Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

Thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây d ựng tại phường quang trung – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.46 MB, 111 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHAN ANH VIỆT

Tên đề tài:
“THỰC TRẠNG MỐI HẠI GỖ TRONG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI
PHƯỜNG QUANG TRUNG – THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Lâm nghiệp
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa học:
: 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Tuyên

Thái Nguyên, năm 2014


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHAN ANH VIỆT

Tên đề tài:
“THỰC TRẠNG MỐI HẠI GỖ TRONG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI


PHƯỜNG QUANG TRUNG – THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khóa học:

: Chính quy
: Lâm nghiệp
: Lâm nghiệp
: 2010 - 2014

Thái Nguyên, năm 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là
hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho một khóa luận nào. Mọi sự giúp đỡ
cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin, tài liệu trong
luận văn này đã được ghi nguồn gốc.

Xác nhận của GVHD

Sinh viên

Th.S Nguyễn Thị Tuyên


Phan Anh Việt

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)


LỜI CẢM ƠN
Bốn năm học đại học tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trôi qua
và giờ đây sinh viên chúng tôi được tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp đại
học, việc này giúp sinh viên củng cố lại kiến thức đã và đang được học ở nhà
trường và biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. Từ đó mỗi sinh viên khi ra trường
sẽ có nhiều kinh nghiệm phục vụ cho việc hoàn thiện hơn kiến thức lý luận và nâng
cao trình độ chuyên môn, phương pháp làm việc, thái độ và năng lực công tác khi
ra trường.
Xuất phát từ phương châm đó, được sự nhất trí của trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệpvà nguyện vọng của bản thân.
Tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây
dựng tại phường Quang Trung – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái
Nguyên”.
Trong suốt thời gian thực hiện khóa luận đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
của các thầy giáo, cô giáo trong khoa, sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
- Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp.
- Ban lãnh đạo xã, cùng toàn thể nhân dân trong phường Quang Trung –
thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên.
- Đặc biệt là sự chỉ bảo hướng dẫn của cô giáo ThS. Nguyễn Thị Tuyên
Đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này trong thời gian nghiên cứu.

Mặc dù bản thân đã rất nỗ lực học tập, nghiên cứu nhưng do trình độ và thời
gian còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót, rất mong
nhận được nhiều ý kiến đóng góp, xây dựng của các thầy giáo, cô giáo và các bạn
để bản khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh Viên
Phan Anh Việt


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Stt
Nh
Tb
N
C
K
UBND
THCS

: Số thứ tự
: Nhẹ
: Trung bình
: Nặng
: Có
: Không
: Ủy ban nhân dân
: Trung học cơ sở



DANH MỤC CÁC BẢNG
Mẫu bảng 4.1. Lịch sử phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại phương
Quang Trung – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên ............................................. 22
Mẫu bảng 4.2. Lịch sử phòng trừ mối cho các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình
xây dựng tại phường Quang Trung – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên ................. 22
Mẫu bảng 4.3. Thực trạng mối xuất hiện và phá hoại trong các công trình xây dựng
tại phường Quang Trung – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên ........................... 23
Mẫu bảng 4.4. Một số loại gỗ được sử dụng trong các công trình xây dựng tại
phường Quang Trung – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên ................................ 23
Mẫu bảng 4.5.Thực trạng mối gây hại các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây
dựng tại phường Quang Trung – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên .................. 24
Mẫu bảng 4.6. Thực trạng kiểm tra phòng mối cho các công trình xây dựng tại
phường Quang Trung – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên ................................ 24
Bảng 4.1. Lịch sử phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại phường Quang
Trung – TP Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên ....................................................... 26
Bảng 4.2. Lịch sử phòng trừ mối cho các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây dựng
tại phường Quang Trung – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên .................................. 27
Bảng 4.3. thực trạng mối xuất hiện và phá hại gỗ trong các công trình xây dựng tại phường
Quang Trung – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên ........................................ 29
Bảng 4.5. Thực trạng mối gây hại các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây dựng tại
phường Quang Trung – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên ...................................... 32
Bảng 4.6. Thực trạng công tác kiểm tra phòng trừ mối cho các công trình xây dựng
tại phường Quang Trung –TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên ............................ 38


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Tổ mối ................................................................................................... 5
Hình 2.2. Mối chúa ............................................................................................... 7
Hình 2.3. Mối cánh ............................................................................................... 8
Hình 2.4. Mối lính................................................................................................. 8

Hình 2.5. Mối thợ ............................................................................................... 10
Hình 2.6. Sự phân đàn của mối ........................................................................... 10
Hình 4.1.Mối hại gỗ tại phường Quang Trung – thành phố Thái Nguyên – tỉnh
Thái Nguyên( a.mối hại tường nhà, b.mối hại cánh cửa, c.mối hại gỗ dự trữ, d.mối
hại cửa sổ)........................................................................................................... 33
Hình 4.2. Mối ăn hại phần gỗ sớm ...................................................................... 34
Hình 4.3. Mối hại gỗ tại trường mầm non Quang Trung ..................................... 35
Hình 4.5. Mối hại cánh cửa nhà anh Nguyễn Văn Binh....................................... 36
Hình 4.6. Mối hại cột chống mái tôn nhà bà Tăng Thị Thanh.............................. 37
Hình 4.7. Đào hào phòng mối ............................................................................. 43
Hình 4.8. Phun thuốc phòng mối nền .................................................................. 44
Hình 4.9.Phun thuốc phòng mối tường................................................................ 45


MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.................................................................................................... 1
1.1.

Đặt vấn đề ......................................................................................................... 1

1.2.

Mục đích nghiên cứu của đề tài......................................................................... 2

1.3.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ......................................................................... 2

1.4.


Ý nghĩa của đề tài .............................................................................................. 3

1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu ................................................................. 3
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn ....................................................................................... 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU..................................................... 4
2.1. Đặc điểm của mối hại gỗ ...................................................................................... 4
2.1.1. Tổ mối ............................................................................................................... 5
2.1.2. Thức ăn của mối ................................................................................................ 6
2.1.3. Hình thái và chức năng của mối......................................................................... 7
2.1.4 Sự chia đàn và hình thành tổ mối ...................................................................... 10
2.1.5. Cách thức xâm nhập của mối vào công trình ................................................... 11
2.1.6. Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến mối .............................................. 12
2.2. Tình hình mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam.................................................. 14
2.3. Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam ........................... 16
2.3.1. Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới ............................................. 16
2.3.2. Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ ở Việt Nam ............................................. 17
2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu........................................................................... 19
2.4.1. Điều kiện tự nhiên ........................................................................................... 19
2.4.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ................................................................................ 19
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...... 20
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu....................................................................... 20
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành .......................................................................... 20


3.3. Nội dung nghiên cứu .......................................................................................... 20
3.4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 21
3.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu .......................................................................... 21
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu ........................................................................... 21
3.4.3. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu và tổng hợp số liệu ................................ 21
3.4.4. Phương pháp đánh giá mức độ mối hại công trình ........................................... 25

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................... 26
4.1. Lịch sử phòng mối tại phường Quang Trung – TP Thái Nguyên – Tỉnh Thái
Nguyên...................................................................................................................... 26
4.2. Thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Quang Trung –
TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên. ........................................................................ 28
4.2.1. Thực trạng mối xuất hiện và phá hại gỗ trong các công trình xây dựng tại địa
phương ...................................................................................................................... 28
4.2.2. Gỗ sử dụng trong các công trình xây dựng tại địa phương ............................... 31
4.2.3. Thực trạng mối gây hại các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây dựng tại
phường Quang Trung – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên ................................... 32
4.4.1. Giải pháp khắc phục tình trạng mối hại gỗ tại địa phương ............................... 39
4.4.2. Kế hoạch phòng trừ mối hại gỗ tại địa phương ................................................ 40
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................. 48
5.1. Kết luận .............................................................................................................. 48
5.2. Kiến nghị............................................................................................................ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Mối là côn trùng đa hình thái thuộc bộ mối (Isoptera) hay còn gọi là bộ
cánh đều. Chúng có đời sống xã hội chặt chẽ, sống kín đáo trong đất hay các giá
thể bằng gỗ. Trong tổ mối tùy vào chức năng và nhiệm vụ mà các thành viên
trong tổ mối sẽ có các hình dạng khác nhau, Trong tổ mối gồm có mối chúa, mối
vua, mối lính, mối thợ và mối cánh(mối giống).chúng sống thành tập đoàn và có
tổ chức xã hội cao[9].

Bộ mối có những đặc điểm hình thái như cơ thể chúng chia làm 3 phần
chính là đầu ngực và bụng. Nhưng tùy vào từng chức năng và nhiệm vụ khác
nhau mà mối có các kích thước khác nhau. Mối là loài côn trùng có cánh xong
không phải thành viên nào trong tổ mối đều có cánh, cánh mối chỉ xuất hiện ở
các cá thể sinh sản(mối giống) trước khi giao hoan, sau khi giao hoan đôi cánh
đó sẽ rụng đi. Miệng mối thuộc loại miệng gặm nhai, chân dạng chân chạy. Mối
thuộc dạng biến thái không hoàn toàn, không có nhộng, thân thể mềm, có màu
trắng sữa và đậm dần thành trắng xám khi trưởng thành. Thức ăn của mối là tất
cả các loại vật chất có nguồn gốc là xenlulo.
Trong tự nhiên, mối tham gia vào quá trình phân hủy các chât hữu cơ có
nguồn gốc là xenlulo như cành lá rơi rụng, rễ cây và cả cây sống cũng như cây
đã chết. Trong đời sống mối xâm hại và phá hủy các sản phẩm làm từ xenlulo
như sách báo, bàn ghế, cầu thang hay cột nhà bằng gỗ….
Trong các khu rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới mối được ví như đội quân
làm vệ sinh khổng lồ của tự nhiên nhưng trong trồng rừng hay trong các công
trình xây dựng mối lại được coi là mối nguy hại vì mức độ tàn phá của chúng.
Trong các côn trùng hại lâm sản, mối được đánh giá là đối tượng phá hại
mạnh nhất đối với công trình kiến trúc, cây trồng, đê đập ở hầu hết các nước
nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nước ta với khí hậu nhiệt đới ẩm và sự đạ dạng về
thực vật đã tạo điều kiện cho mối phát triển mạnh. Ngoài việc gây hại cho cây
trồng mối còn gây hại rất nhiều cho các công trình xây dựng và các sản phẩm có
nguồn gốc từ gỗ gây thiệt hại lớn cho con người.
1.1.


2

Phường Quang Trung – TP Thái Nguyên – Tỉnh Thái nguyên là 1 khu vực
đông dân cư nhất trong thành phố. Phường Quang Trung cũng là một khu trung
tâm thương mại của thành phố Thái Nguyên, tại đây có các chợ lớn như chợ

Đồng Quang (trung tâm thương mại Đồng Quang), chợ Ga, chợ Mỏ Bạch, chợ
sinh viên Sư Phạm. Nhờ mật độ dân cư đông đúc cộng thêm khí hậu nhiệt đới
ẩm đã tạo điều kiện cho mối hại gỗ phát triển. Các phòng lưu trữ hồ sơ của các
cơ quan, các gian hàng ở các chợ và những hộ dân có công trình xây dựng sử
dụng vật liệu có nguồn gốc xenlulo đó là những mục tiêu hàng đầu của mối.
Hàng năm mối đã gây ra những thiệt hại nhất định cho người dân và các
cơ quan trên địa bàn nhưng công tác phòng trừ mối lại chưa được quan tâm đúng
mức. Nhiều công trình trước đây không phòng mối khi xây dựng, nay vẫn chưa
được thực hiện phòng mối bổ sung, vì vậy hiệu quả trừ mối chưa cao, mối vẫn
xuất hiện nhiều. Để phòng trừ mối một cách hiệu quả, có cơ sở khoa học vững
chắc, cần phải có các dẫn liệu điều tra cơ bản. Nhưng hiện nay vẫn chưa có đề tài
nào nghiên cứu về mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Quang
Trung - TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên.
Với nhận thức đó tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Thực trạng mối hại gỗ
trong các công trình xây dựng tại phường Quang Trung - TP Thái Nguyên tỉnh Thái nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu khảo sát thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng
ở phường Quang Trung – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên, từ đó làm cơ sở
đề xuất các giải pháp và lập kế hoạch phòng trừ.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng ở phường
Quang Trung – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất được các giải pháp phòng trừ và lập kế hoạch phòng trừ khắc
phục hậu quả do mối gây ra.


3

1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

Qua quá trình nghiên cứu giúp tôi hiểu thêm về mối một cách đầy đủ hơn
về thức ăn, tập quán ăn mồi cũng như mức độ gây hại của chúng đối với các sản
phẩm làm từ gỗ trong các công trình xây dựng và hiểu biết thêm về các biện
pháp phòng trừ chúng.
Giúp tôi học tập được phương pháp nghiên cứu khoa học, cụ thể là
phương pháp quan sát thực hành, khả năng phân tích tổng hợp tài liệu. Phát huy
tinh thần độc lập sáng tạo trong học tâp và nghiên cứu khoa học.
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu là cở sở thực tiễn quan trọng trong khoanh vùng gây
hại, đánh giá mức độ gây hại của chúng đối với từng vùng để từ đó đề xuất các
phương pháp phòng trừ mối cho các sản phẩm làm từ gỗ trong các công trình
xây dựng và khắc phục các hậu quả do mối gây ra để giảm thiểu thiệt hại cho
người dân và các cơ quan trên địa bàn phường Quang Trung - TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên nói riêng cũng như trong phạm vi cả nước nói chung.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Đặc điểm của mối hại gỗ
Trong hệ thống phân loại, thì mối là côn trùng nguyên thuỷ thuộc bộ cánh
đều (Isoptera), có họ hàng gần gũi với dán, niên đại tồn tại của mối có đến 200
triệu năm (Zalessky 1973). Mối là một nhóm côn trùng có “tính xã hội” cao, mỗi
tổ mối là một “đơn vị sống” hoặc được coi là một “xã hội” riêng biệt. Trong mỗi
tổ mối, tuỳ theo từng loài, có từ vài trăm con đến vài trục triệu con. Đôi khi
người ta gọi mối là "kiến trắng" nhưng thực tế chúng chẳng có họ hàng gì với
kiến (thậm chí chúng còn tấn công nhau), chúng chỉ có mối quan hệ: đều là côn
trùng. Mối được phân loại như là bộ Cánh đều (danh pháp khoa học: Isoptera),
tuy nhiên, dựa trên chứng cứ ADN, người ta thấy có sự ủng hộ cho một giả
thuyết gần 120 năm trước, nguyên thủy dựa trên hình thái học, rằng mối có quan

hệ họ hàng gần gũi nhất với các loài gián ăn gỗ (chi Cryptocercus). Gần đây,
điều này đã dẫn tới việc một số tác giả đề xuất rằng mối nên được phân loại lại
như là một họ duy nhất, gọi là Termitidae, trong phạm vi bộ Blattodea, một bộ
chứa các loài gián. Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu ủng hộ biện pháp ít
quyết liệt hơn và coi mối vẫn là nhóm có tên gọi khoa học Isoptera, nhưng chỉ là
một nhóm dưới bộ trong gián thực thụ, nhằm bảo vệ phân loại nội bộ của các
loài mối.
Trên thế giới mối có trên 2700 loài. Các loài có đặc điểm khác nhau.
Chúng khác nhau về cấu trúc tổ (có loài làm tổ nổi trên mặt đất, có loài làm tổ
chìm, có loài làm tổ trên cây), đặc điểm dinh dưỡng (có loài chuyên ăn gỗ khô,
có loài chuyên ăn gỗ ẩm, có loài chuyên ăn mùn), có loài đắp đường mui, có loài
không đắp đường mui khi đi kiếm ăn, có loài ăn bên ngoài có loài chuyên ăn bên
trong gỗ….
Ở Việt Nam, hiện đã phát hiện 106 loài mối. giữa các loài chỉ có sự khác
nhau về hình thái, về số lượng cá thể, về cấu trúc tổ…song đều giống nhau là
chúng sống quần thể.Trong đó có một số nhóm loài gây hại thường gặp là các
giống: Coptotermes, Odototermes, Macrotermes, Microtermes, Hypotermes,
Cryptotermes. Biện pháp phòng trừ đối với từng nhóm loài có khác nhau; các


5

loài Coptotermes có thể dùng biện pháp nhử để tập trung mối nhưng các loài
Cryptotermes thì không thể nhử được. Vì vậy, để đề ra biện pháp phòng trừ hiệu
quả nhất cần phải biết công trình đang bị loài nào gây hại, từ đó xây dựng giải
pháp phòng trừ hiệu quả nhất cho công trình.
2.1.1. Tổ mối

Hình 2.1. Tổ mối


Các loài mối khác nhau thì cấu tạo tổ cũng có sự khác nhau. Về phương
diện chống mối, chúng ta cần quan tâm đến vị trí tổ, có thể chia tổ mối thành 2
dạng.
• Tổ mối chỉ ở trong gỗ
Ở nước ta, loài mố thường gặp là “mối gỗ khô” (cryptotermes
domesticus). Tổ chỉ là các hang rỗng, chúng đục dích dắc trong gỗ, chúng ở đâu
thường đùn một phần phân ra ngoài, rơi xuống như đống cát nhỏ xíu. Căn cứ váo
đặc điểm này có thể phát hiện ra chúng. Tuy chúng ở trong gỗ song cũng đục
vào sách vở, quần áo để nơi kế cận tổ. Loài này mỗi tổ khoảng ba bốn trăm con,
chỉ cần phát hiện tổ và dùng sơ ranh tiêm thuốc BQG – 1 trực tiếp vào tổ là diệt
được.
• Tổ mối có liên hệ đến đất và nguồn nước
Tất cả các loài mối khác khi kiến trúc tổ đều có nhu cầu đất hoặc nước ở
ngoài tổ, phần lớn các loài có cấu trúc một hệ thống tổ gồm một tổ chính và
nhiều tổ phụ để dung nạp được số lượng cá thể lớn, tổ chính có mối vua và mối
chúa, có nhiều loài tổ ở sâu trong lòng đất đến 1-2m.Hệ thống tổ của loài “mối
nhà” (Copt. Formosanus) vừa ở dưới đất nền và trong các cấu kiện phía trên; đôi


6

khi nằm hoàn toàn phía trên, song vẫn có đường nối với nguồn nước.Đối với đê
đập, độ rỗng của tổ mối có ảnh hưởng đến độ bền vững của công trình nên cần
thiết phải phát hiện tổ để xử lý, kinh nghiệm lâu đời của nhân dân ta là vào mùa
xuân, phát hiện thấy nấm vũ hoá là đào được tổ; các đối tượng khác, độ rỗng của
tổ ít ảnh hưởng.
2.1.2. Thức ăn của mối
Nguồn thức ăn của mối chủ yếu là các sản phẩm thực vật và các loại nấm
được cấy trong tổ. Quá trình dinh dưỡng của mối diễn ra như sau: Thức ăn do
mối thợ nuốt vào trong cơ thể sau đó mối thợ đem thể dịch thức ăn đã được tiêu

hoá hoặc tiêu hoá một phần trong cơ thể ựa ra đường miệng hoặc bài tiết ra
đường hậu môn để bón cho mối vua, mối lính, mối non, mà bản thân chúng cũng
không lấy được thức ăn giữa nhứng mối thợ cũng bón cho nhau bằng miệng.
Quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra như vậy là nhờ trong ruột mối có những vi
sinh vật cộng sinh và những vi sinh vật này có khả năng phân huỷ Xenlulo thành
monoacarit là sản phẩm mà mối có thể hấp thụ được. Mối ăn tất cả mọi thứ có
nguồn gốc từ xenlulo, vì vậy mà đối tượng bị mối gây hại là rất đa dạng.
- Thực vật sống: Nhiều loài mối lấy thức ăn từ cây sống, đặc biệt là vào
mùa khô hạn, cây sống còn cung cấp nước cho chúng, nhất là các cây còn non
như bạch đàn, chè sắn và các cây trồng khác.
- Thực vật khô: Ruột của loài mối nhà tiêu hoá được chất xơ nên ngoài gỗ,
tre nứa tất cả các sản phẩm đựoc chế biến từ thực vật như giấy, vải…đều bị
chúng phá hoại. Trên đường đến nguồn thức ăn, mối có thể đục qua nhiều loại
vật liệu khác như xốp cách âm, cao su, đồng thời mang theo đất và độ ẩm làm
nhiều máy móc bị hư hỏng theo.
Các loại mối khác nhau thường ăn chất xơ của gỗ ở trạng thái khác nhau.
Mối nhà thích ăn gỗ thông màu trắng, Trám trắng…còn tốt nguyên; một số loại
mối đất lại ăn những loại gỗ đã hơi bị mục. Với kỹ thuật nhử mối để tiêu diệt cần
quan sát và lựa chọn loại mồi thích hợp và tác động thêm các chất dinh dưỡng
như nước đường, nước cháo hoặc các chất dẫn dụ khác. Tập quán của chúng là
liếm và ăn phân lẫn nhau nên vi sinh vật cộng sinh cũng chuyển từ ruột con mối
này sang ruột con mối khác. Trong trường hợp những con mối thợ nuốt phải chất
độc chúng lại ựa ra bón cho nhau và liếm, ăn phân của nhau chúng sẽ bị chúng
độc lây truyền mà chết. Nghiên cứu này đã được vận dụng để diệt mối nhà phá hoại
công trình xây dựng đã đem lại kết quả rất tốt.


7

2.1.3. Hình thái và chức năng của mối

Mối là loài côn trùng có kích thước thân thể nhỏ, mềm, râu đầu hình chuỗi
hạt, miệng gặm nhai, bàn chân có 4 đốt, lông đuôi ngắn, mối có cánh hoặc không
có cánh.
Trong tổ mối trưởng thành của các loài mối điển hình bao gồm các thành
phần: Mối chúa; mối cánh; mối lính; mối thợ. Mỗi thành phần lại có các đặc
điểm hình thái và đảm nhiệm chức năng khác nhau.
• Mối vua, mối chúa

Hình 2.2. Mối chúa

Mỗi đàn có 1 hoặc vài mối vua và 1 mối chúa, chúng có đặc điểm là đầu
nhỏ, bụng to, bộ phận sinh dục phát triển. Mối chúa có thể sống 10 năm hoặc có
thể lâu hơn thế, tùy vào từng loài mối mà tuổi thọ của mối chúa khác nhau.
Những năm đầu mối chúa đẻ ít trứng, sau 4-5 năm, bộ phận sinh dục trưởng
thành, mỗi ngày có thể đẻ ra 8000-10000 quả trứng. Các nghiên cứu trong phòng
thí nghiệm cho thấy, vào mùa sinh sản, cứ khoảng 1 phút mối chúa đẻ ra một quả
trứng[10].
Mối chúa có trọng lượng lớn hơn 300 lần trọng lượng mối lao động, đảm
nhiệm chức năng sinh sản chính trong tổ. Nếu diệt mối mà không diệt được “cỗ
máy đẻ” này là chưa trừ tận “gốc”. Mối chúa và mối vua thường không ra khỏi
tổ, trừ trường hợp ngập úng, chúng có thể rời tổ chính đến tổ phụ an toàn hơn
song thường không ở ngay vị trí đang gây hại.
• Mối cánh


8

Hình 2.3. Mối cánh

Trong tổ mối trưởng thành, bao giờ cũng có thành phần mối cánh chúng

chiếm số lương ít (chiếm khoảng 5%). Mối cánh là do mối non trải qua một số
lần lột xác mà thành. Chúng cũng đi kiếm ăn như mối lao động. Hàng năm khi
vào cuối mùa xuân khi áp suất không khí thích hợp, nhất là vào trước các cơn
mưa giông hoặc lúc hoàng hôn; thời điểm này giảm bớt các thiên địch như chim,
cóc…. Chúng bay ra khỏi tổ và hướng tới những nơi có ánh sáng đèn. Sau 10-15
phút bay, thì rụng cánh, một con đực tìm một con cái, cắn đuôi, con cái sẽ dẫn đi
tìm nơi cư trú, nếu thoát được các thiên địch và tìm được các vết nứt do lún hoặc
một điểm thích hợp chúng sẽ tạo ra một tổ mới.
Như vậy phải tiêu diệt được mối cánh trước khi chúng giao hoan hoặc loại
bỏ được những điểm mà mối cánh có thể chui xuống làm tổ thì mới có thể phòng
được mối lâu dài.
• Mối lính

Hình 2.4. Mối lính.

Mối lính phân hóa từ mối thợ. Mối lính có bộ phận đầu và hai hàm răng
phát triển. Đầu có màu nâu hồng, có hạch độc, mỗi khi chiến đấu tiết ra chất sữa
mầu trắng có tính axít. Chức năng của mối lính là canh phòng, báo động, trinh
sát hộ vệ mối lao động đi kiếm ăn.Khi gặp những tiếng động bất thường như có


9

tiếng động mạnh, sự thay đổi cường độ ánh sáng, mùi lạ hoặc đường mui bị phá
vỡ mối lính xông ra nơi có sự cố đồng thời báo độngcho quần thể . Mộtcon báo
động, những con khác truyền tiếp, tạo ra những tiếng “rào rào”, tai ta có thể nghe
được. Đặc điểm này được lợi dụng để phát hiện mối đang hoạt động.


10


• Mối thợ

Hình 2.5. Mối thợ

Mối thợ hay còn gọi là mối lao động cũng từ mối non trải qua 5 đến 7 lần
lột xác mà thành. Mối thợ có màu trắng sữa đồng đều từ đầu đến bụng. Chúng là
thành phần quan trọng trong tổ, chiếm tới trên 80% tổng số cá thể, đảm nhiệm
hầu hết các công việc của tổ như: kiếm thức ăn, xây dựng tổ nuôi mối chúa, mối
non, mối lính bằng thức ăn đã được chế biến qua đường ruột . Mối thợ cũng
tham gia chiến đấu, khi mối ở tổ khác xâm lấn hoặc tổ bị tấn công. Do các đặc
điểm trên, đặc biệt là đặc điểm giao lưu từ trong tổ với bên ngoài nên thành phần
này được lợi dụng để tiêu diệt hệ thống tổ một cách giám tiếp như đầu độc hoặc
gây bệnh lây nhiễm.
2.1.4 Sự chia đàn và hình thành tổ mối

Hình 2.6. Sự phân đàn của mối


11

Sự phân chia đàn và hình thành tổ mới của mối có thể xảy ra hai tình huống.
• Tình huống thứ nhất
Mối cánh bay ra khỏi tổ để đi tìm một lãnh địa mới. Hàng năm cứ vào
mùa mưa (lúc giao thời hoặc chiều tối) ta thấy mối cánh ở đâu đó bay ra hàng
đàn với số lượng rất lớn, chúng tìm những chỗ có ánh sáng bay lượn cho đền khi
rụng cánh. Sau 10-15 phút bay, thì rụng cánh, một con đực tìm một con cái, cắn
đuôi, con cái sẽ dẫn đi tìm nơi cư trú, nếu thoát được các thiên địch và tìm được
các vết nứt do lún hoặc một điểm thích hợp chúng sẽ tạo ra một tổ mới. Mối cái
bắt đầu đẻ một số ít trứng sau đó trứng nở thành mối con (mối thợ, mối lính, mối

dự bị, mối cánh) và từ đó trật tự trong tổ mối được hình thành. Mối cái sau này
trở thành mối chúa và mối đực trở thành mối vua. Ở giai đoạn ban đầu chúng
phải chăm sóc và lo cho lũ con ăn, nhưng sau đó một thời gian công việc này sẽ
do mối thợ hoặc mối non lớn đảm nhiệm, một đôi mối rụng cánh lập tổ, mới đầu
chỉ đẻ 10-20 trứng/ngày, nhưng vài năm sau con số này có thể là 1000 trứng
/ngày hoặc hơn thế[8].
• Tình huống thứ 2
Trong quá trình sinh sống , mối thường có xây sẵn một số tổ phụ. Khi mà
tổ mối đủ lớn, số thành viên đông quá thì trong số các thành viên đó có mội hậu
bị cùng một số mối lính và mối thợ phát triển một trong các tổ phụ để thành tổ
chính, mối hậu bị lúc này trở thành mối vua và mối chúa (tổ có mối vua va mối
chúa nằm trong đó). Hoặc tại các tổ phụ nơi mối thợ đưa trứng vào chăm sóc,
một vài trứng được mối chúa ấn định làm mối vua va mối chúa mới. tình huống
này loài mối gỗ ẩm thực hiện nhiều nhất, vì thế tốc độ phát tán của loài mối gỗ
ẩm rất lớn.
2.1.5. Cách thức xâm nhập của mối vào công trình
Qua thực tiễn thi công, kết hợp việc nghiên cứu các tư liệu trong và ngoài
nước và những chuyến đi thực tập cùng các chuyên gia nước ngoài. Ta nhận thấy
mối thường xâm nhập vào các công trình theo ba cách cơ bản sau:
1.Xâm nhập từ dưới đất lên và từ các vùng lân cận vào công trình: Đây là cách
xâm nhập phổ biến nhất và hay gặp nhất. Theo cách xâm nhập này, mối sẽ từ các
tổ mối có sẵn dưới nền công trình hoặc từ các khu vực xung quanh xâm nhập


12

vào công trình thông qua các hệ thống đường đất liên tục nối từ tổ mối đến nơi
có nguồn thức ăn.
2.Xâm nhập bằng “đường không”: Tức là khi mối trưởng thành (khoảng 3 – 4
năm tuổi), chúng mọc cánh và bay ra ngoài tổ (còn gọi là hiện tượng vũ hóa –

thường xuất hiện khi trời sắp mưa hoặc giông). Sau khi rụng cánh, một trong số
cặp mối đó sẽ kết thành đôi với nhau và chui vào những nơi kín đáo như khuôn,
khe cửa, khu vực ẩm thấp… ở trên các tầng để thiết lập tổ mối mới.
3.Xâm nhập qua đường lây nhiễm: tức là mối xâm nhập vào các công trình qua
việc vận chuyển các đồ dùng đã bị nhiễm mối như: bàn, ghế, giờng, tủ, khung
cửa.. từ nơi này đến nơi khác của con người.
Cần đặc biệt lưu ý là loại mối nhà đục được vữa xây tường thông thường,
trừ bêtông mác cao (>80) vì vậy mối có thể lên được tất cả các tầng cao.
Mối thường lợi dụng các đường ống cấp thoát nước đặt ở trong tường,
đường dây điện ngầm, mạch phòng lún…để lên các tầng cao. Chỉ khi gặp các
chướng ngại vật chúng mới đục tường.
Mối còn có khả năng bắc cầu bằng cách đắp các đường ống, từ mặt đất
nền đắp các trụ cao 10-15cm, từ vách ra 4-6 cm, từ trần đắp nhũ xuống 60-80cm.
Cách kê xếp hàng hoá nên chú ý đặc điểm này.
2.1.6. Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến mối
Các yếu tố sinh thái ảnh hưởng tới mối bao gồm các yếu tố như: nhiệt độ,
độ ẩm, lượng mưa, ánh sáng và gió, thổ nhưỡng (đất), thức ăn (thực vật), thiên
địch.
• Nhiệt độ
Sự trao đổi nhiệt độ được coi là quá trình năng lượng chủ yếu và trước
tiên trong quan hệ giữa cơ thể và môi trường. Vì vậy mối là động vật có thân
nhiệt không ổn định nên mọi thay đổi của nhiệt độ môi trường sống dù cao hay
thấp cũng đều làm cho nhiệt độ cơ thể mối biến đổi. nhiệt độ thích hợp cho loài
mối hoạt động là từ 20 - 30⁰C. Khi nhiệt độ môi trường quá cao (>35⁰C) hoặc
quá thấp (<10⁰C) thì hoạt động của mối giảm dần và rơi vào trạng thái choáng
váng rồi hôn mê vì nóng hoặc lạnh nếu nhiệt độ tiếp tục giảm hoặc tăng thì mối
sẽ chết[8],[13].
• Độ ẩm và lượng mưa



13

Trong cơ thể mối chứa một lượng nước rất lớn. thiếu nước mối không thể
sống được vì tất cả các quá trình trao đổi chất, dinh dưỡng, hô hấp, bài tiết của
mối đều cần có sự tham gia của nước. Mối thường ưa song ở những nơi ẩm ướt,
độ ẩm thích hợp nhất cho mối hoạt động là 80 – 90%. Nếu độ ẩm quá cao hay
quá thấp thì mối sẽ chết[8],[13].
Ngoài ra độ ẩm còn gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của đàn mối vì
độ ẩm ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của thực vật nguồn ăn chính của
mối. Đối với mối cánh thì trời mưa chính là cơ hội để chúng bay ra ngoài để kết
đôi xây dựng tổ mới vì khi đó các thiên địch ít hoạt động. Nếu trời mưa to thì sẽ
gây ngập lụt và phá hoại tổ mối.
• Ánh sáng
Trong ánh sáng thì bức xạ mặt trời là một trong những nguyên nhân chủ
yếu sinh ra nhiệt trong khí quyển, sinh quyển, thạch quyển và quá trình sinh lý
hóa xảy ra trong cơ thể mối. Ngoài ra ánh sáng còn ảnh hưởng đến nhiều yếu tố
khác như: Nhiệt độ, độ ẩm, sự phân bố của thảm thực vật,… gây ảnh hưởng giàn
tiếp tới mối. Mối rất mẫn cảm với ánh sáng, chúng là loại côn trùng ưa sống ở
những nơi có cường độ ánh sáng yếu. Mối cánh vào ban đêm thường bay đến
những nơi có ánh sáng bong điện để kết đôi xây dựng tổ mới.
• Gió
Gió ảnh hưởng gián tiếp đến mối thông qua làm thay đổi nhiệt độ, ẩm độ
của không khí và đất.
Ngoài ra đối với các loài mối làm tổ trong thân cây gỗ khô thì gió to rất có
thể làm đổ cây phá hoại tổ mối.
• Đất
Đất là hoàn cảnh sống trực tiếp của mối và hầu như suốt đời không ra
khỏi đất, chỉ có mối cánh bay ra khỏi tổ để kết đôi. Đất ảnh hưởng đến mối
thông qua các yếu tố sau: độ ẩm của đất (ảnh hưởng khả năng hoạt động của
mối, đến kết cấu tổ mối, độ sâu tổ mối…), nhiệt độ của đất (ảnh hưởng trực tiếp

đến khả năng hoạt động của mối, ảnh hưởng gián tiếp đên mối thông qua làm
biến đổi thành phần cơ giới đất, độ ẩm đất, thự vật che phủ…), lớp thảm mục
rừng (nguồn thức ăn chính là nơi cư trú của mối và ảnh hưởng gián tiếp đến mối


14

thông qua làm thay đổi nhiệt độ và độ ẩm đât), tính chất lý hóa của đất (môi
trường sống ở nơi có đất thịt trung bình và độ pH trung bình).
• Thức ăn
Thức ăn được coi là nhân tố sinh thái quan trọng nhất trong các yếu tố
sinh học, thức ăn cần cho mối phát triển, bù đắp năng lượng mất đi trong hoạt
động sống hàng ngày và hình thành các sản phẩm sinh dục sau này.
Mối chỉ ăn thức ăn có nguồn gốc xenlulo mà xenlulo chủ yếu tồn tại trong
thực vật và các sản phẩm làm từ thực vật vì vậy sự phân bố của thực vật ảnh
hưởng lớn đến sự phân bố và phát triển của mối.
• Thiên địch
Các thiên địch của mối chủ yếu như: chim, thú ăn mối, kiến, chuồn chuồn,
bọ ngựa, nấm, vi khuân,… chúng gây hại trực tiếp đến mối nên làm ảnh hưởng
đến sự sinh tồn, phát triển và phân bố của mối.
Ví dụ: mối cánh bay ra khỏi tổ thường gặp các thiên địch ăn thịt như:
chim, chuồn chuồn, bọ ngựa,… nếu sống sót được thì chúng sẽ xây dựng phát
triển thành tổ mới.
Mối thường tìm những nơi an toàn ít thiên địch nhất để làm tổ.
Ví dụ: mối thường làm tổ cách xa tổ kiến và thường đào sâu vào lòng đất.
2.2. Tình hình mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam
Mối là nhóm côn trùng có “tính xã hội” cao.Mối là côn trùng nguyên thuỷ
thuộc bộ cánh đều (Isoptera), có họ hàng gần gũi với dán, niên đại tồn tại của
mối có đến 200 triệu năm (Zalessky 1973). Một số hóa thạch có từ kỷ Oligocen,
Eocen, Mioxen, có những hóa thạch phát hiện từ kỷ phấn trắng Kỷ Creta

(Cretaceous). Mối có nhiều loài khác nhau, ước tính trên thế giới có 2700 loài
mối, mối được coi là kẻ thù lớn nhất của tài liệu lưu trữ. Hàng năm mối gây ra
thiệt hại rất lớn trên thế giới cũng như tại Việt Nam đặc biệt là đối với tài liệu
lưu trữ quý hiếm, các thư tịch cổ, mộc bản, các hiện vật bảo tàng có giá trị đặc
biệt khi bị mối phá hại thì không thể tính được giá trị tổn thất. Do thói quen ăn
gỗ, nhiều loài mối có thể làm thiệt hại lớn cho các công trình xây dựng bằng gỗ,
với đặc tính sống kín đáo nên thường che dấu sự xuất hiện của chúng bằng cách
đắp các đường mui kín trong quá trình di thực để không bị phát hiện. Thông
thường chỉ phát hiện ra mối khi vật liệu bị xâm hại và làm thay đổi bề mặt vật.


15

Một khi mối đã đột nhập môt tòa nhà, trong quá trình di thực chúng gây thiệt hại
gỗ, giấy, sách, vải, thảm và vật liệu xelulo khác. Các hạt được lấy từ nhựa mềm,
thạch cao, cao su và sealants như cao su silicone và acrylics thường được sử
dụng trong xây dựng.
Ở nước ta, hiện đã phát hiện 106 loài mối. Trong đó có một số nhóm loài
gây hại thường gặp là các giống: Coptotermes, Odototermes, Macrotermes,
Microtermes, Hypotermes, Cryptotermes[27]. Mối phá hoại các công trình xây
dựng, kho tàng, khu di tích, đê điều, cây trồng,… hiện nay là rất nghiêm trọng.
Tác hại của chúng đối với các đối tượng kinh tế chủ yếu là:
- Phá hủy các đồ vật và các cấu kiện gỗ trong công trình.
- Phá hủy hệ thống cáp điện ngầm và các thiết bị điện tử.
- Gây sụt lún cho nền móng công trình, tiêu hủy các tài liệu, sách vở,
cattong, các vật liệu có nguồn gốc từ xenlulo.
- Mối gây gãy, đổ, chết cây trồng.
Dù chưa có số liệu thống kê chính thức nào, nhưng thiệt hại hàng năm do
mối mọt gây ra không phải là nhỏ.Mối không những xâm nhập vào nhà tranh,
vách nứa, mà còn xâm nhập vào những nhà xây dựng kiên cố, bê tông cốt thép;

thâm nhập đường hầm cáp, nhà xưởng, nhà kho, thuỷ điện, gây chập mạch điện,
ảnh hưởng các công trình kỹ thuật. Để khắc phục hậu quả, mỗi công trình phải
cần kinh phí hàng chục triệu đồng để sữa chửa. Đặc biệt là các vật tư, nguyên
liệu quí hiếm, các lưu trữ, các thư tịch cổ, các hiện vật bảo tồn, bảo tàng, giá trị
không thể tính bằng tiền bạc. Nhiều công trình, mối đã xuất hiện ở các tầng cao
nhất như: Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em, tám tầng; Khách sạn Hà Nội 11 tầng,
Bệnh viện nhi Thuỵ Điển 7 tầng, các Thư Viện, các đình chùa di tích văn hoá.
nhiều gia đình ở tầng 4, tầng 5 đã bị mối gây hại sách vở, quần áo, chăn bông…
Những năm gần đây, các quốc gia trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã
phải bỏ ra một khoản tiền khổng lồ cho việc phòng trừ, bảo quản và giữ gìn tài
sản nhà nước, từ công trình cơ sở như trường học, bệnh viện, các khu làm
việc,… đến các công trình kiên cố to đẹp như Ngân hàng Nhà nước, Kho tiền,
Văn phòng Tỉnh ủy, phòng lưu trữ hồ sơ UBND tỉnh, phòng lưu trữ hồ sơ Sở
Công an, các trạm viba thông tin liên lạc,… đã bị mối mọt tấn công. Đó là chưa
kể các tổn thất do mối mọt ở nhà và các công trình khác của nhân dân.


16

Ví dụ như: Mối đã ăn hết 156 sổ đỏ trong tủ đựng hồ sơ của xã Ea Huar,
huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk).
2.3. Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam
2.3.1. Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới
Trên thế giới việc nghiên cứu về bộ cánh đều đã được tiến hành từ rất lâu.
Smaethman, 1781 công bố nghiên cứu phân loại mối. Linnacus vào năm
1785 đã sắp xếp mối vào lớp phụ không cánh (Apterygota) thuộc giống termes.
Holmgreen (1911,1912) người đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và đặt nền móng
cho phân loại họ mối. Trên cơ sở này các nhà phân loại học như: Liglit (1921),
Grasse (1949),… đã hiệu đích và xác lập bộ cánh đều tương đối ổn định.
Snyder (1949) đã xuất bản cuốn sách danh mục về mối trên thế giới, ông

đã lập được một danh sách thuộc 5 họ. Ông có đưa ra những mô tả sơ bộ
về hình thái loài M.pakistanicus là cơ sở để nhận biết loài này trong tự nhiên.
Trong các công trình nghiên cứu về khu hệ mối các tác giả đã thành lậpnhiều
khoá định loại các taxon trong bộ cánh đều, như khoá định loại củaAhmad
(1955) khi nghiên cứu mối ở Thái Lan, của Roonwal (1962) khi nghiên cứu mối
ở Ấn Độ… Các khoá định loại của các tác giả đã đặt tên,vẽ và mô tả chi tiết đặc
điểm cấu tạo hình thái đầu, hàm, môi, râu và cáctấm lưng ngực của mối lính lớn
của loài Microtermes pakistanicus…nhưngcác đặc điểm về cấu trúc tổ, đặc điểm
phân bố và phân hoá các đẳng cấpcủa loài lúc đó chưa có tác giả nào đề cập
tới[26].
Đến năm 1965, Ahmad bổ sung thêm vào khoá định loại năm 1955của
mình các đặc điểm sinh học, sinh thái của loài M. pakistanicus,gópphần rất lớn
trong việc phát hiện và phòng trừ loại mối gây hại này.
Những tu chỉnh bổ sung về thành phần loài mối và những đềxuất cải tiến
về thành lập họ, giống mới vẫn được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.Trước
đòi hỏi phải thống nhất cách đo đạc để phân loại, Roonwal đã đưa ra bản thống
nhất cách đo đạc mối vào năm 1969. Hầu như tất cả các khoá định loại hiện nay
nói chung, đối với loài mối M. pakistanicus nói riêng đều dựa trên cơ sở so sánh
về hình thái ngoài của mối. Tuy nhiên sựkhác biệt về hình thái giữa các loài
nhiều khi không rõ ràng dẫn đến sự nhầm lẫn khi phân loại. Oshima (1914),
Light (1921), Kemner (1930, 1933,1934) nhầm lẫn loài M. Pakistanicus ở các


×