Tải bản đầy đủ (.pdf) (306 trang)

TỔNG HỢP 40 BÀI BÁO CÁO KHOA HOC SV 2016

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.05 MB, 306 trang )

LỜI GIỚI THIỆU
Có thể nói đẩy mạnh nghiên cứu khoa học (NCKH) hiện nay đang được
Đảng, Nhà nước cũng như các cấp hết sức quan tâm. Trong đó việc nâng cao năng
lực NCKH trong Đoàn viên thanh niên (ĐVTN) là một trong những yêu cầu cấp
thiết với mục đích tạo được ý thức trong việc nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên
môn cũng như trẻ hóa đội ngũ các nhà khoa học.
Hòa cùng xu thế đó, được sự quan tâm của lãnh đạo Trường Đại học Khánh
Hòa và Tỉnh Đoàn Khánh Hòa về việc thúc đẩy NCKH trong giảng viên trẻ cũng
như nâng cao hoạt động của tổ chức Đoàn về mặt “chất”. Đoàn Trường Đại học
Khánh Hòa phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Đẩy mạnh nghiên cứu,
ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong đoàn viên thanh niên Khối các
Trường, Viện tỉnh Khánh Hòa”.
Thông qua hội thảo, ban tổ chức (BTC) đã nhận được hơn 40 bài báo cáo
khoa học của các giảng viên trẻ đến từ các trường: Sĩ quan Không quân, CĐ Y tế
Khánh Hòa, CĐ Sư phạm TW Nha Trang, CĐ Nghề Nha Trang … với những chuyên
ngành như: Khoa học TN, Kỹ thuật, Khoa học XH và KH giáo dục … Qua đó cho
thấy được sự quan tâm đầu tư về NCKH của giảng viên trẻ trong các trường ĐH,
CĐ. Và cũng thông qua Hội thảo này, BTC mong muốn đây chính là tiền đề để khơi
dậy niềm đam mê cũng như có thêm nhiều định hướng về các đề tài NCKH trong
thời giain tới nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cũng như trình độ
chuyên môn của giảng viên trẻ.

BAN TỔ CHỨC


MỤC LỤC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MỘT SỐ KIỂU NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP ......... 1
NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO
TRƢỚC NĂM 1945 ............................................................................................................ 6
HÌNH ẢNH THIÊN NHIÊN TRONG THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA VÀ ĐỊNH


HƢỚNG DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA TRONG
CHƢƠNG TRÌNH TIỂU HỌC ......................................................................................... 17
VIỆC DẠY HỌC TRUYỆN CỔ TÍCH TRONG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 2, 3
Ở CHƢƠNG TRÌNH TIỂU HỌC ..................................................................................... 21
CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LỚP HỌC VÀ CÁCH ĐÁNH GIÁ THÀNH TÍCH
HỌC TẬP CỦA NHÓM ................................................................................................... 27
THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐỊA LÝ CỦA HỌC SINH LỚP 9 TẠI
TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ..................................................................................... 35
NHÂN VẬT KÌ ẢO TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH ANDERSEN................................... 39
NGÔN NGỮ ĐỜI THƢỜNG TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP ...... 47
VẺ ĐẸP ĐỜI THƢỜNG CỦA NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ LÊ KHÁNH MAI .... 52
HÌNH TƢỢNG NGƢỜI LÍNH TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT .............................. 57
GIẢI PHÁP DẠY TỪ LOẠI TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN CẤP THCS ...... 61

KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀ KỸ THUẬT


VẬT LIỆU TỔ HỢP NANO CuO/TiO2 NỀN TiO2 DẠNG QUE VÀ KẾT QUẢ
XỬ LÝ XANH METYLEN CỦA CHÚNG ..................................................................... 68
NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH FUCOIDAN TỪ RONG NÂU HORMOPHYSA
ARTICULATA Ở VỊNH NHA TRANG .......................................................................... 75
BỘ ĐO THÔNG MẠCH SỬ DỤNG TRONG GIẢNG DẠY THỰC HÀNH CÔNG
NGHỆ 9 ............................................................................................................................. 81
ỨNG DỤNG TOÁN CAO CẤP TRONG VIỆC GIẢI VÀ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ
BÀI TOÁN SƠ CẤP ......................................................................................................... 86
RÈN LUYỆN TƢ DUY SÁNG TẠO THÔNG QUA DẠY HỌC GIẢI TOÁN CHO
HỌC SINH KHỐI 6 .......................................................................................................... 94
ỨNG DỤNG SUY LUẬN LOGIC TRONG GIẢI TOÁN TRUNG HỌC CƠ SỞ ....... 102

ĐIỆN, ĐIỆN TỬ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

MÔ HÌNH THỰC HÀNH KHÍ CỤ ĐIỆN HẠ ÁP ........................................................ 113
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG CÔNG TÁC VĂN THƢ TẠI UBND HUYỆN VẠN NINH, TỈNH
KHÁNH HÒA ................................................................................................................. 123
NGHIÊN CỨU, THIẾT KẾ, CHẾ TẠO THIẾT BỊ MÔ PHỎNG KIỂM TRA MỞ
MÁY MẶT ĐẤT MÁY BAY SU-30MK2..................................................................... 131
NGHIÊN CỨU, THIẾT KẾ, CHẾ TẠO THIẾT BỊ MÔ PHỎNG KIỂM TRA MỞ
MÁY MẶT ĐẤT MÁY BAY SU-30MK2..................................................................... 138
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT VÀ ỨNG DỤNG CỦA CHỮ KÝ ĐIỆN TỬ
VÀ CHỨNG THỰC ĐIỆN TỬ ...................................................................................... 144


ÁP DỤNG LÝ THUYẾT MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƢỢC ĐỂ XÂY DỰNG
MỘT SỐ VIDEO PHỤC VỤ VIỆC DẠY HỌC MÔN HÌNH HỌC TRONG
CHƢƠNG TRÌNH THCS ............................................................................................... 157
ỨNG DỤNG TRÕ CHƠI TRÊN POWER POINT VÀO DẠY HỌC TIẾNG ANH
LỚP 4 .............................................................................................................................. 163

CÁC LĨNH VỰC KHÁC
BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6
TUỔI ĐÁP ỨNG CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC MẦM NON BAN HÀNH 2009 .... 169
SỰ BIẾN ĐỔI SỐ DÂN TỈNH KHÁNH HÒA TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY................. 176
CÔNG TÁC QUẢN LÝ VĂN BẢN TẠI UBND XÃ VĨNH THẠNH, THÀNH
PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ............. 185
CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO THANH THIẾU NIÊN,
TẠI XÃ NINH PHÚ, THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA .............................. 193
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ SỰ CHÊNH LỆCH GIỚI TÍNH Ở XÃ
THANH HẢI HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN ............................................ 200
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ VẬT CHẤT ĐỐI VỚI
NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG XÃ DIÊN ĐIỀN, HUYỆN DIÊN

KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA ...................................................................................... 207
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở
HUYỆN KHÁNH SƠN TỈNH KHÁNH HÒA............................................................... 215
HƢỚNG NGHIỆP CHO NGƢỜI SAU CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI TỈNH
QUẢNG NGÃI GIAI ĐOẠN 2013 – 2015: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ............ 226


THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE PHÕNG
CHỐNG SUY DINH DƢỠNG Ở TRẺ EM DƢỚI 5 TUỔI TẠI XÃ SUỐI HIỆP,
HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÕA ............................................................ 233
KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG THỂ CHẤT Ở NGƢỜI BỆNH SUY TIM TẠI BỆNH
VIỆN ĐA KHOA TỈNH KHÁNH HOÀ ........................................................................ 243
SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ ĐỂ NÂNG CAO KỸ NĂNG NÓI CHO SINH VIÊN
NĂM 2 TẠI ĐH KHÁNH HÕA ..................................................................................... 252
TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH QUỐC TẾ ĐỐI VỚI THỊ
TRƢỜNG KHÁCH NGA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH LONG PHÚ .......... 257
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VĂN BẢN ĐẾN TẠI VĂN
PHÕNG HĐND&UBND THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ................................................................................... 261
TÌM HIỂU TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH MUA SẮM TẠI
THÀNH PHỐ NHA TRANG ......................................................................................... 267
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VIỆC ÁP DỤNG ISO 9001:2000 VÀO CÔNG
TÁC VĂN THƢ LƢU TRỮ TẠI UBND HUYỆN VẠN NINH................................. 273
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA MỚI Ở KHÁNH HÒA HIỆN NAY ........................................ 280
THỰC TRẠNG VỀ XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TAM
LÔC, HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM ........................................................ 293


MỘT SỐ KIỂU NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN

NGUYỄN HUY THIỆP
Chủ nhiệm đề tài: Đoàn Thị Kim Kiều
Tên đơn vị: Lớp sƣ phạm Ngữ văn K40 - Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn Trƣờng Đại học Khánh Hòa
Địa chỉ đơn vị : 01 Nguyễn Chánh – Tp. Nha Trang – Khánh Hòa.
1. Tóm tắt báo cáo
Nguyễn Huy Thiệp là một trong những “bông hoa nở muộn” trên thi đàn văn
học Việt Nam hiện đại, thế nhưng ông đã để lại rất nhiều tác phẩm tiêu biểu khiến
bạn đọc và các nhà phê bình đặc biệt quan tâm và nghiên cứu. Vấn đề xây dựng
nhân vật đã được các nhà bình luận, nghiên cứu đề cập đến nhưng chung quy còn
tản mạn, chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống. Chính vì sự cảm phục
về sự sáng tạo không ngừng đổi mới trên con đường nghệ thuật của Nguyễn Huy
Thiệp cũng như muốn tìm hiểu rõ hơn về một số kiểu nhân vật trong truyện ngắn
của ông, tôi đã quyết định chọn tác giả Nguyễn Huy Thiệp cho đề tài nghiên cứu.
Thực hiện đề tài này tôi nhằm tìm hiểu thêm về phong cách nghệ thuật của cây bút
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đồng cũng làm nổi bật được một số kiểu nhân vật
trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thông qua một số phương pháp cơ bản
như: Phương pháp nghiên cứu phân tích; phương pháp nghiên cứu tiểu sử, hệ
thống, so sánh, đối chiếu, tổng hợp,...; Đề tài sau khi nghiên cứu sẽ đem lại cho tôi
cách nhìn nhận mới của tư duy văn học nghệ thuật Việt Nam nói chung và thể loại
chuyện ngắn nói riêng sau đổi mới (1986). Đồng thời khẳng định vị trí và vai trò
của nhà văn trong công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam đương đại.
2. Nội dung bài báo cáo:
2.1 Đặt vấn đề:
Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn phát triển khá muộn trong văn học hiện
đại sau 1975, nhƣng với tài năng thực sự của mình Nguyễn Huy Thiệp đã khẳng
định đƣợc vị trí trên văn đàn văn học Việt Nam. Ông là ngƣời đã góp phần cho đời
sống văn học thời kỳ đổi mới trở nên sôi nổi.

1



Đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ngƣời đọc ngạc nhiên trƣớc sự phong
phú của vốn sống, sự sắc sảo của óc quan sát, sự sâu sắc của trí tuệ, sự đằm thắm
của tình ngƣời, sự đa dạng của bút pháp. Nguyễn Huy Thiệp đã đóng góp rất nhiều
khía cạnh mới cho truyện ngắn Việt Nam hiện nay: Từ cách chọn đề tài, cách dựng
truyện, cách xây dựng nhân vật, lối hành văn,... song đặc điểm cơ bản trong các sáng
tác của Nguyễn Huy Thiệp là ông thƣờng đề cập các vấn đề con ngƣời, tính cách và
số phận con ngƣời cũng chính vì thế đã thu hút đƣợc sự chú ý của bạn đọc cũng nhƣ
các nhà nghiên cứu.
Vấn đề nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã đƣợc các nhà
nghiên cứu, nhà phê bình bàn đến nhƣng chủ yếu nằm rải rác trong các bài nghiên
cứu, thẩm định, đánh giá một cách tổng hợp các phƣơng diện nghệ thuật trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nên chƣa có điều kiện đi sâu nghiên cứu riêng về
kiểu nhân vật. Chính vì vậy, nhờ sự gợi mở của các nhà nghiên cứu, phê bình đi
trƣớc nhƣ: Nhà nghiên cứu văn học Nga T.N Philimonova, Tiến sĩ Greg Lockhart,
Vũ Đức Phúc, Mai Ngữ, Lại Thiên Ân, Nguyễn Thúy Ái,.... Tôi muốn làm nổi bật
đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp, nhằm lý giải sức hấp dẫn của cây bút truyện ngắn này.
Vấn đề xây dựng nhân vật đã đƣợc các nhà bình luận, nghiên cứu đề cập đến
nhƣng chung quy còn tản mạn, chƣa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống.
Những điều trên đã chứng minh Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng. Chính vì sự
cảm phục về sự sáng tạo không ngừng đổi mới trên con đƣờng nghệ thuật của
Nguyễn Huy Thiệp, tôi đã quyết định chọn tác giả Nguyễn Huy Thiệp cho đề tài
nghiên cứu. Quan trọng hơn là hiện nay việc nghiên cứu về một số kiểu nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn nhiều điều chƣa thống nhất. Vì vậy cần có
đề tài đi sâu nghiên cứu một cách tập trung và có hệ thống. Với đề tài này, tôi sẽ
trang bị cho mình những kiến thức cần thiết phục vụ tốt cho việc giảng dạy sau này.
2.2 Giải quyết vấn đề:
2.2.1 Mục tiêu của đề tài:
Nghiên cứu về một số kiểu nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp tôi

hƣớng tới hai mục tiêu: Làm nổi bật đƣợc một số kiểu nhân vật trong truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp. Qua nghiên cứu phân tích đi đến khẳng định thành công
của Nguyễn Huy Thiệp qua việc sử dụng ngôn ngữ và giọng điệu.
2.2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu:

2


Trong quá trình triển khai đề tài ngƣời viết đã sử dụng, kết hợp rất nhiều
phƣơng pháp khác nhau. Tuy nhiên một số phƣơng pháp sau đƣợc sử dụng thƣờng
xuyên nhƣ:
- Phƣơng pháp tiểu sử : Đƣợc sử dụng chủ yếu ở chƣơng 1, để thấy đƣợc mối quan
hệ giữa tiểu sử của tác giả với tác phẩm từ đó lí giải, chiếm lĩnh đƣợc nội dung tác
phẩm.
- Phƣơng pháp hệ thống : Phƣơng pháp này giúp tôi tiến hành sắp xếp các luận điểm
một cách có hệ thống nhằm đánh giá đầy đủ giá trị và ý nghĩa. Phƣơng pháp này
đƣợc sử dụng xuyên suốt bài nghiên cứu của tôi.
- Phƣơng pháp so sánh đối chiếu: khi tìm hiểu các thủ pháp nghệ thuật xây dựng
nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Phƣơng pháp này tôi dùng để đối
chiếu với các cách xây dựng nhân vật của các nhà văn cùng thời nhằm thấy đƣợc
những điểm riêng, những điểm đặc sắc trong việc xây dựng nhân vật trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Tôi sử dụng phƣơng pháp này chủ yếu tập trung ở chƣơng
II.
- Phƣơng pháp phân tích tổng hợp: sử dụng phƣơng pháp này giúp tôi tiến hành
phân tích các nguồn tƣ liệu và từ đó tổng hợp các yếu tố nổi bật để đƣa vào bài viết
một cách logic.
- Phƣơng pháp thi pháp học: tôi sử dụng phƣơng pháp này để phân tích các khía
cạnh hình thức của các tác phẩm từ đó rút ra ý nghĩa thẩm mỹ của nó.
Tuy nhiên, các phƣơng pháp này không vận dụng riêng lẻ mà luôn có sự kết hợp, hỗ
trợ cho nhau; đặc biệt là kết hợp với các thao tác tƣ duy nhƣ phân tích, chứng minh,

bình luận.
2.2.3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận:
Đề tài gồm có II chƣơng. Ở chƣơng I, tôi tìm hiểu đôi nét về tác giả, cuộc
đời, sự nghiệp, quan điểm nghệ thuật và truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Giúp
tôi có cơ sở kiến thức nền tảng để nghiên cứu sâu hơn vào các vấn đề tiếp theo của
chƣơng II.
Ở chƣơng II, tôi đi tìm hiểu về nhân vật đời thƣờng , nhân vật lịch sử, nhân vật
huyền thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, từ góc độ nội dung và nghệ thuật.
2.2.4 Kết luận và kiến nghị:
Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong giai
đoạn đầu của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Truyện ngắn là một trong những

3


thành tựu nổi bật nhất của Nguyễn Huy Thiệp. Nguyễn Huy Thiệp đã tạo cho mình
một nguyên tắc sử sự riêng không thể nhầm lẫn.
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp truyền tải thành công các văn niệm nghệ
thuật và thông điệpvăn chƣơng của nhà văn. Đó là những quan niệm mới mẻ, dù viết
về đề tài miền núi - nông thôn - đô thị, hay về lịch sử - văn hóa; dù ngợi ca, phê
phán hay tự vấn, Nguyễn Huy Thiệp luôn luôn tìm cho mình một chỗ đứng. Quan
niệm văn chƣơng của ông là dùng văn chƣơng để phản ánh chân thực hiện trạng xã
hội, Nguyễn Huy Thiệp thƣờng khắc họa nhân vật từ góc độ con ngƣời xã hội. Nhân
vật của ông ít khi có một tính cách toàn vẹn mà đa số là hiện thân một trạng thái
quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại xã hội. Bằng các tác phâm của
mình thông qua các thế giới nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp thể hiện một sự đổi mới
trong tƣ duy nhận thức và tƣ duy sáng tạo.
Truyện ngắn sau 1975 có sự vận động biến đổi nhiều phƣơng diện: đề tài, chủ đề, tƣ
tƣởng, cốt truyện, nhân vật, ngƣời kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật.
Trong đó nhân vật là một phƣơng diện nghệ thuật đƣợc các nhà văn chú trọng, nhân

vật không đƣợc miêu tả cụ thể về ngoại hình, tuổi tác, tính cách, số phận,.... Mà chú
ý nhiều hơn tâm tƣ tình cảm của nhân vật.
Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn thu hút đƣợc nhiều sự chú ý của ngƣời
đọc lẫn giới phê bình nghiên cứu bởi một hệ thống nhân vật đa dạng, phong phú:
Nhân vật đời thƣờng, nhân vật lịch sử, nhân vật huyền thoại. Mỗi nhân vật ông đều
có cách nhìn khác nhau. Những nhân vật trong truyện ngắn của ông luôn là những
câu hỏi còn bỏ ngỏ mà ngƣời đọc phải đi tìm câu trả lời.
Nhân vật đời thƣờng trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thì sống động nhƣ
những con ngƣời ngoài đời thực - họ có mặt tốt, mặt xấu, ƣu điểm, nhƣợc điểm. Đối
với Nguyễn Huy Thiệp con ngƣời tốt hay xấu còn tùy thuộc vào tình huống, hoàn
cảnh cụ thể. Nhân vật lịch sử không còn là kiểu nhân vật để ngắm nhìn, chiêm
ngƣỡng mà vô cùng khoảng cách với hôm nay mực dù thời gian rất xa. Dựa trên
nhân vật huyền thoại Nguyễn Huy Thiệp đã tạo cho nhân vật một hình bóng khác lạ,
vƣơn tới ý nghĩa biểu tƣợng. Chất huyền thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
cũng góp phần làm cho truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang đạm giá trị hiện thực
và giá trị thẩm mỹ. Thông qua thế giới nhân vật Nguyễn Huy Thiệp còn thể hiện tƣ
tƣởng nghệ thuật về con ngƣời và cuộc đời của mình.
Sự độc đáo là một yêu cầu nhất thiết với văn học nó mang tới cái chất mà lâu
nay trong văn học Việt Nam hơi thiếu: chất kiêu bạc, tàn nhẫn, cay đắng. Khi

4


nghiên cứu về Nguyễn Huy Thiệp phải chú ý tìm hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau,
phải biết rõ về các kiểu nhân vật, nghệ thuật, giọng điệu mà nhà văn thƣờng sử dụng
trong tác phẩm của mình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Phạm Xuân Nguyên. (2001). Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp. NXB Văn hóa thông
tin Hà Nội
2. “Một ngã rẽ thú vị của truyện ngắn Việt Nam sau 1986”, TS. Trần Viết Thiện

(2011), Tạp chí Nha Trang, (186, tháng 3/2011, trang 76)
3. “Nguyễn Huy Thiệp và những bƣớc ngoặt của văn học Việt Nam sau 1975”
4. “Đặc điểm thi pháp truyện ngắn Việt Nam sau 1975” T.S Đặng Thị Mây
5. Nguyễn Văn Bổng. (1988). Về cái ma lực trong truyện ngăn Nguyễn Huy Thiệp.
NXB Hội nhà Văn
6. Mai Ngữ. (1988). Cái tâm và cái tài ngƣời viết. NXB Văn nghệ Quân Đội
7. Những phƣơng diện đổi mới cơ bản trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Đề
tài NCKH Đặng Thị Thùy Minh.
8. />9. />
5


NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
NAM CAO TRƢỚC NĂM 1945
Lê Thị Tuyết Ngân
Trƣờng Đại học Khánh Hòa – Khoa Khoa học xã hội và nhân văn
Gần đây, vấn đề tự sự học đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu sâu
rộng trên rất nhiều bình diện. Từ góc độ lý thuyết về tự sự học, nhiều nhà nghiên
cứu đã vận dụng để tìm hiểu các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn,…Soi chiếu tác
phẩm dưới góc độ tự sự học, nhiều vấn đề trong tác phẩm được nhìn nhận một cách
toàn diện và có cơ sở vững chắc hơn khi đánh giá nội dung tư tưởng và giá trị thẩm
mĩ của một chỉnh thể tác phẩm văn học. Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất
sắc, là người “kết thúc vẻ vang cho trào lưu của chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam” (
Phong Lê), để lại không ít tác phẩm vinh danh cho tên tuổi của ông. Truyện ngắn
của Nam Cao được nghiên cứu trên rất nhiều phương diện, trong đó có cả phương
diện tự sự nghệ thuật. Song, tiếp cận truyện ngắn của ông ở khía cạnh ngôn ngữ và
giọng điệu trần thuật ta vẫn có thể khám phá ra những điều mới mẻ còn ẩn giấu
trong những trang truyện đầy xúc động của một nhà văn rất mực yêu thương con
người…Bài viết này tôi đã đề cập đến một vấn đề đó là ngôn ngữ trần thuật trong
truyện ngắn của nhà văn Nam Cao.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nam Cao là một tài năng lớn tiêu biểu của dân tộc ta. Ông là nhà văn xuất sắc
đã góp phần cách tân và hiện đại hóa nền văn xuôi quốc ngữ. Cả cuộc đời Nam Cao
là một quá trình phấn đấu không khoan nhƣợng cho một nhân cách cao đẹp – nhân
cách trong cuộc đời và nhân cách trong sáng tạo nghệ thuật.
Có nhiều ý kiến về tác giả Nam Cao, nhà văn Lê Định Kỵ cho rằng trong
văn xuôi trƣớc cách mạng, chƣa có ai có đƣợc ngòi bút sắc sảo, gân guốc soi mói
nhƣ của Nam Cao. “Nam Cao đã mạnh dạn đi theo một lối đi riêng, nghĩa là không
đếm xỉa gì đến sở thích của độc giả. Nhưng tài năng của ông đã đem đến cho văn
chương một lối văn mới sâu xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của con người
biết tin ở tài năng của mình, thiên chức của mình”1. Nam Cao là nhà văn hiện thực
lớn, cũng đã có biết bao nhà phê bình và cũng đã tốn biết bao bút giấy để viết về
ông. Có những ngƣời nghiên cứu rất tỉ mỉ về quê hƣơng, gia đình, về quan niệm

6


nghệ thuật, về phong cách nghệ thuật, về thi pháp nghệ thuật của tác phẩm Nam Cao
mà đặc biệt là những tác phẩm truyện ngắn trƣớc năm 1945.
Trên tinh thần kế thừa những nhận xét của những ngƣời nghiên cứu đi trƣớc
về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Nam Cao và mong muốn góp thêm
một cách nhìn của mình về phong cách nghệ thuật của nhà văn , tôi xin mạnh dạn
đƣa ra những nhận định của mình thông qua bài báo cáo về “Ngôn ngữ trần thuật
trong truyện ngắn của Nam Cao”. Đồng thời, đề tài này rất bổ ích cho tôi trong
công tác giảng dạy về tác phẩm của ông sau này đạt hiệu quả cao hơn.
2. NỘI DUNG
2.1. Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của Nam Cao
Năm 1961 Hà Minh Đức đánh dấu bƣớc nghiên cứu công phu, hệ thống đầu
tiên về Nam Cao qua công trình: “Nam Cao – Nhà văn hiện thực xuất sắc” (in lại
trong Nam Cao, đời văn và tác phẩm - 1997). Trong đó tác giả đã chú ý đến ngôn

ngữ trong truyện ngắn Nam Cao. Ông viết: “Ngôn ngữ trong tác phẩm Nam Cao
giản dị như nội dung các truyện mà tác giả miêu tả. Nam Cao ưa lối đặt câu ngắn,
gọn, phô diễn tư tưởng, biểu đạt ý tình một cách chính xác, bình dị. Tác giả tránh
được sự cầu kỳ, phô trương khi vận dụng ngôn ngữ”2
2.1.1 Ngôn ngữ trực tiếp
Ngôn ngữ trực tiếp đƣợc xem là “ngôn ngữ do nhân vật hoặc do tác giả những con ngƣời trực tiếp thể hiện trong tác phẩm”. Do vậy, lời trực tiếp trong tác
phẩm tự sự chủ yếu là những câu thoại và chúng đảm nhận nhiều chức năng quan
trọng.
Về ngôn ngữ nhân vật, tác giả đã sử dụng triệt để ngôn ngữ vùng đồng bằng Bắc Bộ,
với kiểu câu ngắn mà đậm ý, từ đó tạo ra những đoạn đối thoại đầy ý vị, đầy kịch
tính, giản dị nhƣng không kém phần hấp dẫn đối với ngƣời đọc. Ngôn ngữ đặt trong
lời văn của nhân vật rất phù hợp với giai cấp, với hoàn cảnh cá nhân, với cuộc đời,
với những suy nghĩ của riêng họ.
Có thể nói trong truyện ngắn của nhà văn Nam Cao, chất giọng chính lấy từ ngôn
ngữ của nông dân Bắc Bộ. Vừa cộc, vừa bốp chát, bô bô thẳng thừng, vừa tính toán,
nói xuôi cũng đƣợc mà ngƣợc lời cũng nên. Chất giọng này đậm nét nhƣ trong
những truyện viết về ngƣời nông dân. Dƣờng nhƣ Nam Cao đã mang ngôn ngữ của
làng quê Bắc Bộ vào trong truyện của mình một cách tự nhiên nguyên vẹn, cả giọng
điệu, ngôn từ, tính cách và tƣ duy. Nhân vật luôn nghĩ đi thì thế này, nghĩ lại thì thế
này, đằng nào cũng có lý cả. Truyện “Một đám cưới” là một tiêu biểu cho kiểu ngôn

7


ngữ này. Thực chất đám cƣới Dần là một đám cƣới chạy đói. Cô dâu chỉ “mặc
những áo vải thường ngày nghĩa là một cái quần cộc xẫng và đụp những miếng vá
thật to, một cái áo cánh nâu bạc phếch và cũng vá nhiều chỗ lắm. một bên tay rách
quá, đã xé cụt gần đến nách. Nó sụt sịt khóc đi bên cạnh mẹ chồng, chú rể dắt đứa
em lớn của Dần. Còn thằng bé thì ông bé cõng. Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh
và bóng tối như một gia đình xẩm, lẳng lặng, dắt díu nhau đi tìm chỗ ngủ”.3

Đó có thể là vợ chồng nông dân nọ, bản chất bốp chát, bỗ bã, cọc cằn của họ đƣợc
thể hiện qua cuộc cãi vã, to tiếng vì một cái vé sợi. Tuy nhiên, đằng sau tất cả những
câu nói có vẻ thô ráp của họ là cái chất nông dân mộc mạc, và cái lo vén cho việc
làm kiếm cái ăn hàng ngày của họ. Hãy xem cách xƣng hô, và cách đối thoại của họ
trong tác phẩm “Thôi, về đi…”:
“- Mày chết đi!...mày chết đi!...mày chết đi cho rồi!...
- Ô hay! Cái gì mà ghê gớm thế? Anh cu Thiêm quắc mắt, toan quát lên với vợ.
Nhưng vợ anh rên rỉ:
- Trời ơi là trời! Mày giết tao!...mày giết tao!...có một tí khung cửi thì mày đem mày
bán
- Mẹ! Không có sợi, không bán thì để mà thờ ông tổ nhà mày hở?”
Thông thƣờng trong truyện ngắn Nam Cao, chúng ta sẽ bắt gặp nhiều kiểu tạo tình
huống mâu thuẫn mà không có tiền giả định nhƣ đoạn hội thoại trên. Chị vợ chẳng
nói rõ đầu cua tai nheo mà bù lu bù loa lên rủa chồng “mày chết đi” một cách đay
nghiến, hằn học. Nhƣng sau đó, chị lại rên rỉ đau đớn “Trời ơi, mày giết tao…”, bởi
vì bên trong sự đay nghiến, hằn học đau đớn ấy là một sự tiếc xót vì “có một tí
khung cửi mà mày đem bán” mà giờ ngƣời ta phát sợi thì chỉ phát cho những ngƣời
có khung cửi. Tính tình của ngƣời nông dân là thế, họ cứ phải gằn từng lời, nhai
từng miếng để cãi nhau, dƣờng nhƣ là để xả bớt nỗi bức xúc trong ngƣời thì mới
yên. Có bao nhiêu sự bức xúc, bực tức họ xả hết ra cửa miệng nhƣ thế, nhƣng trong
lòng thì chẳng nghĩ ngợi, để bụng gì nữa. Chỉ vì khổ quá mà họ sinh ra gắt gỏng. Đó
cũng là điều mà Nam Cao hiểu và thông cảm chân thành khi ông viết về ngƣời nông
dân.
Đọc truyện ngắn Nam Cao, tôi gặp rất nhiều những từ ngữ đặc biệt của ngƣời nông
dân Bắc Bộ. Những từ ngữ trong sinh hoạt hằng ngày, những cách so sánh ví von,
những cách suy nghĩ nói năng. Chẳng hạn: “Chạy xạc cả gấu váy”, “buồn cười
chửa, có vậy mà cũng gắt như mắm thối”, “cứ ngay mặt ra như cán tàn…”, “đầu
gio mặt muối”, “chõ mồm vào…”, “Giời ơi là giời! Có chồng con nhà nào thế

8



không? Chỉ vác cái mặt lên như con trâu nghênh suốt ngày. Chẳng nhìn nhõ đến cái
gì. Để cho con ăn đất ngoài sân kia kìa!...”
Bên cạnh việc bộc lộ tính cách, lời văn trực tiếp cũng có khả năng biểu hiện nội tâm,
tình cảm của nhân vật. Nam Cao hiểu thấu cả nỗi lòng, tình cảm của ngƣời nông
dân. Nên truyện ngắn của ông biểu hiện chân thực suy nghĩ của ngƣời nông dân qua
tiếng nói của họ. Một phần tình cảm của lão Hạc đƣợc thể hiện rất xúc động qua
cuộc trò chuyện của lão Hạc với cậu Vàng:
“ - Nó giết mày đấy! mày có biết không? Ông cho thì bỏ bố! Con chó tưởng chủ
mắng vẫy
đuôi mừng, để lấy lại lòng chủ. Lão Hạc nạt to hơn nữa.
- Mừng à? Vẫy đuôi à?Vẫy đuôi thì cũng giết! Cho cậu chết!...
- À không! à không! không giết cậu Vàng đâu nhỉ!...Cậu Vàng của ông ngoan lắm!
Ông
không cho giết. Ông để cậu Vàng ông nuôi…” (Lão Hạc)
Trong đoạn hội thoại trên, chỉ có lời của lão Hạc, còn sự giao tiếp của cậu Vàng là
những cử chỉ, hành động mà chỉ có lão Hạc mới tƣởng tƣợng ra, vì lão đang chọn nó
làm đối tƣợng để dốc bầu tâm sự. Qua lời của lão Hạc, qua sự ngƣng nghỉ giữa các
ngôn từ bằng các dấu ba chấm ở cuối mỗi câu nói cho thấy một cách xúc động nỗi
lòng, tình cảm của lão Hạc dành cho con và cho cậu Vàng. Bao nhiêu tình cảm, và
tâm tƣ của lão dồn nén trong những câu nói và cách xƣng hô đầy trìu mến ấy.
Một tiểu loại khác của dạng ngôn ngữ trực tiếp là lời nội tâm (độc thoại nội tâm và
đối thoại nội tâm). Truyện ngắn Nam Cao có đặc trƣng là có kết cấu và cốt truyện
tâm lý, rất nhiều truyện nƣơng theo yếu tố tâm lý để kể truyện. Để đạt đƣợc hiệu quả
nghệ thuật cao nhà văn phải sử dụng khéo léo một số lƣợng không nhỏ lời nội tâm
nhân vật. Chính nhờ kiểu lời văn này mà nhân vật bộc lộ rất tinh tế những suy nghĩ,
tƣ tƣởng, dòng nội tâm, tình cảm riêng tƣ của nhân vật.
Những sáng tác ở giai đoạn trƣớc năm 1945, kiểu lời văn này đƣợc Nam Cao sử
dụng khá thành công và tận dụng triệt để những chức năng biểu hiện của nó. Nhờ

thế ngƣời đọc khám phá nhân vật dễ dàng ở những chiều sâu tâm trạng và tính cách
nhân vật. Với những truyện ngắn có kết cấu tâm lý, lời nội tâm luôn chiếm vị trí chủ
đạo trong toàn truyện. Khi thì là độc thoại nội tâm, khi thì chính nhân vật tự đối
thoại với mình trong suy nghĩ. Chính sự đan cài những kiểu câu nhƣ thế tạo cho
truyện ngắn một sự sinh động, hấp dẫn. Có thể kể đến các truyện nhƣ: Chí Phèo;

9


Cái mặt không chơi được; Giăng sáng; Đôi móng giò; Mua nhà; Từ ngày mẹ
chết; Điếu văn; Đời thừa; Cười; Nước mắt…4
Ở “Chí Phèo”, mỗi nhân vật đều hiện lên với vẻ sống động của nó qua lời nhân vật.
Đoạn Chí Phèo sau khi rạch mặt ăn vạ đƣợc Bá Kiến “xử mềm”. Chí Phèo đã có vẻ
tỉnh táo và anh ta tự đối thoại với chính mình bằng những phân tích rạch ròi trong
suy nghĩ về việc kẻ đã đẩy hắn vào tù và đang xử nhũn với hắn đây: “Cái thằng Bá
Kiến này, già đời đục khoét, còn đớn cái nước gì mà chịu lép như trấu thế? Thôi dại
gì mà vào miệng cọp, hắn cứ đứng đây này, cứ lại lăn ra đây này, lại kêu toáng lên
xem nào…Thôi cứ vào! Vào thì vào, cần quái gì. Muốn đập đầu thì vào ngay giữa
nhà nó mà đập đầu còn hơn ở ngoài. Cùng lắm nó có giở quẻ, hắn cũng chỉ đến đi ở
tù. Ở tù thì hắn coi là thường. Thôi cứ vào…”. Riêng nói về nhân vật Thị Nở, chúng
ta bắt gặp rất nhiều lời độc thoại nội tâm và đối thoại nội tâm. Những lời của Thị hé
mở cho ngƣời đọc rất nhiều chi tiết để nhận chân bản chất và tính cách của con
ngƣời đánh dấu bƣớc ngoặt biến đổi Chí Phèo. Hãy nghe lời đối thoại nội tâm của
Thị: “Gớm! Sao lại có thứ người đâu mà lì quá thế! Người ta ngồi đấy mà dám lăn
ngay vào, nó chả ngang ngược mà người ta kêu bé, nó lại làm to hơn…nhưng mà
đáng kiếp. Thổ trận ấy thật là phải biết. Cứ gọi là hôm nay nhọc đừ. Phải cho hắn
ăn tí gì thì mới được. Đang ốm thế thì chỉ có ăn cháo hành. Ra được mồ hôi thì là
nhẹ nhõm người ngay đó mà…”, ta sẽ thấy bên cạnh một Thị Nở dở hơi, “xấu ma
chê quỉ hờn”, là một Thị Nở cũng “tình”, cũng có những phút giây bâng quơ nghĩ
ngợi, Thị cũng biết quan tâm, và chăm sóc đến ngƣời khác. Phải chăng chính những

điều đó đã thức tỉnh lƣơng tri Chí Phèo? Rồi cũng chính Thị đã buông tay trƣớc sự
chới với hụt hẫng của Chí.
“Mua nhà” dƣới hình thức tâm sự của tôi với một ngƣời bạn, tác giả kể chuyện mua
nhà mà thực chất là để bộc bạch tâm trạng của mình. Không ít lời nội tâm trong
truyện tạo nên một mạch ngầm tâm trạng xuyên suốt của chủ thể “tôi”. Đến kết thúc
câu chuyện, “tôi” vỡ òa trong mạch cảm xúc với bao nhiêu xót thƣơng, đau đớn cho
những cuộc đời khổ sở đang hiện diện trƣớc mắt anh “Tim tôi động một cái giống
như bước hụt. Rồi nó đập loạng choạng. Tôi hơi lảo đảo. Bây giờ thì tôi không lẩn
trốn những ý nghĩ của tôi được nữa. Tôi ác quá! Tôi ác quá! Tôi phải thú với tôi
nhiều rồi…”. Tâm trạng của nhân vật đƣợc bộc lộ chân thực xúc động trong những
lời nội tâm nhƣ thế.
Còn rất nhiều tác phẩm của nhà văn Nam Cao sử dụng lời văn trực tiếp. Một điều
khá thú vị khi khảo sát ngôn ngữ trực tiếp trong truyện ngắn của nhà văn Nam Cao

10


mà tôi nhận thấy đó là hầu hết những lời ấy đều mang tính triết lý rất cao. Thông
thƣờng nhà văn không nên bày tỏ trực tiếp thái độ của mình trong tác phẩm sẽ dễ
dàng làm mất đi cái phần chìm mà mỗi tác phẩm cần phải có để gợi sự thích thú cho
ngƣời đọc. Tuy nhiên Nam Cao sử dụng ngôn ngữ trực tiếp nhƣ vậy nhƣng cái tài
trong việc sử dụng kiểu ngôn ngữ này là ông “cô” những lời nhận xét, hay thái độ,
phẩm bình của mình bằng những lời văn súc tích mang đậm tính triết lý, khiến cho
truyện ngắn của ông đƣợc khơi sâu tầng ý nghĩa.
2.1.2 Ngôn ngữ gián tiếp
Cùng với ngôn ngữ trực tiếp, ngôn ngữ gián tiếp cũng là một phần lời văn
trần thuật nổi bật của nhà văn Nam Cao. Ở truyện ngắn Nam Cao với kiểu lời gián
tiếp một giọng xuất phát từ chủ thể trần thuật ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba theo
điểm nhìn hƣớng ngoại dùng để miêu tả thế giới khách quan, cảnh vật bên ngoài có
tác động đến suy nghĩ, tâm trạng nhân vật và một phần nhiều kiểu lời này Nam Cao

dùng để miêu tả diện mạo và tính cách nhân vật.
2.1.2.1 Ngôn ngữ miêu tả
Nam Cao là nhà văn thuộc dòng văn học hiện thực phê phán. Truyện của ông
không nhiều những đoạn miêu tả cảnh vật lãng mạn nhƣ ở truyện ngắn của Thạch
Lam, nhƣng không phải là không có. Có những truyện Nam Cao miêu tả cảnh vật
thiên nhiên. Trong truyện ngắn Nam Cao, ngoại cảnh có một sự tác động nhất định
đến tâm trạng và ý thức của nhân vật.
Trong “Giăng sáng”, thiên nhiên đƣợc miêu tả với một giọng “nhại” lãng
mạn dƣới cái nhìn của Điền: “Có đọc văn thơ, mới biết giăng là một cái gì đẹp và
quí lắm. Giăng là cái liềm vàng giữa đống sao. Giăng là cái đĩa bạc trên tấm thảm
nhung da trời. Giăng tỏa mộng xuống trần gian. Giăng tuôn suối mát để những hồn
khát khao ngụp lặn. Trăng! ơi trăng! Cái vú mộng tròn đầy mà thi sĩ của muôn đời
mơn man!”. Sự mơ mộng trƣớc thiên nhiên này đã khiến Điền tạm thời thoát ly thực
tế và anh say sƣa đắm chìm trong bao nhiêu là mơ tƣởng, là hoài bão. Thiên nhiên
huyền ảo này cũng đối lập với bóng tối nơi trần gian cũng nhƣ cuộc sống lầm than,
tù túng đang vây riết cuộc sống sống của Điền. Sự đối lập này tác động đến tâm
trạng và nhận thức của Điền. Cuối cùng thì Điền cũng nhận ra ý nghĩa đích thực của
nghệ thuật và anh sẵn sàng sống trong lao khổ, mở lòng ra đón lấy những vang động
của đời.
Trong “Chí Phèo”, thiên nhiên đƣợc Nam Cao đặc biệt miêu tả trong đêm Chí Phèo
và Thị Nở gặp nhau: “Nhưng chiều hôm ấy, trăng lại sáng hơn mọi chiều, trăng tỏa

11


trên sông và sông gợn biết bao nhiêu gợn vàng. Những vàng ấy rung rung mới trông
thì đẹp nhưng trông lâu mỏi mắt. Gió lại mát như quạt hầu”. Khung cảnh thiên
nhiên ấy là chứng nhân cho một cuộc gặp gỡ tạo nên sự biến đổi cuộc đời của Chí.
Nam Cao đã rất tinh tế khi dẫn vào đây những đoạn miêu tả thiên nhiên đêm trăng
thơ mộng. Dƣờng nhƣ thiên nhiên ấy làm đẹp hơn lên những cái gì là thô ráp của

hiện thực.
Ở ngôn ngữ gián tiếp một giọng trong truyện ngắn Nam Cao, ngƣời đọc bắt gặp
những đoạn miêu tả chân dung, khắc họa ngoại hình tính cách nhân vật hết sức độc
đáo. Có những nhân vật Nam Cao miêu tả bằng một bút pháp tả chân sắc nét. Tuy
nhiên, nhiều ngƣời cho rằng khi miêu tả diện mạo nhân vật Nam Cao đã bị cuốn
theo chủ nghĩa tự nhiên nên thế giới nhân vật của ông hiện lên ngồn ngộn những nét
quái dị, xấu xí, thô mộc. Những nhân vật nhƣ Lang Rận; mụ Lợi, Nhi, Trương
Rự;…dƣới ngòi bút Nam Cao đã trở nên những nhân vật hết sức xấu xí, kém cỏi về
nhan sắc.
Một trong những điển hình là chân dung nhân vật Thị Nở: “Cái mặt của thị thực là
một sự mỉa mai của hóa công: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang hơn
bề dài; thế mà hai má lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu má phính phính thì mặt thị
lại còn được hao hao như mặt lợn, là thứ mặt vốn nhiều hơn người ta tưởng trên cổ
người. Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành
bạch muốn chen lẫn nhau với những cái môi cũng cố chen nhau cho không thua cái
mũi...đã thế những cái răng rất to lại chìa ra; ý hẳn chúng nghĩ sự cân đối chữa
được một vài phần cho sự xấu. Đã thế thị lại dở hơi”5 (Chí Phèo). Bên cạnh bức
chân dung của Thị Nở, chân dung của Chí Phèo cũng hiện lên tất cả vẻ du côn, bợm
trợm sau những ngày tháng tù tội – chân dung của một kẻ côn đồ. Diện mạo của Chí
Phèo là kết quả của một sự tha hóa cả về nhân tính lẫn nhân hình.
Đây là chân dung Chí Phèo: “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng thì trắng hớn, cái mặt
thì đen mà rát cơng cơng, hai mắt gờm gờm trông gớm chết”, “Cái mặt hắn không
trẻ, cũng không già; nó không còn phải mặt người: nó là mặt một con vật lạ, nhìn
mặt những con vật ấy có bao giờ biết tuổi. Cái mặt hắn vàng vàng mà lại muốn xạm
màu gio; nó vằn dọc và ngang không thứ tự, biết bao nhiêu là sẹo”.
Đây là chân dung của Lang Rận: “Mặt gì mà nặng chình chĩnh như mặt người phù,
da như da con tằm bủng, lại lấm tấm những tàn nhang. Cái trán ngắn ngủi ngắn
ngùn lại gồ lên. Đôi mắt thì híp lại như mắt lợn xề. Môi rất nở cong lên, bít gần kín
hai cái lỗ mũi con con khiến anh ta thở khò khè. Nhưng cũng chưa tệ bằng lúc anh


12


ta cười. Bởi vì lúc cười thì cái trán chau chau, đôi mắt đã híp lại híp thêm, hai mí
gần như dính tịt vào nhau, môi càng lớn thêm, mà tiếng cười, toàn bằng hơi thở,
thoát ra khìn khịt. Trời đất ơi! Cái mặt ấy dẫu cho mỗi ngày rửa ba lượt xà phòng
bà cựu trông thấy vẫn buồn mửa”. Phải chăng với lối “thậm xƣng” ấy, tác giả cốt để
lộ ra, vạch ra cho sự trớ trêu của tạo hóa đã hằn dấu lên thân phận con ngƣời đau
khổ, từ đó mà gây ra một chấn động mạnh về tình cảm đối với ngƣời đọc.
2.1.2.2 Ngôn ngữ kể chuyện
Bên cạnh lời văn gián tiếp một giọng miêu tả ngoại cảnh, khắc họa chân dung
nhân vật, ta còn bắt gặp lời văn gián tiếp một giọng của chủ thể trần thuật xƣng Tôi
với điểm nhìn hƣớng nội. Nam Cao có nhiều truyện ngắn đƣợc viết theo kiểu lời văn
trần thuật này. Ở đó, truyện ngắn đƣợc trần thuật nhƣ một lời tâm sự, bộc bạch nỗi
lòng của chính ngƣời trong cuộc. Những truyện ngắn nhƣ: Cái mặt không chơi
được; Những truyện không muốn viết; Mua nhà; Điếu văn;… là những truyện
nhƣ thế. Thực ra đây là lời trực tiếp của nhân vật xƣng Tôi trong tác phẩm, nhƣng
tôi cũng là chủ thể trần thuật trong tác phẩm nên lời trực tiếp này đã trở thành lời
văn gián tiếp. Do nó là lời bộc bạch của chính ngƣời trong cuộc nên nó có một sự
chân thực và sức thuyết phục riêng, và lời văn mang đậm dấu ấn của chủ thể trần
thuật.
Trong “Điếu văn”, nhân vật “tôi” kể lại chuyện giữa mình và anh Phúc:
“Tôi gần gũi anh, hồi còn nhỏ. Chúng ta sống cạnh nhau mấy năm trời tại nhà một
bà bác tôi. Anh ở thuê. Tôi nhờ vả. Chúng ta hiểu với nhau rằng: hai chúng ta cùng
khổ. Không, anh Phúc ạ! Chúng ta phải công bằng mới được. Bà bác tôi không phải
là người ác nghiệt đâu. Có điều bà khổ quá nhiều rồi. Khi người ta rỏ từng giọt máu
ra để kiếm ra đồng tiền, thì lẽ tự nhiên là người ta phải quý tiền ngang với máu…” 5
“Những truyện không muốn viết” cũng là một minh chứng cho loại ngôn ngữ
kể chuyện này: “Thoạt tiên tôi viết chuyện một người đàn ông đã có vợ rồi. Đó chỉ
là một người đàn ông rất vô danh. Hắn có thể là tôi, là anh, hay bất cứ một anh nào

có vợ. Nhưng một anh bạn tôi vơ chằng ngay lấy. Ông ta bảo tôi định nói về ông.
Ông hục hặc với tôi. Ông khuyên tôi chớ đem in. Đem in thì vỡ mặt. Tôi trót dại
chưa học võ. Thôi thì đành chiều ông…”
Hay “Tối nay lại có giăng. Nhưng Điền chỉ đem hai cái ghế ra sân. Vợ Điền
hôm nay luật quật suốt cả ngày. Con ở xin đi ăn giỗ một hôm. Thị phải dệt mải mấy
tấm vải để mai đi bán về đưa lãi nợ. Dệt xong thị vội vàng đi đòi món tiền. Về đến
nhà, con bé khóc hết hơi. Con lớn thì lem luốc, mũi dãi nghếch ngoác bôi đầy mặt.

13


Nhà cửa còn bề bộn. Con ở vẫn chưa về. Mình thị biết xoay sở làm sao kịp?...” (
Mua nhà)
Nhƣ vậy, với kiểu lời văn trần thuật này, Nam Cao đã để chủ thể trần thuật tự bạch
tất cả những nỗi lòng sâu kín của mình. Không qua điểm nhìn của một ngƣời nào
khác, mà xuất phát từ điểm nhìn bên trong của chính chủ thể trần thuật, nhân vật có
cơ hội giãi bày tất cả những cảm xúc, bộc lộ những tâm tƣ, suy nghĩ, chiêm nghiệm
về cuộc sống, về thế giới xung quanh. Và ẩn đằng nhau thế giới nội tâm chân thực
đó, bóng dáng của cái tôi tác giả xuất hiện. Dƣờng nhƣ cái tôi tác giả đã hóa thân
vào chủ thể trần thuật để phơi bày tất cả những vi mạch tâm trạng của mình.
Đọc truyện ngắn Nam Cao, bên cạnh lời văn gián tiếp một giọng, ta còn bắt gặp một
dạng lời văn tiêu biểu khác khá nổi bật trong truyện ngắn Nam Cao, đó là lời văn
nửa trực tiếp - là lời văn thuộc kiểu lời văn gián tiếp hai giọng. Ở dạng lời văn nửa
trực tiếp chúng ta sẽ bắt gặp lời văn gián tiếp một giọng của chủ thể trần thuật kết
hợp với lời trực tiếp trong ý thức, nội tâm, cảm xúc của nhân vật. Nhƣng do nó là lời
tƣờng thuật của chủ thể trần thuật nên nó trở thành lời gián tiếp. Khi ấy, điểm nhìn
của chủ thể trần thuật đã hóa thân vào điểm nhìn bên trong của nhân vật để bộc lộ.
Kiểu lời văn này xuất hiện rất thƣờng xuyên trong truyện ngắn Nam Cao trƣớc năm
1945.
Với nhân vật Chí Phèo, mở đầu truyện ngắn là cái nhìn trần thuật của ngƣời

kể chuyện. Sau đó, với hình thức lời nửa trực tiếp, điểm nhìn của chủ thể trần thuật
lại hóa thân vào điểm nhìn của Chí Phèo: “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế,
cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu chửi trời. (Lời của tác giả). Có hề gì? Trời có
của riêng người nào? (Lời của người thứ ba). Rồi hẳn chửi đời.(Lời của tác giả).
Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai…( Lời của người thứ ba).
Không ai lên tiếng cả. Tức thật! Tức thật! Ồ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được
mất!( Lời độc thoại nội tâm). Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau
với hắn”(Lời của tác giả). Trong “Chí Phèo”, xuất hiện dày đặc kiểu lời nói nửa
trực tiếp nhƣ thế. Hình thức này cho phép chủ thể trần thuật di chuyển điểm nhìn rất
linh hoạt, đồng thời với kiểu độc thoại nội tâm, chủ thể trần thuật có điều kiện soi
chiếu vào những mảng tâm trạng sâu kín nhất của nhân vật.
Việc sử dụng đan xen các dạng lời văn trần thuật, nhất là lời nửa trực tiếp và lời nội
tâm nhân vật góp phần tạo nên những sắc thái giọng điệu đa dạng cho truyện kể. Ở
đó các nhân vật bên cạnh đƣợc hiện lên qua cái nhìn của chủ thể trần thuật còn có
dịp tự bộc lộ những sắc thái, cảm xúc bên trong của mình. Tính khách quan cho câu

14


chuyện kể vì thế đƣợc nâng lên. Và đồng thời với cách sử dụng kết hợp các kiểu lời
văn này, ngƣời đọc có cơ hội tiếp cận nhân vật ở nhiều chiều kích khác nhau, nhờ
thế ngƣời đọc cũng có thể khai thác ý nghĩa, tƣ tƣởng của truyện một cách thấu đáo
hơn.
Ở truyện ngắn Nam Cao, ta còn bắt gặp một kiểu lời văn thuộc lời gián tiếp
hai giọng nữa đó là lời gián tiếp của ngƣời kể chuyện. Ở kiểu lời văn này, tác giả ủy
quyền cho một nhân vật đứng ra kể chuyện. Thông thƣờng lời của nhân vật là lời
trực tiếp nhƣng tác giả trao cho nhân vật đó chức năng kể chuyện nên nó là lời gián
tiếp. Ở kiểu lời văn này chủ yếu tác giả trao quyền trần thuật cho chủ thể xƣng tôi Tôi này chính là ngƣời trong cuộc hoặc là tham gia vào câu chuyện hoặc là ngƣời
chứng kiến nên việc kể chuyện đem đến một sức thuyết phục nhất định đối với độc
giả. Những truyện ngắn nhƣ Điếu văn; Mua nhà là những truyện mà chủ thể trần

thuật kể chuyện và bộc lộ những cảm xúc riêng tƣ của cái tôi tác giả.
Ở “Điếu văn”, chủ thể trần thuật xƣng Tôi hƣớng về cuộc đời của ngƣời bạn khốn
khổ để tâm sự, để trải lòng mình trƣớc tất cả những gì mà anh ta đã chứng kiến. Mở
đầu truyện ngắn chủ thể trần thuật bắt đầu bằng những lời độc thoại ngậm ngùi và
hƣớng về đối tƣợng là ngƣời bạn để tỏ bày những cảm xúc, chiêm nghiệm về lẽ đời:
“Thế là xong. Anh chết rồi đấy nhỉ? Không lẽ tôi lại vui được khi được một cái tin
như thế. Nhưng thật tôi cũng không biết có nên buồn không đấy. Có người bảo:
“Sống khổ đến đâu cũng còn hơn chết; cái tâm lý chung của người đời như vậy”. Từ
sự mở đầu như khai mào cho một bầu tâm sự ấy, Tôi bày tỏ tất cả những suy nghĩ
gan ruột của mình về sự yêu ghét, giả trá ở đời. Tôi bộc lộ lòng thương vô hạn trước
cái chết của người bạn xấu xố của mình. Tôi chua xót thay cho cuộc đời của bạn.
Tôi dang rộng vòng tay đón lấy những bàn tay của con Phúc để dắt chúng tới “một
cuộc đời đẹp hơn”. Đồng thời Tôi cũng không ngừng tin tưởng vào tương lai: “Sự
đời không thể cứ mù mịt mãi thế này đâu. Tương lai phải sáng sủa hơn. Một rạng
đông đã báo rồi”.
Kiểu trần thuật này, chủ thể trần thuật đã thể hiện đƣợc quan điểm của cái tôi tác
giả. Xuất phát từ điểm nhìn của tác giả, nhƣng không đồng nhất với tác giả, vì nó
đồng thời là lời của một nhân vật cụ thể và nó mang tính chất độc thoại trực tiếp. Có
thể nói, với dạng lời văn gián tiếp của ngƣời kể chuyện nhƣ ở những truyện ngắn
trên, ngòi bút của Nam Cao đã góp phần làm tăng sức biểu hiện cảm xúc trực tiếp
cho tác phẩm. Nhân vật tự thú, tự bộc bạch nỗi lòng mình và đằng sau ngƣời kể
chuyện bao giờ cũng là thế giới cảm xúc của cái tôi tác giả.

15


3. KẾT LUẬN
Nghiên cứu về truyện ngắn Nam Cao, vấn đề nghệ thuật trần thuật đã đƣợc nhiều
ngƣời đề cập đến. Tôi lại chú ý nhiều hơn đến ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện
ngắn của ông. Truyện ngắn Nam Cao do có sự đa dạng, phong phú trong điểm nhìn

trần thuật nên dễ thấy ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn của ông cũng hết sức
sinh động và biến chuyển linh hoạt. Ngôn ngƣ trực tiếp (lời trực tiếp của tác giả, lời
trực tiếp của nhân vật, lời nội tâm), ngôn ngữ gián tiếp (lời gián tiếp một giọng, lời
nửa trực tiếp, lời gián tiếp phong cách hóa, lời gián tiếp của chủ thể trần thuật) là các
dạng ngôn ngữ trần thuật mà Nam Cao đã tận dụng ƣu thế khả năng biểu hiện của
chúng để xây dựng tác phẩm. Với việc kết hợp đan xen những hình thức phong phú
của lời văn trần thuật đã giúp cho truyện ngắn Nam Cao có điều kiện tổ chức sinh
động các khía cạnh phức tạp của đời sống. Đồng thời, cùng với sự phong phú và đa
dạng của giọng điệu trần thuật đã góp phần tạo nên một phong cách rất riêng cho
truyện ngắn Nam Cao bên cạnh các nhà văn cùng thời khác.
Nam Cao quả đã dốc cạn tâm lực của mình vào ngòi bút, vào những trang văn chứa
chan biết bao nhân đạo. Ngày nay, đọc những trang truyện Nam Cao ngƣời ta vẫn
còn thấy nóng hổi chất sống hiện thực của một thời xƣa chƣa xa. Bên cạnh một ngòi
bút đầy tính nhân văn, chúng ta bắt gặp một ngòi bút luôn ý thức đƣợc sự sáng tạo
trong nghệ thuật trần thuật. Tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nam
Cao trên các phƣơng diện từ ngôn ngữ đến giọng điệu trần thuật, tôi hiểu vì sao
truyện ngắn của ông thu hút sự nghiên cứu từ phía bạn đọc nhiều đến thế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức (1983), “Nhà văn Việt Nam (1945 - 1975)”, tập 2,
NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
2. Phƣơng Ngân ,“Nam Cao – Nhà văn hiện thực xuất sắc”, NXB Văn Hóa Thông
Tin, Hà Nội.
3. Bích Thu (1998), “Nam Cao - Về tác giả và tác phẩm”, NXB Giáo Dục, Hà Nội
4. Hà Minh Đức (2002), “Tuyển tập Nam Cao”, tập 1, NXB Văn học, Hà Nội.
5. GS. Phong Lê, “Nam Cao – Những tác phẩm tiêu biểu trước 1945”, NXB Giáo
Dục, Hà Nội.

16



HÌNH ẢNH THIÊN NHIÊN TRONG THƠ TRẦN ĐĂNG
KHOA VÀ ĐỊNH HƢỚNG DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM CỦA
TRẦN ĐĂNG KHOA TRONG CHƢƠNG TRÌNH TIỂU HỌC
Sinh viên: Lê Thị Yến Nhi
Khoa Sƣ phạm – Lớp Giáo dục Tiểu học 3B khóa 39
GVHD: Ths. Bùi Thị Nhƣ Phƣợng
1. Đặt vấn đề
Theo chiều dài lịch sử phát triển của văn học Việt Nam hiện đại, văn học
thiếu nhi hình thành và phát triển một cách thầm lặng và ít đƣợc mọi ngƣời biết đến.
Tuy vậy bộ phận văn học này đã không bỏ cuộc mà đã tự thân vận động, cố gắng
vƣơn lên để ngày một phong phú, đa dạng và đƣợc đánh giá là một bộ phận quan
trọng của nền văn học dân tộc. Ở bộ phận này đã xuất hiện hàng loạt những cái tên
đầy tâm huyết với thiếu nhi nhƣ: Nguyễn Huy Tƣởng, Tô Hoài, Đoàn Giỏi, Trần
Đăng Khoa, Chu Hồng Qúy, Cẩm Thơ, Hoàng Hiếu Nhân,…mà tiêu biểu nhất là
Trần Đăng Khoa. Thơ Trần Đăng Khoa vui tƣơi, trong sáng, thuần khiết mà đẹp đẽ
tựa nhƣ giọt sƣơng trên cành buổi sớm. Điều đó đã làm tên tuổi ông trở nên nổi bật
và sáng rỡ trong dòng văn học dành cho thiếu nhi. Và những nét bút miêu tả thiên
nhiên đã góp một phần không nhỏ tạo nên thành công to lớn đó. Trong chƣơng trình
Tiếng Việt ở Tiểu học hiện nay, thơ Trần Đăng Khoa xuất hiện khá nhiều, mà yếu tố
thiên nhiên trong đó chiếm một phần rất lớn. Để có thể dạy và học tốt thơ Trần Đăng
Khoa trong chƣơng trình Tiểu học, chúng ta cần phải có một cái nhìn toàn diện và
sâu sắc hơn về hình ảnh thiên nhiên trong thơ ông. Và đó là cơ sở, lí do để chúng tôi
lựa chọn và nghiên cứu đề tài “ Hình ảnh thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa và
định hƣớng dạy học tác phẩm của Trần Đăng Khoa trong chƣơng trình Tiểu học”.
Trƣớc đó đã có nhiều đề tài nghiên cứu về thơ Trần Đăng Khoa nhƣng mỗi
đề tài là một hƣớng tiếp cận khác nhau, một cái nhìn khác nhau về thơ Trần Đăng
Khoa nhƣng chƣa có đề tài nào đƣa ra định hƣớng về việc dạy học các tác phẩm của
Trần Đăng Khoa tron chƣơng trình Tiểu học. Và những đề tài này là tiền đề, nguồn
tài liệu, cơ sở để chúng tôi hoàn thành đề tài này .
Với đề tài “Hình ảnh thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa và định hƣớng

dạy học tác phẩm của Trần Đăng Khoa trong chƣơng trình Tiểu học” chúng tôi sẽ

17


làm rõ thêm về tài hoa xuất chúng trong việc miêu tả thiên nhiên của Trần Đăng
Khoa – nhà thơ từng đƣợc mệnh danh là “thần đồng”, khẳng định lại những đóng
góp của nhà thơ này cũng nhƣ góp một phần nhỏ trong việc định hƣớng dạy học,
giúp cho các giáo viên có thêm nguồn tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy các
tác phẩm của Trần Đăng Khoa trong chƣơng trình Tiểu học hiện hành
2. Giải quyết vấn đề
2.1 Mục tiêu của đề tài
Chúng tôi sẽ tập trung thực hiện những mục tiêu sau:
- Trên cơ sở nghiên cứu đề tài này ngƣời viết sẽ có những hiểu biết mới mẻ, độc đáo
và có cái nhìn khái quát, toàn diện hơn về hình ảnh thiên nhiên trong thơ của Trần
Đăng Khoa.
- Giúp tôi củng cố kiến thức cho bản thân và làm tƣ liệu cho việc giảng dạy sau này.
2.2
Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số phƣơng pháp nhƣ:
Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp: Chúng tôi đã dựa trên một số tài liệu nhận
xét, đánh giá của các nhà phê bình nghiên cứu cùng sự tìm tòi, phát hiện của bản
thân trên văn bản của các bài thơ trong tập “Góc sân và khoảng trời” và các bài thơ
trong sách Tiếng Việt tiểu học hiện hành để làm cơ sở cho việc tiếp cận và tìm hiểu
tập thơ nhằm phục vụ tốt hơn cho đề tài
Phƣơng pháp thi pháp học: Chúng tôi dùng phƣơng pháp này để nghiên cứu
về bút pháp, nghệ thuật thể hiện của Trần Đăng Khoa qua các bài thơ mà đề tài
nghiên cứu.
Phƣơng pháp thống kê: Chúng tôi dùng phƣơng pháp này để thống kê các yếu
tố về thiên nhiên trong tập thơ “Góc sân và khoảng trời” và các bài thơ trong sách

Tiếng Việt tiểu học hiện hành, những hình ảnh, chi tiết đƣợc lặp lại nhiều lần nhằm
tìm ra cảm hứng chủ đạo và các phép tu từ đƣợc Trần Đăng Khoa sử dụng trong tập
thơ.Trên cơ sở này, chúng tôi tìm ra những nét riêng, nét độc đáo của tài năng thơ
Trần Đăng Khoa.
Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu: chúng tôi so sánh, đối chiếu những điểm
giống và khác nhau giữa thơ Trần Đăng Khoa và thơ một số em nhỏ làm thơ khác
trong cách thể hiện thiên nhiên. Qua đó, chúng ta sẽ có đƣợc cái nhìn đúng mức về
tài năng, tâm hồn Trần Đăng Khoa và những đóng góp cho nền văn học thiếu nhi
của ông.
2.3

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

18


Trong quá trình nghiên cứu và thảo luận chúng tôi đã đạt đƣợc một số kết quả
sau:
Chƣơng I: Hình tƣợng thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa
Đầu tiên chúng tôi đã đi sâu nghiên cứu về tiểu sử của Trần Đăng Khoa, cuộc
đời và sự nghiệp của nhà thơ. Trong đó có phân tích một số nhân tố góp phần hình
thành và vun đắp cho hồn thơ Trần Đăng Khoa. Sau đó chúng tôi nghiên cứu, tìm
hiểu về thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa trong thời bình và trong thời chiến.
Chúng tôi đƣa ra một số bài thơ làm dẫn chứng trong quá trình phân tích để thấy
đƣợc: Trong thời bình thiên nhiên hiện lên tràn đầy sức sống, gần gũi, trong sáng và
thú vị nhƣ chính lứa tuổi của nhà thơ lúc bấy giờ. Vào thời chiến thiên nhiên tuy bị
tàn phá nặng nề nhƣng vẫn hiên ngang vƣơn lên giành lấy sự sống, vẫn vẫy vùng
trong làn khói đạn để tìm lấy niềm vui. Sau đó chúng tôi đƣa ra một số phân tích để
ngƣời đọc thấy đƣợc sự hòa hợp giữa thiên nhiên và con ngƣời trong thơ Trần Đăng
Khoa. Cuối cùng chúng tôi đào sâu tìm hiểu về phƣơng thức thể hiện thiên nhiên

trong thơ Trần Đăng Khoa. Trong đó chúng tôi chủ yếu nói về: Tính nhạc điệu trong
thơ, các bút pháp nghệ thuật đặc sắc và một số biện pháp tu từ đƣợc nhà thơ sử dụng
thành công.
Chƣơng II: Định hƣớng dạy học các tác phẩm của Trần Đăng Khoa trong chƣơng
trình Tiểu học
Chúng tôi đang trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện chƣơng 2, trong đó
chúng tôi dự định sẽ:
Đƣa ra bảng thống kê các tác phẩm của Trần Đăng Khoa trong sách Tiếng
Việt Tiểu học hiện hành:

-

Tên tác phẩm

Thuộc phân môn

Lớp

Kể cho bé nghe

Tập đọc

Tiếng việt 1 (tập 2)

Òóo

Tập đọc

Tiếng việt 1 (tập 2)


Cây dừa

Tập đọc

Tiếng việt 2 (tập 2)

Mẹ ốm

Tập đọc

Tiếng việt 4 (tập 1)

Mƣa

Tập làm văn

Tiếng việt 4 (tập 1)

Trăng ơi từ đâu đến

Tập đọc

Tiếng việt 4 (tập 2)

Hạt gạo làng ta

Tập đọc

Tiếng việt 5 (tập 1)


Hà Nội

Chính tả

Tiếng việt 5 (tập 2)

Sau đó đƣa ra:

19


+ Định hƣớng về nội dung: Nêu ra nội dung chính của từng tác phẩm, đƣa ra
một số câu hỏi và câu trả lời về nội dung tác phẩm nhằm giúp giáo viên hƣớng dẫn
học sinh tìm hiểu bài đƣợc dễ dàng hơn.
+ Định hƣớng về nghệ thuật: Nêu một số nghệ thuật tiêu biểu của tác phẩm,
đƣa ra một số câu hỏi và câu trả lời về các biện pháp tu từ của tác phẩm, hƣớng dẫn
ngắt nhịp một số đoạn khó đọc và giọng đọc trong từng tác phẩm.
3. Kết luận và khuyến nghị
Qua bài nghiên cứu này chúng tôi đã đi sâu nghiên cứu, phân tích hình ảnh
thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa và đồng thời đƣa ra đƣợc một số định hƣớng
về dạy học các tác phẩm của Trần Đăng Khoa trong chƣơng trình Tiểu học.
Tôi mong thƣ viện trƣờng Đại học Khánh Hòa cập nhật thêm nhiều tài liệu về
Trần Đăng Khoa hơn nữa để chúng tôi có thêm nguồn tƣ liệu nhằm hoàn thành tốt
đề tài này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lã Thị Bắc Lý - Giáo trình văn học trẻ em (NXB Đại Học Sƣ Phạm)
2. Góc sân và khoảng trời – Trần Đăng Khoa (NXB Văn Hóa Thông Tin)

20



×