Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

Nghiệp Vụ Thị Trường Mở Của Nhật Bản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (490.56 KB, 18 trang )

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Khoa Ngân Hàng

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

MÔN: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
Chủ đề: Công cụ nghiệp vụ thị trường mở của Nhật Bản
những năm gần đây
Thực hiện: Nhóm 7

1. Nguyễn Thị Thu Trang

6. Trần Thị Tư Anh

2. Nguyễn Thị Thu Trang

7. Nguyễn Tiến Dũng

3. Phạm Thị Thu Trang

8. Hoàng Tuấn Tú

4. Trương Thị Hồng Nhung

9. Lăng Hà Trang

5. Nguyễn Hồng Thịnh


10. Nguyễn Đức Anh

MỤC LỤC


A, Khái quát chung về nghiệp vụ thị trường mở
I. Khái niệm
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng trung ương (NHTW) mua vào hoặc
bán ra những giấy tờ có giá (GTCG) của Chính phủ trên thị trường. Thông qua hoạt động
mua bán giấy tờ có giá, NHTW tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ
chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị
trường
II. Cơ chế tác động của Nghiệp vụ thị trường mở
1. Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng
Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác động
ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các ngân hàng thương mại (NHTM) thông qua ảnh
hưởng đến tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia
OMO) và tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác
tham gia OMO).

2. Tác động qua lãi suất
Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh hưởng gián tiếp
đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:
Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung cầu vốn
NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng.


Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu về loại
GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó.
III. Hàng hóa của ngiệp vụ thị trường mở

Hàng hóa của nghiệp vụ thị trường mở bao gồm: tín phiếu kho bạc, tín phiếu
NHTW, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền
địa phương.
B, Công cụ nghiệp vụ thị trường mở tại Nhật Bản
I. Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản giai đoạn 2010 – 2012
1. Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản năm 2010
a, Kinh tế Nhật Bản năm 2010
Năm 2010 được đánh giá là một năm thật sự đáng nhớ của nền kinh tế Nhật Bản.
Đồng Yên Nhật lên giá 30% so với đồng USD khiến cho việc xuất khẩu của Nhật gặp
nhiều bất lợi, cùng với đó là nỗi lo về giảm phát; năng suất lao động giảm do Nhật Bản
đang nằm trong số những quốc gia có dân số già đi nhanh nhất trên thế giới.
Năm 2010, NHTW Nhật Bản (BOJ) thi hành chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm giữ
giá đồng yên, phục hồi nền kinh tế. Để hiện thực mục tiêu trên, BOJ đã thực thi hàng loạt
chính sách nổi bật như hạ lãi suất cơ bản, sử dụng nhiều công cụ khác nhau để khắc phục
sự bất ổn định của tình hình tài chính.
b, Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản.
- Trong năm 2010, NHTW Nhật đã thực hiện 394 lần cung cấp các khoản vốn ngắn hạn
cho nền kinh tế.
- Trong năm 2010, việc mua không hoàn lại tín phiếu được thực hiện 1 tuần 1 lần cho đến
tháng 12/2010. Khối lượng mỗi lần vào khoản 400 tỉ ¥ cho đến tháng 05/2010 và 300 tỉ
yên từ tháng 06/2010. Với điều kiện của thị trường tín phiếu, BOJ đã giảm tần suất của


nghiệp vụ mua tín phiếu từ tháng 1/2011 nhưng vẫn giữ nguyên khối lượng mua mỗi lần ở
mức 300 tỉ ¥.
- BOJ tiếp tục mua trái phiếu chính phủ với khối lượng trung bình là 21,6 ngàn tỷ ¥ trong
1 năm (tương đương với 1,8 ngàn tỉ ¥/tháng). Ngoài việc mua trái phiếu Chính phủ thông
qua các nghiệp vụ quy định, BOJ còn thực hiện mua không hoàn lại trái phiếu chính phủ
thông qua chương trình mua tài sản.
- Thị trường Thương phiếu tương đối ổn định nên BOJ không thực hiện việc mua thương

phiếu với hợp đồng mua lại cho đến tháng 02/2011.
- BOJ cũng quyết định thành lập một quỹ đặc biệt để mua các tài sản tài chính và coi đây
là một trong các biện pháp để tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ
- Ngày 08/11/2010, đợt đấu giá Trái phiếu chính phủ đầu tiên được diễn ra. Ngân hàng
thực hiện mua Trái phiếu chính phủ 6 lần trong năm 2010 với mức 150 tỷ ¥/lần và thời
hạn còn lại trung bình là 1,8 năm.
- Tiếp đó, vào ngày 09/11/210, đợt đấu giá Tín phiếu kho bạc đầu tiên được thực hiện.
Ngân hàng mua lại tín phiếu kho bạc có kì hạn 6 tháng mới phát hành hoặc tín phiếu đang
lưu hành có thời hạn còn lại từ 6 tháng trở nên. BOJ thực hiện mua không hoàn loại Tín
phiếu kho bạc 9 lần trong năm 2010 với mức cung vốn 150 tỷ ¥/lần với thời hạn trung
bình còn lại là 8,6 tháng.
- Ngày 03/12/2010, cuộc đấu giá đầu tiên Trái phiếu doanh nghiệp được thực hiện. BOJ
thực hiện mua không hoàn lại Trái phiếu doanh nghiệp 2 lần trong năm tài chính 2010 với
100 tỷ ¥ cung vốn cho mỗi hoạt động.
- Ngày 10/12/2010, cuộc đấu giá Thương phiếu được tiến hành lần đầu tiên. BOJ thực
hiện mua không hoàn lại thuơng phiếu 5 lần trong năm 2010 với mức cung vốn là 100 tỷ
¥/lần.
- Ngày 15/12/2010, lần bơm tiền đầu tiên thông qua việc mua ETFs được tiến hành. Tới
cuối tháng 03/2011, số dư tiền ở mức 200 tỷ ¥ trên số tiền tối đa dư nợ khoảng 900 tỷ ¥.
- Ngày 16/12/2010, hoạt động mua J-REITs lần đầu được tiến hành. Cuối tháng 03/2011,
số dư tiền ở mức 20 tỷ ¥ trên số tiền tối đa dư nợ khoảng 100 tỷ ¥.
 Với những nỗ lực từ phía Chính phủ, tính tới tháng 12/2010, niềm tin của các nhà kinh
doanh đã tăng lên mức cao nhất trong vòng một năm qua, sau khi tỷ lệ thất nghiệp giảm
xuống mức thấp nhất nhất sau 10 tháng và tiền lương cơ bản tăng lần đầu tiên sau 20
tháng. Đó là những dấu hiệu tích cực báo hiệu sự khởi sắc đối với nền kinh tế Nhật Bản
trong những năm tiếp theo.
2. Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản năm 2011.


a, Kinh tế Nhật Bản năm 2011 và định hướng chính sách tiền tệ.

Nền kinh tế đang có dấu hiệu phục hồi nhẹ nhưng tốc độ đang dần chững lại, đầu tư
kinh doanh cố định bắt đầu tăng, đầu tư nhà đất có dấu hiệu khởi sắc trong khi việc làm
và thu nhập chưa được cải thiện. Đồng Yên Nhật đã tăng 5% trong 11 tháng đầu năm
2010. Việc đồng Yên bị đánh giá cao làm tổn thương xuất khẩu và khu vực doanh nghiệp
Để khắc phục được tình trạng giảm phát, phát triển bền vững nền kinh tế và ổn định
giá cả, BOJ tiếp tục theo đuổi chính sách nới lỏng tiền tệ mạnh mẽ bao gồm 3 mũi nhọn:
nới lỏng tiền tệ toàn diện, đảm bảo ổn định thị trường tài chính, hỗ trợ, củng cố nền tảng
cho sự tăng trưởng kinh tế.
b, Nghiệp vụ Thị trường mở của NHTW Nhật Bản.
- Ngay từ đầu năm, BOJ đã đưa tiến hành các phiên đấu giá thương phiếu và trái phiếu
doanh nghiệp để khắc phục tình trạng giảm phát, đồng thời kích thích nền kinh tế tăng
trưởng. Ngày 04/02/2011, BOJ thông báo kế hoạch đấu giá mua Thương phiếu và Trái
phiếu doanh nghiệp thông qua chương trình mua tài sản.
+ Thương phiếu: (đơn vị: tỷ yên)
Ngày đấu giá
10/03/2011
14/04/2011

Ngày thực hiện
15/03/2011
19/04/2011

Khối lượng đấu giá
100
100

+Trái phiếu doanh nghiệp: (đơn vị: tỷ yên)
Ngày đấu giá
06/04/2011


Ngày thực hiện
12/04/2011

Khối lượng đâu giá
100

Ngày 11/3/2011, trận động đất và sóng thần đã ảnh hưởng trên diện rộng, sản xuất
dường như bị đình trệ, tâm lý của doanh nghiệp và người tiêu dùng xấu đi trông thấy. Giá
trị xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng cá nhân trong nước giảm. CPI giảm chậm, xung quanh
mức 0%. Trước tình hình đó, ngày 14/3/2011, BOJ tuyên bố theo đuổi hướng điều hành:
+ Thực hiện nghiệp vụ thị trường tiền tệ
+ Chương trình mua bán tài sản
Để thực hiện kế hoạch trên, từ đầu năm đến trước ngày 4/8/2011, NHTW Nhật tiến
hành bán đấu giá Thương phiếu 14 lần, 2 lần đầu với khối lượng đấu giá là 100 tỷ ¥/lần,
12 lần sau với khối lượng 300 tỷ ¥/lần. Về trái phiếu doanh nghiệp, NHTW tiến hành
được 7 phiên đấu giá, khối lượng đấu giá mỗi phiên là 150 tỷ ¥ trừ phiên đầu tiên với khối
lượng là 100 tỷ.


Ngày 4/8/2011, NHTW Nhật quyết định cải thiện chính sách nới lỏng tiền tệ bằng
việc tăng tổng quy mô của chương trình mua tài sản lên 10 nghìn tỷ, từ khoảng 40 nghìn
tỷ lên khoảng 50 nghìn tỷ.
Cụ thể, tổng khối lượng mua vào đạt 8913.1 tỷ ¥, trong đó trái phiếu chính phủ là
1450 tỷ ¥, trái phiếu kho bạc là 2400 tỷ ¥, trái phiếu doanh nghiệp là 800 tỷ ¥, thương
phiếu là 3900 tỷ ¥, ETFs là 340,4 tỷ ¥và J-REITs là 22,7 tỷ ¥, thấp hơn mục tiêu đề ra vào
tháng 8/2011 với tổng số là 15000 tỷ ¥.

(Nguồn: Bank of Japan)
=>


Mặc dù NHTW Nhật Bản đã rất tích cực và chủ động tiến hành chính sách tiền tệ

nới lỏng, nhưng lạm phát và tăng trưởng của năm 2011 diễn ra chưa được như kỳ vọng.
3. Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản năm 2012.
a, Tình hình kinh tế Nhật Bản 2012 và định hướng chính sách tiền tệ.
Năm 2012, trong khi kinh tế châu Âu vẫn loay hoay với việc tìm cách thoát khỏi
cuộc khủng hoảng nợ công, kinh tế Mỹ có phục hồi nhưng khá trầy trật thì suy thoái kinh
tế vẫn đang hiện hữu đối với nền kinh tế Nhật Bản, đặc biệt là nửa cuối năm. Mặc dù
Nhật Bản đã đưa ra các gói kích thích kinh tế và nới lỏng chính sách tiền tệ nhiều lần
trong năm nhưng cũng không đủ để tạo ra một tác động lớn đến nền kinh tế.


Năm 2012, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Nhật Bản liên tiếp giảm cho thấy ở Nhật
Bản tình trạng giảm phát vẫn bao trùm cho dù ngân hàng trung ương nước này đã tăng
mục tiêu lạm phát với hy vọng thúc đẩy lạm phát.
b, Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản.
Ngân hàng Nhật Bản đã thực hiện nới lỏng chính sách 4 lần trong năm 2012 bằng
cách mở rộng chương trình mua tài sản của mình, các biện pháp này đã đạt được hiệu quả
trong việc thúc đẩy nền kinh tế không phải vật lộn với suy thoái, đảo ngược giảm phát và
làm suy yếu đồng yên. Nghiệp vụ thị trường mở cũng góp phần không nhỏ vào quá trình
tiến hành các chính sách tiền tệ nhằm vực dậy nền kinh tế Nhật Bản.
Tuy nhiên khi bước sang quý 2, tình hình kinh Kinh tế Nhật Bản tăng trưởng chậm
lại do chi tiêu tiêu dùng mất đà và cuộc khủng hoảng nợ châu Âu ảnh hưởng mạnh đến
xuất khẩu của Nhật Bản. Trước nguy cơ nền kinh tế rơi vào suy thoái, chính phủ Nhật
Bản liên tiếp đưa ra các gói kích thích. BOJ tiếp tục thực hiện mở rộng quy mô chương
trình mua tài sản, cụ thể tính đến cuối tháng 9/2012 tổng dư nợ của BOJ là 18,1 tỉ trái
phiếu chính phủ; 7,4 tỉ Hóa đơn giảm giá kho bạc; 1,4 tỉ thương phiếu; 2,7 tỉ Trái phiếu
doanh nghiệp; 1,4 tỉ ETFs; 0,1 tỉ J-REITs. Ngày 20/12/2012, BOJ đã tuyên bố quyết định
tăng quy mô chương trình mua tài sản thêm 10 nghìn tỷ ¥ (119 tỷ USD) lên 101 nghìn tỷ
¥ (cụ thể 24.0 tỉ trái phiếu chính phủ, 9,5 tỉ hóa đơn giảm giá kho bạc, 2,1 tỉ thương phiếu,

2,9 tỉ trái phiếu doanh nghiệp, 1,6 tỉ ETFs, 0.12 tỉ J-REITs nhằm kích thích kinh tế. Theo
chương trình mới, mỗi năm, BOJ cho vay 15 nghìn tỷ ¥. Tuy nhiên, BOJ quyết định giữ
nguyên lãi suất từ 0% -0,1%.
Như vậy, tuy kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng với những chính sách tiền tệ thích
hợp, hoạt động nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt, năm 2012 GDP Nhật Bản vẫn đứng thứ
3 trên thế giới. Nền kinh tế hứa hẹn có nhiều dấu hiệu khả quan trong những năm sau.
Tóm lại, mặc dù, chính sách tiền tệ nới lỏng với sự tham gia của nghiệp vụ thị
trường mở đã đạt được những thành công đáng mừng, nhưng vẫn chưa đạt được mức kỳ
vọng đã đặt ra: khối lượng chứng khoán mua bán trên thị trường mở còn thấp hơn mục
tiêu của các chương trình nới lỏng tiền tệ; mức lạm phát còn thấp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ


giảm phát quay trở lại; tỷ giá thực đã ổn định nhưng chưa có dấu hiệu tăng để khuyến
khích xuất khẩu.
II. Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản giai đoạn 2013 đến nay
1. Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản năm 2013
a, Tình hình kinh tế Nhật Bản 2013 và định hướng chính sách tiền tệ.
Nền kinh tế Nhật Bản đã rơi vào suy thoái ba lần trong vòng 5 năm sau hai cú sốc
nghiêm trọng là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và động đất sóng thần năm 2011.
Thách thức chính đối với nền kinh tế Nhật Bản sau hai cú sốc này là đạt được tăng trưởng
bền vững và ổn định tài chính.
Kể từ khi thủ tướng Shinzo Abe lên năm quyền vào tháng 12 năm 2012, nền kinh tế
Nhật Bản dường như có những dấu hiệu khởi sắc hơn. Các chính sách kinh tế của ông
Abe còn được gọi là Abenomics bao gồm một tập hợp các cải cách tiền tệ, tài chính, cơ
cấu kinh tế, hướng tới thúc đẩy lạm phát và đưa Nhật Bản thoát khỏi suy thoái giảm phát
kéo dài nhiều thập kỷ qua. Mục tiêu tổng thể là thúc đẩy tăng trưởng GDP hàng nămvà
tăng tỷ lệ lạm phát lên 2% thông qua chi tiêu ngắn hạn kích thích kinh tế, nới lỏng tiền tệ,
và cải cách để thúc đẩy thị trường lao động trong nước và tăng cường quan hệ đối tác
thương mại.
b, Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản.

JBG: Trái phiếu chính phủ Nhật bản
Ngay sau khi sự ra đời của nới lỏng tiền tệ định lượng và định tính, lãi suất dài hạn
dao động từ mức thấp lịch sử của 0,3-0,4% và 0,6-0,7%. Sau đó, lãi suất dài hạn tạm thời
tăng lên khoảng 1% vào cuối tháng 5 năm 2013, chủ yếu phản ánh một thái độ thận trọng
về đầu tư trái phiếu giữa các thành viên thị trường. Từ tháng 9 năm 2013, lãi suất dài hạn
nhìn chung vẫn ổn định trong phạm vi giữa 0,6% và 0,7 %. Cùng với những phát triển,
biến động lãi suất giảm, và từ tháng 8 năm 2013 nó gần như trở về mức biên, trước sự ra
đời của nới lỏng tiền tệ định lượng và định tính.


Lợi tức JGBs 20 năm thường theo lãi suất dài hạn. Trước khi MPM tổ chức vào
ngày 3 và 4 năm 2013, sản lượng JGBs trên 2 năm và 5 năm đã giảm do đầu cơ tham gia
thị trường ngày càng gia tăng, lãi suất áp dụng theo cơ sở tiền gửi bổ sung có thể được hạ
xuống. Tuy nhiên, như lãi suất dài hạn, sản lượng dao động rộng rãi ngay sau khi sự ra
đời của nới lỏng tiền tệ định lượng và định tính. Sau đó, sản lượng trên JGBs 5 năm đã
tăng lên 0,4-0,5%. Vào giữa tháng 6/2013 song song với sự gia tăng lãi suất dài hạn,
nhưng sau đó dần dần giảm gần 0,2%, còn lại hầu như không thay đổi từ tháng 10/2013.
Việc mua JGB quy mô lớn của Ngân hàng tiếp tục gây giảm áp lực về lãi suất phản
ánh nhu cầu ổn định của nhà đầu tư cho JGBs ngắn hạn, lợi suất JGBs 2 năm sau có xu
hướng giảm từ giữa năm 2013, dao động dưới mức lãi suất áp dụng theo cơ sở tiền gửi bổ
sung là 0,1% từ tháng 11/2013.
 Hoạt động của NHTW

Với mục đích khuyến khích sự suy giảm thêm lãi suất trên đường cong lãi suất,
Ngân hàng quyết định mua JGBs để số tiền của họ sẽ tăng hàng năm với tốc độ khoảng
50 nghìn tỷ ¥. Ngoài ra, Ngân hàng quyết định phát hành JGBs với tất cả các kỳ hạn bao
gồm trái phiếu 40 năm, còn lại trung bình mua JGB của Ngân hàng từ ít hơn 3 năm đến
khoảng 7 năm tại thời điểm đó.
Để tránh tác động quá mức của các hoạt động trên thị trường tài chính và các hoạt
động tiến hành một cách linh hoạt hơn, tần suất mua hàng được đổi khoảng 8 lần mỗi

tháng từ ngày 19/04/2013 và khoảng 8-10 lần từ tháng Sáu năm 2013. Theo hướng dẫn
này, Ngân hàng mua khoảng 6- 8 nghìn tỷ ¥JGBs mỗi tháng trong năm tài chính 2013.
Dưới sự điều khiển nói trên của hoạt động thị trường tiền tệ, lượng nợ JGBs của
Ngân hàng đứng ở mức 141.6 nghìn tỷ ¥ vào cuối năm 2013, tăng 52.4 nghìn tỷ ¥ so với
cùng kỳ năm trước đó. Dư nợ vào cuối tháng 3/2014 đạt 154.2 nghìn tỷ ¥, tăng 62.8 nghìn
tỷ ¥ từ một năm trước đó.
2. Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản năm 2014
a, Tình hình kinh tế Nhật Bản 2014 và định hướng chính sách tiền tệ.


Năm 2014 là một năm không thành công đối với nền kinh tế Nhật Bản về thực thi
những ý tưởng chính sách đã được đề ra từ những năm trước. Lạm phát vẫn xa rời mục
tiêu 2%. Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ công gia tăng, dân số lao động suy giảm, vẫn là những
thách thức dài hạn mà chính phủ Nhật Bản đang phải đối mặt để cố gắng hồi sinh nền
kinh tế của đất nước.
Vào tháng 6/2014, Thủ tướng Shinzo Abe đã công bố hai tài liệu chính sách liên
quan đến cải cách tài chính và tái thiết kinh tế là “ Chính sách cơ bản về Quản lý Kinh tế
- Tài chính và Cải cách 2014” (Basic Policies for Economic and Fiscal Management and
Reform 2014) và bản sửa đổi “Chiến lược Tăng trưởng Kinh tế Mới” (New Economic
Growth Strategy). Nhìn chung, các chính sách lần này nhận được sự phản hồi tích cực từ
phía thị trường hơn so với Chiến lược tăng trưởng của năm 2013.
b, Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản.
Trong năm tài chính 2014 , Ngân hàng của Nhật Bản theo đuổi chính sách nới lỏng
tiền tệ mạnh mẽ dưới định tính và định nới lỏng định lượng tiền tệ (QQE) và lượng tiền
cơ sở thông qua mua hàng của một loạt các tài sản tăng đáng kể với số lượng vượt trội,
bao gồm cả quy mô lớn về mua trái phiếu chính phủ Nhật Bản (JGBs).
Trong giai đoạn đến tháng 10/2014, Ngân hàng tiến hành các hoạt động thị trường
tiền tệ của mình làm cho lượng tiền cơ sở tăng lên với tốc độ hàng năm khoảng 60-70
nghìn tỷ ¥ thông qua mua hàng của các loại tài sản, bao gồm cả mua của JGBs, tín phiếu
giảm giá (T-Bills), CP, trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ giao dịch (ETFs), và bất động sản

ủy thác đầu tư (J-REIT).
Tại Hội nghị Chính sách tiền tệ (MPM) ngày 31/10/2014, Ngân hàng quy định mở
rộng QQE. Cụ thể, tốc độ tăng hàng năm của các lượng tiền cơ sở là từ khoảng 60-70
nghìn tỷ yên cho đến khoảng 80 nghìn tỷ ¥, và tốc độ tăng JGB của Ngân hàng nắm giữ
đã được mở rộng từ khoảng 50 nghìn tỷ ¥ lên khoảng 80 nghìn tỷ ¥ mỗi năm. Ngân hàng
đã quyết định về việc mở rộng QQE như sau :


Đẩy nhanh tốc độ tăng cơ sở tiền tệ: Ngân hàng sẽ tiến hành các hoạt động trên thị trường
tiền tệ để lượng tiền cơ sở tăng với tốc độ hàng năm khoảng 80 nghìn tỷ ¥.




Tăng cường mua tài sản và mở rộng JGB:
Ngân hàng sẽ mua JGBs để số tiền của họ tăng vượt trội với tốc độ hàng năm
khoảng 80 nghìn tỷ ¥ (tăng khoảng 30 nghìn tỷ ¥ so với quá khứ). Nhằm khuyến khích sự
suy giảm của lãi suất trên toàn bộ đường cong lãi suất, Ngân hàng sẽ tiến hành mua hàng
một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện thị trường tài chính. Thời gian đáo hạn còn lại
trung bình của việc mua JGB sẽ được mở rộng đến khoảng 7-10 năm (tăng khoảng 3 so
với quá khứ).
Ngoài ra, trong năm tài chính 2014 Ngân hàng chào mua ngay của T-Bills một lần
một tuần và mua khoảng khoảng 1-3 nghìn tỷ ¥ của T-Bills cho mỗi hoạt động. Mua ngay
CP, trái phiếu doanh nghiệp, và các tài sản tài chính khác cũng được thực hiện dựa trên
phương châm để mua tài sản thiết lập dưới QQE.
Trong năm tài chính 2014, thu ròng từ JGBs và T-Bills vượt quá khoản thanh toán
ròng của khoản thanh toán tài chính và doanh thu.




JGB ( Trái phiếu chính phủ Nhật Bản) Ngân hàng đã quyết định mua JGBs để dư nợ sẽ
tăng với tốc độ hàng năm khoảng 50 nghìn tỷ yên. Ngoài ra, kỳ hạn mua trung bình của
Ngân hàng đã được mở rộng khoảng 3 năm ,tối đa khoảng 7-10 năm, thời gian trước đây

là từ khoảng 7 năm.Khi tiến hành như mua JGB quy mô lớn.
• Mua ngay trái phiếu doanh nghiệp: Ngân hàng mua trái phiếu doanh nghiệp cho đến
khi số dư nợ đạt 3,2 nghìn tỷ ¥ vào cuối năm 2013 và duy trì ở khoảng 3,2 nghìn tỷ ¥.
Tuân thủ các nguyên tắc này, Ngân hàng cung cấp mua hẳn một tháng một lần với 100 tỷ
¥ mỗi hoạt động trên nguyên tắc từ đầu năm tài chính năm 2014. Tuy nhiên, Ngân hàng
cung cấp mua hẳn 150 tỷ ¥ và 75 tỷ ¥ trong năm 2014 trong tháng và tháng 12.
• Mua ngay của ETFs (vừa là quỹ và vừa là cổ phiếu/chứng chỉ): Ngân hàng mua ETFs
với tốc độ hàng năm khoảng 1 nghìn tỷ ¥ trước khi mở rộng QQE, và với tốc độ hàng
năm khoảng 3 nghìn tỷ ¥ sau khi mở rộng. Các số tiền còn nợ của ETFs mua của Ngân
hàng vào cuối 2014 đứng ở mức 3,8 nghìn tỷ ¥ (lên1.3 nghìn tỷ ¥ so với cùng thời gian
năm trước đó), và rằng vào cuối tháng 3 năm 2015 đứng ở mức 4,5 nghìn tỷ ¥ (lên 1.6
nghìn tỷ ¥ so với năm trước đó )




Mua ngay của J-REIT ( Quỹ đầu tư bất động sản): Ngân hàng mua J-REIT với tốc độ
hàng năm khoảng 30 tỷ ¥ trước khi việc mở rộng của QQE, và với tốc độ hàng năm

khoảng 90 tỷ ¥ sau khi mở rộng .
• Mua ngay của T-Bills: Dưới QQE, Ngân hàng liên tục chào mua ngay của T-Bills một
lần một tuần. Trong năm tài chính 2014, Ngân hàng cung cấp 2-3 nghìn tỷ ¥ cho mỗi hoạt
động, làm giảm số tiền trong tháng 9 và tháng 12/2014. Như một kết quả của việc mua
hàng , số lượng vượt trội mua hàng của T-Bills đứng ở 38.4 nghìn tỷ ¥ vào cuối năm
2014, tăng 14.2 nghìn tỷ ¥ so với năm trước đó.
3. Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản năm 2015

a, Tình hình kinh tế Nhật Bản 2015 và định hướng chính sách tiền tệ.
Các số liệu kinh tế Nhật Bản được công bố trong tháng 12 năm 2015 khá khả quan:
kinh tế đã thoát khỏi nguy cơ suy thoái về mặt kỹ thuật, tổng giá trị tài sản của các hộ gia
đình tăng và niềm tin kinh doanh ổn định.
b, Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW Nhật Bản.
Bước vào tài khóa 2015, Chính quyền của Thủ tướng Shinzo Abe dự kiến sẽ cảt
giảm việc bán trái phiếu mới xuống dưới 38.000 tỷ ¥ , giảm hơn 3.000 tỷ ¥ so với ngân
sách ban đầu của tài khóa 2014.
Trong khi đó, việc phát hành trái phiếu niên hạn ngắn 2 và 5 năm có thể sẽ được cắt
giảm. Do đó, lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Nhật Bản ngày 6/1 lập tức giảm xuống
mức kỷ lục 0,28%.
Tháng 7/2015 BOJ tiếp tục giữ chính sách tiền tệ ổn định và duy trì dự báo lạm phát
lạc quan trong báo cáo công bố ngày 15/7. BOJ tăng lượng tiền cơ sở hoặc tiền mặt và
tiền gửi tại Ngân hàng Trung ương hàng năm lên 80 nghìn tỷ yên (648 tỷ USD) thông qua
việc mua trái phiếu chính phủ và các tài sản rủi ro.
Tại Hội nghị Chính sách tiền tệ tháng 11/2015, Hội đồng Chính sách của Ngân hàng
Nhật Bản đã quyết định thiết lập các hướng dẫn sau đây cho các hoạt động thị trường tiền
tệ. Đối với việc mua bán tài sản với Ngân hàng quyết định:


-

Ngân hàng sẽ mua trái phiếu chính phủ Nhật Bản (JGBs) để số tiền của họ sẽ tăng với tốc

-

độ hàng năm khoảng 80 nghìn tỷ yên.
Ngân hàng sẽ mua các quỹ giao dịch (ETFs) và Nhật Bản đầu tư bất động sản quỹ tín thác
(J-REIT) để tiền của họ sẽ tăng tốc độ hàng năm khoảng 3 nghìn tỷ yên và khoảng 90 tỷ


-

yên tương ứng.
Đối với trái phiếu CP và doanh nghiệp, Ngân hàng sẽ duy trì lượng nổi bật tại 2.2 nghìn tỷ
¥ và khoảng ¥ 3.2 nghìn tỷ tương ứng.

Sơ lược mua ngay trái phiếu chính phủ Nhật Bản
Ngân hàng Nhật Bản đã quyết định thực hiện việc mua ngay trái phiếu Chính
phủ như sau, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 12 năm 2015.
1. Số tiền được Mua: Khoảng 8-12 nghìn tỷ ¥ mỗi tháng về nguyên tắc. Ngân hàng
có tài khoản củathị trường và tiến hành mua hàng một cách linh hoạt để đảm bảo
rằng những tác động của chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến nền kinh tế.
2. Trái phiếu được Mua: Trái phiếu chính phủ Nhật Bản với phiếu giảm giá (trái
phiếu 2 năm, trái phiếu 5 năm, 10 năm trái phiếu, trái phiếu 20 năm, trái phiếu 30
năm, trái phiếu 40 năm, trái phiếu lãi suất thả nổi, và lạm phát được chỉ số trái
phiếu).
3. Tần suất mua: Khoảng 8-10 lần (ngày làm việc) mỗi tháng. Ngân hàng có thể

-

tăng nó khi cần thiết.
4. Phương thức đấu giá
- Nhiều giá đấu giá cạnh tranh.
Trái phiếu theo phiếu mua (trừ trái phiếu lãi suất thả nổi và trái phiếu lạm phát
được lập chỉ mục): đối tác dự thầu "chênh lệch lợi nhuận ", mà được tính bằng cách
trừ điểm chuẩn sản lượng từ sản lượng mà tại đó các đối tác muốn bán trái phiếu
cho Ngân hàng. Trái phiếu lãi suất thả nổi và trái phiếu lạm phát được lập chỉ mục:
đối tác dự thầu "chênh lệch giá" được tính bằng cách trừ đi giá chuẩn từ mức giá
mà tại đó đối tác muốn bán trái phiếu cho Ngân hàng.
III, Đánh giá, nhận xét



( Nguồn: Bank of Japan)
Ta có thể nhận thấy lượng cung tiền MB có xu hướng tăng đặc biệt là trong giai
đoạn từ 2013 trở đi (tăng từ 140% lên 260%) Điều này cho thấy Ngân hàng nhà nước
Nhật Bản liên tục cung ứng tiền, thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm thúc đẩy thị
trường phát triển vượt qua khủng hoảng.

Trong các cuộc họp của BOJ, các mức lãi suất luôn được chú trọng và có những quy
định cụ thể. Thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, ngân hàng Nhật bản duy trì lãi suất ở


mức thấp dao động trong khoảng 0%- 0,1%, duy trì lãi suất như vậy là để khuyến khích
các nhà đầu tư sử dụng vốn như một biện pháp kích thích cầu.

( Nguồn: Bank of Japan)
Tuy nhiên tình hình kinh tế Nhật giai đoạn 2011-2013 không mấy khả quan. CPI
trong giai đoạn này có xu hướng âm, chỉ có một giai đoạn ngắn nhích lên khoảng 0,1%,
nền kinh tế giảm phát. Nguyên nhân là do những lần nới lỏng chính sách tiền tệ của BOJ
nhằm kích cầu, lượng tiền bơm ra là chưa đủ và đồng thời là do thảm họa kép động đất
sóng thần xảy ra. Tuy nhiên đến giữa năm 2013, CPI có xu hướng tăng mạnh, đỉnh điểm
lên đến 3,7% vào năm 2014. Điều này là rất phù hợp, cho thấy hiệu quả của chính sách
tiền tệ nới lỏng của BOJ (MB trong giai đoạn này tăng mạnh từ 140% lên đến 260%). Tuy
nhiên đến 6/2014 đến nay CPI lại có xu hướng giảm mạnh, cuối năm 2015 chỉ còn 0,3%.
Việc này có thể do việc tăng thuế bán hàng từ 5%-8% khiến chính sách tiền tệ nới lỏng
mất hiệu quả.


Tóm lại, trải qua rất nhiều biến động, khó khăn, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản
cùng với chính sách tiền tệ nới lỏng kéo dài đã liên tục cung ứng vốn cho thị trường thông

qua nghiệp vụ thị trường mở đã góp phần giúp nền kinh tế Nhật Bản có những dấu hiệu
khởi sắc, tuy nhiên vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ khi nền kinh tế đang có xu hướng quay trở
lại lạm phát tạo áp lực rất lớn cho BOJ.
C, Bài học rút ra cho Việt Nam và một số kiến nghị
I, Bài học kinh nghiệm từ việc sử dụng công cụ OMO tại Nhật Bản.
Tuỳ theo điều kiện cụ thể của nền kinh tế và mức độ phát triển của thị trường tài
chính của từng quốc gia để vận dụng và xử lý linh hoạt công cụ OMO trong điều tiết và
kiểm soát lượng tiền cung ứng nhằm thực thi CSTT. Công cụ OMO ngày càng được sử
dụng phổ biến tại các quốc gia có trình độ phát triển khác nhau và vai trò đang ngày càng
quan trọng. Điều này chứng tỏ sự ưu việt của công cụ này trong điều hành CSTT. Chính
vì vậy, việc áp dụng công cụ OMO tại Việt Nam vào năm 2000 là một bước đột phá trong
xây dựng và điều hành CSTT của Việt Nam, trong điều kiện các thị trường tài chính tiền
tệ chưa thực sự phát triển.
Tuy công cụ OMO là loại công cụ được sử dụng phổ biến trong thực thi CSTT
nhưng không thể giải quyết được tất cả các tình huống của thị trường. Chính vì vậy,
NHTW các nước đã lựa chọn các công cụ khác như swap, tỷ giá, lãi suất của BOT, chiết
khấu của Fed … để phối hợp sử dụng. Cùng với OMO, các công cụ này đã hình thành nền
hệ thống công cụ CSTT và đảm bảo thực hiện có hiệu quả CSTT trong các tình huống.
Về các loại hàng hoá giao dịch trên thị trường mở: Nhìn chung Nhật Bản xem các
loại chứng khoán của Chính phủ như tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu
chính quyền địa phương và tín phiếu NHTW là các loại hàng hoá chủ yếu trong các giao
dịch OMO. Đây cũng là điều dễ hiểu bởi vì các loại GTCG này nhìn chung có thời hạn
ngắn, có khối lượng đủ lớn để NHTW có thể can thiệp và có tính thanh khoản cao. Bên
cạnh đó, một số loại GTCG của các doanh nghiệp lớn, có uy tín, đã được niêm yết trên thị
trường chứng khoán hoặc được Bộ Tài chính bảo lãnh cũng được phép giao dịch. Như
vậy, việc lựa chọn và quyết định chủng loại hàng hoá cho giao dịch thị trường mở tuỳ


thuộc vào tình hình và điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Tuy nhiên, các loại chứng
khoán của Chính phủ vẫn là hàng hoá chủ yếu và không thể thiếu tại bất kỳ một quốc gia

nào.
II, Các kiến nghị được đề xuất đối với Việt Nam.
Trong thời gian tới, để công cụ nghiệp vụ thị trường mở phát huy hiệu lực cao hơn,
NHNN nên triển khai một số biện pháp cơ bản, trước mắt như sau:
- NHNN nên đa dạng loại hàng hoá giao dịch trên thị trường. Thực tế cho thấy hàng hóa
của thị trường mở hiện còn khá nghèo nàn, chủ yếu là tín phiếu ngân hàng. Các phương
tiện giao dịch như các loại trái phiếu thời hạn ngắn, chứng khoán do bản thân các ngân
hàng phát hành... vẫn chưa giao dịch trên thị trường này. Việc tăng khối lượng hàng hóa
giao dịch cũng là hấp lực để thu hút nhiều tổ chức tín dụng tham gia thị trường mở.
- NHNN cần tiếp tục hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc phát triển thị trường thứ cấp về giấy tờ có giá cũng như đưa ra các
quyết định sát thực và chính xác. Bên cạnh đó cũng cần chú trọng nâng cao độ an toàn,
chuẩn xác trong các hoạt động giao dịch tiền tệ, tăng hiệu quả hoạt động cũng như cải tiến
các chương trình phần mềm ứng dụng về lưu ký giấy tờ có giá tại Sở Giao dịch NHNN
- Song song với cải tiến, nâng cấp công nghệ ngân hàng, NHNN cần không ngừng bổ
sung, sửa đổi để hoàn thiện các quy trình liên quan đến NVTTM, như đặt thầu, xét thầu;
các thủ tục về đăng ký, lưu ký giấy tờ có giá; thủ tục về lập hợp đồng, quy trình giao dịch
qua mạng,... nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng khi tham gia giao dịch,
rút ngắn thời gian và tiết kiệm chi phí giao dịch.
- NHNN nên tăng thêm số phiên giao dịch để tăng thời gian tiếp xúc của các tổ chức tín
dụng với NHNN. Hiện số phiên giao dịch mỗi ngày là 2, với kỳ hạn giao dịch 14 ngày và
28 ngày. Nhờ đó, sự hỗ trợ của NHNN với tư cách là người cho vay cuối cùng sẽ tốt hơn.
- Cần tìm giải pháp thiết thực để gia tăng hơn nữa số lượng thành viên tham gia thị trường
mở. Thời gian qua đã có sự gia tăng về số lượng thành viên tham gia thị trường mở và đa
dạng về loại hình. Tuy nhiên, còn một bộ phận các NHTM cổ phần nhỏ chưa tham gia thị
trường mở, do quy mô vốn bé, trình độ nghiệp vụ chưa đáp ứng và chưa quen nên chưa


tham gia hoặc còn lúng túng trong việc tham gia đấu thầu tại thị trường tiền tệ thứ cấp
này. Gia tăng số lượng thành viên góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của NVTTM sẽ

làm tăng được độ sâu và độ rộng của chính sách tiền tệ.
Danh mục tài liệu tham khảo
1.
2. />3. />token=AWy2QCfYISfl3cUbvFUvOA_uONHWkOKlzC34mYN3eKOD3d8I26IdWXBQn
sI0xQuu1g8V90pVB1c9rNCA7phjiR_W-BzIlOB6M8TSNKozWxEouFX592ucncJozXGJkRoGWKp4C4hUiKPHs11y4LSdaE3
4. />token=AWy2QCfYISfl3cUbvFUvOA_uONHWkOKlzC34mYN3eKOD3d8I26IdWXBQn
sI0xQuu1g8V90pVB1c9rNCA7phjiR_W-BzIlOB6M8TSNKozWxEouFX592ucncJozXGJkRoGWKp4C4hUiKPHs11y4LSdaE3
5. />


×