Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

bản sắc văn hóa của Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (218.67 KB, 30 trang )

Câu 1: Tục thờ cũng tổ tiên của người việt
1.nguồn gốc:
Cơ sở quan trọng đầu tiên cho việc hình thành bất cứ tôn giáo tín
ngưỡng nào cũng là quan niệm tâm linh của con người về thế giới. Cũng
như nhiều dân tộc khác, người Việt xuất phát từ nhận thức “vạn vật hữu
linh” - mọi vật đều có linh hồn, và bắt đầu từ giới tự nhiên xung quanh mình.
Vì thế, loại thần cổ sơ nhất được người ta sùng là các nhiên thần, đặc biệt
là thần cây, thần núi, thần sông....
Mối quan hệ giữa những người sống và những người chết cùng chung
huyết thống lại càng gắn bó hơn. Trong vòng hai, ba đời thì đó còn là
những kỷ niệm rất cụ thể và sâu sắc. Ông bà, cha mẹ dù qua đời nhưng
vẫn luôn hiện diện trong tâm tưởng của con cháu, và con cháu luôn cảm
thấy trách nhiệm cả về vật chất lẫn tinh thần đối với họ. Niềm tin vào cái
chết chẳng qua là một cuộc trở về gặp tổ tiên, ông bà và tổ tiên có thể sẽ
dõi theo, phù hộ độ trì cho con cháu, đã là cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên.






Xã hội cổ truyền của người Việt cũng có những cơ sở kinh tế nhất định cho
việc hình thành và duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Trước hết đó là nền
kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp. Đây chính là môi trường thuận lợi cho sự
xuất hiện tín ngưỡng đa thần.
Do đặc trưng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa nên Việt Nam sản xuất
lúa nước theo truyền thống tiểu canh kết hợp với nuôi gia súc. Vì vậy sản
xuất không đòi hỏi tập trung nhân công theo quy mô lớn như ở nơi sản xuất
lúa mỳ khô, công cụ xản xuất cũng nhỏ, gọn, nhẹ, mọi thành viên trong gia
đình từ phụ nữ, trẻ em đều sử dụng dễ dàng. Kết hợp tất yếu của quy trình


này khiến người Việt gắn bó với gia đình, thường là gia đình hạt nhân chặt
hơn với dòng họ. Hầu như gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên (dù thờ
chính hay thờ vọng) nhưng không phải dòng họ nào cũng có từ đường.
Hình thức tổ chức xã hội cũng là một yếu tố quan trọng cho việc hình thành
tín ngưỡng. Ở giai đoạn thị tộc phụ quyền, người đàn ông bắt đầu nắm giữ
quyền hành quản lý gia đình do họ đã có vai trò quan trọng trong hoạt động
kinh tế, vợ và con cái họ tuyệt đối phục tùng và tôn trọng cái uy quyền đã
được xác lập ấy, không chỉ khi họ còn sống mà cả khi họ đã qua đời.
1


Những đứa con mang họ cha đã kế tiếp ý thức về uy quyền, và phải chăng
các nghi thức ma chay, cúng tế tổ tiên cũng chính là “hình thức phản ánh
hoang đường quyền hành gia trưởng trong một gia đình”.

+ Thờ cúng tổ tiên và cúng giỗ người đã mất là một tục lệ lâu đời của người Việt và
số dân tộc khác. Họ tin rằng linh hồn của tổ tiên cũng ở bên cạnh con cháu và phù hộ
họ. Chính vì như vậy nên gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên và bàn thờ được đặt
trang trọng nhất trong nhà. Ngoài các ngày giỗ, tết thì các ngày mùng một, ngày rằm
thắp hương như một hình thức thông báo với tổ tiên ông bà. Nói đến tục thờ cúng tổ
người ta đều biết tới một ngày giỗ tổ chung cho cho người Việt đó là ngày giỗ tổ H
Vương vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch)

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở người Việt đã hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ
quan niệm tâm linh và một nền tảng kinh tế xã hội tư tưởng khá bền vững. Có thể
những yếu tố tâm linh có tính bản địa và mộc mạc đã được thể chế hóa, hợp pháp hóa
hệ tư tưởng Nho giáo và sự ủng hộ của các vương triều. Chính vì vậy, tín ngưỡng này
được bảo tồn qua suốt tiến trình lịch sử nhiều biến động.

2. Ý nghĩa:

Tín ngưỡng của tục thờ cúng tổ tiên là quan niệm về sự tồn tại của linh hồn và
liên hệ giữa người đã chết và người sống (cùng chung huyết thống) bằng con đường
về chứng kiến, theo dõi hành vi của con cháu, quở trách hoặc phù hộ cuộc sống của
Trong tín ngưỡng này đạo lý là nội dung nổi trội
+ Thờ cúng tổ tiên là tấm lòng thành kính thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, biế
tổ tiên ông bà, cha mẹ đã sinh thành và gây dựng nên cuộc sống cho cháu con. Thờ c
tổ tiên chính là toàn bộ các hình thức lễ nghi, cúng bái nhằm bày tỏ lòng tôn kính của
thế hệ sau với những người thuộc thế hệ đầu tiên của một dòng họ, với ông bà, cha mẹ
qua đời.
+Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt ra đời từ lâu, trên cơ sở niềm tin về sự bất tử
linh hồn sau khi con người đã chết; tin rằng con người ta chết đi về thǎm nom, phù hộ
con cháu. Không nhất thiết phải là mâm cao cỗ đầy, chỉ cần một nén nhang lên bàn th
tiên trong ngày lễ, ngày Tết, hay ngày giỗ tổ tiên, con cháu trong gia đình cũng đã thể
được tấm lòng thành kính, hướng về cội nguồn, tưởng nhớ những người thân đã khuất
lâu, thờ cúng tổ tiên ông bà đã trở thành một phong tục, là chuẩn mực đạo đức và ngu
tắc làm người, đồng thời là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người
Nam, đặc biệt là cuộc sống ở các làng quê. Dân Việt trọng lễ nghĩa, hiếu thảo với cha
và có hiếu với ông bà tổ tiên, với nguồn gốc của mình bởi:
“ Cây có gốc mới nở ngành xanh ngọn
2


Nước có nguồn mới bể rộng nông sâu.”

Xin tổ tiên phù hộ cho gia quyến bình an, đó là tâm niệm của tất cả người Việt N
Trên thực tế, thờ cúng tổ tiên là một phong tục truyền thống của dân tộc, cho dù đó kh
phải là điều bắt buộc song đó lại là thứ "luật thành vǎn" trong đời sống tâm linh của ng
Việt tồn tại qua bao thế hệ. Trong mỗi gia đình, bàn thờ cúng tổ tiên được đặt ở vị trí tr
trọng nhất và trở thành nơi con cháu khấn vái trong những ngày tuần, ngày giỗ, ngày
hoặc khi có hiếu hỷ, việc to, việc nhỏ với mong muốn được gia tiên phù hộ. Mọi biến

trong gia đình đều được gia chủ báo cáo với gia tiên.
Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt có nguồn gốc từ nền kinh tế nông
nghiệp trong xh phụ quyền xưa. Khi nho giáo du nhập vào nước ta chữ hiếu
đc đề cao đã làm cho tục thờ cúng tổ tiên có 1 nền tảng triết lí sâu sắc.
Thế kỉ 15 nho giáo chiếm địa vị trong xh,nhà lê đã thể chế hóa việc thờ
cúng tổ tiên. Theo bộ luật hồng đức quy định việc con cháu phải thừ cúng tổ
tiên 5 đời..(cha mẹ ông bà cụ kị..) ruộng hương hỏa ruộng đèn nhang..cơ
sở kinh tế,dể duy trì thờ cúng tô tiên..dù con cháu nghèo cũng không dc
cầm bán. Đến thời nguyễn nghi lễ thờ cúng tổ tiên được ghi rõ trong sách
Thọ Mai gia thờ cúng tổ tiên là tấm lòng thành kính thể hiện uống nước nhớ
nguồn biết ơn tổ tiên ông bà cha mẹ đa sinh thành và xây dựng nên cuộc
sống cho con cháu.
Còn thời điểm nào thiêng liêng hơn khi cả nhà thành kính đứng trước bàn
thờ tổ tiên thắp những nén hương trầm ngào ngạt. Tình người nồng ấm,
tình đời rộng mở. Và, một năm mới tràn đầy hy vọng bắt đầu...

1.

Câu 2: Đặc trưng cơ bản của ẩm thực việt nam và ẩm thực việt nam
trong du lịch.
Đặc trưng cơ bản của ẩm thực VN: Trong văn hóa ẩm thực của người
Việt Nam có rất nhiều cách chế biến, biểu diễn, thể hiện khác nhau, có thể
khái quát thành 9 đặc trưng dưới đây.
Tính hòa đồng đa dạng: Người Việt dễ dàng tiếp thu văn hóa ẩm thực của
các dân tộc khác, vùng miền khác để từ đó chế biến thành của mình. Đây
cũng là điểm nổi bật của ẩm thực của nước ta từ Bắc chí Nam.

3



2. Tính ít mỡ: Các món ăn Việt Nam chủ yếu làm từ rau, quả, củ nên ít mỡ,

3.

4.

5.

6.

7.

8.

9.

không dùng nhiều thịt như các nước phương Tây, cũng không dùng nhiều
dầu mỡ như món của người Hoa.
Tính đậm đà hương vị: Khi chế biến thức ăn người Việt Nam thường dùng
nước mắm để nêm, lại kết hợp với rất nhiều gia vị khác …nên món ăn rất
đậm đà. Mỗi món khác nhau đều có nước chấm tương ứng phù hợp với
hương vị.
Tính tổng hoà nhiều chất, nhiều vị. Món ăn Việt Nam thường nhiều chất
nhiều vị kết hợp lại với nhau. Các món ăn Việt Nam thường bao gồm nhiều
lọai thực phẩm như thịt, tôm, cua cùng với các loại rau, đậu, gạo. Ngoài ra
còn có sự tổng hợp của nhiều vị như chua, cay, mặn, ngọt, bùi béo…
Tính ngon và lành: Cụm từ ngon lành đã gói ghém được tinh thần ăn của
người Việt. Ẩm thực Việt Nam là sự kết hợp giữa các món, các vị lại để tạo
nên nét đặc trưng riêng. Những thực phẩm mát như thịt vịt, ốc thường
được chế biến kèm với các gia vị ấm nóng như gừng, rau răm… Đó là cách

cân bằng âm dương rất thú vị, chỉ có người Việt Nam mới có…
Dùng đũa khi ăn là đặc trưng của người Việt và gắp sao cho khéo là một
nghệ thuật. Gắp là một nghệ thuật, gắp sao cho khéo, cho chặt đừng để rơi
thức ăn…Đôi đũa Việt có mặt trong mọi bữa cơm gia đình, ngay cả khi
quay nướng, người Việt cũng ít dùng nĩa để xiên thức ăn như người
phương Tây.
Tính cộng đồng: Tính cộng đồng thể hiện rất rõ trong ẩm thực Việt Nam,
bao giờ trong bữa cơm cũng có bát nước mắm chấm chung, hoặc múc
riêng ra từng bát nhỏ từ bát chung ấy.
Tính hiếu khách: Tính hiếu khách thể hiện bằng lời mời chào trước mỗi bữa
ăn. Trước mỗi bữa ăn người Việt thường có thói quen mời. Lời mời thể hiện
sự giao thiệp, tình cảm, hiếu khách, mối quan tâm trân trọng người khác…
Tính dọn thành mâm: Dọn nhiều món cùng lúc trong bữa ăn là nét đặc
trưng trong văn hóa ăn uống của người Việt Người Việt có thói quen dọn
sẵn thành mâm, dọn nhiều món ăn trong một bữa lên cùng một lúc chứ
không như phương Tây ăn món nào mới mang món đó ra.
Ẩm thực Việt Nam đặc trưng với sự trung dung trong cách pha trộn
nguyên liệu không quá cay, quá ngọt hay quá béo. Các nguyên liệu phụ (gia
vị) để chế biến món ăn Việt Nam vô cùng phong phú, bao gồm:
Nhiều loại rau thơm như húng thơm, tía tô, kinh giới, hành, thìa là, mùi tàu
v.v.;
Gia vị thực vật như ớt, hạt tiêu, sả, hẹ, tỏi, gừng, chanh quả hoặc lá non;

4


Gia vị lên men như mẻ, mắm tôm, bỗng rượu, dấm thanh hoặc kẹo đắng,
nước cốt dừa...
Khi thưởng thức các món ăn, tính chất phối trộn nguyên liệu một cách tổng
hợp nói trên càng trở nên rõ nét hơn: người Việt ít khi ăn món nào riêng

biệt, thưởng thức từng món, mà một bữa ăn thường là sự tổng hòa các
món ăn từ đầu đến cuối bữa. Một nét đặc biệt khác của ẩm thực Việt Nam
mà các nước khác, nhất là nước phương Tây không có chính là gia vị nước
mắm. Nước mắm được sử dụng thường xuyên trong hầu hết các món ăn
của người Việt. Ngoài ra còn có các loại nước chấm như tương bần, xì dầu
(làm từ đậu nành). Bát nước mắm dùng chung trên mâm cơm, từ xưa đến
nay làm khẩu vị đậm đà hơn, món ăn có hương vị đặc trưng hơn và biểu thị
tính cộng đồng gắn bó của người Việt.
Ẩm thực Việt Nam tuân theo hai nguyên lý là Âm dương phối triển và Ngũ
hành tương sinh.
Âm dương phối triển
Các gia vị đặc trưng của các dân tộc Đông Nam Á nhiệt đới nói trên được
sử dụng một cách tương sinh hài hòa với nhau, như món ăn dễ gây lạnh
bụng (tính hàn) buộc phải có gia vị cay nóng (tính nhiệt) đi kèm và ngược
lại. Các nguyên liệu tính nóng (ấm) phải được nấu cùng nguyên liệu tính
lạnh (mát) để tạo sự cân bằng cho món ăn.
Các món ăn kỵ nhau không thể kết hợp trong một món hay không được ăn
cùng lúc vì không ngon, hoặc có khả năng gây hại cho sức khỏe cũng được
dân gian đúc kết thành nhiều kinh nghiệm lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Ví dụ:
Thịt vịt tính "lạnh", thích hợp ăn vào mùa hè với nước mắm gừng, tính
"nóng". Mặt khác, thịt gà và thịt lợn tính "ấm" thích hợp ăn vào mùa đông
(trước đây thường chỉ khi đến Tết mới làm thịt lợn, thịt gà).Thủy sản các
loại từ "mát" đến "lạnh" rất thích hợp để sử dụng với gừng, sả, tỏi("ấm").
Thức ăn cay ("nóng") thường được cân bằng với vị chua, được coi là
("mát")
Trứng vịt lộn ("lạnh"), phải kết hợp với rau răm ("nóng").
5





Bệnh nhân cúm và cảm lạnh phải uống nước gừng, xông bằng lá sả, lá
bưởi ("nóng").
Ngũ hành tương sinh
Âm thực trong du lịch:
Trong những năm gần đây, văn hóa ẩm thực đã và đang trở thành một yếu
tố quan trọng trong phát triển du lịch. Trong bối cảnh đó, vấn đề khai thác
các giá trịcủa văn hóa ẩm thực để tổ chức xúc tiến quảng bá thu hút khách
du lịch được các cơ quan quản lý quan tâm đặc biệt.
Trong thực tế, không phải lúc nào văn hóa ẩm thực cũng được sử
dụng trong các hoạt động xúc tiến du lịch, tuy nhiên văn hóa ẩm thực có
những vai trò nhất định và góp phần tạo nên thành công cho hoạt động xúc
tiến, làm tăng hiệu quả của hoạt động này. Vai trò đó được thể hiện qua
những điểm sau:
- Văn hóa ẩm thực là một yếu tố cấu thành của hoạt động tuyên
truyền để thu hút khách du lịch.
Văn hóa ẩm thực được chắt lọc qua các món ăn, đồ uống đặc trưng
và cách thức ăn uống tiêu biểu là một yếu tố cấu thành của hoạt động xúc
tiến quảng bá du lịch, cung cấp thông tin, tạo cơ hội cho khách du lịch được
trải nghiệm những khía cạnh văn hóa truyền thống và từ đó kích thích nhu
cầu đi du lịch của khách.
- Văn hóa ẩm thực góp phần đa dạng hóa, tăng sức hấp dẫn cho
hoạt động xúc tiến du lịch.
Bên cạnh nhiều hoạt động trải nghiệm có thể được tổ chức như
tham gia làm đồ thủ công mỹ nghệ, tham gia diễn xướng các loại hình văn
hóa nghệ thuật truyền thống, một hoạt động mà khách có nhiều cơ hội trải
nghiệm, đó là tham gia chế biến và thưởng thức các món ăn truyền thống
dân tộc.
- Văn hóa ẩm thực truyền thống là một nội dung thông tin quan

trọng.

6


Hoạt động xúc tiến du lịch không chỉ là việc cung cấp thông tin đơn
thuần mà cần phải có nhiều nội dung khác nhau để tạo ra một hệ thống các
hoạt động mang tính tổng hợp tác động đến tâm lý, kích thích tính tò mò và
kích cầu khách du lịch tiềm năng.
Thông tin tuyên truyền du lịch được khách du lịch quan tâm rất đa dạng, cụ
thể là khách sạn, điểm du lịch, cảnh quan, các phương tiện vận chuyển,
điều kiện giao thông, và yếu tố ẩm thực (thể hiện qua danh mục các món
ăn). Như vậy, thông tin về vấn đề ăn uống không kém phần quan trọng vì
nhiều khách du lịch rất quan tâm đến vấn đề này.
Các hoạt động khai thác các giá trị văn hóa ẩm thực để xúc tiến quảng bá
du lịch của Du lịch Việt Nam hiện nay
- Các hoạt động tuần lễ văn hóa du lịch tại nước ngoài
Hoạt động tuần lễ văn hóa Việt Nam tại nước ngoài được tổ chức
thường xuyên trong thời gian qua. Trong nội dung, nhiều hoạt động được
triển khai như cung cấp các ấn phẩm, biểu diễn văn hóa nghệ thuật truyền
thống, chế biến và giới thiệu các món ăn của Việt Nam.
- Các hội chợ triển lãm
Tại các hội chợ triển lãm, ban tổ chức đã giới thiệu các món ăn tiêu
biểu thông qua chế biến trực tiếp và tạo cơ hội cho khách du lịch thưởng
thức. Ở đây, có khi việc xúc tiến các món ăn chỉ được thực hiện qua các ấn
phẩm bằng tranh ảnh hoặc các đoạn video clip.
- Các kênh truyền hình quốc tế
Các phim phóng sự hoặc các đoạn phim quảng cáo được ngành du
lịch đầu tư để tổ chức đưa lên các kênh truyền hình quốc tế với nội dung đề
cập đến nhiều thông tin, trong đó hình ảnh về các món ăn của Việt Nam

cũng được đăng tải.
- Mạng Internet
Các món ăn Việt Nam cũng được sử dụng để đưa lên các trang
thông tin điện tử. Tại đây, nhiều hình ảnh đẹp, hấp dẫn của các món ăn ba
miền, đồng thời hệ thống các nhà hàng cũng được đăng tải để phục vụ nhu
cầu thông tin về ăn uống cho khách du lịch.
Tuy món ăn Việt được ưa chuộng, nhưng ngành du lịch chưa khai
thác hết nét đặc sắc của văn hóa ẩm thực Việt Nam vào hoạt động du lịch
nhằm thu hút khách như ngành du lịch của một số quốc gia đã làm. Thực tế
7


cho thấy, hoạt động khai thác các món ăn tiêu biểu để thu hút khách du lịch
quốc tế nói chung và khách Tây Âu nói riêng chưa được tiến hành một cách
có hệ thống. Tính chưa hệ thống thể hiện ở việc ngành du lịch chưa có chủ
trương cụ thể, chính sách và những chương trình hành động cụ thể như
Thái Lan, Trung Quốc và Nhật Bản đã làm.
Câu 3: Nghệ thuật diễn sướng:
Một trong những hoạt động văn hóa nghệ thuật thu hút đông đảo khách trảy
hội theo dõi đó là các hoạt động diễn xướng dân gian. Các đoàn nghệ thuật
đã mang đến cho công chúng những món ăn tinh thần đặc sắc, mang đặc
trưng vùng miền, tạo nên ngày hội văn hóa sôi nổi và đa dạng...
Diễn xướng dân gian là sinh hoạt văn nghệ của người dân sáng tạo ra
trong quá trình lao động, tiếp xúc với thiên nhiên. Bằng lối: nói, kể, ví, vè,
hát, hò, trò, múa, ca, vũ, lễ, nhạc, họa... họ thể hiện tất cả những tâm trạng
trong lúc vui, lúc buồn của cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Diễn xướng dân
gian đã thể hiện rất phong phú và đa dạng cuộc sống của người dân...
Mỗi vùng miền với những bản sắc riêng đã mang đến cho ngày hội văn hóa
các dân tộc vùng Đông Bắc một ý nghĩa hết sức đặc biệt, là ngày hội khởi
đầu cho những hoạt động văn hóa hướng tới Kỷ niệm 1.000 năm Thăng

Long - Hà Nội..
Các loại hình nghệ thuật:


Miền Bắc:
Múa rối nước: Trong kho tàng nghệ thuật dân gian Việt Nam, múa rối
nước là một trong những loại hình độc đáo nhất. Với sân khấu là mặt nước,
diễn viên là các con rối, cộng với hiệu quả của ánh sáng và pháo hoa đã
tạo ra những màn biểu diễn hấp dẫn và huyền ảo.
Theo sử liệu cũ, múa rối nước ở nước ta có từ lâu đời. Nghệ thuật múa rối
nước là sản phẩm đặc sắc của vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam với
nền văn minh lúa nước. Mỗi phường múa rối nước đều có những đặc điểm,
thế mạnh riêng, nhưng nhìn chung, các tích trò đều gắn với truyền thuyết
lâu đời từ thời dựng nước, phản ánh sinh hoạt và lao động của người nông
8


dân trên đồng ruộng với bao lo toan vất vả trước thiên tai, địch hoạ nhưng
vẫn lạc quan, yêu đời. Thông điệp mà múa rối nước truyền tải đến người
xem là sống vui, vui sống. Điều độc đáo của múa rối nước là sự kết hợp
tổng hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật tạo con rối, nghệ thuật biểu diễn
dân gian với kỹ thuật lắp máy, lắp dây điều khiển con rối và nghệ nhân biểu
diễn. Chính vì thế, múa rối nước tạo ra những giây phút được sống vui, vui
sống một cách thần tình, kỳ ảo, như thật, đem đến cho người xem niềm vui
dân dã, hồn nhiên, sảng khoái.
Múa rối nước cũng như các loại hình nghệ thuật dân gian khác không phải
tất cả đều sinh ra từ Thăng Long - Hà Nội, nhưng khi được trình diến ở đất
Kinh kỳ - nơi hội tụ, kết tinh, toả sáng và phát triển các giá trị văn hoá dân
tộc - bộ môn nghệ thuật đó dần được nâng cao cả về nội dung và hình
thức. Các tích trò Thăng Long - Hà Nội đều tập trung phản ánh tư tưởng

tình cảm, không khí lao động của người dân, gắn chặt với hội làng và địa
linh nhân kiệt đất Thăng Long…Chất bác học hoà quyện với chất dân gian
làm cho nghệ thuật Thăng Long - Hà Nội có nhựa sống dồi dào, khắc phục
những thô sơ, thô thiển của buổi sơ khai để vươn tới hoàn thiện.
Dân ca Quan họ Bắc Ninh :có sức lan toả và thu hút sự mến mộ của
không những người trong nước mà cả bạn bè, du khách quốc tế. Chính vì
vậy, ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại thủ đô Các tiểu vương quốc Ả rập thống
nhất, UNESCO đã công nhận Dân ca Quan họ Bắc Ninh là “Di sản văn hoá
phi vật thể đại diện của nhân loại”. Đó là niềm vinh dự và tự hào vô hạn của
nhân dân vùng Quan họ, tỉnh Bắc Ninh và cả nước, đồng thời cũng là trách
nhiệm lớn lao trong việc bảo tồn, phát triển loại hình dân ca - sản phẩm tinh
thần quý báu này. Quan họ Bắc Ninh là sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân
gian có từ lâu đời của nhân dân các làng quê Bắc Ninh. Nhưng không phải
vùng nào, làng quê nào cũng có sinh hoạt văn hóa Quan họ, mà sinh hoạt
văn hóa nghệ thuật dân gian này chỉ xảy ra và tồn tại ở một số địa vực nhất
định của tỉnh Bắc Ninh xưa kia. Đó là vùng hợp lưu của ba dòng sông cổ:
sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê và sông Tiêu Tương với trung tâm là thành
phố Bắc Ninh ngày nay - nơi có 31/49 làng Quan họ gốc. Các làng quan họ
gốc của thành phố Bắc Ninh tập trung tại một số xã, phường như: xã Hoà
Long có 6 làng, phường Vạn An có 3 làng, xã Khúc Xuyên có 2 làng, xã
Phong Khê có 3 làng, phường Võ Cường có 4 làng, phường Kinh Bắc có 4
9


làng, phường Vũ Ninh có 3 làng, xã Khắc Niệm có 3 làng, phường Ninh Xá,
phường Vệ An và phường Thị Cầu có 1 làng.
Khi nhắc đến Quan họ chúng ta không thể không nhắc đến các
nghệ nhân Quan họ, đó là những người đã đưa quan họ đến được với mọi
người và cũng chính các nghệ nhân Quan họ là người đã làm cho quan họ
tồn tại và phát triển đến ngày nay. Họ không chỉ hát để phục vụ nhu cầu của

chính bản thân họ đó là niềm đam mê Quan họ mà họ còn giúp bảo tồn
Quan họ bằng việc cung cấp tư liệu cho những nhà nghiên cứu, nhà quản
lý cũng như việc truyền dạy Quan họ cho các thế hệ sau. Thành phố Bắc
Ninh là đơn vị có nhiều làng Quan họ gốc nên số lượng các nghệ nhân
Quan họ cũng rất đông. Để ghi nhận được công lao đóng góp to lớn của
các nghệ nhân, Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch Bắc Ninh đã ra quy chế và
quyết định công nhận danh hiệu nghệ nhân Quan họ. Hiện nay trên địa bàn
toàn tỉnh có 41 nghệ nhân, trong đó thành phố Bắc Ninh có 32 nghệ nhân.


Miền Trung:
Nhã nhạc cung đình huế: Nhã nhạc là một thuật ngữ liên quan đến âm
nhạc cung đình có mặt tại 4 nước đồng văn: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều
Tiên và Việt Nam. Nhã nhạc là nhạc chính thống của triều đình được dùng
ở các cuộc lễ tế Giao, tế Miếu và trong các dịp triều hội; là sản phẩm kết
hợp giữa Lễ và Nhạc. Nhã nhạc cung đình Việt Nam hay còn gọi là Nhã
nhạc cung đình Huế hoặc Nhã nhạc Huế (vì Huế là kinh đô cuối cùng của
triều đại phong kiến Việt Nam) là một loại hình nghệ thuật đặc sắc. Trước
đó quần thể di tích cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn
hóa vật thể của nhân loại. Với sự công nhận Nhã nhạc cung đình Huế là di
sản phi vật thể, một lần nữa Huế lại được tôn vinh, giới thiệu cho thế giới
một nghệ thuật đặc sắc mà chỉ một số ít quốc gia có được và giữ gìn đến
ngày nay.
Nhã nhạc cung đình Huế đã được công nhận là di sản phi vật thể của nhân
loại, nhưng công cuộc nghiên cứu vẫn còn tiếp tục. Ví dụ như mối quan hệ
giữa Nhã nhạc cung đình Việt Nam với Nhã nhạc một số nước trong khu
vực; nghiên cứu để có thể đưa trống đồng và đàn đá là hai loại nhạc khí rất
đặc trưng của dân tộc vào “biên chế” của dàn nhạc Nhã nhạc; vấn đề trang
10



phục nhạc công.v..v.. Rồi ý tưởng phải tiến tới xây dựng được một bảo tàng
về Nhã nhạc. Cái khó hiện nay, ngoài kinh phí đã đành, còn có cái khó
chung là tư liệu về Nhã nhạc ít ỏi, tản mãn; một số nghệ nhân, nghệ sỹ cao
tuổi ít nhiều lưu giữ được di sản phi vật thể này “khuất núi” dần. Mặt khác
quan niệm về Nhã nhạc, cũng như phương pháp bảo tồn, phát huy Nhã
nhạc vẫn còn có những ý kiến khác nhau. Giải bài toán về mối quan hệ
giữa “bảo tồn” và “phát triển” đòi hỏi có sự cẩn trọng và chuyên môn sâu...

Nhã nhạc cung đình Huế là một trong những tài sản vô giá của dân tộc ta.
Giá trị ấy đã trường tồn cùng dân tộc và đã được nhân loại tôn vinh. Việc
bảo tồn phát huy nó trong xã hội đương đại là công việc rất nặng nề nhưng
bước đầu đã thu được những thành quả rất đáng phấn khởi.
Hát tuồng:
Hát Tuồng xuất phát trên cơ sở tế lễ, tụng niệm trong nhà chùa, trong lối kể
chuyện, hát xướng dân gian; được viết theo các thể thơ lục bát, tứ tuyệt,
song thất lục bát....Hát Tuồng có một hệ thống nhịp điệu từ nói thường
chuyển sang nói lối. Nói lối Tuồng viết theo văn biền ngẫu từ 4 đến 8 từ. Có
nhiều kiểu nói lối khác nhau: nói lối thường, bóp, ai, xuân, đạp, xuân
nữ...Mỗi loại nói lối có cách ngắt chữ, nhả chữ khác nhau, tuỳ theo tính
cách nhân vật và hoàn cảnh quy định để vận dụng cho phù hợp. Nói lối
Tuồng được quy định vế trống, vế mái. Câu đầu là vế trống, câu thứ hai là
câu mái. Câu trống thường ở vần trắc, nói cao giọng. Câu mái vần bằng,
nói hạ giọng.
Bài bản Tuồng hát theo nhịp, phách, gồm các bài khách, tẩu, nhịp 3, nhịp
tư, nhịp bủa, nhịp 1, cạo đầu...
Làn điệu Tuồng hát co dãn tuỳ theo tình cảm của nhân vật, có nhạc nền
đệm hoà theo. Giáo sư Hoàng Châu Ký nói: Làn là hơi hát theo một giai
điệu đã được quy định. Làn điệu Tuồng có nhiều, nhưng có một số làn điệu
thường được dùng là: Nam, thán, oán, ngâm, vịnh, xướng...Trong mỗi làn

điệu đó lại chia ra nhiều loại khác nhau. Thí dụ hát nam được chia ra hát
nam ai, nam xuân, nam bình, nam khong, nam dựng....
11


Nói lối, bài bản, làn điệu là một thủ pháp " đài từ" riêng của sân khấu Tuồng.
Mỗi một loại nói lối, bài bản, làn điệu đều được vận dụng vào từng tính
cách, tâm trạng, hoàn cảnh quy định cụ thể cho từng nhân vật.
Múa và hát Tuồng là hai phương tiện quan trọng nhất để người diễn viên
Tuồng xây dựng hình tượng nhân vật. Người diễn viên Tuồng sử dụng
múa, hát để lột tả tâm trạng, tính cách của nhân vật; mặt khác, tính cách,
tâm trạng nhân vật tác động lại quy định cho nhân vật những vũ đạo, bài
bản, làn điệu có màu sắc riêng biệt. Các vũ đạo, nói lối, bài bản, làn điệu
gắn bó với nhau hết sức hữu cơ, nếu tước bỏ nó sẽ không còn là nghệ
thuật Tuồng.


Miền nam:
Cải lương: Không chỉ tồn tại và lưu giữ bằng hình thức "cha truyền, con
nối" từ thế hệ này sang thế hệ khác, với nhiều thử thách của thời gian, cải
lương đã trở thành một trong những bộ môn nghệ thuật không thể thiếu
trong đời sống văn hóa của người Việt Nam, nhất là người dân Nam Bộ.
Trên thực tế, cải lương mỗi ngày một phát triển không chỉ ở Việt Nam mà
đã vượt biên giới đến với bè bạn Pháp và nhiều nơi trên thế giới.
cải lương là một loại hình nghệ thuật thú vị, sinh ra từ làng xã Việt Nam,
phản ánh nền văn minh lịch sử của Việt Nam qua nhiều giai đoạn, cần
được bảo tồn, lưu giữ và phát huy.
Đờn ca tài tử Nam bộ là một dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã hình
thành và phát triển từ cuối thế kỉ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung
đình Huế và văn học dân gian. Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân

gian đặc trưng của vùng Nam Bộ. Đờn ca tài tử là nghệ thuật của đàn và
ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca
sau những giờ lao động. Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại
hình diễn tấu có ban nhạc gồm 4 loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn
bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền
cầm bằng cây guitar phím lõm. Những người tham gia đờn ca tài tử phần
nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau. Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú
vui tao nhã nên thường không câu lệ về trang phục.

12


Câu 4: Tín ngưỡng phồn thực.
Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên tương
đối phong phú, đa dạng. Thời xa xưa, người Việt sống chủ yếu dựa vào
việc khai thác tự nhiên. Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên
thần) đã sớm gần gũi với họ. Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba đường nơi
giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh. Hai yếu tố đó làm
cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng.
Phân loại tín ngưỡng Việt Nam gồm:Tín ngưỡng phồn thực; Tín ngưỡng
sùng bái tự nhiên; Tín ngưỡng sùng bái con người; Tín ngưỡng sùng bái
Thần linh.
Thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinh sống bằng
nghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt và con người được sinh sôi nảy
nở. Những trí tuệ sắc sảo thì tìm các quy luật khoa học để lý giải hiện thực
và họ xây dựng nên triết lý âm dương, còn những trí tuệ bình dân thì nhìn
thấy ở thực tiễn đó một sức mạnh siêu nhiên, bởi vậy mà họ sùng bái nó
như thần thánh và xây dựng nên tín ngưỡng phồn thực (phồn: nhiều, thực:
nảy nở). Tín ngưỡng phồn thực từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử, được thể
hiện ở hai dạng: thờ cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ và thờ hành vi

giao phối. Tín ngưỡng phồn thực là một hiện tượng tôn giáo tồn tại lâu đời
trong lịch sử Việt nam và trên thế giới với ý niệm sùng bái tự nhiên, ước
muốn được sinh tồn phát triển của cư dân nông nghiệp.
Thờ sinh thực khí: Thờ sinh thực nam và nữ của dân tộc Chăm
Các cơ quan sinh sản được đặc tả để nói về ước vọng phồn sinh. Người
xưa, qua trực giác, tin rằng năng lượng thiêng ở thiên nhiên hay ở con
người có khả năng truyền sang vật nuôi và cây trồng. Do vậy tín ngưỡng
phồn thực, với nhiều nghi thức thờ cúng, phát sinh và phát triển đa dạng.
Hình nam nữ với bộ phận sinh dục phóng đại được tìm thấy trên tượng đá
với niên đại hàng nghìn năm tr. CN ở Văn Điển (Hà Nội), ở những hình
khắc trên đá trong thùng lũng Sa-pa, ở nhà mồ Tây Nguyên.
Việc thờ sinh thực khí còn thể hiện ở việc thờ các loại cột (cột đá tự nhiên
hoặc cột đá được tạc ra, có thể có khắc chữ dựng trước cổng đền miếu,
đình chùa) và các loại hốc (hốc cây, hốc đá trong các hang động, các kẽ
nứt trên đá).
13


Thờ hành vi giao phối
Bên cạnh việc thờ sinh thực khí giống như nhiều dân tộc nông nghiệp khác,
cư dân nông nghiệp lúa nước với lối tư duy chú trọng tới quan hệ còn có
tục thờ hành vi giao phối, tạo nên một dạng tín ngưỡng phồn thực độc đáo,
đặc biệt phổ biến ở khu vực Đông Nam á.
Trên nắp thạp đồng tìm được ở Đào Thịnh (Yên Bái, niên đại 500 năm
tr.CN), xung quanh hình mặt trời với các tia sáng là tượng 4 đôi nam nữ
đang giao hợp. Thân thạp khắc chìm hình những con thuyền, chiếc sau nối
đuôi chiếc trước khiến cho hai con cá sấu - rồng được gắn ở mũi và lái của
hai chiếc thuyền chạm vào nhau trong tư thế giao hoan. Hình chim, thú,
cóc,... giao phối tìm thấy ở khắp nơi.
Giã gạo

Từ thời xa xưa, chày và cối - bộ công cụ thiết thân của người nông nghiệp
Đông Nam á - đã là những vật tượngtrưng cho sinh thực khí nam và nữ,
còn việc giã gạo là tượng trưng cho hành động giao phối. Không phải ngẫu
nhiên mà trong vô vàn cách khác nhau được tách vỏ trấu khỏi hạt gạo,
người Đông Nam á đã chọn cách này; trên các trống đồng khắc rất nhiều
những hình nam nữ giã gạo từng đôi.
Không gắn việc giã gạo với tín ngưỡng phồn thực, sẽ không thể nào hiểu
được trò cướp cầu - một trò chơi Việt Nam rất độc đáo đặc biệt phổ biến ở
vùng đất tổ Phong Châu (Vĩnh Phú) và các khu vực xung quanh: Hai phe
tranh nhau một quả cầu màu đỏ (dương), ai cướp được thì mang về thả
vào hố (âm) của bên mình. Với cùng ước mong phồn thực, cầu may, cầu
hạnh phúc là hàng loạt trò chơi như tung còn, ném cầu, đánh phết. đánh
đáo....
Cảnh sinh hoạt trên trống đồng
Vai trò của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống của người Việt cổ lớn tới
mức chiếc trống đồng - biểu tượng sức mạnh, quyền lực cũng đồng thời
biểu tượng toàn diện cho tín ngưỡng phồn thực. Cách đánh trống đồng
theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống được khắc trên chính các trống
đồng và còn được bảo lưu ở người Mường hiện nay là mô phỏng động tác
giã gạo - động tác giao phối. Trên tâm mặt trống là hình mặt trời với những
tia sáng biểu trưng cho sinh thực khí nam, và giữa các tia sáng là một hình
lá với khe ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ. Xung quanh mặt trống
thường gắn các tượng cóc - con cóc trong ý thức của người Việt là "cậu
ông trời", mang theo mưa, khiến cho mùa màng tốt tươi, cũng là một dạng
biểu trưng của tín ngưỡng phồn thực.

14


Ngay cả những hiện tượng tưởng chừng rất xa xôi như chùa Một Cột

(dương) trong cái hồ vuông (âm), tháp Bút (dương) và đài Nghiên (âm) ở
cổng đền Ngọc Sơn (Hà Nội), cửa sổ tròn (dương) trên gác Khuê Văn
(tượng trưng cho sao Khuê) soi mình xuống hồ vuông (âm) Thiên Quang
Tỉnh trong Văn Miếu vv..., cũng đều liên quan tới tín ngưỡng phồn thực.
Cũng không phải ngẫu nhiên mà ở các nơi thờ cúng thường gặp thờ ở bên
trái là cái mõ và bên phải là cái chuông: Sự việc đơn giản này là biểu hiện
của cả lí luận "Ngũ hành" lẫn tín ngưỡng phồn thực - cái mõ làm bằng gỗ
(hành Mộc) đặt ở bên trái (phương Đông) là dương, cái chuông làm bằng
đồng (hành Kim) đặt ở bên phải (phương Tây) là âm. Tiếng mõ trầm phải
hòa với tiếng chuông thanh nếu không có nam nữ, âm dương hòa hợp sẽ
không có cuộc sống vĩnh hằng.
Tín ngưỡng phồn thực qua trò diễn hội làng Châu thổ Bắc Bộ Khi sự hiểu
biết của con người về thế giới xung quanh còn hạn chế thì họ tin và thờ
phụng, cầu mong nhiều thứ. Hệ thống tín ngưỡng lúc bấy giờ thật đa dạng,
hỗn tạp, mà một trong những biểu hiện là tín ngưỡng phồn thực, tín
ngưỡng cầu mong sự sinh sôi nảy nở về con người, cầu phồn thịnh trong
sản xuất, thịnh vượng của mùa màng...
... Các cơ quan sinh sản được đặc tả để nói về ước vọng phồn sinh. Người
cổ sơ, qua trực giác, tin rằng năng lượng thiêng ở thiên nhiên hay ở con
người có khả năng truyền sang vật nuôi và cây trồng. Do vậy tín ngưỡng
phồn thực, với nhiều nghi thức thờ cúng, phát sinh và phát triển đa dạng.
Ở Việt Nam, mảnh đất gió mùa nhiệt đới tuy được lợi về ánh sáng và độ
ẩm, nhưng lại nhiều dịch bệnh, thiên tai, nên cư dân nông nghiệp lúa nước
nơi đây thường xuyên phải vật lộn với thiên nhiên không mấy ưu đãi để
đảm bảo cuộc sống. Tâm thức đó là nền móng vững chắc của tín ngưỡng
phồn thực. Nhưng, người Việt một mặt chịu sự chi phối của nguyên lý kết
hợp hài hòa âm dương, nguồn cội của sinh sôi nảy nở, mặt khác lại ảnh
hưởng khá sâu sắc tư tưởng của một số tôn giáo ngoại lai (Phật giáo, Đạo
giáo, Nho giáo) sau khoảng thời gian dài diễn ra quá trình đan xen văn hóa.
Để giải quyết cái nghịch lý ấy, tín ngưỡng phồn thực phải hóa thân để tồn

tại, nó ẩn chứa vào các nghi lễ và trò diễn trong các lễ hội của làng xã cổ
truyền.
Ở làng Danh Hựu xã Cổ Tiết (Tam Nông, Phú Thọ) thờ Tiền Lý Nam Đế,
ngày hội dân làng làm 20 cặp nõ - nường (gỗ vuông - mo cau) treo lên một
cây tre, lấy lá chuối làm lọng, tế lễ rồi rung cây tre. Mọi người dự hội xông
vào cướp nõ nường, cướp được đem về để ở đầu giường hay treo vào các
giàn bầu, giàn bí.
15


Hội làng Miêng Hạ (ứng hòa, Hà Tây) lại có cách thức cầu phồn thực riêng
của mình, sau phần tế lễ trang nghiêm là trò ội ại. Trò được diễn về đêm khi
đèn đuốc đã tắt hết, môt cụ già của làng cởi dây thả 6 cây bông đã được
treo ở thượng lương xuống. Bấy giờ trong đình tối như bưng, trai đinh của
các giáp tuân thủ theo hèm của làng, họ phải cởi hết áo quần ra, chỉ mặc
quần đùi hoặc đóng khố, sau đó miệng hô ội (tiến tới) ại (lùi lại) lúc mạnh,
lúc nhẹ và cùng xông vào nhảy lên cướp cây bông. Khi cây bông được
cướp xuống thì các trai đinh phải xé bông cướp lấy cái nõ bằng tre trong
tâm cây bông và chạy ra ngoài đình đem về đền của giáp. Các đinh của
giáp nào mà cướp được ba cái nõ cây bông, giáp đó tin rằng trong năm họ
sẽ làm ăn gặp nhiều may mắn. Trò ội ại của làng Miêng Hạ còn gọi là trò
cướp nõ xé bông. Hình ảnh cây bông thực chất là hình ảnh tượng trưng
của hai vật âm - dương và trò ội ại làng Miêng Hạ chính là tâm thức cùa
người dân mong một năm mới âm dương hòa hợp để vạn vật sinh sôi phát
triển, dân an vật thịnh
Ở Bắc Giang, tín ngưỡng phồn thực biểu hiện rõ nhất là các trò vật cầu,
cướp cầu, đánh cầu, với chủ đề chính là cầu mưa, cầu nắng để cây lúa có
điều kiện nảy nở đơm bông. Như lễ hội vật cầu nước ở xã Vân Hà (Việt
Yên, Bắc Giang). Đây là lễ hội lớn có từ lâu đời, được tổ chức từ ngày 14
đến ngày 17 tháng 4 âm lịch, tại đền Chính, thôn Yên Viên, thờ Đức Thánh

Tam Giang, Trương Hống - Trương Hát (Nhị vị đại vương). Tục truyền rằng,
trước đây khi hai anh em Đức Thánh giúp dân đánh giặc Ân đã được thần
báo mộng giúp sức và chiến thắng. Hội được tổ chức vào ngày hóa của
Đức Thánh và là lễ hội mừng chiến thắng. Trước đây làng Vân được chia
thành 4 giáp. Vào ngày hội mỗi giáp sẽ cử bốn người, tuổi từ 18 trở lên,
khỏe mạnh, chưa có vợ, là cháu của những gia đình tử tế, sau đó làng sắm
lễ ra đền thờ và xin phép Thánh rước cầu ra sân trò. Quả cầu được làm
bằng gỗ, to và nặng chừng 20kg. Những người tham gia vật cầu phải cởi
trần, đóng khố bằng hai chiếc thắt lưng sồi. Một lần diễn trò cần 16 người
(mỗi bên hai giáp, 8 người), thi đấu trong nhiều hiệp và mỗi hiệp khoảng 90
phút. Chỉ đạo trò vật cầu là một người do hội đồng nguyên lão cử ra, có
chức sắc, biết luật để điều hành. Vào cuộc, quả cầu được đặt ở giữa sân,
khi có hiệu lệnh thành viên hai đội tranh nhau ôm và bê cầu theo hiệu trống
giục. Nếu bên nào bê được cầu đặt vào hố của bên kia là thắng cuộc. Trong
ba, bốn ngày diễn ra trò, tiếng reo hò, tiếng trống giục như đánh thức cả
một vùng quê nông nghiệp vốn bình lặng. Người ta giành nhau quả cầu và
ra sức cản phá đối phương trong sân đầy bùn và nước. Trò cướp cầu này
còn được tổ chức ở làng Hương Câu (xã Hương Lâm, Hiệp Hòa, Bắc
Giang) với hai lỗ cầu được gọi là lỗ Đông và lỗ Tây. Làng Tiên Lục (Lạng
Giang) lại tổ chức trò cướp cầu với những câu hô của quan hội rất đặc
16


trưng cho lễ hội nông nghiệp: “Hội giai đánh cầu cho được mùa, được
màng, sai cau, tốt lúa, trẻ lớn ra, già trẻ lại”. Ngoài ý nghĩa phồn thực, trò
cướp cầu còn mang ý nghĩa cầu mặt trời (quả cầu được sơn màu đỏ, được
tung từ Đông sang Tây tượng trưng cho sự vận động của thái dương), cầu
ánh nắng cho lúa, cho khoai. Trò cướp cầu đã thể hiện những suy nghĩ,
những ước mong của người nông dân xuất phát từ điều kiện tự nhiên, môi
trường, xã hội mà họ sinh sống (3).

Một số nghi lễ phồn thực và thờ sinh thực khí đã được cách điệu hóa và
nghệ thuật hóa như: tính giao nam nữ được thể hiện qua điệu múa hoặc
được cách điệu trong những hình thức trò diễn. Những trò này vừa mang
tính linh thiêng vừa mang tính trần tục, mà ở đó người dân luôn nghĩ rằng
tạo vật muốn sinh sôi, phát triển cần phải có hành động cụ thể, để gợi mở
những niềm tin vào sự may mắn mới, vào khả năng huyền bí của sự
chuyển hóa từ những hành động tượng trưng thành hiện thực trong đời
sống.
Trong hội làng Quang Lang (xã Thụy Hải, Thái Thụy, Thái Bình) có trò múa
ông Đùng - bà Đà, một trong nhiều trò diễn thể hiện rõ tính phồn thực. Dân
làng làm một hình nộm đàn ông gọi là ông Đùng và một hình nộm người
đàn bà gọi là bà Đà với một số hình nộm trẻ con trai gái tượng trưng cho
con cái của hai ông bà. Thân hình nộm được đan bằng trúc sa, một loại tre
trồng ở bãi biển. Mặt ông Đùng bà Đà được vẽ trên chiếc nia, mặt trẻ con
được vẽ trên chiếc giần, sao cho ngộ nghĩnh. Trên tai bà Đùng và tai các cô
con gái được đeo hoa mào gà đỏ (dân Quang Lang gọi là hoa ông Đùng).
Quần áo ông Đùng bà Đà được may bằng vải buồm cũ. Khi múa, người
múa chui vào thân hình nộm đi bằng cà kheo thành chân ông Đùng bà Đà.
Trò múa này thường diễn ra vào xẩm tối ngày 14 tháng 4. Sau khi vái lạy
Thánh ở đền và ở chùa xong, chiêng trống nổi lên, tất cả dân làng hô “tinh,
tinh, tinh, phập” thì ông Đùng bà Đà úp mặt vào nhau và bắt đầu múa dọc
khắp đường làng. Thỉnh thoảng ông Đùng bà Đà lại múa quện vào nhau,
con cái hai ông bà chạy theo ngó nghiêng. Dân làng hai bên đường thì sắm
lễ vật dâng cúng chủ yếu là dưa hấu, chè đỗ đen, ngô bắp luộc là những lễ
vật mang tính phồn thực. Khi chuẩn bị kết thúc thì ông Đùng bà Đà chạy
thật nhanh để dân làng đuổi theo “phá Đùng”. Theo trống hiệu phá Đùng,
dân làng tranh nhau xô vào giằng xé, ai cũng mong cướp được một đoạn
nan trên người ông Đùng bà Đà để lấy khước. Sau khi lấy được họ đem về
gác đầu giường hy vọng sẽ khỏe mạnh, những người trong độ tuổi sinh nở
thì sớm sinh con theo ý muốn, cắm xuống thuyền thì thuyền ra khơi vào

lộng bình an may mắn, cắm ra ruộng muối thì ruộng muối bội thu... Như
vậy, từ những tiếng hô của dân làng “tinh, tinh, tinh, phập” đến động tác
17


quện vào nhau của ông Đùng bà Đà... người dân Quang Lang đã mộc mạc
bày tỏ quan niệm phồn thực (4).
Có những trò diễn lại có cách thể hiện bằng các điệu múa như trò múa Mo
ở Đức Bác (Phú Thọ). Xưa dân Đức Bác có thờ một vị nữ thần và có tục
múa hát thờ mô phỏng tính giao. Đền thờ xưa nhỏ, làm bằng gỗ có một
gian đặt trên một quả gò - gọi là gò ám ảnh. Sau chỗ đất ấy được thay bằng
một ngôi đình. Khi tế lễ xong có trò múa âm dương hòa hợp, gồm tám nam
và tám nữ ăn mặc chỉnh tề. Bên nam cầm sinh thực khí nạm bằng gỗ
vuông, bên nữ cầm hình sinh thực khí nữ bằng mo cau. Trong khi múa có
trống chiêng đệm. Bên nam hát trước: Cái sự làm sao, nữ đáp: Cái sự làm
vậy, bên nam lấy cây vông chọc một lỗ thủng vào mo cau, sau đó dùng gỗ
vuông vừa chọc vào mo cau vừa hát: Cái sự thế này là cái sự làm sao? Tất
cả vừa múa vừa đi vòng tròn, tiến lên, lùi xuống trong một thời gian nhất
định. Vào buổi tối khi lễ xong, lại có tục tắt đèn, trai gái tự do đùa nghịch.
Mục đích của trò này cũng là cầu cho vạn sự sinh sôi nảy nở, kể cả mùa
màng cũng như con người được phát triển.
Những hành động “thực” của nam nữ, tự do luyến ái, giao duyên theo “nghi
thức” và được đặt trong một không gian thiêng, cùng thời gian là “thời điểm
mạnh” trong chu kỳ đời sống, chu kỳ một năm của hoạt động của con
người, thì nó sẽ trở thành một nghi lễ hội làng. Những đứa trẻ ra đời trong
thời điểm này được dân làng chấp nhận vì họ cho rằng những đứa trẻ đó
sẽ mang lại sự phồn vinh cho cả làng.
Như vậy, qua một số trò diễn trong hội làng nêu trên, có trò còn mang giá trị
nghệ thuật đã phản ánh được nội dung một hình thức tín ngưỡng dân gian.
Những trò diễn đó là nhằm biểu đạt lòng tin vào thế giới hư ảo, bên ngoài

do trình độ nhận thức nhiều mặt của người xưa còn thấp. Tuy nhiên giá trị
thực tiễn của lòng tin là: con người rất mực chân thành đối với điều mình
ngưỡng mộ và phải có lòng tin đó thì con người và cộng đồng đó mới tiến
hành một cuộc sống bình thường được. Con người thời xưa tự hình thành
các tín ngưỡng dân gian và lấy những điều tự đặt chân thành đó làm đòn
bẩy tinh thần cho cộng đồng của mình.
Mặt khác, trò diễn còn giúp chúng ta hiểu rằng tín ngưỡng phồn thực thuở
nguyên sơ vốn là một quan niệm gắn bó rất chặt chẽ với quan niệm tín
ngưỡng nông nghiệp, là tín ngưỡng cơ bản nhất của cư dân trồng trọt, nó
rất phong phú và đã ảnh hưởng sâu đậm tới sinh hoạt xã hội ở nông thôn.
Nó không phải là hiện tượng dâm tục mà là ước vọng cơm no áo ấm ngàn
đời của cư dân luôn phải “trông trời, trông nước, trông mây” để làm nông
nghiệp.
18


Đối với các tộc người Tây nguyên, nơi mà môi trường sống tự bao
đời gắn với núi rừng hoang dã, thiên nhiên là một phần máu thịt của họ thì
tín ngưỡng phồn thực mang một ý nghĩa thiêng liêng. Nó thể hiện ước
nguyện sinh sôi, tạo ra mầm mống phôi thai mới. Cơ sở của khát vọng là
niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của một thế lực siêu nhiên thống trị linh
hồn con người. Người Tây nguyên quan niệm rằng khi chết đi linh hồn sẽ
thành ma, chưa thể siêu thoát, luẩn quẩn ở trần gian. Chỉ khi nào lễ bỏ mả
được tổ chức xong thì hồn ma mới thực sự trở về với đất và được Yàng
(trời) thổi vào sự sống manh nha cho một sự đầu thai khác qua hành động
giao hoan của người đàn ông – đàn bà (cha – mẹ). Và từ đó hình thành một
kiếp người mới theo cái chu trình tái sinh: Đất – người – ma – đất.
Từ việc gắn niềm tin về sự chấm dứt cái chết và khởi nguyên sự sống cho
một vòng đời mới nên tín ngưỡng phồn thực của các tộc người Tây nguyên
thể hiện trong công việc đẽo tượng đặt ở khu nhà mồ để người chết mang

theo với mong muốn sự sống của họ sớm được hồi sinh.
Câu 5: Kiến trúc chùa của người việt
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ hàng ngàn năm nay, Tổ tiên ta đã đón
nhận, nắm bắt và vận dụng đạo phật một cách sáng tạo. Từ đó, Phật giáo
đã lưu truyền đến các đời sau, thể hiện sự tài tình và độc đáo của bản sắc
văn hoá Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ nét qua kiến trúc chùa, chiền
trên khắp đất nước.
Các bậc tiền nhân ta từ lâu đã thấu suốt sự bao dung mà Đức Phật đã
dâng hiến cho chúng sinh: Đó là sự Từ - Bi - Hỷ - Xả. Tinh thần này luôn
được thể hiện ở các ngôi chùa Việt Nam. Cả Đất nước, hầu như nơi nào
cũng có một vài ngôi chùa thờ Phật. Một là cội nguồn để thâu tóm cái
muôn, và cái muôn thể hiện cái một. Hình tượng Phật được tạo tác, chùa
chiền được xây dựng để thể hiện sự Từ Bi Hỷ Xả. Với quan niệm đó, các
bậc tiền nhân đã xây dựng một hệ thống chùa chiền rất trang nghiêm bề thế
và uy nghi. Cốt lõi của kiến trúc hay vị trí biểu đạt được sự ngưỡng mộ của
chúng sinh và bao dung rộng mở của đạo Phật.

Trước khi xây dựng một ngôi chùa, một ngọn tháp, cha ông ta từ xa xưa đã
rất quan tâm đến phong thủy. Các ngôi chùa thường được xây trên những
19


thế đất "sơn kỳ thuỷ tú" (núi lạ, sông nước đẹp đẽ), là những vị trí đẹp, hài
hoà giữa các yếu tố: Trời, Đất, Người. Tiếp theo là kiểu dáng thiết kế của
ngôi chùa, ngọn tháp, tỷ lệ giữa chiều cao, rộng, dài, hình chữ gì sao cho
phù hợp với kích thước của tỷ lệ vàng.
Phật pháp đã đi sâu vào cõi lòng người Việt. Từng hoạ tiết trang trí ở các
đình, chùa đa phần đều thể hiện tấm lòng cởi mở, vị tha và sự từ bi hỷ xả
của Đức Phật: Các mảng mái, tường, cửa, cột, khoảng cách trong ngoài
hợp lý, trông rất cách điệu, nhưng vẫn uy nghiêm. Đường nét họa tiết của

tứ linh Long, Ly, Quy, Phượng thể hiện vẻ nghiêm trang mà mềm mại, uy vũ
mà bao dung. Cột thẳng thể hiện tính giác ngộ, đường nét uốn lượn của
riềm châu viền mái mang đậm tính lan toả, thấm nhuần mà không xa hoa,
bắt buộc. Độ nghiêng của mái hài hoà hợp lý không dốc như mái chùa Thái
Lan hay Lào. Cấu trúc đền, chùa Việt Nam cũng đơn giản, khiêm nhường
chứ không to lớn xa hoa như chùa Trung Quốc hay cầu kỳ nhiều tầng, đài,
bệ như chùa Nhật Bản, Hàn Quốc.
Các bậc tiền nhân xưa xây chùa luôn có tứ linh đắp vẽ, trấn giữ các mảng
tường, trụ cột từ hông chùa cột hiên, hậu điện. Các đỉnh cột đắp Phượng vũ
(Phượng múa) từ mỏ đến đuôi, hình dáng rất uyển chuyển. Ngói mũi được
lợp xếp rất công phu, phần góc nhọn được gọi là đầu đao được phô diễn
rất khéo, không sắc nhọn. Mảng mái, nơi be bờ thường được đắp đậy rất
cẩn thận, khoá chặt hai đầu của đòn nóc là hai đế hoặc đôi Lân rất oai
dũng. Trên đỉnh nóc mái là đôi Rồng chầu mặt trời đang tỏa ánh hào quang.

Canh giữ cửa chùa là hai vị Hộ pháp dung nhan uy dũng, biểu hiện cho cái
thiện và cái ác, không dùng lời mà vẫn răn dạy chúng sinh giác ngộ. Trong
chùa, tượng các vị Phật và La Hán được xếp theo trật tự tôn nghiêm. Trước
mặt tượng là hương án, nơi đặt bát hương và đặt đồ lễ. Nơi làm lễ bề thế,
vuông vức thể hiện sự giáo hoá nhân gian của các Ngài rộng mở và bao la,
không bó hẹp, không phân biệt đối xử. Những hàng cột trong chùa lớn tạo
cảm giác vững tâm và tin tưởng cho người đi lễ chùa. Từ hoành phi câu
đối, văn bia hay tên người cung tiến đều được tiền nhân ghi lại rất trân

20


trọng. Thượng lương, đòn nóc được làm rất chắc chắn và đề ghi đục chạm
rất công phu.
Trong khuôn viên của chùa thường trồng những cây muỗm, cây duối,

nhưng đặc biệt hơn cả là cây đại, cây đa, si, gạo. Sắc hương của chùa
chiền, lan toả hương bưởi, hương cau,dịu mát làm tâm hồn con người trở
nên thanh thản, bỏ lại sau lưng những toan tính của đời thường.
Những ngôi chùa ở Việt Nam đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử,
thiên tai, địch hoạ song không vì thế mà mai một đi. Ngược lại, những ngôi
chùa luôn được nhân dân tôn tạo và xây dựng tốt đẹp hơn.
Câu 6: Văn hóa làng
Làng gắn với hình ảnh làng xã cổ truyền ở Việt Nam với 3 đặc trưng cơ
bản:
- Ý thức cộng đồng làng (ý thức dân chủ làng xã, cộng đồng trong sản xuất
bảo vệ xóm làng, xây dựng văn hoá, lối sống, đạo đức.v.v...);
-Ý thức tự quản (thể hiện rõ nhất trong việc xây dựng hương ước);
- Tính đặc thù độc đáo, rất riêng của mỗi làng (có khi hai làng gần nhau
nhưng không hề giống nhau).
Hương ước là luật lệ làng, bắt buộc các thành viên phải tuân thủ. Hương
ước gắn bó các thành viên trong một cộng đồng tương đối chặt chẽ và tự
nguyện, lệ thuộc lẫn nhau, phục tùng làng xã.
Có khi ruộng công không còn mấy, chỉ còn một ít ruộng đình, ruộng chùa,
ruộng họ nhưng cộng đồng làng xã vẫn chặt chẽ trong các quan hệ dòng
họ, tín ngưỡng, phường hội và trong những quy định của hương ước. Mỗi
thành viên trong làng xã từ ăn mặc, nói năng, đi lại, hội họp, thờ cúng, ma
chay, cưới xin đến nghĩa vụ đối với gia đình, họ hàng, làng xóm đều quy
định trong hương ước. Những quy định trên có ý nghĩa như là hình thức tổ
chức xã hội trong làng xã.
Tính tự trị và các quan hệ cộng đồng trong làng xã khiến cho con người chỉ
tồn tại hợp pháp với tư cách là thành viên chính thức, vì lý do nào đó mà có
21


người không đủ tư cách chính thức như dân ngoại tịch ngụ cư hoặc bị xoá

tên trong sổ làng thì không được lệ làng đảm bảo, bị sống ngoài lệ làng.
Làng của người việt có cấu trúc ko lớn. làng nằm kề cánh đồng, ruộng lúa,
sở hữu của cư dân trong làng. Làng nọ cách làng kia cũng bởi cánh đồng
làng.
Từ hàng nghìn đời nay, mối QHXH trg làng chủ yếu là thứ qh “gđ-họ hànglàng nước”. có nhà nghiên cứu dt học cho rằng, làng là sự mở rộng của
huyết thống.
Cổng làng: mỗi người con xa quê khi nhớ về quê hương là nhớ về hình
ảnh cổng làng thân thương bên gốc đa, giếng nước... Cổng làng là sản
phẩm kiến trúc cổ của người Việt, phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ, một biểu
tượng văn hóa đặc trưng của người Việt. Cổng làng phân chia phần đất thổ
cư (đất làm nhà ở, vườn) và phần đất canh tác (trồng lúa, hoa màu…).
Người sống thì sống sau cái cổng làng, người chết chôn ở bên ngoài cổng
làng. Cổng làng có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của con người.
Cổng làng thường có cổng trước, cổng sau. Cổng trước (cổng tiền) mang
nhiệm vụ nghênh tiếp, cổng sau hàm ý tiễn đưa. Cổng trước là cổng chính,
thường dành cho người sống, là nơi đón khách, đón quan, đón người đăng
khoa đỗ đạt, đón dâu mới nhập làng. Đón nhận những gì mới mẻ, tốt đẹp.
Ngược lại cổng sau (cổng hậu) thường ở hướng Tây, hướng mặt trời lặn.
Cổng sau là cổng phụ thường dành cho người chết, để tiễn người chết ra
nghĩa trang, tống khứ kẻ xấu ra khỏi làng. Nghĩa là cổng hậu có chức năng
tống tiễn những gì không xứng đáng được tồn tại trong làng: ma quỷ, trộm
cắp, bất lương…
Cổng làng có thể mang dạng tam quan, một lối đi lớn chính giữa, hai
lối đi phụ nhỏ hai bên hoặc chỉ có một lối chính. Nếu cổng chỉ có một lối đi
thì hai bên cũng có xây thêm 2 cổng hình dáng như lối đi nhưng ở dạng bít
kín. Cổng thường xây dáng vòm cuốn, hoặc vuông góc. Cổng trước to lớn
hơn sau, trên trán thường ghi tên làng hoặc một câu liên quan đến địa
phương đó. Vật liệu xây dựng cổng làng thường là gạch hoặc đá đắp vữa,
trên có mái. Cầu kỳ là hai tầng mái hoặc xây gác kiểu vọng lâu với mái
cong, nóc đắp rồng, phượng, cá hóa rồng… Ở những chốn quê nghèo,

22


cổng làng mộc mạc giản dị. Trước đây ở mỗi làng thường có một luỹ tre
bao quanh. Làng tương đối khép kín, chỉ để một hoặc hai lối ra vào và chỗ
này thường dựng một cái cổng làng là giới hạn giao lưu liên làng và mở ra
khu đồng ruộng canh tác phía sau.
Cổng làng trong thời phong kiến là công trình kiến trúc mang tính chất
phòng thủ nhưng sang thời hiện đại cổng làng mất đi ý nghĩa đó. Dù vậy,
trong một góc tâm thức nào đó của người dân, cổng làng vẫn tồn tại như
một biểu tượng thân thương và đặc trưng của làng quê truyền thống.
Trog làng, ngôi đình có ví trí tâm linh đặc biệt. đình làng k chỉ là nơi thờ
thành hoàng làng, mà còn là nơi sh chung của cộng đồng. nơi đây diễn ra
các cuộc họp bô lão trg làng, trong họ tộc. đình làng với kiến trúc đặc sắc từ
kỹ thuật dựng lắp đến ngthuat chạm khắc trên các hệ.
Đình làng Việt Nam: Nói đến văn hóa cổ-truyền Việt-Nam, người ta không
thể không nói đến ngôi Ðình-Làng. Ðình xuất hiện từ ngàn xưa và trước
đây đã có mặt tại khắp làng xã Việt-Nam. Có làng có tới ba ngôi Ðình. Ðình
do đó là hình ảnh quê-hương, là tượng trưng cho nếp sống đặc-thù của xãhội Việt-Nam: một xã hội được tổ chức gồm những đơn vị hành chánh gần
như tự trị nằm trong một quốc-gia. Ðó là những làng xã tự cai trị, khu xử với
nhau theo luật lệ riêng, phong tục tập quán riêng biệt. Ðình cũng tiêu biểu
cho nét độc đáo của kiến-trúc và điêu khắc Việt-Nam; dân làng thường tự
hào, hãnh diện khi có một ngôi Ðình nguy nga, cổ kính, chạm trổ công phu,
hoặc khi Ðình đã được chọn đúng ở nơi đắc địa, hướng Ðình đẹp khiến cho
dân làng học hành phát đạt, làm ăn thịnh vượng v..v... Ðình cũng là nơi thờ
phụng thành hoàng, đấng linh thần chủ tọa cho cuộc sống cộng-đồng và
phù trợ cho dân làng được an cư lạc nghiệp, tránh được tật dịch, hung khí,
tai họa. Ðây cũng là trung tâm văn hóa, nơi tổ chức những cuộc vui chung
vào dịp hội hè, đình đám cho cả làng, nên bóng nữ:
''.. Qua Ðình ghé nón trông Ðình,

Ðình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu!..''
Hội làng: thường được tổ chức ở sân đình. Hội làng thường diễn hèm
(là diễn lại những sự tích của vị thần thờ trong làng, những điều kiêng kỵ
23


của thần..). Lễ hội gắn liền với truyền thống lịch sử (sự tích thần đánh giặc,
lập làng, dạy nghề...), gắn với nghề phi nông nghiệp(rước nước).
Lễ bao gồm 2 phần là phần lễ và phần hội.
+ Phần lễ: Tế thần là hoạt động lễ, hội tế để biểu thị lòng biết ơn của
dân làng đối với vị thần của làng, mong thần phù hộ cho dân làng được
mùa, mạnh khoẻ.Lễ vật tế thần là có đầy đủ “tam sinh”: Trâu - bò – dê hoặc
lợn, là sản phẩm của nông nghiệp.Người dân thường dùng kiệu Ngọc lộ,
Bát cống trong lễ rước thần. Thường có con ngựa gỗ đi theo kiệu
thần(ngựa gắn liền với cuộc sống ngày xưa trong chinh chiến, đi lại và đã đi
vào hoạt động tâm linh).
+ Phần hội: diễn lại nhiều trò như giết giải cứu công chúa, hoặc gần
với sự tích, gần với nông nghiệp (Vua Hùng đi săn), các tiết mục văn nghệ,
trò chơi dân gian: đu quay, đánh vật...
Hàng năm, có lẽ không có làng quê Việt Nam nào lại không mở hội làng,
nhỏ thì một ngày, lớn thì nhiều ngày, nhất là những năm được mùa thì hội
làng vui không kể xiết. Hội làng ở các làng quê nước ta thường được tổ
chức vào mùa xuân, khi đất trời giao hòa, thiên nhiên tươi tốt, lòng người
hân hoan. Có thể nói, trên cái nền hết sức phong phú và đa dạng của hội
hè, đình đám ở nông thôn Việt Nam, hội làng được coi là thời điểm cuốn
hút nhất, tưng bừng nhất với những nghi thức tôn nghiêm và thuần Việt nối
đời: tế lễ, rước, trò vui và hát xướng. Ngoài các quốc lễ do Nhà nước
phong kiến tổ chức, hội làng thường do một làng đứng ra tổ chức, hoặc có
thể do một số làng gần nhau cùng thờ chung một thành hoàng, cùng có mối
liên hệ lịch sử thông qua sự tích thánh mà họ tôn phụng. Nhưng, dù là hội

của một làng hay liên làng thì hội làng như một mạch nước ngầm xuyên
thời gian, bừng chảy tràn trề trong đời sống vật chất, tinh thần và tâm linh
người Việt.
Hội làng đã có từ xa xưa, theo sử sách, nhiều hội làng nổi tiếng tiêu biểu
cho tín ngưỡng phồn thực được bảo lưu từ thời thượng cổ. Ngay trên trống
đồng cổ, cũng có những nét hoa vǎn, dấu ấn của hội làng. Có những hội
làng trở nên tiêu biểu, nức tiếng gần xa như hội: Đền Hùng-tỉnh Phú Thọ,
hội Cổ Loa, Lệ Mật, Phù Đổng của Hà Nội, các hội làng ở Hà Tây.v.v… Có
24


thể nói, hội làng mang tính cộng đồng sâu sắc, đó là đỉnh cao của sự hòa
hợp, đoàn kết vì một ước nguyện chung cho sự phồn vinh của làng xã. Hội
làng thường được tổ chức thật vui, thật đầm ấm tình làng nghĩa xóm, điều
đó thể hiện qua những khâu chuẩn bị cho đến khi nuối tiếc lúc tan hội. Có
xem hội làng mới cảm nhận hết ý nghĩa và lòng tự hào dân tộc với một
truyền thống vàng son.
Chợ làng: Nhắc đến văn hoá làng xã người ta không thể không nhắc tới
chợ làng. Quả thật một phần đời sống của những người dân quê được
khắc hoạ qua sự phát triển của chợ làng. Ngoài ý nghĩa trao đổi mua bán,
chợ làng còn là nơi để thăm hỏi, mời gọi, nói chuyện con trâu, cái cày,
chuyện ruộng, vườn, đồi núi.v.v... Tất cả cứ ồn ã, xôn xao và đậm đà tình
làng, nghĩa xóm.Bởi thế, người xưa đã từng ao ước: “Muốn cho gần chợ
mà chơi gần sông mà tắm, gần nơi đi về”. Trong mỗi con người Việt Nam,
dù ít hay nhiều, cũng lưu giữ trong ký ức một miền quê với bóng dáng cây
đa, giếng nước, con kênh và... một Chợ Làng
Ai sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nào đó mới hiểu hết cái thú của đi chợ
làng. Chợ làng không chỉ là nơi bán - mua mà còn là nơi mọi người trao đổi,
thăm hỏi lẫn nhau do mối quen biết “tình làng nghĩa xóm”. Chợ làng thường
họp rất sớm, đông đúc nhất là lúc 6 - 7h sáng. Cỡ độ 10 - 11h mà mới xách

làn đi chợ thì e rằng bạn sẽ chẳng mua được thứ cần mua, bởi chợ thường
tan sớm lắm. Khi nắng đứng bóng là lúc chợ vãn, chỉ còn vài quầy kiểu “kiốt” chuyên đồ khô là bán cầm chừng. Buổi chiều chợ vắng hẳn, bởi người
quê ít có thói quen đi chợ ngày hai buổi. Những thứ cần cho cả ngày
thường được mua luôn vào buổi sáng. Toàn người làng với nhau nên
người bán không nói thách quá, người mua ít mặc cả theo kiểu trả giá chỉ
còn “một nửa” như ở các chợ lớn nơi đô thị! Sản phẩm hàng hoá của chợ
làng cũng bình dị như chính con người vậy. Mọi thứ bày biện không hề hào
nhoáng: giỏ cua, mớ ốc vẫn còn vương bùn non, mớ rau còn nhựa ứa, sọt
trứng lơ thơ vài sợi rơm mới lót ổ… Đến bất cứ một vùng quê nào, chỉ cần
nhìn qua chợ làng, quan sát hàng hoá - thực phẩm bày bán và khung cảnh
bán - mua là có thể biết được đời sống của người dân nơi đây. Cái sự no
đủ hay thiếu thốn nó bày ra hết! Vẫn còn những vùng quê nghèo mà chợ
làng chỉ họp nháo nhào, bán - mua lèo tèo vài thứ mà giá rẻ như… cho!.
Vào những dịp phiên, chợ đông vui hẳn. Không khí hồ hởi thấy rõ trên
25


×