Tải bản đầy đủ (.doc) (61 trang)

Những giải pháp tài chính để khơi tăng và mở rộng vốn cho công ty lắp máy điện nước và xây dựng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (346.88 KB, 61 trang )

LỜI NÓI ĐẦU
Trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh vốn là một phạm
trù của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, một trong hai yếu tố quan
trọng để quyết định sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vốn còn là
chìa khoá, là điều kiện hàng đầu của mọi quá trình phát triển.
Chính vì vậy các doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh
doanh đòi hỏi phải có một lượng vốn nhất định. Nếu không có vốn
thì không thể nói tới bất kì một hoạt động sản xuất kinh doanh nào.
Trước đây trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, các
doanh nghiêph quốc doanh ra đời và hoạt động trong điều kiện Nhà
nước cấp phát vốn hoặc được ngân hàng cho vay với lãi suất ưu
đãi.....do đó đã giảm đi tính năng động của doanh nghiệp trong việc
huy động vốn. Ngày nay doanh nghiệp đã có vai trò mới, quyền tự
chủ mới trong việc lựa chọn các nguồn vốn hết sức phong phú trên
thị trường đáp ứng được mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên
cạnh đó, môi trường kinh doanh với yếu tố cạnh tranh quyết liệt đòi
hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng
sản phẩn hàng hoá dịch vụ để có thể tồn tại và phát triển. Muốn
thực hiện được điều này doanh nghiệp cần phải huy động một
lượng vốn lớn cho nhu cầu đầu tư và phát triển.
Mặc dù, có rất nhiều doanh nghiệp đã thích nghi với cơ chế
mới chủ động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh song cũng có
doanh nghiệp còn gặp phải những khó khăn lúng túng nhất là
trong công tác mở rộng vốn cho sản xuất kinh doanh dẫn đến tình
trạng thiếu vốn thường xuyên, làm ăn thua lỗ, đẩy doanh nghiệp
đến bên bờ của sự phá sản.
Với bốn tháng thực tập tại Công ty Lắp máy điện nước và
Xây dựng , được sự giúp đỡ tận tính của cô giáo Nguyễn thị thu
Thảo và ban lãnh đạo, phòng Tổ chức, Phòng tài chính - kế toán
của Công ty, tôi đã dần tiếp cận với thực tiễn và làm sáng tỏ vấn đề
lý luận mà tôi đã được trang bị trong suốt quá trình học tập. Tôi đi


sâu và nghiên cứu tình hình mở rộng vốn kinh doanh ở Công ty
1


Lắp máy điện nước và Xây dựng và xin mạnh dạn nêu một số giải
pháp chủ yếu để mở rộng vốn cho Công ty "Những giải pháp tài
chính để khơi tăng và mở rộng vốn cho Công ty Lắp máy điện
nước và Xây dựng ".
Về kết cấu, chuyên đề gồm 3 chương, với nội dung cơ bản
là:
Chương I: Vốn kinh doanh và sự cần thiết phải mở rộng vốn
kinh doanh cho doanh nghiệp.
Chương II: Thực trạng vốn kinh doanh và mở rộng vốn kinh
doanh ở Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng .
Chương III: Những giải pháp chủ yếu góp phần mở rộng
vốn kinh doanh ở Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng .
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn thị thu Thảo và sự
giúp đỡ tận tình của Ban lãnh đạo, các cô chú trong phòng Tổ chức,
phòng Tài chính - kế toán, các phòng, ban, xí nghiệp, tổ đội liên
quan của Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.

2


CHƯƠNG I
VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI MỞ RỘNG
VỐN KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP.
I/ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP.

1/ Vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường.
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nền kinh tế thị
trường nước ta đã thực sự bước vào quá trình chuyển đổi từ cơ chế
kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong môi trường
kinh tế này, các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng được mở
rộng và phát triển với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, nền sản xuất
ngày càng xuất hiện nhiều doanh nghiệp sản xuất thuộc các thành
phần kinh tế khác nhau cùng sản xuất hàng hoá, cùng tồn tại cạnh
tranh lẫn nhau và bình đẳng trước pháp luật.
Ở bất kỳ một nền sản xuất hàng hoá nào, mỗi doanh nghiệp
muốn tiến hành sản xuất kinh doanh đều cần có một lượng vốn nhất
định. Vốn kinh doanh là tiền đề bắt buộc của mọi quá trình đầu tư
và phát triển. Thị trường là nơi giao lưu vốn và là nơi để cho vốn
được bộc lộ đầy đủ bản chất và vai trò của nó. Trước hết, vốn được
biểu thị bằng giá trị, bằng tiền và đại diện cho một lượng hàng hoá.
Tiền tiêu dùng tồn tại trong lưu thông dưới hình thức mua bán, trao
đổi các vật phẩm tiêu dùng không được gọi là vốn. Những hàng
hoá được sử dụng cho nhu cầu cá nhân cũng không phải là vốn.
Quan niệm như vậy là không hoàn toàn đúng, đó chỉ là vốn "giả
tạo" vì bản thân tiền phát hành chưa được đảm bảo chắc chắn bằng
tài sản thật, chỉ những đồng tiền phát hành được đảm bảo bằng tài
sản thật như bằng hàng hay bằng hàng mới được gọi là vốn. Trên
thực tế, tiền phát hành được đưa vào lưu thông trên thị trường,
người ta không thể phân biệt được đồng tiền được đảm bảo bằng tài
sản thật và đồng tiền không được đảm bảo bằng tài sảnt thật. Điều
đó đã tạo cơ hội cho lạm phát, làm cho đồng tiền bị mất giá....
Chỉ những đồng tiền nào đi vào sản xuất kinh doanh đại diện

cho hàng hoá là tài sản của nền kinh tế quốc dân, tham gia vào quá
3


trình sản xuất kinh doanh và sản sinh ra gía trị tăng thêm, mới được
gọi là vốn.
Như vậy, vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu
hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được sử dụng đầu tư vào hoạt
động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
2. Đặc trưng của vốn kinh doanh cuỉa doanh nghiệp trong
nền

kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp thể hiện một số nét đặc trưng sau:
- Vốn kinh doanh được biểu hiện bằng một lượng giá trị thực
của những tài sản được dùng để sản xuất ra một lượng giá trị sản
phẩm khác (chỉ những tài sản có giá trị được sử dụng vào sản xuất
kinh doanh mới được coi là vốn sản xuất kinh doanh).
- Vốn phả vận động sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền
nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để tiền biến thành vốn
thì đồng tiền đó phải vận động sinh lời. Trong quá trình vận động,
vốn - tiền " ra đi" rồi "trở về" điểm xuất phát của nó và "lớn lên"
sau một chu kỳ vận động.
- Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định
mới có thể phát huy được tác dụng. Do vậy, các nguồn vốn riêng lẻ
trên thị trường đã được tập trung lại để hình thành nên một thế lực
tiền vốn nhằm tạo điều kiện cho lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh
doanh lớn. Vì thế, các nhà doanh nghiệp không chỉ khai thác các
tiềm năng về vốn của doanh nghiệp mà phải tìm cách thu hút nguồn

vốn như góp vốn, hùn vốn, phát hành cổ phiếu, liên doanh...
- Vốn có giá trị về
mặt thời gian, điều này cũng có nghĩa
là phải xem xét yếu tố thời gian của đồng vốn. Trong cơ chế kế
hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, vấn đề này không được
xem xét kỹ lưỡng vì nhà nước đã tạo ra sự ổn định của đồng tiền
một cách giả tạo trong nền kinh tế. Trong điều kiện nền kinh tế thị
trường đều phải xem xét giá trị thời gian của tiền vốn do ảnh hưởng
sự biến động của giá cả, của lạm phát nên sức mua của đồng tiền ở
các thời điểm khác nhau cũng khác nhau.
- Vốn phải gắn với chủ sở hữu. Mỗi một đồng vốn phải gắn
với một chủ sở hữu nhất định. Trong nền kinh tế thị trường không
thể có những đồng vốn vô chủ, ở đâu còn những đồng vốn vô chủ
thì ở đó sẽ chi tiêu lãng phí, kém hiệu quả. Ngược lại, chỉ xác định
rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mới được chi tiêu tiết kiệm, có hiệu
quả. Cũng cần phân biệt: quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn có
4


thể đồng nhất với người sử dụng vốn, tuỳ theo hình thức đầu tư mà
người sở hữu vốn được tách khỏi người sủ dụng vốn. Song dù
trong trường hợp nào người sở hữu vốn cũng phải được ưu tiên,
đảm bảo quyền lợi và được tôn trọng quyền sở hữu đồng vốn của
mình. Đây là một nguyên tắc để huy động và quản lý đồng vốn có
hiệu quả.
- Trong nền kinh tế thị trường, vốn phải được quan niệm là
hàng hoá, hàng hoá đặc biệt. Những người săn vốn có thể đưa vốn
thị trường, những người cần vốn để thị trường vay, nghĩa là được
quyền sử dụng vốn của người chủ nợ hay quyền sở hữu của vốn
không di chuyển nhưng quyền sử dụng được chuyển nhượng qua sự

vay nợ. Người vay phải trả một tỷ lệ lãi suất tức là họ phải trả giá
cho quyền sử dụng vốn (Giá - chi phí sử dụng vốn). Như vậy là
khác với hàng hoá thông thường, hàng hoá - vốn khi được bán đi sẽ
không mất quyền sở hữu mà chỉ mất quyền sử dụng. Người mua
quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định phải trả cho người
sở hữu vốn một khoản tiền đó là lãi suất. Việc mua bán vốn được
diễn ra trên thị trường tài chính. Giá mua bán vốn (lãi suất) tuân
theo quan hệ cung cầu trên thị trường.
- Trong nền kinh tế thị trường vốn không chỉ biểu hiện bằng
tiền của những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện giá trị của
những tài sản vô hình như: vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu, bản
quyền phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ.
3. Phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để thuận tiện cho công
tác quản lý và sử dụng vốn, giúp doanh nghiệp có biện pháp tạo lập
vốn kinh doanh có hiệu quả, cần phải tiến hành phân loại vốn kinh
doanh một cách khoa học, hợp lý. Thông thường người ta phân loại
vốn kinh doanh theo những tiêu thức sau đây:
Thứ nhất: Căn cứ vào chức năng và công dụng kinh tế, thì
vốn kinh doanh của doanh nghiệp có thể chia thành hai loại là vốn
cố định và vốn lưu động.
- Vốn cố định của doanh nghiệp là giá trị ứng trước về tài sản
cố định (bao gồm tài sản hữu hình và tài sản cố định vô hình). Hay
nói cách khác, vốn cố định của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền
của toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp. Đặc điểm của nó là
luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và
hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử
dụng.
Vốn cố định là một bộ phận quan trọng chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định đến

5


việc trang bị máy móc thiết bị kỹ thuật "Hệ thống xương và bắp
thịt" của sản xuất kinh doanh. Do ở mộtg vị trí then chốt và đặc
điểm vận động của nó lại tuân theo tính quy luật riêng cho nên việc
quản lý vốn cố định được coi là trọng điểm của công tác tài chính ỏ
các doanh nghiệp.
- Vốn lưu động là số vốn bằng tiền được ứng ra để mua sắm
các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo
cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp thực hiện được thường
xuyên liên tục.
Việc phân loại vốn kinh doanh thành vốn cố định và vốn lưu
động giúp doanh nghiệp có các biện pháp cụ thể đối với từng loại
vốn, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tố chức tạo lập
huy động và sử dụng từng loại vốn một cách hiệu quả nhất.
Thứ hai: Căn cứ vào hình thái vật chất của vốn có thể chia
thành vốn tài chính, vốn hữu hình và vốn vô hình.
- Vốn tài chính: Là số vốn bằng tiền (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi
ngân hàng); các giấy tờ có giá khác (séc, cổ phiếu, trái phiếu ....)
- Vốn hữu hình: Biểu hiện bằng tài sản, hiện vật bao gồm
những tư liệu lao động và những đối tượng lao động.
- Vốn vô hình: là giá trị của các tài sản vô hình như vị trí kinh
doanh, vị trí cửa hàng, uy tín sản xuất kinh doanh, nhãn hiệu nổi
tiếng, tay nghề công nhân... Vốn vô hình là một thực tại khách
quan có giá trị không nhỏ trong cơ cấu vốn. Thực tế các nhà đầu
tư sản xuất kinh doanh đã thu được lợi nhuận rất lớn từ nguồn vốn
vô hình này. Vì thế nếu không biết khai thác và sử dụng có hiệu
quả vốn vô hình là một sai lầm lớn trong đầu tư và kinh doanh.
Với cách phân loại vốn kinh doanh theo hình thái vật chất

giúp cho doanh nghiệp sử dụng các loại vốn trên một cách hợp lý,
trong đó cần chú trọng khai thác tiềm năng của các loại vốn vô
hình, quản lý nó để thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, tạo lợi thế
cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường.
Thứ ba: Căn cứ vào nguồn hình thành thì vốn kinh doanh của
doanh nghiệp được chia làm hai loại: vốn chủ sở hữu và vốn huy
động khác.
- Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ
doanh nghiệp bao gồm: vốn pháp định do chủ doanh nghiệp bỏ ra
(Đối với doanh nghiệp nhà nước đó là nguồn ngân sách nhà nước
cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước), vốn tự bổ sung từ
lợi nhuận để lại và từ các quỹ của doanh nghiệp, vốn do nhà nước
tài trợ (nếu có), vốn nhận liên doanh liên kết, vốn huy động từ phát
6


hành cổ phiếu... Vốn chủ sở hữu được xác định là nguồn vốn còn
lại trong doanh nghiệp sau khi trừ đi toàn bộ khoản công nợ.
- Vốn huy động khác: là khoản nợ phát sinh trong quá trình
sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh
toán cho các tác nhân kinh tế như: nợ vay ngân hàng, vay các tổ
chức tín dụng (trong và ngoài nước), vay từ phát hành trái phiếu,
các khoản phải trả và thanh toán cho nhà nước, cho người bán, cho
công nhân viên....
Cách phân loại này nhằm tạo khả năng để doanh nghiệp xem
xét và quyết định huy động tối ưu và các nguồn vốn đảm bảo nhu
cầu cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ tư: Căn cứ vào thời gian huy động vốn và sử dụng vốn
có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại:
- Nguồn vốn thường xuyên: là tổng thể các nguồn vốn có tính

ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng. Nguồn vốn
này được dành cho việc
hình thành tài sản cố
định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần
thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn
vốn thường xuyên bao gồm vốn riêng và khoản vay dài hạn.
- Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn có tính ngắn hạn
(dưới một năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu
cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các
khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, đáp ứng
kịp thời vốn sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp, giúp cho việc tạo lập các kế hoạch tài chính hình
thành nên những dự định tổ chức nguồn vốn trong tương lai trên cơ
sở xác định quy mô vốn cần thiết lựa chọn nguồn vốn, tổ chức sử
dụng vốn đạt hiệu quả cao.
Thứ năm: Căn cứ vào phạm vi huy động vốn có thể chia
thành hai nguồn:
- Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: là nguồn vốn có thể huy
động từ hoạt động của bản doanh nghiệp bao gồm tiền khấu hao tài
sản cố định, lợi nhuận để lại và các khoản dự trữ, dự phòng, các
khoản thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định.
- Nguồn vốn bên ngoài: là nguồn vốn có thể huy động từ bên
ngoài như vay vốn ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, phát
hành trái phiếu, nợ người cung cấp và các khoản nợ khác.
4. Nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, nguồn vốn
kinh doanh của doanh nghiệp huy động được rất khác nhau. Với
7



doanh nghiệp huy động được rất khác nhau. Với doanh nghiệp tư
nhân và các thành phần kinh tế khác, vốn đầu tư để tiền hành sản
xuất kinh doanh là vốn chủ sở hữu. Với doanh nghiệp thuộc sở
hữu Nhà nước, vốn đầu tư ban đầu một phần là do Nhà nước cấp,
một phần là do
doanh nghiệp tự huy động vốn. Để có thể huy
động và sử dụng các nguồn
vốn đó một cách hiệu quả cần
nghiên cứu về nguồn gốc, tính chất cũng như thời hạn của chúng.
4.1. Vốn đầu tư nhà nước:
Theo chế độ tài chính hiện hành, khi doanh nghiệp nhà nước
mới thành lập nhà nước sẽ đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn điều
lệ ban đầu, số vốn này không nhỏ hơn tổng mức vốn pháp định của
các ngành nghề mà doanh nghiệp đó hoạt động kinh doanh. Trong
điều kiện bình thường thì việc đầu tư này chỉ xảy ra lần đầu tức là
khi doanh nghiệp nhà nước được phép thành lập và bước vào hoạt
động. Trong quá trình sản xuất kinh doanh khi cần thiết nhà nước
có thể xem xét để đầu tư thêm vốn cho doanh nghiệp khi doanh
nghiệp có nhu cầu tăng vốn do nhà nước giao nhiệm vụ bổ sung.
4.2 Vốn tự huy động của doanh nghiệp:
Để tiến hành sản xuất kinh doanh vốn điều lệ được nhà nước
đầu tư lần đầu, các doanh nghiệp phải tự huy động vốn và chịu
trách nhiệm về việc huy động đó. Các doanh nghiệp có thể huy
động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau.
4.2.1. Vốn tự bổ sung (nguồn vốn bên trong): bao gồm tất cả những
nguồn vốn có thể huy động được từ nội bộ doanh nghiệp, đó là
nguồn lợi nhuận để tái đầu tư, quỹ khấu hao cơ bản và một số quỹ
dự trữ
Nguồn vốn thứ nhất: Lợi nhuận để tái đầu tư. Đây là nguồn

vốn giữ một vị trí, vai trò quan trọng trong nguồn vốn bên trong
của doanh nghiệp.
Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản chênh lệch giữa thu
nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong một khoảng thời gian
nhất định. Số lợi nhuận để lại của doanh nghiệp là số còn lại của lợi
nhuận sau khi đã nộp thuế lợi tức cho nhà nước.
Phần lợi nhuận để lại này doanh nghiệp sử dụng để bù đắp
bảo toàn vốn và trích lập các quỹ, đó là quỹ đầu tư phát triển, quỹ
dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khen
thưởng và phúc lợi... Trong các quỹ trên thì quỹ đầu tư phát triển
được phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh cải tạo, đổi mới
máy móc thiết bị của doanh nghiệp và bổ sung nhu cầu vốn lưu
động cần tăng thêm...
Nguồn vốn thứ hai: Quỹ khấu hao cơ bản.
8


Như ta đã biết tài sản cố định trong khi tham gia vào quá trình
sản xuất của doanh nghiệp sẽ bị hao mòn dưới hai hình thức là hao
mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Giá trị hao mòn đó được tính
chuyển vào giá trị sản phẩm và sau khi sản phẩm được tiêu thụ số
tiền này được trích lại và tích luỹ thành quỹ khấu hao tài sản cố
định. Quỹ này phục vụ cho mục đích tái sản xuất giản đơn tài sản
cố định của doanh nghiệp nên được gọi là quỹ khấu hao cơ bản.
Còn một nguồn vốn nữa mang tính chất tạm thời mà các
doanh nghiệp có thể khai thác để bổ sung vốn kinh doanh hiện nay
là nguồn do thanh lý, nhượng bán tài sản cố định. Thực tế trong các
doanh nghiệp hiện nay nhất là các doanh nghiệp Nhà nước, trong
tổng số tài sản cố định được trang bị thì chỉ có một bộ phận được sử
dụng và sử dụng với hiệu suât thấp. Bên cạnh đó là một bộ phận

không nhỏ tài sản cố định hư hỏng nhiều không sử dụng được chờ
thanh lý và tài sản cố định không cần sử dụng đến. Số tài sản cố
định này không những không góp phần vào sản xuất kinh doanh
kinh doanh của doanh nghiệp mà còn gây thêm nhiều khó khăn
như bảo quản, sửa chữa.....làm phát sinh nhiều chi phí cho doanh
nghiệp. Vì vậy, việc thanh lý chuyển nhượng các tài sản cố định
loại này sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết những khó khăn trên,
đồng thời còn tạo thêm vốn cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nguồn vốn này chỉ mang tính chất tạm thời bởi
theo đà phát triển của nền kinh tế, của tiến bộ khoa học - kỹ thuật
và những bước phát triển trong quản lý doanh nghiệp, tỷ lệ tài sản
cố định loại này sẽ giảm đi và sẽ đến lúc không còn tài sản cố định
loại này trong doanh nghiệp.
Ngoài các nguồn vốn đã nêu trên doanh nghiệp có thể sử dụng
một số vốn dự trữ để tài trợ trong trường hợp cần thiết đổi mới một
số loại máy móc thiết bị cho phù hợp với tính chất phát triển hiện
tại, bởi việc đổi mới thiết bị công nghệ kịp thời có thể lại những lợi
ích lớn trong tương lai, do đó doanh nghiệp cần gạt bỏ những lợi
ích thiển cận trước mắt, dốc hết sức để phục vụ cho việc đổi mới
này.
4.2.2. Nguồn vốn bên ngoài.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhu cầu về
vốn của doanh nghiệp là rất lớn, nếu chỉ khai thác nguồn vốn bên
trong không thôi chưa đủ, doanh nghiệp cần phải tận dụng khai
thác nguồn vốn bên ngoài như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, huy
động vốn góp liên doanh dài hạn, vay ngân hàng hoặc các tổ chức
tín dụng (trong nước hoặc ngoài nước), vay công nhân viên... Tuỳ
theo từng điều kiện cụ thể mà doanh nghiệp có hướng khai thác, tận
9



dụng các nguồn tài trợ bên ngoài để mở rộng vốn kinh doanh cho
doanh nghiệp. Nguồn vốn bên ngoài chủ yếu được huy động từ:
Một là: Vay dài hạn ngân hàng.
Khi doanh nghiệp đi vay vốn từ ngân hàng và các tổ chức tín
dụng, doanh nghiệp cần phải bỏ đi chi phí trả lãi cho ngân hàng và
các tổ chức tín dụng đó. Có thể gọi đây là chi phí sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Song việc vay ngân hàng để đầu từ dài hạn không
phải dễ dàng, hiện nay thông thường các ngân hàng thương mại
cho vay ngắn hạn là chủ yếu, còn cho vay dài hạn rất hạn chế. Bởi
vì nếu đã là đầu tư dài hạn thì nhu cầu vốn là rất lớn, đồng thời thời
gian thu hồi vốn lại lâu nên các ngân hàng đều không muốn cho
vay dài hạn. Mặt khác, khi vay một số vốn lớn thì yêu cầu thế
chấp, tín chấp của ngân hàng đối với doanh nghiệp rất phức tạp.
Song nếu doanh nghiệp được các ngân hàng chấp nhận cho vay dài
hạn thì đây là nguồn vốn rất quan trọng.
Hai là: Phát hành trái phiếu, cổ phiếu.
Một nguồn vốn đặc trưng của nền kinh tế thị trường là nguồn
huy động từ việc phát hành trái phiếu. Ở các nước có nền kinh tế
phát triển, phát hành trái phiếu là phương pháp chủ yếu để thu hút
vốn kinh doanh. Ở nước ta đã có nghị định số 72/CP ngày
26/7/1994 của Chính phủ cho phép các doanh nghiệp nhà nước có
thể phát hành trái phiếu để huy động vốn.
Trái phiếu: Là giấy vay nợ do doanh nghiệp phát hành khi
vay vốn để kinh doanh, trong đó có ghi một giá trị vay vốn nhất
định, thời hạn trả lãi và thời hạn thanh toán nợ.
Khi phát hành trái phiếu không làm tăng nguồn vốn tự có của
doanh nghiệp mà làm tăng nguồn vốn vay nợ của doanh nghiệp và
không làm giảm quyền kiểm soát của doanh nghiệp. Khi phát hành
trái phiếu doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanh toán lãi đúng

hạn và thanh toán nợ đúng hạn cho trái chủ, bất kể doanh nghiệp
kinh doanh có lãi hay không.
Hiện nay, nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp phát
hành trái phiếu để thu hút vốn tiền tệ nhàn rỗi tạm thời trong dân
cư, trong các tổ chức xã hội, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng
khả năng mở rộng vốn đáp ứng cho nhu cầu vốn ngày một tăng của
doanh nghiệp, đặc biệt là nhu cầu về vốn đầu tư dài hạn.
Ngoài phát hành trái phiếu thì phát hành cổ phiếu là một cách
gọi thêm vốn cổ phần của công ty cổ phần nhằm tăng thêm vốn đầu
tư cho sản xuất kinh doanh.
Cổ phiếu: là giấy chứng nhận góp vốn cổ phần để tạo lập vốn
cho công ty cổ phần và người nắm giữ cổ phiếu có quyền được
10


nhận thu nhập từ lợi nhuận của doanh nghiệp (quyền nhận lợi tức
cổ phần).
Ba là: Liên doanh liên kết.
Nền kinh tế thị trường đã mở cho doanh nghiệp nhiều hướng
đi mới, trong đó có liên doanh liên kết với các đơn vị trong và
ngoài nước trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Để có vốn sản xuất kinh doanh thì liên doanh cũng là một
hướng để doanh nghiệp thu hút vốn. Khi doanh nghiệp thực hiện
một dự án kinh doanh có tính chất dài hạn nhưng không đủ vốn đầu
tư, doanh nghiệp có thể mới các đơn vị kinh tế và các cá nhân khác
trong và ngoài nước bỏ vốn đầu tư vào và cùng chia lợi nhuận theo
phần đóng góp. Các bên tham gia liên doanh có thể góp vốn bằng
hiện vật như: nhà cửa, đất đai, máy móc thiết bị hoặc góp vốn bằng
tiền.
Hiện nay, xu thế chính của các doanh nghiệp là hợp tác liên

doanh với nước ngoài. Trong tổng số vốn góp, các bên liên doanh
Việt Nam thường góp vốn bằng đất đai, nhà cửa là chủ yếu, còn
bên nước ngoài thường góp bằng máy móc, thiết bị - công nghệ
hoặc góp vốn bằng tiền với tỷ lệ thường 50% trở lên trong tổng số
vốn góp. Điều này cũng tạo cho doanh nghiệp trong nước những
thuận lợi, bởi khi liên doanh vồn bằng tiền của doanh nghiệp là rất
ít, chỉ có đất đai, nhà cửa, mặt bằng là đáng kể, trong đó bên nước
ngoài lại có lợi thế về máy móc thiết bị và vốn bằng tiền.
Xu hướng huy động vốn bằng hình thức liên doanh, nhất là
liên doanh với nước ngoài ngày càng tăng nhanh trong vài năm gần
đây trở nên phổ biến và thu được những kết quả đáng mừng. Ngày
càng xuất hiện nhiều công ty liên doanh giữa các doanh nghiệp
Việt Nam và những đối tác nước ngoài.
Bốn là: Nguồn vốn chiếm dụng.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, đương nhiên nảy sinh
các quan hệ thanh toán giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhà
nước giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp và giữa các doanh
nghiệp với các cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Với nhà
nước là quan hệ cấp phát vốn của nhà nước cho các doanh nghiệp
theo chế độ tài chính hiện hành và việc thực hiện nghĩa vụ của các
doanh nghiệp đối với nhà nước, trong đó chủ yếu là nộp thuế, bảo
hiểm xã hội. Giữa các doanh nghiệp với nhau là quan hệ thanh toán
công nợ (vì các doanh nghiệp vừa là người bán vừa là người mua).
Với cán bộ công nhân viên là quan hệ thanh toán tiền lương, bảo
hiểm xã hội và các khoản tạm ứng, thanh toán khác. Các quan hệ
thanh toán nói trên thường xuyên phát sinh do đó cũng làm phát
11


sinh vốn đi chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng. Nếu vốn đi chiếm

dụng lớn hơn vốn bị chiếm dụng thì doanh nghiệp có được một
lượng vốn nhất định phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Ngược lại,
doanh nghiệp sẽ bị mất một khoản vốn. Đương nhiên các doanh
nghiệp không thể trông chờ vào khoản vốn nói trên nhưng không
thể không tính đến nó trong thực tế. Nếu như các khoản phải thnh
thanh toán còn trong thời gian hợp đồng hoặc trong thời hạn kế
hoạch thì vốn đi chiếm dụng được coi là hợp lý và được coi như
một khoản vốn đương nhiên của doanh nghiệp.
Tóm lại, khi có nhu cầu huy động vốn cho đầu tư phát triển
kinh doanh có thể huy động từ nhiều nguồn và nếu có nhu cầu vốn
lớn là doanh nghiệp nên sử dụng tổng hợp nhiều nguồn song một
điều cần nhấn mạnh rằng nguồn vốn bên trong doanh nghiệp luôn
giữ một vai trò quan trọng hơn cả. Bởi lẽ mục tiêu nguyên thuỷ của
nguồn vốn này là phục vụ cho tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất
mở rộng tài sản cố định của doanh nghiệp. Mặt khác khi sử dụng
nguồn vốn này doanh nghiệp luôn ở thế chủ động, đồng thời doanh
nghiệp lại không bỏ ra chi phí sử dụng vốn như đối với các nguồn
vốn vay. Huy động tối đa nguồn vốn bên trong tức là doanh nghiệp
đã giảm được chi phí sử dụng một cách tối đa. Bên cạnh đó, doanh
nghiệp sử dụng phương thức huy động vốn từ bên ngoài cũng là
điều cần thiết nhưng không nên trông đợi quá mức vào nguồn vốn
này.
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI MỞ RỘNG VỐN KINH DOANH
VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI VẤN
ĐỀ MỞ RỘNG VỐN KINH DOANH Ở CÁC DOANH
NGHIỆP.
Vốn là yếu tố quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp và trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp,
chiến lược vốn vì thế chiếm vị trí đặc biệt quan trọng mà bộ phận
then chốt của chiến lược vốn là khai thác và huy động vốn. Hiệu

quả sử dụng vốn nói riêng, của sản xuất kinh doanh nói chung
không những phụ thuộc phụ thuộc vào chính sách, giải pháp phân
phối, sử dụng vốn của doanh nghiệp mà còn phụ thuộc rất lớn vào
khâu đầu tiên là khai thác và huy động vốn. Đối với các doanh
nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước các giải pháp mở rộng
vốn đang đặt ra là cần thiết, là mối quan tâm hàng đầu của doanh
nghiệp.
1. Sự cần thiết phải mở rộng vốn kinh doanh cho các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
12


Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước đây, mọi
nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được
bao cấp qua nguồn cấp phát của ngân sách nhà nước và qua nguồn
tín dụng lãi suất thấp của ngân hàng. Nếu doanh nghiệp cần thêm
vốn có thể xin nhà nước cấp phát thêm. Có thể nói trong cơ chế bao
cấp, vốn của doanh nghiệp nhà nước hầu như được "cho không",
khi sử dụng doanh nghiệp không cần quan tâm đến hiệu quả, nếu
thua lỗ thì đã có nhà nước trang trải, bù đắp cho mọi thiếu hụt. Vì
vậy, vấn đề khai thác, thu hút vốn không được đặt ra như một yêu
cầu cấp bách, có tính sống còn đối với doanh nghiệp. Việc khai
thác, thu hút vốn không được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, có
tính sống còn đối với doanh nghiệp. Việc khai thác, thu hút đảm
bảo vốn cho kinh doanh của doanh nghiệp trở nên rất thụ động.
Điều đó đã một mặt thủ tiêu tính chủ động của doanh nghiệp, mặt
khác tạo ra sự cân đối giả tạo về quan hệ cung - cầu vốn trong nền
kinh tế. Đây là lý do chủ yếu để giải thích tại sao trong thời kỳ bao
cấp lại vắng mặt và không cần thiết có thị trường vốn.
Một thực tế hiện nay là các doanh nghiệp nhà nước đều trong

tình trạng thiếu vốn trầm trọng, do đó để đảm bảo vốn cho sản xuất
kinh doanh phải chủ động tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài. Trong
các doanh nghiệp nhà nước ngoài vốn từ ngân sách nhà nước còn
có nhiều loại vốn của thành phần kinh tế khác, số vốn này ngày
càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn của doanh nghiệp. Như
vậy, trong nền kinh tế thị trường đồng vốn rõ ràng đã phát huy
được vai trò tích cực của nó.
Thứ nhất: Vốn kinh doanh là điều kiện tiền đề để doanh
nghiệp có thể thực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình, nếu không có vốn thì sẽ không có bất kỳ một hoạt động
sản xuất kinh doanh nào. Trong phạm vi một doanh nghiệp có thể
thấy rằng điểm xuất phát để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp là phải có một lượng vốn đầu tư ban
đầu nhất định. Với số vốn đầu tư ban đầu này, doanh nghiệp tiến
hành các hoạt động kinh tế hình thành nên tài sản cần thiết như
máy móc, thiết bị, xây dựng nhà xưởng, mua bằng phát minh sáng
chế, bản quyền, thuê mướn công nhân, hình thành số vốn lưu động
thường xuyên cần thiết tối thiểu... để phục vụ quá trình sản xuất
kinh doanh. Lượng vốn ban đầu đầu tư để hình thành nên vốn kinh
doanh của doanh nghiệp mang tính cần thiết là tiền đề bắt buộc. Về
mặt pháp lý tất cả các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào
để được thành lập và đi vào hoạt động thì nhất thiết phải có lượng
vốn cần thiết tối thiểu theo quy định của nhà nước hay còn gọi là
13


vốn pháp định. Lượng vốn này nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô
của doanh nghiệp và tuỳ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh của doanh
nghiệp đó.
Thứ hai: Vốn kinh doanh giúp các doanh nghiệp tiến hành

các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách liên tục và có hiệu
quả. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh vốn kinh
doanh của doanh nghiệp không ngừng được tăng lên tương ứng với
sự tăng trưởng quy mô sản xuất, đảm bảo cho quá trình tái sản xuất
được tiến hành một cách liên tục. Nếu doanh nghiệp thiếu vốn kinh
doanh sẽ gây nhiều khó khăn cho tính liên tục của quá trình sản
xuất, gây những tổn thất như: sản xuất đình trệ không đảm bảo thực
hiện được các hợp đồng đã ký kết với khách hàng, không đủ tiền để
thanh toán với khách hàng kịp thời dẫn đến mất tín nhiệm trong
quan hệ mua bán và do đó sẽ không giữ được khách hàng... những
khó khăn đó kéo dài tất yếu dẫn đến làm ăn thu lỗ phá sản của
doanh nghiệp. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn đảm bảo đầy
đủ, kịp thời vốn kinh doanh cho quá trình sản xuất, đáp ứng nhu
cầu phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ ba: Vốn kinh doanh không những là điều kiện tiên quyết
để các doanh nghiệp khẳng định được chỗ đứng của mình mà còn
là điều kiện tạo nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong cơ
chế thị trường. Trong cơ chế mới, dưới tác động của quy luật cạnh
tranh cùng với khát vọng lợi nhuận, các doanh nghiệp phải không
ngừng phát triển vốn kinh doanh của mình cho nên nhu cầu về vốn
kinh doanh của doanh nghiệp là rất lớn. Để đảm bảo chiến thắng
trong cạnh tranh, đảm bảo sự tồn tại và phát triển trong cơ chế mới,
các doanh nghiệp phải năng động nắm bắt nhu cầu của thị trường,
đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ, đa
dạng hoá sản phẩm, hạ giá thành. Muốn vậy, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải có nhiều vốn, chỉ có vốn trong tay mới có thể giúp
doanh nghiệp đầu tư hiện đại hoá sản xuất tồn tại trong kinh doanh
và tối đa hoá lợi nhuận. Nhu cầu về vốn để đảm bảo cho sản xuất
kinh doanh, cho sự phát triển ngành nghề mới đã trở thành một đòi
hỏi cấp thiết đối với tất cả các doanh nghiệp nói chung cũng như

doanh nghiệp nhà nước nói riêng. Như vậy, vốn đóng vai trò quan
trọng, là điều kiện tiên quyết trong quá trình đầu tư, phát triển của
doanh nghiệp, tạo lợi thế cạnh tranh và đứng vững trong cơ chế thị
trường.
Thứ tư: Vốn kinh doanh còn là công cụ phản ánh và đánh giá
quá trình vận động của tài sản cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua sự vận
14


động của vốn kinh doanh các chỉ tiêu tài chính như: hiệu quả sử
dụng vốn, hệ số thanh toán, hệ số sinh lời, cơ cấu các nguồn vốn và
cơ cấu phân phối sử dụng vốn... người quản lý có thể kịp thời nhận
biết thực trạng vốn trong các khâu của quá trình sản xuất, kiểm tra
hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Với khả năng đó,
người quản lý có thể kịp thời phát hiện các khuyết tật và các
nguyên nhân của nó để điều chỉnh quá trình kinh doanh nhăm thực
hiện các mục tiêu đã đề ra.
Việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện
tiến bộ khoa học - kỹ thuật công nghệ phát triển cao, nhu cầu vốn
đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng tăng nên việc
tổ chức huy động vốn cũng ngày càng trở nên quan trọng đối với
mỗi doanh nghiệp. Huy động vốn đầy đủ và kịp thời sẽ giúp doanh
nghiệp có thể chớp thời cơ kinh doanh tạo được lợi thế trong cạnh
tranh. Thêm vào đó, việc lựa chọn các hình thức và phương pháp
huy động vốn thích hợp sẽ giảm bớt chi phí sử dụng vốn, điều đó
tác động rất lớn đến việc tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Từ những lý do trên đây cho thấy việc tổ chức đảm bảo đầy
đủ kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh có tác động rất
mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh, nó quyết định đến sự sống còn

và tương lai phát triển của doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra hiện nay
đối với doanh nghiệp là phải xác định chính xác nhu cầu vốn, lựa
chọn cân nhắc các phương pháp đầu tư vốn sao cho có hiệu quả,
lựa chọn các hình thức thu hút vốn tích cực để đáp ứng kịp thời nhu
cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.
2. Vai trò của công tác tài chính đối với vấn đề mở rộng vốn kinh
doanh ở các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường sự hoạt động của quy luật cung cầu là rất mạnh mẽ, ở đâu hay lĩnh vực nào có nhu cầu thì ở đó sẽ
có nguồn cung cấp. Vì vậy, khi các doanh nghiệp có nhu cầu vốn
thì tất yếu thị trường vốn sẽ được hình thành với những hình thức
đa dạng của nó. Đây là môi trường hết sức thuận lợi để các doanh
nghiệp chủ động khai thác, thu hút các nguồn vốn trong xã hội (kể
cả nguồn vốn nước ngoài) nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh
doanh của mình. Trong quá trình huy động, tạo lập vốn tài chính
doanh nghiệp giữ vai trò vô cùng quan trọng.
Thứ nhất: Khi có nhu cầu mở rộng vốn kinh doanh, tài chính
doanh nghiệp phải xác định chính xác nhu cầu vốn kinh doanh cần
huy động, tính khả năng sinh lời, trên cơ sở đó để có các công tác
tài chính sao cho phù hợp, có hiệu quả (sử dụng các phương pháp
tính toán trực tiếp, gián tiếp...)
15


Thứ hai: Tài chính doanh nghiệp cần phải cân nhắc lựa chọn
các phương pháp hình thức huy động vốn thích hợp để khai thác
thu hút vốn, có vai trò tạo lập huy động đủ số vốn cần thiết ấy, tức
là tài chính doanh nghiệp phải tìm ra những nguồn vốn có thể huy
động, không phải tìm đủ về số lượng vốn mà còn phải tính toán để
tìm ra một kết cấu vốn huy động thật hợp lý vừa đáp ứng vốn kịp
thời vừa có chi phí sử dụng vốn thấp nhất.

Thứ ba: Tài chính doanh nghiệp có thể sử dụng các công cụ
đòn bẩy kinh tế như lãi suất vay, cổ tức khi phát hành trái phiếu, cổ
phiếu nhằm khai thác huy động vốn tăng quy mô vốn huy động
phục vụ cho nhu cầu vốn thiếu hụt hoặc tăng thêm của doanh
nghiệp.
Thứ tư: Tài chính doanh nghiệp cần phải lựa chọn phương án
đầu tư vốn có hiệu quả. Nên đầu tư vào đâu là cần thiết, có lợi nhất,
đầu tư vốn bằng cách nào?
Thứ năm: Sau khi nguồn vốn đã được huy động đầy đủ, tài
chính doanh nghiệp còn có vai trò quan trọng là quản lý và sử dụng
nguồn vốn ấy sao cho thật hợp lý và có hiệu quả. Trongg đó sử
dụng tiết kiệm vốn là một hưởng chủ yếu mà người quản lý doanh
nghiệp cần chú ý.
Thứ sáu: Sau khi tạo lập đủ vốn, chọn phương án đầu tư vốn
có hiệu quả, quản lý, sử dụng vốn ấy hợp lý, năng suất thì tài chính
doanh nghiệp còn có nhiệm vụ quan trọng nữa là lập kế hoạch hoàn
vốn, thanh toán những khoản vốn vay mà doanh nghiệp đã huy
động, tạo uy tín đối với những người cho vay và đối với khách
hàng.
Như vậy, tài chính doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng
trong việc quản lý và sử dụng vốn kinh doanh một cách hợp lý, góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.

16


CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG VỐN KINH DOANH VÀ MỞ RỘNG VỐN
KINH DOANH Ở

CÔNG TY LẮP MÁY ĐIỆN NƯỚC VÀ XÂY DỰNG .
I/ TÌNH HÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY LẮP MÁY
ĐIỆN NƯỚC VÀ XÂY DỰNG .
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng là một doanh
nghiệp Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh,
thực hiện hạch toán kinh tế độc lập trực thuộc Tổng công ty Xây
dựng Hà nội. Hiện nay Công ty có trụ sở chính đặt tại: 61E - Đê La
Thành - Láng Thượng - Đống Đa - Hà nội. Tel: 04.8.343.011 - Fax:
(084) - 04.8.355.270.
Với vị trí trụ sở đặt tịa trung tâm thành phố Hà nội đã tạo ra
rất nhiều thuận lợi cho việc giao dịch và phát triển hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty.
Tiền thân của Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng là Xí
nghiệp Lắp máy điện nước thuộc Công ty Xây dựng số I - Tổng
Công ty xây dựng Hà nội. Xí nghiệp Lắp máy điện nước được
thành lập vào năm 1978 theo sự đòi hỏi của quá trình chuyên môn
hoá sản xuất. Khi đó Công ty Xây dựng số I bao gồm nhiều xí
nghiệp, mỗi xí nghiệp đảm trách một phần việc cụ thể của công tác
xây dựng, trong đó Xí nghiệp Lắp máy điện nước có nhiệm vụ thiết
kế thi công và lắp đặt các công trình, hạng mục công trình điện
nước. Trong thời kỳ bao cấp, cùng với sự khó khăn chung của nền
kinh tế đất nước Xí nghiệp Lắp máy điện nước cũng gặp không ít
khó khăn mà khó khăn về vốn để phục vụ cho sản xuất kinh doanh
là khó khăn lớn nhất. Tình trạng cấp phát vốn không đủ và không
đồngg đều từ trên xuống đã làm cho hoạt động của Xí nghiệp k0 đạt
hiệu quả cao, mặc dù vậy Xí nghiệp vẫn trụ vững đảm bảo hoàn
thành mọi chỉ tiêu mà Công ty giao cho. Từ sau đại hội Đảng lần
thứ VI nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường,
cùng với sự ăn nên làm ra của Công ty xây dựng số I, Xí nghiệp

Lắp máy điện nước là một đơn vị hoạt động có hiệu quả, đóng góp
một phần giá trị không nhỏ vào kết quả hoạt động của toàn Công
ty, để phát huy hơn nữa tính hiệu quả hoạt động của Xí nghiệp Lắp
máy điện nước trong tùnh hình mới việc mở rộng quy mô sản xuất
của Xí nghiệp là điều cần thiết.
17


Ngày 26/3/1993 Bộ trưởng Bộ Xây Dựng đã ký quyết định sô
151A/ BXD - TCLĐ về việc thành lập lại doanh nghiệp Nhà nước,
Xí nghiệp Lắp máy điện nước được tách khỏi Công ty Xây Dựng
số I - Tổng Công ty Xây dựng Hà nội và được mang tên là Công ty
Lắp máy điện nước và Xây dựng trực thuộc Tổng Công ty Xây
dựng Hà nội.
Từ saukhi thành lập được sự giúp đỡ của Tổng Công ty Xây
dựng Hà nội và các đơn vị bạn, các bạn hàng trên địa bàn Hà nội và
các Tỉnh trong cả nước, Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng
đã từng bước khẳng định được sự vững mạnh và phát triển của
mình. Với cương vị hoạt động sản xuất
kinh doanh, Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng được phép
tiến hành các ngành nghề kinh doanh chủ yếu là:
- Xây dựng các công trình, hạng mục công trình xây dựng công
nghiệp và dân dựng, xây dựng thi công đường xá, cầu cống......
- Hoàn thiện công trình, hạng mục công trình xây dựng và trng
trí nội thất.
- Nhận thầu thi công trạm biến thế, đường dây tải điện và lắp
đặt trang thiết bị điện nước, thiết bị công nghệ.
- Sản xuấtcấu kiện bê tông phục vụ công tác xây dựng, kinh
doanh vật liệu xây dựng và bất động sản.
Do đặc thù của nghành xây lắp, sản phẩm xây lắp là tài sản

cố định cố định tại một địa điểm, công nhân, vật liệu, trang thiết bị
máy móc.....phải di chuyển. Hiện tại Công ty Lắp máy điện nước
và Xây dựng có 6 Xí nghiệp và 8 tổ đội trực tiếp sản xuất xây lắp.
Tuy nhiên do cơ chế thị trường nhiều doanh nghiệp tham gia hoạt
động xâylắp được thành lập đã cạnh tranh gay gắt với Công ty,
điều này gây khó khăn không nhỏ trong công tác tìm kiếm, ký kết
hợp đồng xây lắp các công trình, hạng mục công trình nhằm đáp
ứng về nhu cầu việc làm cho lực lượng lao động của Công ty. Về
bản thân Công ty mặc dù máy móc thiết bị được trang bị hiện đại
nhưng chưa đồng bộ, giá cả thị trường lại luôn biến động, tình hình
dự trữ vật tư, trang thiết bị lắp đặt còn thiếu so với nhu cầu sản xuất
kinh doanh đã gây ra nhiều khó khăn làm ảnh hưởng không nhỏ
đến kết quả hoạt động của Công ty. Với sự giúp đỡ của cấp trên
cùng với sự nỗ lực phấn đấu từng bước khắc phục khó khăn, đẩy
mạnh sản xuất kinh doanh của tập thể cán bộ công nhân viên toàn
Công ty, trong những năm vừa qua Công ty đã hoàn thành nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh của mình. Trong thời gian 9 tháng đầu năm
1998 Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng đã đạt được những
18


kết quả đáng khích lệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chúng
ta sẽ thấy rõ qua Biểu 01 - Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty đến ngày 30/9/1998 - Kế hoạch năm 1999.
Biểu 01 - Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Lắp máy điện
nước và Xây dựng (Tính đến ngày 30/9/1998) và kế hoạch năm
1999.
Số

Chỉ tiêu


T
T
1

Đơn
Kế
Thựchi
vị hoạch
ện
tính năm
năm
1998
1998
Trđ 154.00 192.500
0

Kế
hoạch
KH 1997
năm
1999
125,0 105,0 210.000

172.85
0
19.650

124,4 103,8 185.850
131,0 117,5 24.150


Giá trị sản lượng
SXKD
Trong đó:
- Giá trị sản lượng Trđ
xây lắp
Trđ
- Giá trị sản xuất
kinh
doanh khác
2 Doanh thu tiêu thụ
Trđ
3 Lợi nhuận ròng
(Lợi nhuận sau thuế)
4 Thu nhập bình quân
đầu người/tháng
5 Nộp ngân sách nhà
nước
6 Vốn kinh doanh
Trong đó: - Vốn cố
định
- Vốn lưu
động

139.00
0
15.000

So sánh


Trđ

122.00
0
740

đồn
g
Trđ

800.00 850.000 106,3 144,2 900.000
0
4.100
4.348 106,0 112,5
6.355

đồn
g

123.68 104,4 91,2 155.000
0
885 135,1 130,6
1.218

77.795.818.627
24.034.408.250
53.762.410.377

Để đạt được kết quả sản xuất kinh doanh kể trên 9 tháng đầu năm
1998 Công ty đã sử dụng một lực lượng lao động khá lớn khoảng

1.740 người trong đó Công ty quản lý 372 lao động bao gồm 139
cán bộ công nhân viên và 233 công nhân kỹ thuật và thợ lành nghề.
Về chất lượng lao động hiện nay Công ty có 160 người có trình độ
đại học và cao đẳng, trên 50 người có trình độ trung cấp nghiệp vụ,
trung cấp kỹ thuật. Số còn lại là thợ lành nghề có trình độ từ bậc
19


3/7 đến bậc 7/7 và đều qua các trường dạy nghề của nghành xây
dựng, đa số công nhân trẻ có tuổi đời từ 22 đến 38. Về quy mô sản
xuất kinh doanh hiện nay tính đến ngày 30/9/1998 tổng số vốn sản
xuất kinh doanh của Công ty là:
77.795.818.627 đ.
Trong đó:
- Vốn cố định: 24.033.408.250đ.
- Vốn lưu động: 53.762.410.377 đ.
Có thể nói Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng tuy còn
non nớt về tuổi đời nhưng hoạt động tỏ ra có hiệu quả, Công ty đã
xây dựng được nhiều công trình tô điểm cho bộ mặt đất nước, phục
vụ quốc kế dân sinh. Đồng thời tạo ra một khoản lợi nhuận tương
đối lớn, giải quyết việc làm cho nhiều lao động với mức thu nhập
ổn định bình quân 800.000 đến 850 đồng/ngưòi/ tháng và đóng góp
vào ngân sách Nhà nước một khoản không nhỏ (tính đến ngày
30/9/1998 Công ty đãhoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước với giá
trị: 4.348.000.000đồng.)
Như vậy, qua 6 năm hình thành và phát triển bằng kết quả thu
được từ thực tiễn hoạt động của mình Công ty Lắp máy điện nước
và Xây dựng đã chứng tỏ bản lĩnh vững vàng trong sự khắc nghiệt
của cơ chế thị trường, khẳng định chỗ đứng của mình trên thương
trường. Năm 1999 mở ra cho Công ty nhiều kỳ vọng mới, đòi ban

lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên Công ty phải tiếp tục ra
sức phấn đấu xây dựng và phát triển Công ty cho tương xứng với
tầm vóc của mình.
2. Tình hình và đặc điểm của Công ty.
2.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý điều hành của Công ty.
Để đảm bảo công tác tổ chức, quản lý điều hành hoạt động
của Công ty
được tốt, bộ máy quản lý điều hành
của Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng được tổ chức theo
kiểu trực tuyến tham mưu. Ban lãnh đạo của Công ty bao gồm 4
người:
Đứng đầu là Giám đốc Công ty phụ trách chung toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty, trực tiếp chỉ đạo hoạt động
của các phòng ban và các đơn vị trực thuộc Công ty.
Tham mưu giúp việc cho Giám đốc Công ty là các phó giám
đốc chuyên trách từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, cụ thể:
- Phó giám đốc chuyên trách lắp máy điện nước, trực tiếp phụ
trách các xí nghiệp điện nước (Xí nghiệp điện nước 2, Xí nghiệp
điện nước 4, Xí nghiệp xây lắp kết cấu kim loại số 7) và các tổ đội
trực thuộc Công ty như: Đội điện nước số 3, số 5, Số 6, Đội lắp ráp
số 8, Đội lắp ráp kết cấu thép.
20


- Phó giám đốc chuyên trách lĩnh vực thi công, xây lắp, an
toàn lao động và kiểm tra chất lượng công trình (KCS) trực tiếp
phụ trách các cí nghiệp xây dựng (Xí nghiệp xây dựng số 9, Xí
nghiệp xây dựng Xí nghiệp xây dựng số 11, Xí nghiệp xây lắp
hoàn thiện số 12) và các đội, xưởng trực thuộc Công ty như: Đội
xây dựng số 10, Xưởng sản xuất bê tông và vật liệu xây dựng,

Phòng Kế toán - Tài Chính, An toàn lao động - Kiểm tra chất lượng
công trình (KCS).
- Phó giám đốc chuyên trách lĩnh vực kế hoạch kinh tế tiếp
thị, trực tiếp chỉ đạo Phòng kinh tế tiếp thị và Trung tâm tư vấn
thiết kế Lắp đặt điện nước, thông gió, điều hoà.
Ngoài ra tham mưu giúp việc cho Giám đốc Công ty còn có
Kế toán trưởng phụ trách phòng Tài chính - Kế toán, tổ chức chỉ
đạo thực hiện toàn bộ công tác kế toán thống kê, thông tin kinh tế
và hạch toán kinh tế của Công ty theo quy định của Nhà nước.
Bên dưới là các Phòng ban, Xí nghiệp, tổ đội và phân xưởng
trực thuộc.
Các phòng ban có nhệm vụ tham mưu cho Giám đốc thực
hiện nhiệm vụ, chỉ đạo chung mọi hoạt động của Công ty, bao gồm:
- Văn phòng Công ty: với số lượng cán bộ nhân viên là 14
nười. Văn phòng Công ty có trách nhiệm tiếp nhận các chủ trương
chính sách, chỉ thị, nghị quyết của lãnh đạo, tổ chức kiểm tra thực
hiện và hướng dẫn giám sát về mặt nghiệp vụ chuyên môn với các
bộ phận liên quan giúp lãnh đạo Công ty về nghiệp vụ chuyên môn
văn phòng, tổ chức các cuộc giao dịch đón tiếp, quan hệ đối nội,
đối ngoại, làm các công việc hành chính, văn thư lưu trư, quản trị
văn phòng và công tác đời sống y tế......
- Phòng tổ chức lao động tiền lương gồm 7 người, có nhiệm
vụ quản lý lao động, xây dựng kế hoạch quản lý đào tạo và sử dụng
lực lượng lao động, tổ chức thực hiện chế độ chính sách đối với
người lao động, xây dựng quy chế phương án phân phối tiền lương,
định mức lao động......và đảm bảo công tác bảo vệ thanh tra thi đua
khen thưởng.....
- Phòng kế hoạch tiếp thị: gồm 16 người có nhiệm vụ xây
dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh. Lập tổng dự toán các công
trình thi công, tìm các đối tác liên doanh liên kết, giới thiệu quảng

cáo về Công ty với khách hàng, làm hồ sơ dự thầu......
- Phòng đầu tư phát triển: gồm 3 người có nhiệm vụ tư vấn và
lập báo cáo khả thi các dự án đầu tư của Công ty, khai thác, tìm
kiếm các công việc thi công xây lắp, quản lý việc thực thi dự án,
đôn đốc việc thanh quyết toán vốn các dự án đã hoàn thành.
21


- Phòng kinh doanh vật tư: gồm 6 người có nhiệm vụ mua bán
quản lý cung cấp vật tư cho các xí nghiệp, tổ, đội, xưởng sản xuất
trưc thuộc Công ty và các bên đối tác có nhu cầu về vật tư phục vụ
cho công tác xây lắp, quản lý kho bãi tập kết vật tư......
- Phòng kỹ thuật thi công - an toàn lao động, KCS: gồm 12
người có nhiệm vụ giám sát chất lượng kỹ thuật mỹ thuật, tiến độ
thi công, an toàn lao động của các công trình, hạng mục công trình
mà Công ty đảm nhận thi công, lập trương trình áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới quy trình công nghệ vào sản xuất thi
công......
- Phòng tài chính kế toán thống kê: gồm 7 người có nhiệm vụ
tổ chức triển khai thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế toán,
công tác kiểm tra giám sát việc huy động và sử dụng vốn kinh
doanh của Công ty, lập báo cáo về tình hình tài chính định kỳ theo
quy định của Nhà nước. Tổ chức ghi chép tính toán và phản ánh
chính xác trung thực, kịp thời, đầy đủ toàn bộ tài sản và nguồn vốn
kinh doanh.
Các Xí nghiệp, tổ, đội, phân xưởng trực thuộc Công ty là
những đơn vị có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty theo lĩnh vực mà Xínghiệp, tổ, đội, phân xưởng
được giao. Đây là lực lượng chính trực tiếp thực thi nhiệm vụ xây
lắp của Công ty đồng thời tạo ra khoản thu nhập chủ yếu cho Công

ty. Chúng ta có thể thấy rõ hơn tình hình tổ chức bộ máy quản lý,
điều hành của Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng qua Biểu
số 02.

22


Nhìn chung việc tổ chức bộ máy quản lý điều hành của Công
ty Lắp máy điện nước và Xây dựng là hợp lý phù hợp với tình
hình thực tế đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý điều
hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
2.2 Đặc điểm quy trình công nghệ của Công ty:
Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng là một doanh
nghiệp hoạt động trong nghành sản xuất xâylắp do quy trình công
nghệ mang những nét đặc trưng của ngành nghề kinh doanh.
Trên phương diện sản xuất xây dựng, hoạt động xây dựng
(công trình, hạng mục công trình xây dựng) được tiến hành với quy
trình công nghệ sau:
- Khảo sát thăm dò và thi công phần móng công trình: ở công
đoạn này máy móc được thiết bị được sử dụng tối đa.
- Tiến hành thi công xây dựng công trình: nguyên vật liệu (Xi
măng, cát, đá, sỏi, vôi, sắt, thép, gạch....) được đưa vào xây dựng
phần thô (móng công trình, trụ, cột, tường bao, vách ngăn, cầu
thang......) của công trình.
Tiếp đến là lắp đặt hệ thống điện nước, thiết bị theo yêu cầu
của công trình.
Sau cùng là công việc hoàn thiện công trình (lắp cửa, dọn dẹp
công trình....trang trí tô điểm đảm bảo tính mỹ thuật của công
trình) đồng thời trang trí nội thất (nếu có).
Kết thúc công đoạn này Công ty tiến hành kiểm tra nghiệm

thu và bàn giao quyết toán công trình.
Chúng ta có thể thấy rõ hơn quy trình sản xuất xây dựng qua
biểu số 03 - Quy trình công nghệ sản xuất xây dựng.
Biểu 03: Quy trình công nghệ sản xuất xây dựng.
Khảo sát thăm dò và thi công phần
móng công trình
Thi công xây dựng phần thô: nguyên vật
liệu (cát gạch, xi măng...) máy móc được
đưa vào thi công xây dựng phần xây dựng
phần vỏ công trình
Lắp đặt máy móc thiết bị, hệ thống điện nước
theo yêu cầu của công trình (nếu có)
23


Hoàn thiện trang trí đảm bảo tính mỹ thuật của công trình, kiểm
tra ngiệm thu và tiến hành bàn giao, quyết toán công trình
Trên phương diện lắp đặt điện nước, hoạt động lắp đặt được
tiến hành theo quy trình công nghệ sau:
Khảo sát kiểm tra mặt bằng, lắp đặt theo bản thiết kế kỹ
thuật: vật tư, ống dẫn nước, van xả, trang thiết bị lắp đặt....được
đưa vào xây dựng lắp đặt công trình điện nước (xây dựng bể chứa,
đường thoát nước, cống rãnh, ống dẫn nước sạch, xây dựng trạm
biến thế, gia công móng, cột điện, kéo dây......)
Hoàn thiện công trình vào vận hành thử, kiểm tra các thông
số kỹ thuật và nghiệm thu công trình, bàn giao và quyết toán công
trình với bên chủ quản.
Chúng ta có thể khái quát quy trình công nghệ lắp đặt này qua
biểu số 04 - Quy trình công nghệ lắp đặt điện nước.
Biểu 04 - Quy trình công nghệ lắp đặt điện nước.

Khảo sát
kiểm tra
bằng thi
công

Tiến hành
thi công
lắp đặt
công trình
điện nước

Hoàn
thiện
công
trình sửa
sang
kiểm tra

Đưa công
trình vào
vận hành
thử, kiểm tra
nghiệm thu

Trên đây là quy trình công nghệ sản xuất lắp đặt cơ bản mà
Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng sử dụng. Tuy nhiên, do
tính đặc biệt của ngành nghề nên ở mỗi khâu của quy trình công
nghệ đòi hỏi cán bộ kỹ thuật, công nhân thi công kéo dài, do vậy
việc tổ chức sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất to lớn đối với quá
trình sản xuất của công ty.

2.3. Đặc điểm tổ chức và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
của Công ty.
Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng là một doanh
nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, sản phẩm của
Công ty là những công trình, hạng mục công trình xây dựng, lắp
đặt có kết cấu phức tạp và thời gian thi công kéo dài, do vậy việc tổ
chức sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất to lớn đối với quá trình sản
xuất của Công ty.
24


Về việc sản xuất kinh doanh công ty tiến hành tổ chức theo
các xí nghiệp,đội, xưởng sản xuất dưới sự chỉ đạo, điều hành trực
tiếp của các phó giám đốc phụ trách sản xuất kinh doanh.
Hiện nay, Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng có6 xí
nghiệp,
8 đội chuyên trách và 2 xưởng sản xuất và sửa
chữa. Ngoài ra, Công ty còn có một Trung Tâm Tư vấn thiết kế
Lắp máy điện nước, Điều hoà, Thông gió, có thể khái quát việc tổ
chức sản xuất kinh doanh của Công ty như sau:
Đứng đầu là các xí nghiệp, các Giám đốc xí nghiệp chịu trách
nhiệm quản lý điều hành xí nghiệp của mình thực hiện sản xuất
kinh doanh theo chỉ tiêu công ty giao, bao gồm các xí nghiệp:
Xí nghiệp điện nước 2, Xí nghiệp điện nước 4: đảm nhận các
công việc lắp đặt thi công các công trình điện, nước cho các khu
vực dân cư và các khu công nghiệp, cũng như lắp đặt các đường
dây tải điện, hệ thống cấp thoát nước cho các công trình xây dựng.
Xí nghiệp xây lắp kết cấu kim loại số 7: làm các công việc
như lắp đặt máy móc thiết bị, kết cấu kim loại cho các công trình
xây dựng, công trình công nghiệp và dân dụng.

Xí nghiệp xây dựng số 9, Xí nghiệp xây dựng số 11: là những
Xí nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, đảm nhận các nhiệm
vụ khảo sát thiết kế thi công các công trình xây dựng dân dụng và
công nghiệp.
Xí nghiệp xây lắp và hoàn thiện số 12: đây là xí nghiệp có
nhiệm vụ lắp đặt, trang trí hoàn thiện các công trình mà xí nghiệp
xây dựng đã thi công xong phần việc của mình, ngoài ra xí nghiệp
còn làm các công việc độc lập như trang trí nội thất......
Ngoài các xí nghiệp sản xuất chủ yếu ở trên, Công ty có 8 đội
sản xuất chuyên trách, 2 xưởng và một Trung tâm tư vấn thiết kế
lắp đặt điện nước. Mọi hoạt động của các đội, xưởng sản xuất và
trung tâm tư vấn đều do Công ty trực tiếp quản lý điều hành bao
gồm:
Đội sản xuất: đội điện nước 3, đội điện nước 5, đội điện nước
6, đội lắp ráp kết cấu thép, đội lắp đặt hệ thống thông gió điều hoà
số 1, đội xây dựng số 10, đội xe cơ giới. Đây là các đội sản xuất
dưới quyền chỉ đạo của Phó giám đốc phụ trách sản xuất mà đứng
đầu các đội sản xuất là các đội trưởng có nhiệm vụ chỉ đạo thực thi
các nhiệm vụ mà Công ty giao cho từng đội, đồng thơòi có thể
tham gia hỗ trợ các đơn vị khác trực thuộc Công ty trong quá trình
tham gia sanr xuất do sự điều động của các Phó giám đốc phụ trách
sản xuất.
25


×