C©u 1. “Hình thái kinh tế - xã hội” là gì? Tại sao nói: sự phát triển của
hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên?
Một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chỉ một cấu trúc xã
hội ở từng giai đoạn lịch sử, dựa trên một phương thức sản xuất nhất
định với kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho cơ sở kinh tế của xã hội và
với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên cơ sở đó. Các HTKT XH đã có trong lịch sử qua các chế độ xã hội khác nhau (công xã nguyên
thuỷ, nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa) là những nấc
thang kế tiếp nhau trong quá trình phát triển của nhân loại như một quá
trình phát triển lịch sử tự nhiên. Không phải tất cả các quốc gia dân tộc
đều tuần tự trải qua tất cả các nấc thang của quá trình phát triển xã hội
nói trên. Trong những hoàn cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội
nhất định của thời đại, có những quốc gia dân tộc có thể bỏ qua một hoặc
hai nấc thang của quá trình phát triển xã hội để tiến thẳng lên một hình
thái cao hơn. Mỗi HTKT - XH cũng là một "cơ thể xã hội" cụ thể, bao
gồm trong đó tất cả các thành phần vốn có và các hiện tượng xã hội
trong sự thống nhất hữu cơ và sự tác động biện chứng. Mỗi một HTKT XH đều có cấu trúc phổ biến và tính quy luật chung, có những mối liên
hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa kiến
trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Sự tác động lẫn nhau giữa các thành phần cơ bản nói trên là động lực
bên trong thúc đẩy sự vận động của HTKT - XH và sự tiến bộ lịch sử,
làm chuyển biến xã hội từ HTKT - XH thấp lên HTKT - XH cao hơn,
thường là thông qua những chuyển biến có tính cách mạng về xã hội.
Trước hết cần khẳng định sự ra đời của chủ nghĩa xã hội hiện thực là
hoàn toàn phù hợp với quy luật vận động, phát triển khách quan của lịch
sử xã hội, phù hợp với tiến trình lịch sử tự nhiên của các hình thái kinh
tế - xã hội. Cho dù đến nay, chủ nghĩa xã hội vẫn chưa xuất hiện ở
những nơi mà chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến trình độ cao. Theo học
thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác thì lực lượng sản xuất, xét đến
cùng, bao giờ cũng là cái đóng vai trò quyết định trong việc thay đổi
phương thức sản xuất, dẫn đến thay đổi toàn bộ các quan hệ xã hội, thay
đổi một chế độ xã hội mà Mác gọi là hình thái kinh tế - xã hội. Trên cơ
sở đó, Mác đi đến kết luận: xã hội loài người phát triển trải qua nhiều
giai đoạn kế tiếp nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển đó là một
hình thái kinh tế - xã hội. Và tiến bộ xã hội chính là sự vận động theo
1
hướng tiến lên của các hình thái kinh tế - xã hội, là sự thay thế hình thái
kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, tiến bộ hơn.
Mác khẳng định: “tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội
là một quá trình lịch sử - tự nhiên”(2). Mặc dù khẳng định quá trình lịch
sử tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội là tiến trình bị quy định bởi
các quy luật khách quan, nhưng Mác cũng luôn luôn cho rằng, con người
“có thể rút ngắn và làm dịu bớt những cơn đau đẻ”. Điều đó có nghĩa là,
trong quan niệm của Mác đã hàm chứa tư tưởng: quá trình lịch sử - tự
nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những có thể diễn ra bằng con
đường phát triển tuần tự từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái
kinh tế - xã hội khác, mà còn có thể diễn ra bằng con đường bỏ qua một
giai đoạn phát triển nào đó, một hình thái kinh tế - xã hội nào đó trong
những điều kiện và hoàn cảnh khách quan cụ thể nhất định.
Như vậy về mặt lý luận, chúng ta có thể khẳng định sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
hiện nay là quy luật khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc,
phù hợp với quy luật phát triển khách quan của lịch sử và xu thế phát
triển của thời đại. Chúng ta đã chứng kiến sự sụp đổ của các nước xã hội
chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu và đã trải nghiệm những thành công của
công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Trung Quốc. Theo
chúng tôi trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây có
nguyên nhân xa rời bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác
- Lênin và tách rời tính cách mạng với tính khoa học trong thực tiễn xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
Có thể nói, học thuyết về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ và về khả
năng xây dựng chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản
chủ nghĩa là bộ phận quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin. Là một
học thuyết khoa học và cách mạng, học thuyết Mác - Lênin đã đáp ứng
yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng của thời đại, phản ánh chính xác những
nhu cầu cơ bản cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản nhằm thay
đổi thế giới và giải phóng con người. Để hoàn thành sự nghiệp vĩ đại đó,
các Đảng cộng sản phải vận dụng sáng tạo bản chất khoa học và cách
mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong tiến trình cách mạng, nhất là trong
2
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những nước lạc hậu, bỏ qua giai đoạn phát
triển tư bản chủ nghĩa, quá độ dần lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, sau
sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, đã có
không ít người hoài nghi tính đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin về
chủ nghĩa xã hội. Các thế lực phản động quốc tế coi sự sụp đổ đó là “sự
cáo chung” của toàn bộ lý luận mác xít về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ
quá độ và khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản
chủ nghĩa. Trong tình hình cực kỳ khó khăn phức tạp như vậy, công
cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã thể
hiện mạnh mẽ sức sống của chủ nghĩa xã hội hiện thực và thu được
những thành tựu ngày càng to lớn. Thắng lợi của đường lối đổi mới đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hai mươi năm qua
đã cho thấy, những luận điểm, tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
về chủ nghĩa xã hội vẫn giữ nguyên giá trị, vẫn là cơ sở lý luận, là kim
chỉ nam cho mọi hành động của chúng ta trên con đường xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Vấn đề không phải là bản thân lý luận của chủ nghĩa MácLênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta có nhận thức thật sự đúng đắn bản chất khoa
học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và biết vận dụng một cách
sáng tạo nó trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội hay không. Thực
tiễn cho thấy, công cuộc đổi mới đất nước ngày càng đi vào chiều sâu thì
chúng ta càng phải đối diện với những vấn đề khó khăn, phức tạp mới.
Đất nước hiện đang đứng trước cả cơ hội lớn và thách thức lớn. Tất cả
đều đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại cho đúng, vận dụng sáng tạo, bổ
sung và phát triển lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù
hợp với bối cảnh mới của thế giới và trong nước hiện nay. Vận dụng
sáng tạo bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã ngày càng làm sáng tỏ con đường tiến
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới. Đó là con đường “phát
triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là
bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc
thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu
mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa
học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền
tảng kinh tế hiện đại”(3).
3
Rõ ràng, chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa với phương thức “phát triển rút ngắn” nhằm
đạt tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Xây dựng chủ nghĩa xã hội, đương nhiên là một sự nghiệp to lớn,
lâu dài, đầy khó khăn phức tạp. Nhưng thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn
của chân lý. Thực tiễn hai mươi năm đổi mới đã đưa đất nước ra khỏi
khủng hoảng kinh tế kéo dài, đã hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản của
chặng đường đầu của thời kỳ quá độ và bước sang thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta đang tiến lên phía trước,
bởi chủ nghĩa xã hội đổi mới của Việt Nam là biểu hiện sinh động sự
thống nhất biện chứng giữa thuộc tính khoa học và thuộc tính cách mạng
của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Con đường tiến lên
chủ nghĩa xã hội của chúng ta là không gì có thể ngăn cản nổi, bởi vì đó
là quy luật tiến hóa khách quan của lịch sử, lại đang được Đảng ta nhận
thức và vận dụng sáng tạo. Quán triệt bản chất khoa học và cách mạng
của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy tính độc lập,
sáng tạo, đồng thời kế thừa tinh hoa trí tuệ dân tộc, những kinh nghiệm
và thành tựu khoa học, văn hóa của thế giới, nhất định chúng ta sẽ xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, góp phần quan trọng
vào sự nghiệp cách mạng chung của những người cộng sản và nhân dân
thế giới. Với thành công ngày càng to lớn của công cuộc đổi mới, đất
nước ta, một lần nữa trở thành nơi gửi gắm niềm tin và sự kỳ vọng của
bạn bè quốc tế. Việt Nam hôm nay đang được nhìn nhận một cách đầy
ngưỡng mộ: “Đường lối đổi mới trong đó kết hợp kinh tế thị trường với
kế hoạch, tiến lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở công nhận sự tồn tại của
nhiều thành phần kinh tế là con đường của những người mở đường mới
mẻ trong lịch sử... hy vọng rằng Đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân
Việt Nam, đã từng chiến thắng trong cuộc đấu tranh đầy gian khổ trước
đây, sẽ thành công trước thách thức mới trên chặng đường mà chưa một
ai đi qua”(4).
4. Kết luận
Bất chấp thăng trầm của lịch sử, từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa MácLênin luôn luôn tỏ rõ sức sống mãnh liệt của mình. Thực tiễn thành công
4
và thất bại của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng
như trên thế giới đã minh chứng hùng hồn: bản chất khoa học, cách
mạng là nguồn gốc sức mạnh của chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ khi ra đời
cho đến nay, nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo bản chất khoa học và
cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin mà Đảng ta đã dẫn dắt cách mạng
Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chủ nghĩa xã hội đổi
mới Việt Nam đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình và ngày càng
thu được những thành tựu to lớn. Điều đó trước hết bắt nguồn từ bản
chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Trung thành với
bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhất định
Đảng ta sẽ lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
của thời kỳ đổi mới gắn với dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
C©u 2. Vai trò quyết định cuả lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản
xuất được thể hiện như thế nào? Liên hệ với việc phát triển lực lượng
sản xuất của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất?
- Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp của quan
hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là trạng thái mà
trong đó, quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sản
xuất.
- Song, sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định
lại làm cho quan hệ từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Khi đó quan hệ sản xuất trở thành trở thành
“xiềng xích” của lực lượng sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất phát
triển. Yêu cầu khách quan của sự phát triển của lực lượng sản xuất tất
yếu sẽ dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất
tiếp tục phát triển. Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất
mới cũng có nghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản
xuất mới ra đời thay thế.
+ LLSX quyết định QHSX, vì:
- LLSX là yếu tố hoạt động nhất, cách mạng nhất, là nội dung của quá
trình sản xuất, còn QHSX là yếu tố phụ thuộc vào LLSX, nó là hình thức
5
xã hội của sản xuất nên có tính chất tương đối ổn định, có xu hướng lạc
hậu hơn so với sự phát triển của LLSX.
- LLSX phát triển làm cho QHSX hình thành, biến đổi, phát triển cho
phù hợp với nó. Sự phù hợp của LLSX với QHSX là động lực làm cho
LLSX phát triển.
- Mâu thuẫn giữa LLSX mới với QHSX cũ được giải quyết bằng cách
thay thế QHSX cũ bằng QHSX mới phù hợp với LLSX. Trong xã hội có
đối kháng giai cấp, mâu thuẫn này được giải quyết thông qua đấu tranh
giai cấp, mà đỉnh cao là cách mạng xã hội.
Trong quá trình phát triển lịch sử của loài người có rất nhiều giai đoạn
hình thành và phát triển đất nước. Trải qua mỗi giai đoạn dều có rất
nhiều nguyên nhân để dẫn đến sự thành công hay thất bại của chế độ xã
hội đó. Trong đó vai trò của lực lượng sản xuất có phần lớn quyết định
đến xã hội.
NỘI DUNG
I. VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG ĐỜI SỐNG XÃ
HỘI.
1. Khái niệm của lực lượng sản xuất.
1.1. Khái niệm:
Lực lượng sản xuất là yếu tố đông nhất, phát triển không ngừng, quyết
định quan hệ sản xuất.
1.2. Cấu trúc lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất bao gồm yếu tố con người và những yếu tố vật của
quá trình sản xuất.
a. Yếu tố con người:
Lực lượng sản xuất,trước hết là yếu tố con người có khả năng lao
động,có kiến thức, có thói quen, kinh nghiệm và kỹ năng kỹ thuật sản
xuất.
Khi phân tích về lực lượng sản xuất trong xã hội tư bản C.Mác đã
viết:trong tất cả những công cụ sản xuất thì lực lượng sản xuất hùng
mạnh nhất là bản thân của cách mạnh. Như vậy Mác đã khẳng định con
người là yếu tố có vai trò to lớn nhất, quyết định trong lực lượng sản
xuất.
Lênin viết:Lực lượng sản xuất chủ yếu của nhân loại, là công nhân”.
Giống như Mác,Lênin đặt con người vào vị trí hàng đầu , số 1:các ông
đều coi con người phải là người công nhân, giai cấp tiên tiến, nghĩa là
6
đều nhấn mạnh đến “chất lượng của người lao động, lực lượng sản
suất.
Con người tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là một yếu tố của
lực lượng sản xuất, trước hết bằng chính sức mạnh cơ bắp của mình và
trong quá trình đó, tự nhiên tác động trở lại làm con người ngày càng
hoàn thiện về trí tuệ, đúng là lao đọng đã sáng tạo ra chính bản thân con
người”. ở đây, con người là một sinh vật xã hội có trí tuệ cho nên khi
tham gia vào qúa trình lao động, ngoài sức mạnh cơ bắp nó còn đựơc chỉ
huy bằng trí tuệ.Thông qua hoạt động thực tiễn, con người dùng trí tuệ
để nhận thức bản chất, quy luật của các sự vật hiện tượng của thế giới
khách quan, sử dụng chúng làm phương tiện sản xuất và con người
không ngừng tạo ra cho mình những lực lượng sản xuất ngày càng lớn
mạnh, tinh vi.
b. Yếu tố vật của quá trình sản xuất:
Nhấn mạnh vai trò của công cụ lao động và của yếu tố người trong lực
lượng sản xuất, C.Mác không xem nhẹ đối tượng lao động bởi vì nó là
yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất.Con người chỉ có thể
dùng công cụ lao động để biến khả năng lao động của mình thành hiện
thực và tạo ra những vật phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của mình trên cơ
sở những đối tượng lao động nhất định.
Nếu như trong tiến trình lịch sử tư liệu lao động càng phong phú, trí tuệ
và năng lực của con người càng phát triển, khả năng nhận thức và cải
biến tự nhiên của con người càng cao thì phạm vi đối tượng lao động
càng được mở rộng. Điều đó nói lên rằng các yếu tố trong lực lượng sản
xuất quan hệ rất chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau một cách
biện chứng như là những yếu tố của hệ thống.
Trong lực lượng sản xuất, công cụ lao động có một vai trò quan trọng, là
thước đo sự chinh phục tự nhiên của con người. Với mục đích luôn
muốn tăng năng suất và giảm cường độ lao động , con người dã sáng tạo
ra chúng để nối dài các khí quan và tăng sức mạnh cơ bắp của mình.
Nhờ đó mà công cụ ngày càng được hoàn thiện, hiện đại, nó có thể thay
thế hầu hết các thao tác kĩ thuật khéo léo của con người, đó là vai trò to
lớn cua công cụ lao động. Tuy nhiên, đã gọi là công cụ lao động, nó
không thể ơ dạng nguyên thuỷ của tự nhiên, nó không thể tự ra đời mà
phải có sự chế tạo của con người và chế tạo công cụ lao động chính là
đặc trưng cơ bản để phân biệt giữa con người và con vật. Con người
7
chính là động vật biết chế tạo công cụ lao động. Như vậy công cụ lao
động yếu tố được coi là “động” của lực lượng sản xuất, chẳng qua cũng
chỉ là phần tự nhiên được trí tuệ hoá mà thôi, công cụ lao động càng tinh
vi, điều đó càng chứng tỏ con người càng hiện đại,càng tách xa thế giới
tự nhiên.
1.3. Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất.
Với tính cách một hệ thống, lực lượng sản xuất không ngừng biến đổi và
thực tế đang có những biến đổi căn bản về chất ở thời đại chúng ta.Mối
quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cũng
thể hiện tính khách quan của nó là lực lượng sản xuất luôn đi trước và
xét cho cùng, quyết định sự phát triển xã hội.Tất nhiên chúng ta không
nên “tuyệt đối hoá” quá mức vai trò “độc tôn” của lực lượng sản xuất mà
bỏ qua sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với nó khi giữa
chúng có sự phù hợp. Sự phát triển chệch hướng của quy luật quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là do yếu
tố chủ quan , chứ không phải là do tính đặc thù của quy luật đó. Quan hệ
sản xuất là yếu tố quyết định, làm tiền đề cho lực lượng sản xuất phát
triển khi nó phù hợp được với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Nó làm nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu, bước đi và tạo quy mô thích hợp cho
lực lượng sản xuất hoạt động , cũng như bảo đảm lợi ích chính đáng của
người lao động, phát huy tính tích cực, sáng tạo của con người - nhân tố
quan trọng và quyết định trong lực lượng sản xuất.
C©u 3. Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản
xuất được thể hiện như thế nào? Đảng ta đã vận dụng lý luận này trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta như thế nào?
Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định
.Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản
xuất vật chất ở những giai đoạn nhất định trong lịch sư tồn tại và phát
triển của xã hội loài người .Phương thưc sản xuất đóng vai trò nhất định
đối với tất cả mọi mặt trong đời sống kinh tế xã hội .Phương thức sản
xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất
định và quan hệ sản xuất tương ứng.
8
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với giới tự
nhiên trong quá trình sản xuất vật chất .Lực lượng sản xuất thể hiện năng
lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất.
Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kỹ năng lao động của
họ và các tu liêu lao động truớc hết là công cụ lao động .Trong các yếu
tố của lực lượng sản xuất thì yếu tố người lao động là yếu tố chủ thể (là
yếu tố quang trọng nhất) của quá trình lao động vơi sức mạnh và kỹ năng
lao động của mình sử dụng tư liệu lao động. Cùng với quá trinh lao động
sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người ngày càng hoàn
thiện ,tăng lên dặc biệt là tri thức trí tuệ của con người, hàm lượng trí tuệ
trong láo động ko ngừng gia tăng. Cùng vơi người lao động ,công cụ lao
động cũng là yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết
định trong quá trình sản xuất; và công cụ lao động cũng ko ngường dược
phát triển và hoàn thiện hơn chính điều này đã làm biến đổi tu liệu sãn
xuất..Trong sự phát triên của lực lượng sản xuất ,khoa học kỹ thuật có
vai trò ngày càng quan trọng và đang dần trở thành một lực lượn sản
xuất trực tiếp trong nền sản xuấ thiện đại.
Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và các đối tượng lao động.
Ba yếu tố vật chất quan trọng nhất của quá trình sản xuất là: lao động, tư
liệu lao động và đối tượng lao động. Ba yếu tố đó trong bất cứ thời đại
nào,ở bất cứ xứ sở nào cũng không thể thiếu để tiến hành.
Những tư liệu lao động như trên cùng với các đối tượng lao động tạo
thành cái gọi là những tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất là gồm hai "yếu
tố vật chất" kể trên, không kể đến người lao động. Khoa học kinh tế xem
xét các yêu tố đó dưới một góc nhìn tổng hợp thì có những khái niệm sau
đây: Người lao động và tư liệu sản xuất tạo thành lực lượng sản xuất của
một xã hội. Bất cứ xã hội nào không thể chỉ có người lao động. Một lực
lượng để sản xuất ra của cải phải gồm có người lao động và tư liệu sản
xuất. Do đó hai yếu tố này tạo thành cái gọi là lực lương sản xuất (Theo
William Petty: Đất là mẹ, lao động là cha của mọi của cải xã hôi).
Bản thân con người lao động với những tri thức, phương pháp sản
xuất, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm lao động của họ, ngày nay khoa
học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Lực lượng sản xuất phản ánh mối quan hệ và tác động của con người
với tự nhiên. Nó phản ánh năng lực họat động thưc tiễn của con người
trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. quá trình sản xuất.
9
Quan hệ sản xuất là phạm trù triết học chỉ quan hệ giưa người
với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã
hội) .Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sử hữu các tư liệu sản
xuất chủ yêu, quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất vá quan hệ
về phân phối các sản phẩm làm ra..Quan hệ sản xuất do con
người tạo ra nhưng nó hình thành và phát triển một cách khách
quan ko phụ thuộc vào ý chí con người.
Nếu như quan niệm lực lượng sản xuất là mặt tự nhiên của sản xuất thì
quan hệ sản xuất lại là mặt xã hội của sản xuất.
Quan hệ sản xuất gồm có 3 mặt :
+ Quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu những tư liệu
sản xuất chủ yếu (gọi tắt là quan hệ sở hữu)
+ Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức, quản lý xã hội và
trao đổi họat động cho nhau (gọi tắt là quan hệ tổ chức, quản lý)
+ Quan hệ giữa người với người trong phân phối, lưu thông sản phẩm
làm ra (gọi tắt là quan hệ phân phối lưu thông)
Trong ba mặt của quan hệ sản xuất thì quan hệ sử hữu các tư
liệu sản xuất chủ yếu là quan hệ cơ bản và đặc trưng cho từng xã
hội. Quan hệ về sở hữu quyết định quan hệ về tổ chức quản lý
sản xuất và quan hệ phân phối các sả phẩm làm ra.
Quy luật sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ của lực lượng
sản xuất lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt ,hai phương
thức cơ bản của quá trình sản xuất ra của cải vạt chất ;chúng ko tồn tại
độc lập tách rời nhau mà có mối liện hệ tác động qua lại lẫn nhau một
cách biện chứng tạo thanh quy luật phù hợp giữa quan hệ sản xuất và
trình độ lực lượng sản xuất. Quy luật cơ bản nhất của quá trình vận động
và phát triển xã hội. Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không
ngừng phát triển ;sự phát triển đó xét cho cùng bắt nguồn tự sự biến đổi
và phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất
được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất. Sự vận động và
phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản
xuất cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra dời khi
đó quan hệ sản xuát phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất. Sự phát
triển của lực lượng sản xuất dẫn đến một trình độ nhất định làm cho
quan hệ sản xuất từ chổ phù họp trở thành lạc hậu kìm hãm sự phát triển
của lực lượng sản xuất yêu cầu khách quan hoặc phát triển của lực lượng
10
sản xuất tất yếu dẫn đến sự thay đổi của quan hệ sản xuất cũ bằng quan
hệ sản xuất mới phù hợp hơn với trình độ của lực lượng sản xuất, lúc này
để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Thay thế quan hệ sản
xuất cũ bằng qua hệ sản xuất mới có nghĩa là sẽ có một phương thức sản
xuất khac ra đời thay thế phương thức sản xuất cũ.
Lực lượng sản xuất thay đổi và quyết định đến quan hệ sản xuất nhưng
bản thân quan hệ sản xuất cũng có sự độc lập tương đối của nó và tác
động trở lại qua hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất mới quy định mục đích
sản xuất ,tác động đén tháu, tác động đến con người lao động trong qua
trình lao động ,đến tổ chức phân công lao động xã hội. Quan hệ sản xuất
phù hợp vói trình đô lực lượng sản xuất sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển. Ngược lại nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hoăc "tiên tiến " hơn
trình đọ lực lượng sản xuất 1 cách giả tạo thì sẽ kìm hãm, hạn chế sự
phát triển của lực lượng sản xuất như nước ta từ sau năm 1975 đến năm
1986, chúng ta đã kéo quá dài cơ chế chính sách kế hoạch hoá tập trung,
bao cấp với tư tưởng nôn nóng muốn đưa nước ta tiến nhanh lên chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn qứôc, trong khi chúng ta vừa thoát khỏi
cuộc chiến tranh, tần dư chế độ phong kiến còn đang tồn tại và hậu quả
chiến tranh còn nặng nề, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ
dân trí còn thấp, khả năng quản lý kinh tế còn yếu, lực lượng sản xuất
thấp kém trong khi đó chúng ta ồ át xây dựng một quan hệ sản xuất ở
trình độ không tương xứng, cụ thế trong nông nghiệp xây dựng HTX
cấp cao, thực hiện duy có hai hình thức sở hữu là tập thể và sở hữu Nhà
nước, thực hiện sở hữu toàn dân…do đó đã làm cản trở sự phát triển của
lực lượng sản xuất, không khuyến khích được người lao động, chưa huy
động được nguồn lực trong xã hội, như ta biết sự phù hợp hay không
giữa quan hệ sản xuất và trình độ của lực lượng sản xuất là quy luật phổ
biến tác dộng tới toàn bộ quá trình vận động và phát triển của xã hội
Những hiện tượng lịch sử xuất hiện trong thượng tầng kiến trúc dưới
nhiều hình thái tư tưởng phức tạp: chính trị, pháp lý, tôn giáo, nghệ
thuật, triết lý; nhưng tất cả những hình thái đó, xét tới cùng, là do
phương thức sản xuất đời sống vật chất quy định. Vậy muốn hiểu rõ sự
biến chuyển trong thượng tầng kiến trúc, trước hết phải nghiên cứu sự
biến chuyển vật chất trong điều kiện kinh tế của sự sản xuất, những mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
11
Trong quá trình lãnh đạo xã hội đẩy mạnh phát triển kinh tế Đảng ta
đang vận dụng quy luật sao cho quan hệ sản xuất luôn luôn phù hợp với
tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, trên thực tế Đảng và Nhà
nước ta đang từng bước điều chỉnh quan hệ sản xuất cả tầm vĩ mô và vi
mô, đồng thời coi trọng việc đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất.
Hiện nay Đảng ta đang lãnh đạo đất nước thực hiện công cuộc công
nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Muốn
làm tốt trọng trách này, thì phải tạo điều kiện cho bản thân nền kinh tế,
trong đó thành phần kinh tế tư nhân là một thành phần rất năng động,
hiệu quả. Có điều kiện này thì Đảng mới có thể có thêm kiến thức và kỹ
năng nghiệp vụ cụ thể để lãnh đạo thành công mục tiêu tăng trưởng kinh
tế đó chính là làm cho lực lượng sản xuất phát triển
Trong tiến trình lãnh đạo và quản lý đất nước của Đảng và Nhà nước
ta trong suốt mấy chục năm qua thực tiễn đã cho thấy những mặt được
cũng như những những mặt còn hạn chế trong quá trình nắm bắt và vận
dụng các quy luật kinh tế cũng như quy luật quan hệ sản xuất - lực lượng
sản xuất vào thực tiễn ở nước ta, với đặc điểm của nước ta là Nước nông
nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp kém, con trâu đi
trước cái cày đi sau, trình độ quản lý thấp cùng với nền sản xuất nhỏ tự
cấp, tự túc là chủ yếu. Mặt khác Nước ta là nước thuộc địa nửa phong
kiến lại phải trải qua hai cuộc chiến tranh, nhiều năm bị đế quốc Mỹ bao
vây cấm vận nhiều mặt, nhất là về kinh tế. Do vậy lực lượng sản xuất
chưa có điều kiện phát triển.
Sau khi giành được chính quyền, trước yêu cầu xây dựng CNXH
trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, Nhà nước ta đã dùng sức
mạnh chí trị tư tưởng để xóa bỏ nhanh chế độ tư hữu, chuyển sang chế
độ công hữu với hai hình thức toàn dân và tập thể, lúc đó được coi là
điều kiện chủ yếu, quyết định, tính chất, trình độ xã hội hoá sản xuất
cũng như sự thắng lợi của CNXH ở nước ta. Song trong thực tế cách
làm này đã không mang lại kết quả như mong muốn, vì nó trái quy luật
QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX, đã để lại hậu
quả là:
Thứ nhất: Đối với những người sản xuất nhỏ (nông dân, thợ thủ công,
buôn bán nhỏ..) thì tư hữu về TLSX là phương thức kết hợp tốt nhất giữa
sức lao động và TLSX. Việc tiến hành tập thể nhanh chóng TLSX dưới
hình thức cá nhân bị tập trung dưới hình thức sở hữu công cộng, người
12
lao động bị tách khỏi TLSX, không làm chủ được qúa trình sản xuất, phụ
thuộc vào lãnh đạo HTX, họ cũng không phải là chủ thể sở hữu thực sự
dấn đến TLSX trở thành vô chủ, gây thiệt hại cho tập thể.
Thư hai: Kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành.
Về pháp lý TLSX cũng thuộc sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở
hữu có quyền sở hữu chi phối, định đoạt TLSX & sản phẩm làm ra
nhưng thực tế thì người lao động chỉ là người làm công ăn lương, chế độ
lương lại không hợp lý không phản ánh đúng số lượng & chất lượng lao
động của từng cá nhân đã đóng góp. Do đó chế độ công hữu về TLSX
cùng với ông chủ của nó trở thành hình thức, vô chủ, chính quyền (bộ,
ngành chủ quản) là đại diện của chủ sở hữu là người có quyền chi phối,
đơn vị kinh tế mất dần tính chủ động, sáng tạo, mất động lực lợi ích, sản
xuất kinh doanh kém hiệu quả nhưng lại không ai chịu trách nhiệm,
không có cơ chế giàng buộc trách nhiệm, nên người lao động thờ ơ với
kết quả hoạt động của mình.
Đây là căn nguyên nảy sinh tiêu cực trong phân phối, chỉ có một số
người có quyền định đoạt phân phối vật tư, vật phẩm, đặc quyền đặc lợi.
Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, phát triển kinh tế tập trung ở hai
lực lượng chính: lực lượng sản xuất của doanh nghiệp nhà nước (thường
gọi là quốc doanh, thuộc thành phần kinh tế nhà nước); lực lượng sản
xuất ngoài quốc doanh (thường gọi là dân doanh, thuộc kinh tế tư nhân).
Ông bà ta thường nói: muốn biết bơi phải nhảy xuống nước. Còn
Lênin, trong tác phẩm “Chính sách kinh tế mới và những nhiệm vụ của
các Ban giáo dục chính trị”, đã viết: “Hoặc là tất cả những thành tựu về
mặt chính trị của chính quyền Xô viết sẽ tiêu tan, hoặc là phải làm cho
những thành tựu ấy đứng vững trên một cơ sở kinh tế. Cơ sở này hiện
nay chưa có. Đấy chính là công việc mà chúng ta cần bắt tay vào làm”
đúng theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Con người không thể tự ý lựa chọn quan hệ sản xuất nói chung và
quan hệ sở hữu nói riêng một cách chủ quan duy ý chí. Sở hữu vừa là kết
quả vừa là điều kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, là hình
thức xã hội có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm lực lượng sản xuất.
Chính vì vậy, mỗi loại hình, hình thức sở hữu chưa thể mất đi khi chúng
còn phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, và cũng
không thể tùy tiện dựng lên, hay thủ tiêu chúng khi lực lượng sản xuất
13
không đòi hỏi. Do vậy, khi quá độ lên chủ nghĩa xã hội phải tính đến sự
biến đổi phức tạp từ quan hệ sản xuất, trong đó trực tiếp là chế độ sở
hữu.
Quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, cũng như quan hệ sở hữu trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề luôn thu hút sự
quan tâm của giới nghiên cứu lý luận, song ở đây, vẫn còn nhiều quan
điểm khác nhau.
Chúng ta đều biết, khi nghiên cứu xã hội tư bản, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã phát hiện ra mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là mâu
thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn đó là cơ sở sâu xa làm nảy sinh các
mâu thuẫn khác và quy định sự vận động phát triển của xã hội tư bản. Từ
đó, các ông đi đến dự báo về sự thay thế chế độ chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa bằng chế độ công hữu. Việc thay thế chế độ tư hữu bằng
chế độ công hữu, theo quan điểm của các ông, không thể tiến hành ngay
một lúc, mà phải là một quá trình lâu dài. Tuy nhiên, vào giai đoạn lịch
sứ đó, các ông chưa chỉ ra mô hình cụ thể về chế độ công hữu.
Kiểu quan hệ sản xuất - quan hệ sở hữu này hay kiểu quan hệ sản xuất
- quan hệ sở hữu khác tuỳ thuộc vào tính chất và trình độ lực lượng sản
xuất. Ở nước ta hiện nay trình độ lực lượng sản xuất còn thấp lại không
đồng đều giữa các ngành, các vùng. Có những vùng, miền mà người dân
vẫn dùng cái cuốc, con trâu để lao động nhưng cũng có nơi lao động
trong phòng thí nghiệm, trong khu công nghệ cao.
Do vậy, tất yếu phải tồn tại nhiều hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất, nên chưa thể đặt vấn đề xoá ngay mọi hình
thức bóc lột. Chỉ đến khi trình độ xã hội hóa sản xuất phát triển cao mâu
thuẫn với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, thì khi ấy mới có
điều kiện chín muồi thực hiện cuộc cách mạng xây dựng xã hội không
còn bóc lột. Chúng ta không thể thủ tiêu chế độ sở hữu ngay lập tức
được mà chỉ có thể thực hiện dần dần, và chỉ khi nào đã tạo được một
lực lượng sản xuất hiện đại, xã hội hóa cao độ với năng suất lao động rất
cao thì khi đó mới xoá bỏ được chế độ tư hữu.
Đất nước chúng ta đang thực hiện nhất quán nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, mục đích là phải sản xuất ra thêm
nhiều giá trị thặng dư. Vấn đề bóc lột hay không bóc lột thể hiện trong
quan hệ phân phối. Bình đẳng trong phân phối được thực hiện dưới
14
những hình thức cụ thể như thế nào là tùy thuộc vào trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất.
Đối với đất nước của chúng ta, đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường
hợp với xu thế của thời đại và điều kiện cụ thể của nước ta. Tuy nhiên,
chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến là sản
xuất nhỏ, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, nên phải trải qua nhiều khâu
trung gian (thời kỳ quá độ).
Điểm nổi lên là kinh tế của chúng ta còn quá nghèo nàn, lạc hậu … vì
vậy khâu trọng yếu mà chúng ta phải xây dựng đó là phát triển lực lượng
sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ
sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Đồng thời phải xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần (nhiều hình
thức sở hữu đan xen nhau) là phù hợp với yêu cầu phát triển mạnh mẽ
lực lượng sản xuất của nước ta hiện nay.
Đồng thời không ngừng đổi mới chính trị, củng cố tăng cường vai trò
lãnh đạo của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng đời sống văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân,
đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Thực hiện mục tiêu “ dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” .
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta (xây dựng lực lượng sản xuất)
- Đây là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ.
- Phải đạt được trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt công nghệ thông
tin và công nghệ sinh học.
- Từng bước phát triển nền kinh tế tri thức.
- Coi giáo dục đào tạo là nhiệm vụ hàng đầu.
. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với chính trị và các mặt khác
của đời sống xã hội (củng cố đổi mới kiến trúc thượng tầng):
- Đổi mới hệ thống chính trị.
- Nâng cao sức chiến đấu của Đảng.
- Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
C©u 4. Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến
trúc thượng tầng? Liên hệ với thực tiễn Việt Nam?
15
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng XH
* Cơ sở hạ tầng (CSHT): là toàn bộ những QHSX hợp thành cơ cấu kinh
tế của một hình thái kinh tế – xã hội nhất định.
Khái niệm CSHT phản ánh chức năng xã hội của các QHSX với tư cách
là cơ sở kinh tế của các hiện tượng xã hội. CSHT của một xã hội cụ thể
bao gồm những QHSX thống trị, những QHSX là tàn dư của xã hội
trước và những QHSX là mầm mống của xã hội sau. Trong một CSHT
có nhiều thành phần kinh tế, nhiều QHSX thì kiểu QHSX thống trị bao
giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các thành phần kinh tế và các kiểu
QHSX khác; nó quy định và tác động trực tiếp đến xu hướng chugn của
toàn bộ đời sống kinh tế xã hội. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, tính
chất giai cấp của cơ sở hạ tầng là do kiểu QHSX thống trị quy định. Tính
chất đối kháng giai cấp và sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ ngay trong
CSHT.
* Kiến trúc thượng tầng (KTTT): là toàn bộ những quan điểm tư tưởng
xã hội, những thiết chế tương ứng và những quan hệ nội tại của thượng
tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
KTTT của xã hội có đối kháng giai cấp bao gồm: hệ tư tưởng và thể chế
giai cấp thống trị, tàn dư của các quan điểm của xã hội trước để lại; quan
điểm và tổ chức của các giai cấp mới ra đời; quan điểm và tổ chức của
các giai cấp trung gian. Tính chất hệ tư tưởng của giai cấp thống trị
quyết định tính chất cơ bản của KTTT trong một hình thái xã hội nhất
định. Trong đó bộ phận mạnh nhất của KTTT là nhà nước – công cụ của
giai cấp thống trị tiêu biểu cho chế độ xã hội về mặt chính trị, pháp lý.
Chính nhờ có nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị mới thống trị
được toàn bộ đời sống xã hội.
1. Quan điểm Macxit về mối quan hệ biện chứng lý luận giữa CSHT
và KTTT:
- CSHT: là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những QHSX đang tồn tại
trong một giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội tạo thành cơ cấu nền
tảng kinh tế của xã hội đó.
+ 3 khả năng tồn tại của CSHT trong xã hội:
16
> CSHT đồng nhất với 1 kiểu QHSX.
> CSHT đồng nhất với 2 kiểu QHSX.
> CSHT có số lượng QHSX lớn hơn 2.
+ Số lượng QHSX lớn hơn 1 đặc trưng cho CSHT của xã hội đó là kiểu
QHSX thuộc về phương thức SX chiếm sự thống trị trong xã hội đó.
- KTTT: là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội
và các thiết chế tương ứng phản ánh CSHT của xã hội đó.
+ 2 bộ phận:
> Tư tưởng, tinh thần
> Thiết chế tổ chức
- Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT:
+ Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT:
> CSHT quyết định nội dung, cấu trúc, sự vận động phát triển của
KTTT.
> Mâu thuẫn trong CSHT làm nảy sinh mâu thuẫn tương ứng trong
KTTT do vậy để giải quyết triệt để mâu thuẫn trong KTTT phải lấy việc
giải quyết mâu thuẫn trong CSHT làm nhân tố quyết định.
+ KTTT tác động trở lại đối với CSHT:
> Khi KTTT phù hợp với CSHT sẽ góp phần thúc đẩy CSHT phát triển.
> Khi không phù hợp nó sẽ kìm hãm sự phát triển của CSHT.
2. Vận dụng mối quan hệ này vào việc luận chứng tính tất yếu của
việc cải cách nền hành chính quốc gia ở nước ta hiện nay?
- CSHT nước ta hiện nay là kết cấu kinh tế nhiều thành phần trong đó
kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo nên KTTT phải xây dựng, củng
cố, đối mới phù hợp.
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần không nhất thiết phải đa nguyên
chính trị tuy nhiên yêu cầu khách quan đặt ra là KTTT nước ta phải đổi
mới phát triển theo hướng nâng cao chất lượng hoàn thành chức năng xã
hội của mình.
- Trước sự yếu kém của nền hành chính nước ta hiện nay, Chính phủ đã
đưa ra mục tiêu“xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững
mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu quả”. Trong một
số năm gần đây, cải cách hành chính (CCHC) đã được triển khai trên cả
4 nội dung: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính công;
17
xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.
- Tuy nhiên, tốc độ CCHC còn chậm, chưa nhất quán, hiệu quả còn thấp.
Nền hành chính có chuyển biến song vẫn tụt hậu so với tốc độ và yêu
cầu cải cách của nền hành chính hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế.
Tình trạng chung là nhiều cán bộ lãnh đạo và cán bộ công chức ngại
thực hiện cơ chế một cửa, do ngại bị bó buộc, ngại bị rút bớt quân số và
lợi ích cục bộ… Mặt khác, trình độ công chức, cán bộ ở bộ phận tiếp
nhận và trả kết quả còn nhiều bất cập, tỷ lệ đạt chuẩn thấp, nhiều nơi chỉ
đạt 20-30%. Trên thực tế, tuy là “một cửa” nhưng vẫn còn nhiều “ổ
khóa” do không ít cán bộ, công chức tiêu cực, nhũng nhiễu tạo ra nên
người dân chưa hết phiền hà. Trong khi đó, sự chỉ đạo thực hiện cải cách
lại thiếu kiên quyết và nhất quán ở các cấp, các ngành; tiền lương mới
chỉ đáp ứng được 1/3 nhu cầu đời sống của cán bộ, công chức. Hội nghị
đã tập trung thảo luận các giải pháp đẩy mạnh CCHC giai đoạn 2, từ
2006-2010.
- Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ
năm 1986, tính đến nay đã gần 20 năm. Trong khoảng thời gian đó, đồng
thời với việc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũng được tiến
hành. Cuộc cải cách hành chính được thực hiện từng bước thận trọng và
đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ. Cải cách hành chính đang
thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát
triển đất nước.
C©u 5. Anh (chị) hãy trình bày bản chất, đặc trưng và chức năng của Nhà
nước? Tại sao nói nhà nước vô sản là nhà nước «kiểu mới», nhà nước
không còn nguyên nghĩa?
1. Nguồn gốc, bản chất, đặc trưng chức năng và các kiểu nhà
nước trong lịch sử
a. Nguồn gốc và bản chất nhà nước
Nguồn gốc Nhà nước Nhà nước là vấn đề phức tạp, và có nhiều
quan điểm khác nhau về nhà nước:
• Nhà nước bản chất thần thánh (Oguynstang, Tômat Dacanh)
18
• Nhà nước là kết quả của khế ước xh.
• Nhà nước là tổ chức phúc lợi chung, siêu giai cấp, trên, ngoài
giai cấp. CN Mac Lê nin cho rằng: nhà nước là 1 phạm trù lịch sử.
• XH không phải khi nào cũng cần có nhà nước
• Nhà nước chỉ ra đời và tồn tại khi môi truờng giai cấp phát triển
đến mức không thể điều hòa.
• Xã hội nguyên thủy chưa có nhà nước. Tổ chức xã hội là thị tộc,
bộ lạc, đứng đầu là tộc trưởng, hội đồng tộc trưởng thay mặt dân
coi sóc công việc chung do dân bầu ra và bãi miễn, trong tay họ
không có công cụ cưỡng bức nào, quyền hành của họ không
mang tính chất cai trị.
• Sự phát triển của LLSX cuối chế độ công xã nguyên thủy làm
cho chế độ tư hữu ra đời và phận hóa XH bằng những giai cấp
đối kháng lợi ích.
• Cuộc đấu tranh giữa các giai cấp diễn ra ngày càng quyết liệt
không thể điều hòa. Để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình, đàn áp
sự phản kháng của giai cấp nô lệ, giai cấp chủ nô lập ra bộ máy
làm chức năng đàn áp, bạo lực. Đó là nhà nước.
LêNin : “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những môi
trường giai cấp không thể điều hòa được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc
nào và chừng mực nào mà về mặt khách quan, những mâu thuẫn
giai cấp không thể điều hòa được thì nhà nước xuất hiện. Và
ngược lại, sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng, những môi
trường giai cấp là không thể điều hòa được. ”Mở rộng “nhà nước
xuất hiện và tồn tại không do ý muốn chủ quan của 1 cá nhân hay
1 giai cấp nào. Trái lại, sự ra đời của nhà nước là 1 tất yếu khách
quan để khống chế những đối kháng giai cấp” để làm “dịu” xung
đột XH, làm cho sự xung đột giai cấp diễn ra trong vòng trật tự,
“trật tự đó là cần thiết để duy trì chế độ kinh tế, trong đó giai cấp
này bốc lột giai cấp khác” Các nhà nước kế tiếp nhau trong lịch
19
sử:
• Nhà nước chiếm hữu nô lệ
• Nhà nước phong kiến
• Nhà nước TS
• Nhà nước XHCN
Bản chất nhà nước Giai cấp lập ra và sử dụng bộ máy nhà nước
là giai cấp có thế lực nhất trong xh, nó nắm trong tay sức mạnh
kinh tế, là chủ sở hữu TLSX. AG: “nhà nước chẳng qua là bộ máy
trấn áp, bạo lực của giai cấp này đối với giai cấp khác, điều đó
trong chế độ cộng hòa dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong
chế độ quân chủ vậy.” Rõ ràng nhà nước không phải là kẻ công
bằng, bảo vệ lợi ích của các giai cấp cho cả giai cấp bóc lột và bị
bóc lột, mà là 1 tổ chức công cụ bạo lực nhằm hợp pháp hóa và
củng cố sự áp bức của giai cấp thống trị đối với quần chúng lao
động. Đó là nhà nước nguyên nghĩa, nhà nước theo nghĩa đen
của nó.
b. Đặc trưng của nhà nước
Đó là sự thiết lập 1 tổ chức quyền lực công cộng đối lập với xh,
bao gồm:
• Bộ máy công chức thường trực làm nhiệm vụ hành chính
• Lực lượng vũ trang: quyết định, hiến binh, cảnh sát, nhà tù, trại
giam, trại tập trung, chúa ngục.
Các cơ quan này từ XH mà ra nhưng ngày càng thoát ly và đối
lập với XH. Quyền lực nhà nước chủ yếu dựa vào sức mạnh
cưỡng chế của pháp luật. Quản lý dân cư trên 1 vùng lãnh thổ
nhất định: tổ chức nhà nước gắn liền với việc phân chia dân cư
theo phạm vi lãnh thổ cư tán. Nghĩa là quyền lực của nhà nước
20
có hiệu lực với mỗi thành viên trong 1 biên giới quốc gia. Nhà
nước đặt ra chế độ thuế khóa - 1 hình thức đóng góp cưỡng bức
để nuôi sống bộ máy cai trị.
c.Chức năng của nhà nước
Nhà nước có 2 chức năng: đối nội và đối ngoại. Chức năng đối
nội:
• Chủ yếu là trấn áp, bạo lực để bảo vệ địa vị thống trị của giai
cấp bóc lột
• Đàn áp các cuộc cách mạng của quần chúng
• Sử dụng bộ máy truyền thông, các cơ quan VH, GD, các tổ
chức XH, làm cho tư tưởng, tổ chức của giai cấp thống trị thống
trị XH.
Chức năng đối ngoại: chủ yếu là bảo vệ và mở rộng lãnh thổ
bằng các cuộc chiến tranh xâm lược nhau nhằm mở rộng sự
thống trị của giai cấp bóc lột trong nước.
Quan hệ giữa 2 chức năng: trong 2 chức năng thì chức năng đối
nội là chủ yếu và quyết định vì:
• Tính chất đường lối đối nội quyết định tính chất, đường lối đối
ngoại
• Ngoài ra nhà nước còn có chức năng công quyền như duy trì
trật tự công cộng, xét xử những vụ tranh chấp thông thường trong
XH, quản lý kinh tế, văn hóa.
Do xã hội loài người đã phát triển qua các hình thái kinh tế từ: Cộng sản
nguyên thủy (xã hội chưa có giai cấp) đến Chiếm hữu nô lệ; Phong Kiến,
Tư bản chủ nghĩa, XHCN. Mỗi hình thái kinh tế xã hội sau là sự phát
triển cao hơn của hình thái trước.
Riêng với Xã hội XHCN được coi là hình thức Nhà nước kiểu mới là
Nhà nước của dân, do dân và vì dân bởi không có bóc lột. Mọi mục tiêu
của Nhà nước XHCN là nhằm hướng đến mang lại cuộc sống tốt đẹp cho
21
nhân dân. Nếu so với các xã hội trước như chiếm hữu nô lệ thì giai cấp
nô lệ bị bóc lột dã man, nhất là nô lệ trong thời kỳ chiếm hữu Hy-La còn
không được coi là một con người, họ bị coi là hàng hóa để trao đổi, mua
bán...thời phong kiến giai cấp nông dân cũng bị địa chủ PK bóc lột thậm
tệ, đặc biệt giai đoạn đầu khi CNTB tự do chuyển sang giai đoạn CNĐQ
hay tư bản độc quyền đã bóc lột công nhân, vô sản thậm tệ...
Sau CM tháng Mười Nga, một hình thức Nhà nước kiểu mới của dân, do
dân ra đời...vì thế so với các hình thức Nhà nước khác thì XH XHCN là
Nhà nước kiểu mới.
Tôi nói vậy chắc bạn sẽ thắc mắc vậy thì tại sao ngày nay CNTB đã có
những điều chỉnh và tiếp tục phát triển? Đúng vậy với xu thế toàn cầu
hóa thì các quốc gia dân tộc phải vừa biết nắm lấy cơ hội cũng như biết
vượt qua thách thức mới mong tồn tại. CNTB cũng vậy thôi, bản chất là
bóc lột và giá trị thặng dư vẫn không thay đổi nhưng họ điều chỉnh để
phù hợp...
Phần 2: Kinh tế chính trị
C©u 1. S¶n xuÊt hµng ho¸ lµ g×? Anh (chị) hãy ph©n tÝch u thÕ cña s¶n
xuÊt hµng ho¸ so víi kinh tÕ t nhiªn? Liªn hÖ víi thùc tiÔn nÒn kinh tÕ níc ta hiÖn nay?
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm
được sản xuất ra để trao đổi hoặc mua bán trên thị trường.
2. Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa ( có hai
điều kiện)
- Phân công lao động xã hội: là sự phân chia lao động xã hội
thành các ngành, nghề khác nhau trong nền sản xuất xã hội. nó
tạo ra sự chuyên môn hóa lao động, chuyên môn hóa sản xuất
thành những những ngành nghề khác nhau, tức là mỗi người sản
xuất chỉ tạo ra một hoặc một hoặc một vài loại sản phẩm nhất
định. Song cuộc sống của mỗi người lại cần nhiều loại sản phẩm
khác nhau. Để thỏa mãn nhu cầu đó đòi hỏi họ phải trao đổi sản
phẩm cho nhau.
- Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những ngươi sản
xuất do quan hệ về tư liệu sản xuất quy định.
22
Người sở hữu tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao
động. chính quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm
cho những người sản xuất độc lập, đối lập nhau, nhưng họ lại
nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc
lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng. Do vậy, người này muốn tiêu
dùng sản phẩm của người khác thì phải thông qua sự mua bán
hàng hóa, tức là phải taro đổi dưới những hình thái hàng hóa.
Sản xuất hàng hóa ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói trên,
nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì thong co sản xuất hàng
hóa và sản phẩm lao động thong mang hình thái hàng hóa.
3. Ưu thế của sản xuất hàng hóa so với kinh tế tự nhiên.
- Mục đích của sản xuất hàng hóa là để thỏa mãn nhu cầu của
người khác, của thị trường. sự gia tăng thong hạn chế nhu cầu
của thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát
triển.
- Sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển trên cơ sở phân công lao
động xã hội, tạo ra tính chuyên môn hóa cao và dưới tác động
của cạnh tranh là cơ sở để nâng cao năng suất lao động, số
lượng và chất lượng sản phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu xã hội tốt
hơn.
- Sản xuất hàng hóa tạo điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế , văn
hóa các vùng, miền, địa phương trong nước và quốc tế ngày
càng phát triển, tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời sống vật
chất và văn hóa của người dân làm nền kinh tế phát triển năng
động và co hiệu quả hơn.
3. So với sản xuất tự cung tự cấp thì sản xuất hàng hoá có những ưu thế
hơn hẳn.
Do sản xuất hàng hoá dựa trên sự phân công lao động XH, chuyên môn
hoá sản xuất nên nó khai thác được những lợi thế tự nhiên, xã hội, kỹ
thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương.
23
Đồng thời, sản xuất hàng hoá cũng tác động trở lại làm cho phân công
lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng tăng, mối quan hệ
giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc. Từ đó,
làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của XH được
đáp ứng đầy đủ hơn.
Trong nền sản xuất hàng hoá, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi
nguồn lực và nhu cầu của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng
mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực XH. Từ đó,
tạo điều kiện cho việc ứng dụng những thành tựu KH – KT vào sản xuất,
thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn.
Trong nền sản xuất hàng hóa, để tồn tại và sản xuất có lãi, người sản
xuất phải luôn luôn năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất,
nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng nhu cầu và
thị hiếu của người tiêu dùng. Nhờ đó, lực lượng sản xuất ngày càng phát
triển, năng suất lao động tăng, hiệu quả kinh tế ngày càng cao.
Sự phát triển sản xuất, mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, các
vùng, các nước... không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống
văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú và đa dạng hơn.
Tóm lại, trong khi sản xuất tự cung tự cấp bị giới hạn bởi như cầu và
nguồn lực cá nhân, gia đình, quy mô sản xuất nhỏ, không tạo được động
lực thúc đẩy sản xuất phát triển thì sản xuất hàng hoá lại tạo được động
lực sản xuất phát triển, làm cho sản xuất phù hợp với nhu cầu, góp phần
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân và toàn XH.
Câu 2. Anh (chị) hãy ph©n tích nội dung và tác động của qui luật giá
trị? Ý nghĩa của vấn đề này đối với nước ta hiện nay?
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa vì nó
quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất cả các quy luật
khác của sản xuất hàng hóa.
Nội dung của quy luật giá trị là:
Sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa
trên hao phí lao động xã hội cần thiết.
Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải
làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức
hao phí lao động xã hội cần thiết có như vậy họ mới có thể tồn tại được;
24
còn trong trao đổi, hay lưu thông, phải thực hiện theo nguyên tắc ngang
giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao
động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá
cả bằng giá trị.
Cơ chế tác động của quy luật giá trị thể hiện cả trong trường hợp giá cả
bằng giá trị, cả trong trường hợp giá cả lên xuống xung quanh giá trị. ở
đây, giá trị như cái trục của giá cả.
b) Tác động của quy luật giá trị
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có ba tác động sau:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai
trường hợp sau:
+ Thứ nhất, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị, hàng
hóa bán chạy và lãi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản
xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động. Mặt khác, những
người sản xuất hàng hóa khác cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt
hàng này, do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên,
quy mô sản xuất càng được mở rộng.
+ Thứ hai, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, sẽ bị
lỗ vốn. Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt
hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làm cho tư liệu sản
xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi, ở ngành khác lại có thể tăng
lên.
Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thì người sản xuất có
thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này.
Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản
xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu
của xã hội.
Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ
nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp hơn đến nơi có giá cả cao hơn,
và do đó, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất
25