Tải bản đầy đủ (.doc) (96 trang)

Một số giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển du lịch biển Cửa Lò - Nghệ An giai đoạn 2006 – 2020

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (444.84 KB, 96 trang )

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Việc phát triển du lịch của một vùng/địa phương được quyết định bởi công tác
quản lý nhà nước về du lịch, vì thế tác động của công tác quản lý nhà nước
về du lịch biển được thể hiện thông qua tác động của du lịch biển, đó là:...16
Tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới: Nếu quan sát bất kỳ một khu du lịch nào, nhìn
vào số nhân viên đang làm việc trong các khách sạn, các cửa hàng bán đồ
lưu niệm, các nhà hàng... thì rõ ràng du lịch đã tạo ra những công việc này.
Khái niệm hiệu quả bội cũng được áp dụng ở đây vì du lịch còn tạo thêm
nhiều việc làm cho các ngành, lĩnh vực khác. ..............................................16
Du lịch quốc tế làm tăng dự trữ ngoại tệ của một quốc gia: Thiếu ngoại tệ thường
gây ra sự hạn chế chủ yếu về nguồn tài chính cho sự phát triển kinh tế. Bất
kỳ một quốc gia nào đều mong muốn cải thiện nền nông nghiệp, hệ thống
giao thông, nguồn năng lượng... của mình nhưng phải đối mặt với nhu cầu
ngoại tệ khổng lồ để chi trả cho việc nhập khẩu công nghiệp. Du khách quốc
tế có thể giúp cung cấp khoản ngoại tệ cần thiết đó......................................17
Làm tăng nguồn thu cho Nhà nước: Khách du lịch cũng có nghĩa vụ phải nộp các
loại thuế. Có thể là thuế trực tiếp như thuế khởi hành phải trả ở sân bay, thuế
phòng cộng thêm vào các hoá đơn lưu trú tại khách sạn. Cũng có thế là thuế
gián tiếp như thuế giá trị gia tăng đối với các hàng hoá dịch vụ. Vì khách du
lịch là những “người mới” đối với cộng đồng nên những khoản thuế họ
đóng góp là nguồn thu thêm cho Nhà nước...................................................17

Khuyến khích nhu cầu nội địa: Người dân địa phương có thể không có
nhu cầu viếng thăm các điểm hấp dẫn trong khu vực địa phương
mình nhưng dù sao họ vẫn tự hào khi thấy một thực tế là các
điểm hấp dẫn này lại thu hút được nhiều người từ khắp nơi thậm
chí rất xa đến viếng thăm. Khi một khu vực thu hút được khách



quốc tế sẽ làm tăng sự quan tâm trong nước đối với các điểm
hấp dẫn ở khu vực đó................................................................17
Do vậy, nhìn chung năm 2007 công tác quản lý Nhà nước về du lịch trên địa bàn
Thị xã đặc biệt là việc thực hiện chủ trương “5 không” cơ bản đạt yêu cầu
đề ra, được đông đảo nhân dân đồng tình cao và hưởng ứng tích cực chủ
trương của Thị xã đã gây được lòng tin cho du khách về với du lịch Cửa Lò.
........................................................................................................................38
Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch...............................................................38
Công suất sử dụng phòng trung bình.....................................................................46
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................90


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.


Viết tắt
ATGT
BCĐ
BTC
DL – TM
HĐND
KHCN
PT – TH
TTCC
UBND
VH – TT
VQG
VSATTP
VSMT

Nội dung
An toàn giao thông
Ban chỉ đạo`
Ban tổ chức
Du lịch - Thương mại
Hội đồng nhân dân
Khoa học công nghệ
Phát thanh - Truyền hình
Trật tự công cộng
Uỷ ban nhân dân
Văn hoá - Thông tin
Vườn quốc gia
Vệ sinh an toàn thực phẩm
Vệ sinh môi trường



DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Việc phát triển du lịch của một vùng/địa phương được quyết định bởi công tác
quản lý nhà nước về du lịch, vì thế tác động của công tác quản lý nhà nước
về du lịch biển được thể hiện thông qua tác động của du lịch biển, đó là:...16
Tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới: Nếu quan sát bất kỳ một khu du lịch nào, nhìn
vào số nhân viên đang làm việc trong các khách sạn, các cửa hàng bán đồ
lưu niệm, các nhà hàng... thì rõ ràng du lịch đã tạo ra những công việc này.
Khái niệm hiệu quả bội cũng được áp dụng ở đây vì du lịch còn tạo thêm
nhiều việc làm cho các ngành, lĩnh vực khác. ..............................................16
Du lịch quốc tế làm tăng dự trữ ngoại tệ của một quốc gia: Thiếu ngoại tệ thường
gây ra sự hạn chế chủ yếu về nguồn tài chính cho sự phát triển kinh tế. Bất
kỳ một quốc gia nào đều mong muốn cải thiện nền nông nghiệp, hệ thống
giao thông, nguồn năng lượng... của mình nhưng phải đối mặt với nhu cầu
ngoại tệ khổng lồ để chi trả cho việc nhập khẩu công nghiệp. Du khách quốc
tế có thể giúp cung cấp khoản ngoại tệ cần thiết đó......................................17
Làm tăng nguồn thu cho Nhà nước: Khách du lịch cũng có nghĩa vụ phải nộp các
loại thuế. Có thể là thuế trực tiếp như thuế khởi hành phải trả ở sân bay, thuế
phòng cộng thêm vào các hoá đơn lưu trú tại khách sạn. Cũng có thế là thuế
gián tiếp như thuế giá trị gia tăng đối với các hàng hoá dịch vụ. Vì khách du
lịch là những “người mới” đối với cộng đồng nên những khoản thuế họ
đóng góp là nguồn thu thêm cho Nhà nước...................................................17

Khuyến khích nhu cầu nội địa: Người dân địa phương có thể không có
nhu cầu viếng thăm các điểm hấp dẫn trong khu vực địa phương
mình nhưng dù sao họ vẫn tự hào khi thấy một thực tế là các
điểm hấp dẫn này lại thu hút được nhiều người từ khắp nơi thậm
chí rất xa đến viếng thăm. Khi một khu vực thu hút được khách



quốc tế sẽ làm tăng sự quan tâm trong nước đối với các điểm
hấp dẫn ở khu vực đó................................................................17
Do vậy, nhìn chung năm 2007 công tác quản lý Nhà nước về du lịch trên địa bàn
Thị xã đặc biệt là việc thực hiện chủ trương “5 không” cơ bản đạt yêu cầu
đề ra, được đông đảo nhân dân đồng tình cao và hưởng ứng tích cực chủ
trương của Thị xã đã gây được lòng tin cho du khách về với du lịch Cửa Lò.
........................................................................................................................38
Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch...............................................................38
Công suất sử dụng phòng trung bình.....................................................................46
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................90


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Thứ nhất, mặc dù Thị xã Cửa Lò có những lợi thế to lớn đế phát triển du
lịch biển nhưng kết quả đạt được của du lịch biển vẫn còn nhiều hạn chế, do
đó cần có những giải pháp tích cực hơn để phát triển du lịch biển Cửa Lò.
Thuộc tỉnh Nghệ An - tỉnh nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, trên
tuyến giao lưu Bắc - Nam và Đông - Tây, nơi hội tụ đầy đủ các tuyến giao
thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển, đường thuỷ nội
địa; Là cầu nối hai miền Bắc Nam và là cửa ngõ thông ra biển Đông của miền
Trung Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan qua cảng Cửa Lò. Thị xã Cửa Lò với
ba mặt là sông biển, bờ biển dài 10km chạy từ cảng thương mại quốc tế Cửa
Lò đến cảng cá Cửa Hội, trong đó bãi tắm dài 8.3km. “Cửa Lò có môi
trường, thiên nhiên và các khu vực với nhiều cảnh đẹp sinh động và hấp dẫn.
Cửa Lò có bãi biển dài và đẹp, môi trường trong lành, có hệ thống sinh thái

biển phong phú và đầy đủ các loại hải sản, đặc sản, có nhiều lễ hội cũng như
nhiều điểm du lịch hấp dẫn... Đó là nơi thích hợp cho du lịch văn hoá và du
lịch phiêu lưu, cũng như du lịch sở thích đặc biệt. Về lâu dài, Cửa Lò có thể
là một trong những điểm du lịch thu hút đông khách đến thăm nhất ở Việt
Nam”. (Trích đánh giá của Tổ chức Du lịch thế giới).
Tuy nhiên, năm 2005 lượng khách du lịch nội địa đến Cửa Lò chỉ đạt
66,8% kế hoạch dự báo, khách du lịch quốc tế chỉ đạt 69% kế hoạch dự báo.
Thứ hai, do ranh giới địa lý Thị xã được mở rộng, hình thành thêm một
số xã, phường dẫn đến có sự điều chỉnh địa giới, dân cư và phân cấp lại công
tác quản lý đất đai, tài nguyên trong đó có tài nguyên du lịch nên cần phải có
sự điều chỉnh nhất định để phát triển du lịch biển.


2
Thứ ba, tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam có những thay đổi, tính
cạnh tranh ngày càng gay gắt không chỉ xảy ra giữa các quốc gia mà còn phải
tính đến từng khu vực, địa phương, lãnh thổ trên nhiều lĩnh vực, trong đó có
hoạt động du lịch. Do một số biến động khó lường trên thế giới và khu vực
như: Khủng hoảng tài chính khu vực, nạn khủng bố, bệnh HIV, dịch cúm
gà… vì thế cũng cần có sự đánh giá thực trạng để nhằm điều chỉnh lại một số
giải pháp phát triển du lịch biển.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Phân tích những lợi thế của Thị xã Cửa Lò để phát triển du lịch biển.
- Thống kê, phân tích và đánh giá đúng thực trạng quản lý du lịch biển
Cửa Lò những năm qua.
- Đánh giá đúng các kết quả đạt được cũng như hạn chế tồn tại và nguyên
nhân của nó.
- Dựa trên cơ sở lý luận và những phân tích, đánh giá thực trạng, luận
văn kiến nghị một số giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển du lịch biển
Cửa Lò trong những năm tới.

3. Về vấn đề nghiên cứu
- Những cơ sở lý luận chung về du lịch biển và quản lý nhà nước về du lịch
biển, cơ hội và thách thức để phát triển du lịch biển của Việt Nam và lý luận
quản lý nhà nước về du lịch biển.
- Những lợi thế để phát triển du lịch biển của Thị xã Cửa Lò.
- Thực trạng công tác quản lý nhà nước về du lịch biển tại Cửa Lò trong
những năm qua.
- Giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển du lịch biển Cửa Lò giai
đoạn 2006-2020.


3
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tại biển Thị xã Cửa Lò,
tỉnh Nghệ An.
- Về thời gian: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu trong giai đoạn
2006-2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Khảo sát thực tế, thu thập và tổng hợp các số liệu.
- Phân tích, đánh giá các số liệu thu thập thực tế.
- Phương pháp so sánh các chỉ tiêu thực tế với các chỉ tiêu đề ra.
6. Kết cấu của luận văn
Tên luận văn: “Một số giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển
du lịch biển Cửa Lò - Nghệ An giai đoạn 2006 – 2020”
Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục,
Luận văn được chia thành 3 chương, như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về du lịch biển
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại biển Cửa Lò
những năm qua

Chương 3: Một số giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển du lịch
biển Cửa Lò đến năm 2020


4

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ DU LỊCH BIỂN
1.1. TỔNG QUAN DU LỊCH BIỂN

1.1.1. Khái niệm du lịch biển
Có thể hiểu du lịch biển là hoạt động của con người tại vùng/khu vực
biển ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham
quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
1.1.2. Các bộ phận cấu thành của hệ thống du lịch biển
Cũng giống như hệ thống du lịch nói chung, du lịch biển bao gồm 5 bộ
phận cấu thành chính: Vận chuyển du lịch, lưu trú, ăn uống, các hoạt động vui
chơi giải trí, lữ hành và các hoạt động trung gian.
Vận chuyển du lịch: Du lịch gắn liền với sự di chuyển, vì vậy mà vận
chuyển du lịch trở nên không thể thiếu được trong ngành du lịch. Tham gia vào
vận chuyển du lịch có các ngành hàng không, đường bộ, đường sắt, đường thuỷ,
mỗi loại phương tiện vận chuyển thường có những ưu, nhược điểm và phù hợp
với từng chuyến đi có khoảng cách, mục đích và chi phí nhất định.
Lưu trú: Khi khách du lịch ra khỏi nhà của mình thì nhu cầu ở lại qua
đêm được đặt ra tại nhưng nơi mà họ đến. Vì vậy, bộ phận lưu trú luôn giữ vị
trí đặc biệt quan trong trong du lịch. Tham gia vào phục vụ lưu trú có các loại
hình như khách sạn, nhà khách, nhà trọ… trong đó mỗi loại nhằm thoả mãn
những nhu cầu có tính đặc trưng, ví dụ khách sạn thường nằm ở trung tâm du
lịch nhằm phục vụ tương đối đầy đủ các dịch vụ ăn uống, lưu trú và các hoạt

động vui chơi giải trí cho khách, là loại hình phục vụ có tính phổ biến nhất,
rất đa dạng về quy mô (ở Việt Nam, thu nhập về kinh doanh khách sạn chiếm
tới 60 - 70% thu nhập của ngành).


5
Ăn uống: Ăn uống cũng là một loại nhu cầu không thể thiếu được với
khách du lịch và phục vụ ăn uống trở thành một hoạt động kinh doanh đáng
kể trong du lịch. Tham gia phục vụ ăn uống trong du lịch có các loại hình như
nhà hàng, các quán bar, quán cà phê… tồn tại độc lập hoặc có thể là bộ phận
trong khách sạn, trên máy bay, tàu hoả. Các cơ sở này vừa phục vụ khách du
lịch vừa có thể phục vụ dân cư địa phương. Trong phục vụ ăn uống du lịch,
các nhà kinh doanh thường khai thác nét ẩm thực truyền thống, đặc trưng cho
địa phương nơi khách du lịch đến, chẳng hạn như du lịch Cửa Lò có nước
mắm, mực trộn tép bưởi, cá giò bảy món, mực nhảy… Các loại hình kinh
doanh ăn uống cũng phát triển rất đa dạng theo quy mô, chất lượng phục vụ
và chuyên môn hoá.
Các hoạt động giải trí: Cung cấp các hoạt động giải trí là một bộ
phận không kém phần quan trọng trong du lịch vì nó tạo sự hấp dẫn, thu
hút và lôi kéo khách du lịch. Bộ phận kinh doanh giải trí bao gồm hoạt
động của các công viên giải trí, sở thú, bách thảo, viện bảo tàng, các di tích
lịch sử, các lễ hội dân gian, các hội chợ, nhà hát… Ngoài ra, các hoạt động
mua sắm đặc biệt là hàng hoá lưu niệm cũng góp phần rất quan trọng trong
hấp dẫn du lịch, hoặc các hoạt động văn hoá, các công trình kiến trúc, các
nhà thờ mặc dù nó không mang tính chất thương mại song lại có khả năng
hấp dẫn, thu hút khách du lịch.
Lữ hành và các hoạt động trung gian: Các sản phẩm du lịch chủ yếu
được tạo ra bởi các nhà cung ứng thuộc các bộ phận nói trên. Tuy nhiên, các
nhà cung ứng này thường không thể bán trực tiếp các sản phẩm của mình cho
khách vì nhiều lý do. Trong đó phải nói đến những bất lợi về khả năng đáp

ứng các nhu cầu có tính đồng bộ của khách hàng và cung của các bộ phận này
thường mang tính cố định còn cầu về hàng hoá và dịch vụ du lịch lại phân tán


6
khắp mọi nơi. Những hạn chế đó làm nảy sinh sự cần thiết của các tổ chức
trung gian - các tổ chức kinh doanh lữ hành. Sự ra đời của các tổ chức này đã
thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển du lịch thông qua các vai trò sau:
+ Thực hiện các hoạt động trung gian nối liền giữa khách du lịch với các
nhà cung ứng hàng hoá và dịch vụ du lịch. Trên cơ sở đó rút ngắn được
khoảng cách giữa khách du lịch với các nhà cung ứng và nâng cao hiệu quả
cung ứng, hiệu quả kinh doanh.
+ Có khả năng cung cấp cho khách hàng những sản phẩm đồng bộ, trọn
gói thông qua việc liên kết các dịch vụ của nhà cung ứng nhằm tạo cho khách
hàng sự chủ động cao và hiệu quả trong các chuyến du lịch.
Như vậy, tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch bao gồm nhiều bộ
phận (lĩnh vực) kinh doanh khác nhau hợp thành một chuỗi sản phẩm có tính
phong phú, đồng bộ đáp ứng nhu cầu khách du lịch. Điều đó cho thấy, để phát
triển du lịch cần phải coi trọng và đầu tư một cách đồng bộ cho tất cả các bộ
phận tham gia cung ứng hàng hoá và dịch vụ du lịch.
1.1.3. Phân loại du lịch biển
Dựa vào mục đích du lịch của du khách ta có thể phân loại như sau:
Du lịch triển lãm, hội nghị và hội thảo: Du lịch triển lãm, hội nghị, hội
thảo và các tổ chức sự kiện có triển vọng phát triển ở các thành phố lớn và
những nơi phong cảnh đẹp, môi trường hấp dẫn, trong lành như hồ, biển, núi.
Một địa phương hoặc điểm, khu du lịch muốn phát triển thành công du lịch
hội nghị, triển lãm cần có: Điều kiện tự nhiên cùng nguồn tài nguyên du lịch
hấp dẫn du khách; Điều kiện giao thông đường không, đường thuỷ, đường bộ
tốt; Tình hình an ninh chính trị trật tự xã hội tốt; Cư dân bản địa có thái độ
thân thiện với du khách tới dự hội nghị triển lãm, có mối quan hệ cộng tác tốt



7
về phương diện kinh doanh, chất lượng dịch vụ du lịch như cơ sở lưu trú ăn
uống, phòng hội thảo, phương tiện vận chuyển có chất lượng tốt. Thông
thường tại các khách sạn lớn hiện đại đều có phòng hội nghị với qui mô khác
nhau. Việc phát triển loại hình du lịch triển lãm, hội nghị vừa có thể tăng thu
nhập cho các khách sạn, khắc phục tính mùa vụ, bù đắp sự thiếu vắng khách,
vừa nâng cao thanh thế của khách sạn và uy tín của địa phương và nước chủ
nhà, tạo nhiều cơ hội để phát triển kinh tế - xã hội.
Du lịch nghỉ dưỡng: Du lịch nghỉ dưỡng là nhằm nhanh chóng khôi
phục sức khỏe, tăng cường thể chất, tinh thần và khả năng làm việc của khách
du lịch sau một thời gian làm việc căng thẳng, vất vả hoặc sau khi điều trị
bệnh tật... Ở Việt Nam, du lịch nghỉ dưỡng thường được thực hiện dưới các
hình thức nghỉ hè, nghỉ mát, an dưỡng. Việc phát triển loại hình du lịch nghỉ
dưỡng thường được lựa chọn phát triển ở những nơi có các điều kiện sau:
Có thời gian dài, khí hậu thích hợp với sức khoẻ của con người, ít nhất là
trên 3 tháng trong năm khí hậu trong lành, mát mẻ, xa nguồn ô nhiễm, khí hậu
thích hợp với từng loại nhu cầu điều trị bệnh, đặc biệt như ở miền biển.
Có các điều kiện và tài nguyên du lịch hấp dẫn, thuận lợi. Có nhiều
phong cảnh đẹp, yên tĩnh, gần nguồn nước khoáng, suối nước nóng, bùn chữa
bệnh. Có nguồn dược liệu phong phú để chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe.
Có điều kiện khả năng tổ chức nhiều loại hình du lịch khác như: Có điều
kiện để tổ chức vui chơi giải trí, câu cá, đi dạo, văn hoá, du lịch, thể thao, có điều
kiện tiến hành tham quan du lịch. Có điều kiện về các dịch vụ phục vụ cho du
khách như gần nguồn cung cấp thực phẩm tươi sống, phong phú, có điều kiện
chăm sóc y tế và đời sống tinh thần, đảm bảo về thông tin liên lạc và an toàn xã
hội, có cơ sở vật chất phục vụ lưu trú ăn uống, đáp ứng nhu cầu của du khách.



8
Có điều kiện đi lại thuận lợi, có cự ly đi lại về đường giao thông không
quá lớn, có hệ thống đường sá tốt, thuận lợi, có thể sử dụng nhiều loại phương
tiện khác nhau.
Du lịch tham quan: Đây là loại hình du lịch thu hút nhiều du khách, đáp
ứng nhu cầu muốn được tìm hiểu, thưởng ngoạn, nâng cao nhận thức và tình
cảm của du khách đối với thiên nhiên, văn hoá và con người tại mỗi khu vực
nhất định. Để tổ chức và phát triển loại hình du lịch tham quan tại một hệ
thống lãnh thổ du lịch nhất định, cần đáp ứng các điều kiện sau:
Tài nguyên du lịch phong phú và hấp dẫn, có nhiều điểm tham quan hấp
dẫn, có thể đáp ứng việc tổ chức các chuyến đi với thời gian nhất định cho du
khách ít nhất là 1 ngày. Có thời gian tham quan dài, thời gian hoạt động dài,
thích hợp nhất của điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội.
Có khí hậu phù hợp với điều kiện sức khỏe của con người. Có sức chứa
thích hợp: Thỏa mãn cho khách tham quan thường xuyên trên 100 người, thỏa
mãn cho khách tham quan tập trung trên 500 người.
Có cự ly thích hợp và giao thông đi lại thuận tiện. Nằm trên một tuyến
du lịch nhất định, có đường đi lại thuận tiện, kết hợp được nhiều phương tiện,
có hệ thống đường trong nội bộ khu vực tham quan.
Có các điều kiện dịch vụ và bảo đảm an toàn. Có cơ sở vật chất kĩ thuật
phục vụ lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi cho du khách phù hợp với qui mô số
lượng và chất lượng tài nguyên, đáp ứng nhu cầu hợp lí của du khách tham
quan; Có phương tiện giao thông nội bộ (voi, ngựa, xe điện, xe ngựa) đáp ứng
nhu cầu đi lại trong khu vực tham quan của du khách; Có các dịch vụ du lịch:
Chụp ảnh, quay phim, bán đồ lưu niệm, hướng dẫn tại điểm... có các phương
tiện truyền tin, cấp cứu và bảo đảm an toàn.


9
Trong quy hoạch du lịch, khi lựa chọn, phát triển loại hình du lịch tham

quan tại một khu, điểm du lịch của một địa phương nên nghiên cứu, khai thác
các nguồn lực và điều kiện phát triển loại hình du lịch này của các điểm du
lịch, khu du lịch phụ cận trong và gần địa phương.
Du lịch chữa bệnh: Du lịch chữa bệnh là loại hình du lịch đáp ứng nhu
cầu điều trị một số bệnh tật về thể xác và tinh thần cho du khách. Mục đích là
làm cho du khách có thể chữa khỏi một số bệnh hoặc làm giảm đau và hạn
chế bệnh tật.
Chữa bệnh bằng biển: Bao gồm cả các thành phần của phương pháp chữa
bệnh bằng khí hậu và phương pháp chữa bệnh bằng thuỷ lý. Phương pháp
chữa bệnh này chủ yếu nhờ tắm biển và phơi nắng, nghỉ ngơi hợp lí.
Đối với khu du lịch chữa bệnh bằng liệu pháp biển phải được xây dựng quy
hoạch ở nơi có bãi biển, có bãi cát trắng, nước trong xanh, có độ trong suốt cao
từ 3 - 5m, độ mặn phù hợp từ 3 - 3,5%, tốc độ dòng chảy nhỏ, tốc độ gió phù
hợp, nhiều ánh nắng, nước biển trong sạch. Một khu vực chữa bệnh bằng suối
nước khoáng phải được quy hoạch ở khu vực có thiên nhiên tươi đẹp, yên tĩnh,
thoáng, xa khu dân cư và sản xuất công nghiệp, có diện tích rộng, nhiều cây
xanh, cách biệt với môi trường gây bệnh, khí hậu mát mẻ trong lành.
Nhìn chung đối với loại hình du lịch chữa bệnh, tiêu chuẩn quan trọng là
tài nguyên phải có tính năng chữa bệnh và tính năng này phải được khoa học
công nhận. Chẳng hạn như cơ quan y tế xác nhận về hiệu quả chữa bệnh;
Viện vệ sinh dịch tễ kiểm tra nguồn nước, không khí không ô nhiễm, độ trong
sạch cao. Các tài nguyên này phải đa dạng, phong phú hấp dẫn khách du lịch,
đảm bảo cho các cơ sở du lịch chữa bệnh, đầu tư phát triển lâu dài, đảm bảo
sẽ có khách, kinh doanh hiệu quả về các mặt.


10
Các khu du lịch chữa bệnh cần có các cơ sở lưu trú ăn uống, vui chơi giải
trí, kết cấu hạ tầng đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện sức khoẻ của
du khách.

Trong quy hoạch phát triển các loại hình du lịch chữa bệnh còn cần phải có
kế hoạch tuyển chọn, đào tạo đội ngũ y bác sỹ chuyên ngành, nhân viên phục vụ
hiểu biết về y tế, các phác đồ điều trị, hướng dẫn du khách điều trị.
Loại hình du lịch thể thao: Thể thao có mối quan hệ mật thiết đối với
du lịch. Du lịch thể thao là một hình thức quan trọng của du lịch lễ hội, đồng
thời là sản phẩm du lịch mang lại hiệu quả kinh tế cho nhiều doanh nghiệp và
hiệu quả về xã hội cho cộng đồng.
Bộ phận quản lý chính phủ về thể thao và du lịch có trách nhiệm liên hệ
với nhau trong nhiều trường hợp để phối hợp tổ chức hoạt động, phát triển du
lịch thể thao có nhiều ý nghĩa như mang lại hiệu quả kinh tế trong kinh doanh
du lịch; Có ý nghĩa xã hội như tăng cơ hội việc làm; Tăng cường tố chất dân
tộc, hữu nghị giữa các quốc gia; Thúc đẩy du lịch phát triển; Đặc biệt là ở các
vùng chưa phát triển và mùa vắng khách. Có thể làm cho du lịch lễ hội hấp dẫn
hơn, gia tăng hứng thú tham gia vào các hoạt động du lịch, thể thao, hoạt động
rèn luyện thân thể, thể thao hàng ngày trong thời gian rỗi đáng được chú ý.
Trong quy hoạch phát triển du lịch, việc quan tâm phát triển loại hình du
lịch thể thao mang ý nghĩa về nhiều mặt. Du lịch thể thao bao gồm hai loại:
Du lịch thể thao chủ động và du lịch thể thao bị động.
Du lịch thể thao chủ động bao gồm các chuyến đi du lịch, du khách tham
gia trực tiếp vào các hoạt động thể thao hoặc tham gia vào các hoạt động thể
thao hàng ngày tại các cơ sở kinh doanh loại hình du lịch này. Du lịch thể
thao chủ động gồm: Du lịch leo núi, du lịch bơi thuyền, lướt ván, săn bắn, du
lịch câu cá, chơi golf, tenis, bóng chuyền...


11
Du lịch thể thao bị động, bao gồm những cuộc hành trình du lịch để xem
các cuộc thi thể thao, các cuộc biểu diễn, các thế vận hội.
Các điều kiện để phát triển loại hình du lịch này gồm:
- Các tiêu chuẩn về tài nguyên như: Du lịch leo núi thường được tổ chức

ở những địa hình núi cao trên 2500m, có địa hình hiểm trở nhưng có đường
mòn đảm bảo an toàn cho du khách leo núi, có phong cánh đẹp, khí hậu mát
mẻ; Du lịch đua thuyền, lướt ván được tổ chức ở những nơi có điều kiện như:
Hồ, biển có phong cảnh đẹp, nguồn nước chưa bị ô nhiễm, tốc độ dòng chảy
nhỏ đối với biển, có độ cao của sóng đối với đua thuyền cao dưới 1m. Với du
lịch lặn biển: Đáy biển nông, nước biển không bị ô nhiễm, độ trong suốt cao
từ 3 - 5m, độ mặn từ 3 - 4%, độ sâu tới đáy biển khoảng 20 - 30m, nhiệt độ
nước biển từ 19 - 270C, sự đa dạng sinh học cao, có nhiều loại thực vật, động
vật đặc sắc hấp dẫn, có nhiều loại dải san hô không có các loại động vật độc
và nguy hiểm.
Du lịch câu cá: Được tổ chức ở những khu vực tự nhiên có nhiều loại cá,
các loại thân mềm và các loại giáp xác có thể câu được.
Để tổ chức phát triển các loại hình du lịch còn cần có các đội ngũ nhân
viên, hướng dẫn viên am hiểu về các loại hình du lịch này để có thể phục vụ và
hướng dẫn du khách tham gia vào các hoạt động thể thao. Ngoài ra còn cần các
cơ sở lưu trú, ăn uống giải trí, đáp ứng các nhu cầu này cho khách.
Loại hình du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa
vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng
đồng địa phương thông qua việc giảm áp lực với môi trường đã làm cân bằng
lợi ích kinh tế. Thông qua bảo vệ tính hoàn chỉnh về văn hoá và tài nguyên,
phong cảnh du lịch, bảo vệ tính công bằng và lợi ích chung giữa các bên tham
gia, thông qua việc lôi cuốn cộng đồng địa phương vào hoạt động bảo tồn và


12
du lịch, chia sẻ lợi ích kinh tế với địa phương. Vì vậy du lịch sinh thái những
năm gần đây là loại hình du lịch hấp dẫn khách, được chính phủ và ngành du
lịch ở nhiều quốc gia quan tâm đầu tư phát triển. Theo nhiều nhà nghiên cứu
du lịch sinh thái bao gồm nhiều loại hình như: Thưởng thức động, thực vật
hoang dã, du lịch bằng xe đạp, du lịch mạo hiểm, du lịch leo núi, du lịch thám

hiểm sa mạc, du lịch hành động bảo vệ môi trường, khảo sát nghiên cứu sinh
thái tự nhiên, du lịch thể thao, du lịch miệt vườn, tham quan nghiên cứu văn
hoá các tộc người, du lịch nghỉ dưỡng...
1.1.4. Cơ hội, thách thức với việc phát triển du lịch biển ở Việt Nam
Cơ hội phát triển du lịch biển: Nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi và
nguồn tài nguyên biển phong phú cho phát triển du lịch biển như: Có bờ biển
dài 3.260 km, diện tích biển trên 1 triệu km 2, có nhiều đảo và quần đảo với
gần 4000 đảo có phong cảnh đẹp, động vật phong phú. Nước ta có tới 300 bãi
biển, trong đó có 25 bãi biển đẹp, nhiều vũng, vịnh thuận lợi cho xây dựng hải
cảng, tuyến đường sắt, đường bộ Bắc Nam nằm sát ven biển. Ven biển nước
ta cũng là nơi tập trung đông dân cư từ lâu, nên có tài nguyên du lịch nhân
văn, đặc biệt là các di sản văn hoá, thuận lợi cho việc kết hợp phát triển các
tour, tuyến du lịch. Biển của nước ta còn giàu tài nguyên khoáng sản như:
Than, dầu khí...
Vùng ven bờ biển với các vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh, đảo, bãi
cát biển, hang động... có tiềm năng lớn đối với phát triển du lịch - dịch vụ. Hệ
thống bãi biển (với 125 bãi có giá trị cao, đẹp nổi tiếng như Trà Cổ, Cửa Lò,
Lăng Cô, Đà Nẵng...) đã thu hút hàng triệu khách du lịch trong và ngoài nước
mỗi năm. Hiện cả nước có trên 40 cảng biển lớn nhỏ (theo quy hoạch đến
năm 2010 là 104) là lợi thế về vận tải và giao thương trong nước cũng như
quốc tế. Biển còn ẩn chứa trong mình nhiều nguồn lợi về khoáng sản như dầu


13
khí, than đá, sa khoáng titan, zircon, monazit, cát thuỷ tinh... Các hệ sinh thái
ven biển như cửa sông, đầm phá, vũng vịnh, rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm
cỏ biển... có năng suất và đa dạng sinh học cao. Hệ sinh thái nước trồi tạo nên
các ngư trường nổi tiếng ngoài khơi như Bình Thuận, tây nam Cà Mau, Bạch
Long Vỹ, có thềm lục địa nông và rộng, biển ấm, nhiệt độ nước biển từ 20 250C, độ mặn trung bình từ 3 - 35%, độ trong suốt cao, đặc biệt là ở vùng biển
duyên hải Nam Trung Bộ. Có sự đa dạng sinh học cao với nhiều hệ sinh thái

như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái các bãi triều, hệ sinh thái đáy
biển, hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái tùng áng... Biển của nước ta chiếm tới
hơn 1/2 số loài san hô của vịnh Bắc Bộ và có tới 2.038 loài cá, 650 loài rong
biển, 90 loài tôm và 2.500 loại động vật thân mềm. Có tới 11.000 loài sinh vật
thuỷ sinh và 1.300 loài sinh vật trên đảo đã được biết đến ở biển Việt Nam,
trong đó có khoảng 6.000 loài động vật đáy và 2.000 loài cá. Có 83 loài sinh
vật biển được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam (37 loài cá, 6 loài san hô, 5 loài da
gai, 4 loài tôm rồng, 1 loài sam, 21 loài ốc, 6 loài động vật hai mảnh vỏ và 3
loài mực).
Nước ta có nhiều khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản thiên nhiên thế
giới và vườn quốc gia ven biển và trên các đảo: VQG Phú Quốc, VQG Côn
Đảo, VQG Bái Tử Long, và khu dự trữ sinh quyển Cát Bà, khu dự trữ sinh
quyển Xuân Thuỷ, di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.
Từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, người Pháp đã cho xây dựng
nhiều khu nghỉ biển ở nước ta như: Biệt thự Bảo Đại, khu du lịch biển Đồ Sơn
(1928), Bạch Dinh và khu nghỉ biển Vũng Tàu (1911), Biệt thự Bảo Đại và
thành phố biển Nha Trang (1935), khu nghỉ biển Sầm Sơn (1936), khu nghỉ
biển Cửa Lò (1907).
Thách thức đối với phát triển du lịch biển: Vùng ven biển nước ta là


14
nơi phát triển kinh tế năng động và có mật độ dân số cao. Dọc bờ biển có tới
12 đô thị lớn, 40 cảng, hàng trăm bến cá và khoảng 238.600 cơ sở sản xuất
công nghiệp. Hoạt động du lịch, dịch vụ và quá trình đô thị hóa đang gia tăng
mạnh. Sản lượng khai thác cá biển mà 80% là từ vùng nước ven bờ đã vượt
mức cho phép. Diện tích hầm nuôi thủy sản nước mặn, lợ tăng từ 230.000 ha
(năm 1998) lên 529.000 ha (năm 2003). Phương tiện giao thông thủy ngày
càng nhiều, sản lượng khai thác và vận chuyển dầu khí trên biển không ngừng
tăng, gây nên tình trạng ô nhiễm dầu trên biển rộng. Đến nay đã có trên 40 vụ

tràn dầu, điển hình như tai nạn tàu Neptune Aries làm tràn 1.865 tấn dầu vào
năm 1994 tại cảng Sài Gòn. Khai thác khoáng sản ven biển như than, vật liệu
xây dựng, sa khoáng đã làm biến dạng cảnh quan, gây ô nhiễm môi trường và
làm tăng xói lở bờ biển. Riêng mỏ than Quảng Ninh mỗi năm đã thải ra khoảng
13 - 19 triệu mét khối đất đá và khoảng 30 - 60 triệu mét khối chất thải lỏng. Với
diện tích nông nghiệp trên 7 triệu ha, hàng năm một dư lượng đáng kể phân bón
hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật theo sông chảy ra gây ô nhiễm môi trường
biển. Hoạt động du lịch cũng gây áp lực lớn cho môi trường (chỉ riêng hoạt động
này trong năm 2003 đã thải ra 32.273 tấn rác và 4.817.000m3 nước thải). Xói lở
bờ biển tăng cả về quy mô và tính chất nguy hiểm. Có đến 397 đoạn bờ đã và
đang bị xói lở với tổng chiều dài 920 km, tốc độ phổ biến 5 - 10m/năm, cá biệt
30 - 50 m/năm.
Rừng bị tàn phá nặng nề do chiến tranh, thiên tai và khai thác quá mức
của con người. Ngoài ra, hệ thống đập - hồ chứa trên lưu vực cũng làm
thay đổi lớn lượng tải, phân bố nước và trầm tích đưa ra biển. Sự mất đi
một lượng lớn nước ngọt, trầm tích và dinh dưỡng do đắp đập ngăn sông đã
gây ra những tác động lớn cho vùng ven biển như xói lở, xâm nhập mặn,
thay đổi chế độ thủy văn, mất nơi cư trú và bãi giống, bãi đẻ của sinh vật,
suy giảm sức sản xuất của vùng biển ven bờ, gây thiệt hại về đa dạng sinh


15
học, nguồn lợi thủy sản đánh bắt và nuôi trồng. Việt Nam có trên 650 đập hồ chứa cỡ lớn, vừa và hơn 3.500 đập - hồ chứa cỡ nhỏ, tổng sức chứa các
đập - hồ thuỷ điện trên hệ thống sông Hồng bằng 20% tổng lượng dòng
chảy năm của hệ thống này. Trên thượng lưu sông Mê Kông, Trung Quốc
đang phát triển mạnh các đập - hồ chứa, dự kiến đến 2010 sẽ có 8 đập - hồ
chứa lớn với tổng dung tích trên 40km 3 và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến vùng
ven biển Việt Nam.
Thiên tai, thậm chí khả năng xuất hiện động đất và sóng thần, ảnh hưởng
lớn đến khả năng phát triển bền vững vùng biển. Mực nước dâng cao dẫn tới

ngập lụt ven biển, nhiễm mặn, xói lở, sa bồi làm đảo lộn cân bằng tự nhiên và
sinh thái. Phân bố mưa và bão thất thường, có xu hướng giảm dần ở Bắc Bộ,
tăng lên ở Trung Bộ và dịch về phía Nam.
Như vậy có thể thấy, sự phát triển kinh tế, dân số, diễn biến bất thường
của khí hậu và thiên tai đã tác động lớn đến tài nguyên và môi trường biển.
Vùng biển Việt Nam đang đứng trước nguy cơ phát triển thiếu bền vững.
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH BIỂN

1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch biển
Quản lý nhà nước về du lịch biển là làm chức năng quản lý vĩ mô về du lịch
biển, không làm chức năng chủ quản, không làm chức năng kinh doanh thay các
doanh nghiệp du lịch. Việc quản lý đó được thông qua các công cụ quản lý vĩ mô,
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau hoạt động trên lĩnh vực kinh tế du lịch biển. Quản lý nhà nước về du lịch
biển là nhằm đưa du lịch biển phát triển theo định hướng chung của tiến trình phát
triển đất nước.
1.2.2. Tác động của quản lý nhà nước về du lịch biển


16
Việc phát triển du lịch của một vùng/địa phương được quyết định bởi
công tác quản lý nhà nước về du lịch, vì thế tác động của công tác quản lý nhà
nước về du lịch biển được thể hiện thông qua tác động của du lịch biển, đó là:
Tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới: Nếu quan sát bất kỳ một khu du lịch
nào, nhìn vào số nhân viên đang làm việc trong các khách sạn, các cửa hàng
bán đồ lưu niệm, các nhà hàng... thì rõ ràng du lịch đã tạo ra những công việc
này. Khái niệm hiệu quả bội cũng được áp dụng ở đây vì du lịch còn tạo thêm
nhiều việc làm cho các ngành, lĩnh vực khác.
Tạo cơ sở để giúp phát triển các vùng đặc biệt: Du lịch thường được
gọi là ngành công nghiệp sạch bởi vì nó không cần hầm mỏ cũng như các nhà

máy chế biến. Ngoài ra nó còn được coi là ngành tăng trưởng nhanh bởi vì
một khi các yêu cầu cơ bản được đáp ứng thì số khách du lịch có thể tăng lên
với một tỷ lệ cao. Cùng với các lợi ích của mình, du lịch sẽ giúp tạo ra một
môi trường thuận lợi cho các vùng có những vấn đề khó khăn nhất định của
một quốc gia, ví dụ vùng sâu vùng xa, làm cho các vùng này thu hút được sự
quan tâm của công chúng trong và ngoài nước.
Mặt khác, do phát triển các khu du lịch làm cho người dân địa phương
trước đây không muốn đến sinh sống ở những vùng sâu, vùng xa nay nhận
thức được các lợi ích do du lịch mang lại như thu nhập cao hơn, cơ sở hạ tầng
được cải thiện, đời sống văn hoá tinh thần phong phú hơn đã thuyết phục họ
chuyển đến và yên tâm định cư tại các vùng này.
Cải thiện cán cân thương mại quốc gia: Khách du lịch quốc tế đến
mang theo tiền từ các quốc gia khác. Điều này có hiệu quả giống như một
ngành xuất khẩu và du khách có “trách nhiệm” mang ngoại tệ vào, do đó
làm cải thiện cán cân thanh toán thương mại quốc gia. Du lịch được coi
như một hàng hoá xuất khẩu có thể có giá trị như khoáng sản hoặc nông


17
sản ở một số nước (và có lẽ có giá trị hơn vì nó không làm cạn kiệt các tài
nguyên thiên nhiên của đất nước như ngành khai thác).
Du lịch quốc tế làm tăng dự trữ ngoại tệ của một quốc gia: Thiếu
ngoại tệ thường gây ra sự hạn chế chủ yếu về nguồn tài chính cho sự phát
triển kinh tế. Bất kỳ một quốc gia nào đều mong muốn cải thiện nền nông
nghiệp, hệ thống giao thông, nguồn năng lượng... của mình nhưng phải đối
mặt với nhu cầu ngoại tệ khổng lồ để chi trả cho việc nhập khẩu công nghiệp.
Du khách quốc tế có thể giúp cung cấp khoản ngoại tệ cần thiết đó.
Lợi ích trên có được với điều kiện có được một số lượng đáng kể du
khách quốc tế đến và mang theo ngoại tệ. Lượng ngoại tệ thu được không bị
rò rỉ khỏi nền kinh tế. Đồng thời, các du khách quốc tế đến và chi tiêu nhiều

hơn công dân quốc gia đó đi du lịch nước ngoài.
Làm tăng nguồn thu cho Nhà nước: Khách du lịch cũng có nghĩa vụ
phải nộp các loại thuế. Có thể là thuế trực tiếp như thuế khởi hành phải trả ở
sân bay, thuế phòng cộng thêm vào các hoá đơn lưu trú tại khách sạn. Cũng
có thế là thuế gián tiếp như thuế giá trị gia tăng đối với các hàng hoá dịch vụ.
Vì khách du lịch là những “người mới” đối với cộng đồng nên những khoản
thuế họ đóng góp là nguồn thu thêm cho Nhà nước.
Khuyến khích nhu cầu nội địa: Người dân địa phương có thể không có
nhu cầu viếng thăm các điểm hấp dẫn trong khu vực địa phương mình nhưng
dù sao họ vẫn tự hào khi thấy một thực tế là các điểm hấp dẫn này lại thu hút
được nhiều người từ khắp nơi thậm chí rất xa đến viếng thăm. Khi một khu
vực thu hút được khách quốc tế sẽ làm tăng sự quan tâm trong nước đối với
các điểm hấp dẫn ở khu vực đó.
Ngoài ra, khi địa phương phát triển các tiện nghi và cơ sở du lịch nhằm


18
thu hút khách quốc tế thì điều này cũng có thể có lợi cho dân chúng địa
phương. Khi các khách sạn mới, khu giải trí, tiện nghi dịch vụ mới quyến rũ
các khách du lịch quốc tế thì cũng làm cho người dân địa phương ở đây thích
nghỉ ngơi tại nhà - địa phương mình hơn.
Đối với môi trường sinh thái: Chức năng sinh thái của du lịch được thể
hiện trong việc tạo nên môi trường sống ổn định về mặt sinh thái. Nghỉ ngơi
du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục môi trường
thiên nhiên xung quanh.
Việc tham quan các danh lam thắng cảnh và môi trường thiên nhiên có ý
nghĩa lớn đối với du khách. Nó tạo điều kiện cho du khách hiểu biết về tự
nhiên và hình thành thói quen bảo vệ môi trường.
Du lịch và môi trường có quan hệ mật thiết với nhau, du lịch góp phần
bảo vệ môi trường sinh thái, tạo điều kiện để phát triển du lịch.

Đối với công tác chính trị: Chức năng chính trị của du lịch thể hiện vai
trò của nó như một nhân tố củng cố hoà bình, thức đẩy giao lưu, mở rộng sự
hiểu biết giữa các địa phương, vùng. Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở
những khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau, tạo tình hữu nghị.
1.2.3. Nội dung, các cấp quản lý nhà nước về du lịch biển
Nội dung quản lý nhà nước về du lịch: Sự khác biệt của quản lý nhà
nước với quản lý kinh doanh ở chỗ quản lý nhà nước có tổ chức quyền lực
nhà nước, đặt các đơn vị sản xuất kinh doanh vào các mối quan hệ và điều
chỉnh các mối quan hệ đó bằng các công cụ khác nhau (công cụ pháp luật là
chính). Nằm trong cơ cấu của bộ máy nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về
du lịch biển hoạt động theo nguyên tắc của bộ máy nhà nước. Các nguyên tắc
đó xuất phát từ việc nhà nước nắm giữ và bảo toàn quyền lực kinh tế, theo


19
định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước quản lý nền kinh tế nói chung và
ngành du lịch nói riêng theo nguyên tắc kết hợp quản lý ngành và lãnh thổ,
phân định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý trực
tiếp. Phân định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý
trực tiếp sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở nhằm kết hợp
chúng tốt hơn trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội. Nằm trong hệ
thống quyền lực nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch được trao
những thẩm quyền nhất định, chủ yếu là những thẩm quyền chuyên môn, hoạt
động theo các nguyên tắc nêu trên. Nằm trung gian giữa cơ quan quản lý nhà
nước về kinh tế và hệ thống kinh doanh du lịch, quản lý nhà nước về du lịch
có chức năng quan trọng nhất là sự kết hợp thẩm quyền mà nhà nước giao cho
với những nhiệm vụ mà hệ thống kinh doanh du lịch đặt ra. Chức năng của
toàn bộ cơ quan quản lý nhà nước về du lịch chính là chức năng quản lý nhà
nước về du lịch. Song chức năng của từng bộ phận của nó, chẳng hạn chức
năng của Tổng cục du lịch, chức năng của Uỷ ban hợp tác và đầu tư... đối với

ngành chỉ là một bộ phận của chức năng quản lý nhà nước về du lịch. Chúng
ta có thể hệ thống một cách tương đối các chức năng của quản lý nhà nước về
du lịch thành các nội dung (chức năng) như sau:
- Ban hành các văn bản pháp luật về du lịch, xây dựng và thực hiện hàng loạt
các chính sách kinh tế lớn để phát triển du lịch và xây dựng một cơ chế có hiệu
lực để đưa chính sách và thể chế quản lý vào hoạt động kinh doanh du lịch. Ở
nước ta những năm vừa qua thực hiện đường lối phát triển kinh tế du lịch của
Đảng, về mặt nhà nước cũng thể chế hoá đường lối phát triển du lịch, đem lại
những thành quả du lịch bước đầu.
- Tổ chức hướng dẫn thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các văn bản
luật, các quy chế, các chế độ, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật, quy
trình, quy phạm trong hoạt động du lịch. Về vấn đề này, cơ quan quản lý du


20
lịch ở nước ta có nhiều hoạt động đáng ghi nhận. Song, như các báo cáo tổng
kết của ngành du lịch Việt Nam thì mặt này còn nhiều hạn chế.
- Tổ chức và quản lý công tác tuyên truyền, quảng cáo du lịch, nghiên
cứu ứng dụng khoa học, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, hợp tác quốc tế, bảo vệ
môi trường du lịch (đang là những yêu cầu cấp thiết đối với việc phát triển du
lịch ở nước ta trong giai đoạn hiện nay).
- Giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm luật trong hoạt
động du lịch; Thúc đẩy du lịch nước ta theo định hướng chung của đất nước;
Hạn chế, đi đến xoá bỏ các hiện tượng không lành mạnh, mặt trái của du lịch
mà nhiều nước đã mắc phải qua hoạt động du lịch (mại dâm, văn hoá đồi trụy,
nghiện hút...).
Các cấp quản lý nhà nước về du lịch: Để thực hiện chức năng quản lý
vĩ mô của nhà nước về du lịch cần thiiết phải có sự phân cấp quản lý giữa
trung ương và địa phương. Sự khác biệt ở đây chỉ là phạm vi.
Quản lý nhà nước về du lịch cấp Trung ương: Cơ quan quản lý nhà

nước về du lịch cấp Trung ương bao gồm Tổng cục du lịch cùng các vụ chức
năng; các Bộ, ngành quản lý các lĩnh vực kinh tế - xã hội cùng các bộ phận
của nó có chức năng quản lý ngành như: Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước,
Bộ kế hoạch đầu tư... các Bộ, ngành, hữu quan tạo điều kiện phát triển du lịch
như: Hàng không, Hải quan, Ngoại giao, Công an...
Trước hết tập trung quản lý vào các vấn đề có liên quan đến toàn bộ việc
phát triển du lịch của cả nước trên mọi lĩnh vực của ngành du lịch như: Lập
kế hoạch tổng thể phát triển du lịch của quốc gia; Ban hành các chính sách
chung cho toàn ngành du lịch; Phối hợp với các bộ ngành có liên quan đến
phát triển du lịch chung của cả nước như: Giao thông vận tải, Bưu chính Viễn thông, Hải quan, Công an, Thương mại...
Theo kinh nghiệm của nhiều nước xuất phát từ tính chất liên ngành của


×