từ khi mua bán hàng hóa, dịch vụ;
+ Không thực hiện nộp tờ khai thuế theo quy định, hoặc nộp tờ khai thuế nhưng
số liệu kê khai không chính xác, không trung thực; CQT không thể căn cứ vào sổ sách
kế toán, hóa đơn chứng từ để xác định số thuế phải nộp phù hợp với thực tế kinh
doanh.
Căn cứ vào doanh thu kinh doanh, Đội thuế LPX phân loại hộ kinh doanh nộp
thuế khoán theo nhóm: Hộ kinh doanh thuộc diện không phải nộp thuế GTGT, hộ
kinh doanh thuộc diện nộp thuế khoán. Ngoài ra, tuỳ theo yêu cầu quản lý thực tế tại
địa phương, Đội thuế LPX có thể phân loại theo bậc môn bài, theo địa bàn kinh doanh
hoặc theo các nhóm ngành nghề kinh doanh cho phù hợp.
Hộ thuế khoán được lập bộ với mức thuế ổn định cả năm. Khoán thuế theo cách
14
ấn định bình quân, áp đặt không thuyết phục người nộp thuế. Hàng tháng Đội thuế tổ
chức điều tra tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ mới ra kinh doanh.
Sau khi điều tra, Đội thuế lập danh sách dự kiến mức doanh số ấn định của từng hộ để
gửi về Đội KKKTT-TH. Việc điều tra doanh số của các hộ có sự tham gia của đại
diện Hội đồng tư vấn thuế phường xã (không để một công chức thuế làm để tránh tiêu
cực).
Sau khi điều tra, đội thuế lập danh sách các hộ KDCT và mức doanh số ấn định
dự kiến để thực hiện công khai và chuyển cho Hội đồng tư vấn thuế xem xét trước
ngày 15 của tháng.
Đội thuế có trách nhiệm niêm yết danh sách dự kiến doanh số ấn định của các hộ
mới ra kinh doanh và các hộ phải điều chỉnh doanh số khi hết hạn ổn định thuế tại trụ
sở UBND phường, xã, thị trấn thuộc địa bàn quản lý. Đồng thời tiến hành thu thập ý
kiến đóng góp và thắc mắc của các hộ kinh doanh để phân tích và xem xét lại mức
doanh số dự kiến ấn định của từng hộ. Nếu cần thiết có thể tiến hành điều tra lại để
đảm bảo mức doanh số ấn định sát với thực tế kinh doanh.
Đội thuế tham khảo ý kiến của Hội đồng tư vấn thuế về danh sách và dự kiến
mức doanh thu ấn định. Đồng thời có trách nhiệm giải thích cơ sở của việc điều tra
xác định doanh số và giải thích các mức doanh số dự kiến của từng ngành hàng, từng
hộ. Sau khi thảo luận, thống nhất mức doanh thu ấn định cho từng hộ thì đội thuế
chuyển kết quả dự kiến doanh số ấn định về Chi cục Thuế để làm căn cứ tính thuế.
Những trường hợp không thống nhất được, Đội thuế tập hợp để báo cáo Lãnh đạo Chi
cục Thuế quyết định theo thẩm quyền.
Đội KKKTT-TH của Chi cục Thuế có trách nhiệm kiểm tra lại kết quả ấn định
doanh số của các hộ, trao đổi lại với các Đội thuế hoặc phối hợp với Đội kiểm tra 3
điều tra lại doanh số của một số trường hợp để điều chỉnh một số mức doanh số dự
kiến cho hợp lý hơn và cân đối giữa các địa bàn quản lý hoặc theo yêu cầu chỉ đạo của
Lãnh đạo Chi cục. Kết quả điều chỉnh mức dự kiến doanh số này sẽ được Đội
KKKTT-TH sử dụng để làm căn cứ tính thuế và lập sổ bộ thuế.
- Hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai là các hộ kinh doanh đã
thực hiện đăng ký kinh doanh và được cấp MST.
+ Thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, lưu giữ đầy đủ hóa đơn, chứng từ khi mua,
bán hàng hóa, dịch vụ và xác định được doanh thu, chi phí; hoặc
15
+ Thực hiện lưu giữ đủ hóa đơn, chứng từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và xác
định được doanh thu nhưng không có đủ hóa đơn, chứng từ mua hàng hóa, dịch vụ
đầu vào, không xác định được chi phí và GTGT.
Hộ kê khai thực hiện theo quy chế tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm về việc kê
khai của mình.
Việc quản lý nghĩa vụ kê khai, xử lý tờ khai và kế toán thuế, đôn đốc thu nợ thuế
của các hộ kinh doanh nộp thuế theo kê khai thực hiện theo các Quy trình quản lý khai
thuế, nộp thuế và kế toán thuế và Quy trình Quản lý nợ thuế của Tổng cục Thuế,
tương tự như đối với doanh nghiệp, tổ chức.
d) Xét miễn, giảm thuế:
Theo quy định hiện hành cá nhân, các hộ KDCT có thu nhập bình quân tháng
trong năm của mỗi người lao động dưới mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định
đối với công chức Nhà nước thì được miễn thuế GTGT và thuế TNCN.
Cá nhân, các hộ cá thể kinh doanh chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá
đơn, chứng từ tính và nộp thuế trên mức doanh thu ấn định, nếu nghỉ kinh doanh liên
tục từ 15 ngày trở lên trong tháng được xét giảm 50% số thuế phải nộp, nếu nghỉ cả
tháng thì được xét miễn toàn bộ thuế của tháng đó.
Cá nhân, các hộ cá thể kinh doanh phải có đơn đề nghị miễn thuế, giảm thuế có
xác nhận của chính quyền địa phương, (phường, xã, thị trấn nơi kinh doanh) gửi CQT.
Đối với đơn nghỉ kinh doanh gửi trước ngày 5 hàng tháng được miễn, giảm ngay
trong tháng. Đối với đơn nghỉ kinh doanh vì lý do khách quan gửi đến CQT sau ngày
5 hàng tháng thì sẽ được xem xét để miễn, giảm thuế vào tháng sau.
CQT trực tiếp quản lý sau khi thông qua Hội đồng tư vấn thuế cùng cấp ra thông
báo miễn thuế, giảm thuế hoặc lý do từ chối đề nghị miễn thuế, giảm thuế.
Đội thuế có trách nhiệm tập hợp các đơn nghỉ và đơn đề nghị miễn, giảm thuế để
chuyển danh sách đơn cho Đội kiểm tra 3 của Chi cục Thuế. Đội kiểm tra 3 của Chi
cục Thuế phối hợp với các Đội thuế tiến hành kiểm tra các hộ có đơn nghỉ kinh doanh.
Sau khi kiểm tra, Đội kiểm tra phải lập danh sách các hộ thực nghỉ kinh doanh trước
ngày 10 của tháng để ra quyết định miễn, giảm. Trường hợp đối tượng nộp thuế có
đơn nghỉ kinh doanh trước ngày mùng 5 nhưng thời gian nghỉ bắt đầu từ giữa hoặc
cuối tháng, hoặc các hộ nghỉ vì các lý do đột xuất ngoài dự kiến thì Đội thuế lập danh
sách thông báo cho Đội KKKTT-TH để tính giảm thuế, đồng thời gửi danh sách cho
16
Đội kiểm tra để tiến hành kiểm tra sau. Các tháng trước hoặc sau Tết nguyên đán, nếu
số hộ có đơn nghỉ kinh doanh quá nhiều, Đội kiểm tra không kiểm tra xong trước
ngày 10 thì Đội kiểm tra phải lập danh sách các hộ đã kiểm tra và chưa kiểm tra cho
Đội KKKTT-TH để tính giảm thuế, sau đó tiếp tục tiến hành kiểm tra sau và thông
báo kết quả kiểm tra cho Đội KKKTT-TH.
Đội kiểm tra phối hợp với các đội thuế kiểm tra xác minh thu nhập thực tế đạt
được trong quá trình kinh doanh của đối tượng nộp thuế có đơn đề nghị miễn thuế.
Sau đó, chuyển kết quả kiểm tra cho Đội KKKTT-TH. Đội KKKTT-TH xem xét các
trường hợp đề nghị miễn thuế, kết quả kiểm tra đối chiếu với các quy định trong chính
sách, chế độ về miễn thuế. Nếu thủ tục hợp lệ và đúng diện được miễn thuế thì Đội
KKKTT-TH làm thủ tục trình lãnh đạo Chi cục Thuế ra quyết định miễn, giảm.
Kết quả duyệt sẽ được chuyển về Đội KKKTT-TH để điều chỉnh miễn, giảm
thuế. Đội thuế phải quản lý biến động về hoạt động kinh doanh của các đối tượng
trong thời gian miễn thuế để phát hiện kịp thời các đối tượng có thay đổi thu nhập
kinh doanh tăng vượt quá mức được miễn thuế để yêu cầu đưa các đối tượng này vào
diện nộp thuế.
e) Nộp thuế:
Các loại thuế chủ yếu được áp dụng đối với hộ KDCT gồm:
- Thuế môn bài.
- Thuế giá trị gia tăng.
- Thuế thu nhập cá nhân.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thời gian nộp thuế của các đối tượng nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng
của tháng cuối quý. Sau thời hạn nộp thuế cuối cùng nếu các hộ kinh doanh vẫn
không nộp thuế thì sẽ bị áp dụng hình thức cưỡng chế nợ thuế.
Hàng tháng, căn cứ vào giấy nộp tiền và kết quả đối chiếu số liệu thu nộp giữa
Chi cục Thuế, Kho bạc, Ngân hàng, Đội KKKTT-TH tiến hành chấm sổ bộ và tổng
hợp báo cáo thu nộp hàng tháng. Thông qua việc chấm bộ, Đội KKKTT-TH xác định
các hộ kinh doanh nào chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính trong tháng để chuyển qua
Đội Quản lý nợ thuế và thông báo cho các Đội thuế để có cơ sở đôn đốc thu nộp.
17
Giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế
a) Quản lý thông tin người nộp thuế:
Đội thuế có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương và Hội đồng tư
vấn thuế của các phường xã để điều tra số hộ có sản xuất, kinh doanh trên địa bàn
mình quản lý để nắm bắt tình hình hoạt động của các hộ kinh doanh. Kịp thời cập nhật
số hộ mới ra kinh doanh, số hộ nghỉ kinh doanh, số hộ di chuyển địa điểm kinh doanh
để đôn đốc đăng ký thuế.
Các thông tin cơ bản của hộ kinh doanh được tập hợp và quản lý bằng các
chương trình ứng dụng của ngành thuế nhằm theo dõi được quá trình thu nộp NSNN
và quá trình chấp hành các chính sách thuế theo đúng quy định.
b) Kiểm tra thuế:
Các Đội thuế phối hợp với Đội thanh tra, kiểm tra thuế thường xuyên thực hiện
phân tích, đối chiếu số liệu, so sánh doanh thu, tiền thuế phải nộp trên hồ sơ khai thuế
của hộ kinh doanh nộp thuế theo kê khai với doanh thu, tiền thuế của hộ kinh doanh
nộp thuế theo phương pháp khoán có cùng quy mô, cùng ngành nghề trên địa bàn để
đảm bảo quản lý chặt chẽ việc kê khai, tính thuế của hộ kinh doanh. Một số trường
hợp cụ thể như sau:
+ Trường hợp số liệu kê khai của hộ KDCT nộp thuế theo phương pháp kê khai
có chênh lệch thấp hơn nhiều so với doanh thu, tiền thuế phải nộp của các hộ kinh
doanh nộp thuế theo phương pháp khoán có cùng quy mô, ngành nghề trên địa bàn,
Đội thuế (hoặc Đội thanh tra, kiểm tra thuế) phải báo cáo Lãnh đạo Chi cục Thuế và
tiến hành kiểm tra tại hộ kinh doanh.
+ Trường hợp thông qua kết quả kiểm tra thấy hộ kinh doanh thực hiện không
đúng chế độ sổ sách kế toán; thực hiện không đúng chế độ hóa đơn chứng từ khi mua
bán hàng hóa, dịch vụ; kê khai thuế không chính xác, trung thực thì Đội thuế (hoặc
Đội kiểm tra thuế) báo cáo Lãnh đạo Chi cục Thuế để thực hiện ấn định thuế hoặc
chuyển hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai sang nộp thuế theo phương
pháp khoán.
Hàng tháng, Đội thuế LPX phối hợp với Hội đồng tư vấn thuế, rà soát địa bàn để
nắm tình hình hộ kinh doanh. Trường hợp hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp
khoán có thay đổi về ngành nghề, địa bàn kinh doanh, Đội thuế LPX hướng dẫn hộ
18
kinh doanh lập Tờ khai thay đổi thông tin đăng ký thuế (nếu có) và lập Danh sách hộ
kinh doanh thay đổi ngành nghề, địa điểm kinh doanh theo mẫu gửi cho Chi cục Thuế
chậm nhất vào ngày 28 hàng tháng.
Đội KKKTT-TH căn cứ vào thông tin do Đội thuế LPX chuyển đến để cập nhật
vào cơ sở dữ liệu thông tin đăng ký thuế và Danh bạ quản lý hộ kinh doanh chậm nhất
vào ngày cuối cùng của tháng để quản lý thu thuế kịp thời.
Trong quá trình quản lý thu thuế, theo dõi tình hình thu nộp thuế, Đội kiểm tra
phối hợp với các Đội thuế lựa chọn các đối tượng nợ đọng thuế lớn, nợ kéo dài hoặc
nghi ngờ về trốn thuế lập danh sách. Sau đó lập kế hoạch kiểm tra, trình Ban Lãnh đạo
duyệt và tiến hành kiểm tra tại các trụ sở kinh doanh.
Về nguyên tắc, việc kiểm tra không làm cản trở hoạt động bình thường của tổ
chức, cá nhân nộp thuế, đồng thời phải tuân thủ đúng các quy định của Luật Quản lý
thuế.
Việc kiểm tra có thể được tiến hành tại trụ sở Cơ quan quản lý thuế hoặc trụ sở
của người nộp thuế.
Việc kiểm tra có thể tiến hành tại trụ sở Cơ quan quản lý thuế được thực hiện
thường xuyên nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong
hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế.
Khi kiểm tra hồ sơ thuế, công chức quản lý thuế thực hiện việc đối chiếu, so
sánh nội dung trong hồ sơ thuế với các thông tin tài liệu liên quan, các quy định của
pháp luật về thuế.
Trường hợp hồ sơ thuế có nội dung cần làm rõ liên quan đến số tiền thuế phải
nộp, số tiền miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, CQT thông báo cho người nộp thuế giải
trình hoặc bổ sung thông tin. Khi hết thời hạn bổ sung thông tin theo thông báo của
CQT mà người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin hoặc bổ sung thông tin
không đủ căn cứ để làm rõ thì Cơ quan quản lý thuế quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở
của người nộp thuế.
c) Thu nợ thuế:
Tình hình thu nợ thuế của các hộ kinh doanh diễn ra rất phức tạp, số nợ thuế
không ngừng tăng làm ảnh hưởng đến nguồn thu của địa phương và toàn tỉnh. CQT đã
triển khai các biện pháp thu nợ thuế nhưng tình trạng này chưa được cải thiện. Vấn đề
quan trọng vẫn là ý thức của các hộ KDCT trong việc nộp thuế và sự phối hợp của các
19
Cơ quan chức năng liên quan trong việc xử lý nợ thuế.
1.2.2.2 Tổ chức quản trị hoạt động thu thuế
Sau khi lập kế hoạch thu thuế Ban Lãnh đạo Chi cục Thuế tiến hành sắp xếp
nguồn nhân lực và tạo mọi điều kiện thuận lợi hợp lý để thực hiện việc thu thuế theo
kế hoạch đã lập ra, gồm các bước sau:
Bƣớc 1: Công tác tổ chức nhân sự
Để tránh tình trạng nợ thuế của hộ KDCT ngày càng tăng, Ban lãnh đạo Chi cục
Thuế tổ chức sắp xếp nguồn nhân sự sao cho phù hợp với khả năng của từng cán bộ
công chức. Trình độ và ý thức trách nhiệm của cán bộ thuế có ý nghĩa quyết định đến
kết quả công tác quản lý thuế vì chính những cán bộ quản lý là những người trực tiếp
làm nhiệm vụ chuyên môn. Đối với những người làm công tác kiểm tra, thanh tra thuế
phải có kinh nghiệm, trình độ giỏi trong lĩnh vực kiểm tra, thanh tra. Đối với công tác
tuyên truyền hỗ trợ phải am hiểu rõ chính sách, pháp luật thuế. Đối với công tác đi thu
thuế, thu nợ thuế phải hài hoà, nhã nhạn, liêm minh, công chính để vừa thu được thuế
vừa làm hài lòng người nộp thuế.
Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức
nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ công chức cần được Ban lãnh đạo quan tâm.
Bƣớc 2: Công tác tuyên truyền hỗ trợ ngƣời nộp thuế
Trong những năm vừa qua, nhiều chính sách pháp luật được ban hành có nhiều
thông tin được sửa đổi, bổ sung nên người nộp thuế (quan trọng nhất là các hộ KDCT)
không nắm bắt kịp cũng như không hiểu rõ để thực hiện chính xác. CQT phải đặt biệt
quan tâm đến bởi vì hộ KDCT đa số là những người buôn bán nhỏ lẻ, lớn tuổi, bận
rộn không có thời gian cũng như trình độ CNTT kém nên không hiểu biết về chính
sách thuế nhiều, nên xảy ra tình trạng khai thuế nhầm, khai sai dễ dẫn đến nợ thuế
ngày càng tăng.
Do đó, CQT phải tuyên truyền, tập huấn, hỗ trợ kịp thời các chính sách mới,
hướng dẫn, giải đáp các thắc mắc cho người nộp thuế hiểu để thực hiện đúng theo quy
định.
Bƣớc 3: Lập dự toán ngân sách nhà nƣớc
Hàng năm vào cuối quý III đầu quý IV, Chi cục Thuế tiến hành rà soát các hộ
KDCT trên địa bàn quản lý, rà soát bộ thuế của năm trước, đồng thời căn cứ vào
khung hướng dẫn của Tổng cục Thuế và Cục Thuế tỉnh để tiến hành lập dự toán thu
20
ngân sách trên địa bàn thành phố để báo cáo về Cục Thuế và Sở Tài chính tỉnh.
Căn cứ quyết định giao dự toán của UBND tỉnh, Chi cục Thuế phối hợp với
Phòng Tài chính - Kế hoạch tham mưu UBND thành phố phân khai dự toán và trình
Hội đồng nhân dân thành phố xem xét phê chuẩn.
Căn cứ Nghị quyết Hội đồng nhân dân thành phố, Phòng Tài chính - Kế hoạch
và Chi cục Thuế phối hợp tham mưu UBND thành phố ban hành quyết giao dự toán
thu - chi ngân sách cho các cơ quan, ban ngành, đoàn thể và UBND các phường xã
trên địa bàn thành phố.
Các phường xã và các đơn vị được giao dự toán thu có trách nhiệm xây dựng kế
hoạch nhằm thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu dự toán thu ngân sách được giao. Định kỳ
tháng, quý có tổng hợp kết quả để báo cáo UBND thành phố.
1.2.2.3 Lãnh đạo động viên công chức thực hiện hoạt động thu thuế
Để đạt được mục tiêu chung là phải hoàn thành Ngân sách Nhà nước theo chỉ
tiêu của UBND thành phố đã đề ra, Ban Lãnh đạo Chi cục thuế thành phố Biên Hòa
đã chủ động, động viên, khích lệ tinh thần làm việc trong hoạt động thu thuế của cán
bộ, công chức như sau:
- Trợ cấp thêm công tác phí như: tiền xăng cho những cán bộ đi thu thuế đối với
các phường xã ở xa như Phước Tân, Tam Phước, …
- Trả thêm tiền ngoài giờ đối với những cán bộ làm thêm giờ theo quy định.
- Chế độ khen thưởng đối với những cá nhân, Đội thuế hoàn thành kế hoạch
được giao.
- Khích lệ tinh thần tự giác đi thu thuế, có trách nhiệm đối với nhiệm vụ được
giao, không vụ lợi bản thân và có tinh thần, đạo đức nghề nghiệp.
- Bên cạnh đó những hình thức kỷ luật đối với những hành vi vi phạm pháp luật
về Thuế cũng phải có, để cho cán bộ thuế có ý thức hơn trong nhiệm vụ được giao.
1.2.2.4 Kiểm soát hoạt động thu thuế
Trong quá trình quản trị hoạt động thu thuế, theo dõi tình hình thu nộp thuế, Ban
lãnh đạo Chi cục Thuế lập ra một Đội thanh tra, kiểm tra để giám sát:
- Các cán bộ, công chức ngành Thuế trong các hoạt động thu thuế;
- Sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế đồng thời đánh giá sự hài
lòng của người nộp thuế đối với việc thực hiện nghĩa vụ thuế.
Những công tác quản lý các thủ tục hành chính thuế như: đăng ký thuế, khai
21
thuế, ấn định thuế, nộp thuế,…Đội thanh tra, kiểm tra sẽ kiểm tra bất kỳ một hộ kinh
doanh nào xem có đúng như đã đăng ký thuế, khai thuế, miễn thuế và nộp thuế không.
Nếu phát hiện không đúng như đã kê khai Đội thanh tra kiểm tra sẽ liên hệ với cán bộ
thuế quản lý trực tiếp đồng thời liên hệ với chủ hộ kinh doanh đó để làm rõ xem
trường hợp đó nguyên nhân tại sao làm sai, nguyên nhân khách quan hay chủ quan và
xử lý vi phạm theo đúng quy định pháp luật.
+ Nếu cán bộ thuế quản lý trực tiếp làm sai vì lợi ích cá nhân, không trung thực,
gây ảnh hưởng xấu đến ngành thuế đề nghị bị kiểm điểm và xử phạt theo đúng quy
định để làm gương cho các cán bộ thuế còn lại không tái phạm, thực hiện đúng câu
Tuyên ngôn ngành thuế Việt Nam: minh bạch - chuyên nghiệp - liêm chính - đổi mới.
+ Nếu do hộ KDCT làm sai vì nguyên nhân do thiếu hiểu biết nên khai không
chính xác hay biết mà khai gian, trốn thuế, gây thiệt hại đến nguồn thu NSNN đề nghị
lập biên bản và xử phạt theo đúng quy định pháp luật để làm gương cho những hộ
kinh doanh sau này không tái phạm.
Qua sự thanh tra, kiểm tra để giám sát các cán bộ, công chức ngành Thuế trong
các hoạt động thu thuế, giám sát sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế và
xử lý vi phạm theo quy định do cán bộ thuế làm sai hay người nộp thuế làm sai có làm
cho người nộp thuế hài lòng và tin tưởng vào CQT đã thực hiện đúng câu châm ngôn
của ngành thuế chưa. Từ đó, người nộp thuế tin tưởng vào CQT sẽ không còn những
tình trạng trốn thuế, gian lận thuế và tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật.
1.2.3 Các yếu tố ảnh hƣởng đến công tác quản trị hoạt động thu thuế:
Thành công của công tác quản lý thu thuế đối với hộ KDCT phụ thuộc vào các
yếu tố sau:
1.2.3.1 Về cơ chế của nhà nƣớc.
- Các quy định về chính sách thuế.
Các chính sách, pháp luật về thuế phải rõ ràng, minh bạch, phù hợp với từng đối
tượng, từng ngành nghề cụ thể.
Cải thiện cải cách hành chính thuế theo hướng đơn giản hoá các thủ tục hành
chính thuế.
Áp dụng CNTT vào công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế.
- Sự phối hợp với các ngành hữu quan.
Công tác quản lý thu thuế là công tác kinh tế - chính trị - xã hội tổng hợp liên
22
quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội tại địa phương. Do vậy, chính quyền
địa phương, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội có trách nhiệm phối hợp
với CQT tổ chức quản lý thuế chặt chẽ hơn.
Cơ quan Thuế cần chủ động tạo dựng các mối quan hệ và tranh thủ sự hỗ trợ của
các ngành, địa phương khi triển khai công tác tại địa bàn.
1.2.3.2 Về Cơ quan Thuế.
- Cơ sở vật chất
Ngành Thuế cần quan tâm và tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất đầy đủ như:
(máy tính, bàn, ghế, tủ đựng hồ sơ, quạt máy, máy lạnh, internet,…) cũng như môi
trường làm việc sạch sẽ cho cán bộ công chức để thuận tiện trong việc quản lý thu
thuế.
- Bộ máy tổ chức cán bộ
Để quản lý thuế được chặt chẽ, Cơ quan Thuế phải có đầy đủ nguồn nhân lực và
bố trí nhân sự cho phù hợp với khả năng của từng người.
+ Bên cạnh đó cần đào tạo cho cán bộ công chức trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, kinh nghiệm, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp.
+ Quan tâm, cải thiện công tác tuyên truyền, giáo dục và cung cấp các dịch vụ
hỗ trợ người nộp thuế để nâng cao tính tự giác và trách nhiệm của người nộp thuế.
1.2.3.3 Về ngƣời nộp thuế
- Phạm vi địa bàn và đối tƣợng quản lý
Với mật đô dân cư ở từng địa bàn khác nhau nên đặc điểm kinh doanh không tập
trung, đòi hỏi quản lý thuế phải tổ chức bộ máy quản lý sao cho phù hợp và cần có
phương pháp quản lý hiệu quả.
Vì quy mô sản xuất kinh doanh của các hộ KDCT thường nhỏ, lẻ mang tính chất
của một hộ gia đình kinh doanh các ngành nghề khác nhau, ở từng khu vực, địa
phương cũng khác nhau nên tình hình quản lý đối tượng cũng khác nhau, không tập
trung đồng bộ.
- Sự hiểu biết pháp luật về thuế, ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của hộ
kinh doanh cá thể:
Hộ KDCT phát triển nhanh và mang tính tự phát, dựa vào trình độ chuyên môn,
trình độ quản lý, kinh nghiệm ngành nghề của cá nhân theo phương thức “cha truyền,
con nối” hoặc tự học, tự tích luỹ kinh nghiệm nên khả năng hiểu biết về chính sách
23
mới còn hạn chế. Từ đó dễ dẫn đến tình trạng sai khai, sai không đúng với thực tế.
1.3 Kinh nghiệm thực tiễn và bài học rút ra từ kinh nghiệm trong quản trị hoạt
động thu thuế ở nƣớc ta
1.3.1 Kinh nghiệm thực tiễn ở một số địa phƣơng trong nƣớc
Trong thời gian qua, ngành thuế nước ta đã và đang nỗ lực thực hiện lộ trình cải
cách hệ thống thuế, không ngừng hiện đại hóa, nâng cao năng lực của bộ máy quản lý
thuế, hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi gian lận thuế, chống thất thu cho NSNN.
Từng bước đơn giản chính sách thuế, nhất là thu gọn mức thuế suất, thực hiện đơn
giản, minh bạch công khai, dân chủ công tác quản lý thuế. Xây dựng chính sách thuế
đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, giúp cho mọi đối tượng nộp thuế thực hiện tốt nghĩa
vụ của mình. Khắc phục những hiện tượng tiêu cực yếu kém, kiện toàn bộ máy quản
lý thuế trong sạch vững mạnh.
Với sự ra đời của Luật quản lý thuế, công tác quản lý thu thuế ở nước ta về cơ
bản đã chuyển từ chế độ chuyên quản khép kín sang chế độ người nộp thuế tự kê khai,
tính thuế và nộp thuế theo thông báo của CQT, từ đó đã nâng cao nghĩa vụ, trách
nhiệm của người nộp thuế đối với Nhà nước. CQT chỉ thực hiện chức năng tuyên
truyền, tập huấn, hướng dẫn, đôn đốc thu nộp và kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm về
thuế.
Nhìn chung từ khi thực hiện cải cách, ngành thuế cả nước đã đạt được những kết
quả đáng khích lệ như giảm bớt chi phí quản lý, tăng nguồn thu cho NSNN và nhất là
ý thức chấp hành chính sách, pháp luật về thuế của người dân ngày càng được cải
thiện.
Kinh nghiệm để có thể thực hiện công tác quản lý thuế đạt hiệu quả cao nhất là:
- Xây dựng một hệ thống thuế chính xác, thể hiện sự rõ ràng, minh bạch, tức là
hệ thống thuế trước hết phải chỉ ra được ai là người chịu thuế, mức thuế phải nộp và
thời hạn nộp thuế. Kinh nghiệm cho thấy, một hệ thống thuế rõ ràng, minh bạch sẽ tạo
thuận lợi cho các nhà đầu tư tính toán chính xác hiệu quả kinh doanh và nghĩa vụ nộp
thuế. Đây là yếu tố quan trọng để các nhà đầu tư yên tâm bỏ tiền đầu tư phát triển sản
xuất. Bên cạnh đó hệ thống thuế phải đảm bảo có khả năng dễ thích ứng với sự thay
đổi của hoàn cảnh kinh tế thì mới phát huy được vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của
thuế.
- Đào tạo, bố trí đội ngũ công chức thuế có trình độ hiểu biết sâu rộng về chính
24
sách và nghiệp vụ quản lý thuế, có đạo đức nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, sử dụng
thành thạo máy tính để có thể áp dụng các công nghệ quản lý hiện đại thông qua các
phần mềm chuyên dụng.
- Quan tâm và cải thiện công tác tuyên truyền, tập huấn và cung cấp các dịch vụ
hỗ trợ người nộp thuế để nâng cao tính tự giác và trách nhiệm của người nộp thuế.
- Quan tâm, chú trọng nắm bắt địa bàn, cải thiện công tác thanh tra, kiểm tra
nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế.
- Cải thiện cải cách hành chính thuế theo hướng đơn giản hóa các thủ tục về
thuế. Áp dụng CNTT vào công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế.
1.3.2 Bài học thực tiễn rút ra từ kinh nghiệm ở nƣớc ta
Đặc điểm của các hộ KDCT là quy mô nhỏ lẻ, rời rạc, điều kiện áp dụng khoa
học công nghệ tiên tiến hạn chế và luôn tìm mọi cách để tìm ra những chỗ sơ hở trong
quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế. Bên cạnh đó sự năng động của
thành phần kinh tế hộ cá thể mang tính chất tự phát theo thị trường. Để công tác quản
lý thu thuế đối với các hộ KDCT được tốt, kinh nghiệm thực tiễn cho thấy:
- Cán bộ quản lý thuế phải phối hợp tốt với Cấp ủy và Chính quyền địa phương
và nhất là Hội đồng tư vấn thuế của các địa phương để nắm chắc địa bàn quản lý, nắm
chắc số lượng các hộ kinh doanh phát sinh trong địa bàn quản lý.
- Tích cực tuyên truyền, tập huấn, định hướng để các hộ kinh doanh tự giác chấp
hành chính sách, pháp luật về thuế.
- Sự quản lý của Nhà nước thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang
pháp lý và môi trường hoạt động lành mạnh là hết sức quan trọng, qua đó giúp thành
phần kinh tế này hoạt động có hiệu quả.
Bài học kinh nghiệm: Công tác quản trị hoạt động thu thuế cần phải có sự quan
tâm, phối hợp của các cấp, các ngành chứ không chỉ riêng ngành thuế.
Thực tiễn cho thấy, nơi nào mà Cấp ủy, Chính quyền quan tâm chỉ đạo kịp thời
và có sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành thì ở đó công tác quản trị hoạt động
thu thuế được thực hiện rất tốt, kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách luôn đạt và
vượt chỉ tiêu dự toán được giao.
Bên cạnh việc xây dựng các chính sách, pháp luật về thuế rõ ràng, minh bạch,
phù hợp với điều kiện phát triển của mỗi quốc gia, cũng như phù hợp với tình hình hội
nhập kinh tế quốc tế; trong điều kiện bùng nổ CNTT như hiện nay thì việc áp dụng tin
25
học và CNTT vào công tác quản lý thu thuế là hết sức quan trọng.
Kinh nghiệm ở một số nước tiên tiến trên thế giới cho thấy việc áp dụng tin học
và CNTT vào công tác quản lý thu thuế không chỉ giúp CQT nâng cao hiệu quả quản
lý, giảm chi phí quản lý, mà qua đó còn có tác dụng giúp người dân nâng cao tính tự
giác tuân thủ các chính sách, pháp luật về thuế, tạo điều kiện cho CQT thực hiện tốt
chức năng nhiệm vụ của mình.
TÓM TẮT CHƢƠNG 1
Trong chương 1 này, tác giả nêu khái quát về thuế, về hộ KDCT và nêu cơ sở lý
thuyết về thu thuế đối với hộ KDCT, đưa ra các công tác lập kế hoạch thu thuế đối với
hộ KDCT và các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản trị hoạt động thu thuế đối với các hộ
KDCT, từ đó làm cơ sở để tác giả nghiên cứu lập mô hình phù hợp, phân tích thực
trạng và đưa ra các biện pháp tốt nhất nhằm cải thiện công tác quản trị hoạt động thu
thuế đối với hộ KDCT trong chương 2 và chương 3.