Tải bản đầy đủ (.doc) (124 trang)

PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.82 MB, 124 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------*-------

PHẠM THỊ NGA

PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

Chuyên ngành: Khoa học Thông tin - Thư
viện
Mã số:

60 32 02 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Hùng

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------*-------

PHẠM THỊ NGA

PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN




Hà Nội – 2015


MỤC LỤC
2.2.2. Nguồn bổ sung...........................................................................................................59
Đơn vị tính: Cuốn................................................................................................................61
2.3. Tổ chức và quản lý các CSDL......................................................................................70
Hình 2.1. Các phân hệ của phần mềm Libol 6.0.................................................................72
2.4. Khai thác nguồn lực thông tin......................................................................................74
Hình 2.2: Giao diện trang tra cứu trực tuyến PORTAL......................................................75
Hình 2.3: Giao diện tìm kiếm CSDL thư mục......................................................................75
Hình 2.4: Giao diện tìm kiếm nâng cao...............................................................................77
Hình 2.5: Giao diện kết quả tìm kiếm..................................................................................78
Hình 2.6: Giao diện thông tin chi tiết của ấn phẩm............................................................78
Hình 2.7: Giao diện tra cứu CSDL toàn văn.......................................................................79
Hình 2.8: Giao diện dữ liệu toàn văn..................................................................................80

Phụ lục 2

1


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNTT
CSBS
CSDL
CSVC
HVTC

KH&CN
NCT
NCKH
NDT
NLTT
PTNLTT
PHBS
SP&DV
TT-TV
TVHVTC

Công nghệ thông tin
Chính sách bổ sung
Cơ sở dữ liệu
Cơ sở vật chất
Học viện Tài chính
Khoa học và công nghệ
Nhu cầu tin
Nghiên cứu khoa học
Người dùng tin
Nguồn lực thông tin
Phát triển nguồn lực thông tin
Phối hợp bổ sung
Sản phẩm và dịch vụ
Thông tin -Thư viện
Thư viện Học viện Tài chính

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Số NDT của Học viện Tài chính..................................................31
Bảng 1.2: Nhu cầu tin về các lĩnh vực khoa học.........................................35

Bảng 1.3: Nhu cầu về khoa học kinh tế và lĩnh vực tài chính – kế toán...36

2


Bảng 1.4: Nhu cầu vể ngôn ngữ tài liệu.......................................................39
Bảng 1.5: Nhu cầu của NDT về loại hình tài liệu.......................................39
Bảng 1.6: Nhu cầu về thời gian xuất bản của tài liệu................................41
Bảng 2.1: Nguồn lực thông tin phân chia theo nội dung tài liệu...............42
Bảng 2.2: Nguồn lực thông tin phân chia theo loại hình tài liệu...............46
Bảng 2.3: NLTT phân theo phạm vi phổ biến thông tin............................51
Bảng 2.4: Nguồn lực thông tin phân chia theo ngôn ngữ tài liệu..............52
Bảng 2.5: Nguồn lực thông tin phân chia theo thời gian xuất bản của tài
liệu 54
Bảng 2.6: Thống kê tài liệu nộp lưu chiểu từ năm 2009 – 2014................61
Bảng 2.7: Thống kê tài liệu biếu tặng từ năm 2009 – 2014........................62
Bảng 2.8: Tổng hợp kinh phí bổ sung từ năm 2009 – 2014.......................67
Bảng 2.9: CSDL do Thư viện xây dựng.......................................................74
BIỂU
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu NDT tại Thư viện HVTC............................................31
Biểu đồ 2.1:Cơ cấu NLTT theo nội dung tài liệu........................................43
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu loại hình tài liệu theo phạm vi phổ biến thông tin. . .51
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu nguồn lực thông tin theo ngôn ngữ............................52

3


DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 2.1. Các phân hệ của phần mềm Libol 6.0.........................................72
Hình 2.2: Giao diện trang tra cứu trực tuyến PORTAL...........................75

Hình 2.3: Giao diện tìm kiếm CSDL thư mục............................................75
Hình 2.4: Giao diện tìm kiếm nâng cao.......................................................77
Hình 2.5: Giao diện kết quả tìm kiếm.........................................................78
Hình 2.6: Giao diện thông tin chi tiết của ấn phẩm...................................78
Hình 2.7: Giao diện tra cứu CSDL toàn văn..............................................79
Hình 2.8: Giao diện dữ liệu toàn văn...........................................................80
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của Thư viện Học viện Tài chính.....................30
Sơ đồ 2.1: Quy trình bổ sung tài liệu...........................................................64

4


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ, là sự bùng nổ thông tin, kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức. Trong nền kinh
tế này, thông tin / tri thức trở thành biến số cho sự phát triển của mỗi quốc gia,
dân tộc. Thông tin / tri thức chính là kết quả của hoạt động khoa học công nghệ
mà chủ thể sản sinh và nắm bắt nguồn tri thức này là con người có trình độ cao.
Để có nguồn nhân lực chất lượng cao, ngành giáo dục và đào tạo nói chung và
ngành giáo dục đại học nói riêng có nhiệm vụ hết sức quan trọng.
Để hoàn thành sứ mệnh của mình, một trong những nhiệm vụ cấp bách
của ngành giáo dục đào tạo là cần phải đổi mới giáo dục đại học, trong đó có
đổi mới phương thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ. Với phương thức đào
tạo mới này, nhu cầu học liệu để tự học, tự nghiên cứu phát huy khả năng
sáng tạo của người học là rất cần thiết. Vì vậy, quá trình đổi mới giáo dục đại
học đặt yêu cầu đổi mới hoạt động của các cơ quan TT-TV, trong đó việc tạo
lập và phát triển nguồn lực thông tin (PTNLTT) nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu
cầu thông tin cho người dùng tin (NDT) cần được quan tâm hàng đầu.

Học viện Tài chính (HVTC) trải qua 50 năm xây dựng và phát triển,
trở thành một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực ngành tài chính chất lượng
cao và NCKH tài chính lớn của cả nước. Từ năm 2009, HVTC chuyển đổi
phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ. Phương pháp đào tạo
mới với tôn chỉ “người học là trung tâm” vì vậy, các giảng viên phải
thường xuyên tìm kiếm tài liệu, đổi mới nội dung giảng dạy, cập nhật tri
thức mới, sinh viên phải thường xuyên đọc tài liệu để chuẩn bị cho các bài
tập nhóm, công trình nghiên cứu thực nghiệm của mình. Vì vậy , nhu cầu
tiếp cận và sử dụng NLTT tại Thư viện của giảng viên và sinh viên rất lớn.
Thư viện HVTC thuộc hệ thống thư viện các trường đại học khối kinh tế

5


đóng vai trò là “giảng đường thứ hai” của sinh viên, đã nỗ lực trong công
tác phát triển và chú ý tới chất lượng NLTT, đáp ứng được một phần nhu
cầu thông tin của NDT, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của
HVTC. Hiện nay Thư viện đang sở hữu một NLTT khá phong phú về các
chuyên ngành: kinh tế, tài chính, ngân hàng...với loại hình tài liệu truyền
thống và hiện đại. Với đặc thù là một trường đại học khối ngành kinh tế,
các tài liệu phục vụ công tác giảng dạy và học tập tại Học viện thường là
dạng số liệu, dữ kiện…nên sự lỗi thời, lạc hậu của tài liệu diễn ra rất nhanh
chóng. Do đó công tác PTNLTT tại Học viện có vai trò rất quan trọng, đòi
hỏi phải thực hiện liên tục để NLTT tại Học viện được đảm bảo tính mới,
tính thời sự. Bên cạnh thành công đã đạt được công tác PTNLTT tại Thư
viện HVTC còn bộc lộ nhiều hạn chế, cụ thể là: vốn tài liệu của TV được
bổ sung chỉ dựa vào kinh nghiệm của cán bộ TV dẫn tới tình trạng bổ sung
thiên lệch, chưa thực sát với các hướng chủ đề trong các chuyên ngành đào
tạo, cơ cấu tài liệu chưa thật phù hợp với nhu cầu của NDT, nguồn tài liệu
điện tử còn nghèo nàn...Học viện Tài chính là một trung tâm đào tạo,

NCKH trong lĩnh vực kinh tế tài chính lớn của cả nước, do đó, mục tiêu
hướng tới của Thư viện HVTC là xây dựng được NLTT đủ mạnh cả về số
lượng và chất lượng nhằm thỏa mãn tối đa NCT của NDT. Việc tạo lập và
phát triển bền vững NLTT trong HVTC thực sự là vấn đề cấp thiết và liên
quan đến các khía cạnh học thuật và thực tiễn của của công tác TT-TV cần
phải được giải quyết kịp thời trong giai đoạn hiện nay. Chính vì nhứng lý
do trên, tôi đã chọn chủ đề “Phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện
Học viện Tài chính” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ khoa học
TT-TV của mình.

2. Tình hình nghiên cứu

6


Chủ đề NLTT được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu từ nửa
thế kỷ nay, trong đó có nhiều công trình cuả các nhà khoa học từ các nước
phương Tây như: Nick Wilard trong công trình (1993) “Quản trị nguồn lực
thông tin” [30] , nhà khoa học Nga như A. B. Antopolsky trong công trình
(2003) “Những vấn đề phát triển nguồn lực thông tin KH&KT”[28].Tuy
nhiên ở nước ta, việc nghiên cứu về NLTT mới được chú ý nhiều từ nủa sau
những năm 90 và những kết quả nghiên cứu về NLTT còn ở mức khá khiêm
tốn. Các kết quả nghiên cứu trong nước được trình bày chủ yếu trong các bài
viết trên các tạp chí chuyên ngành, trong các kỷ yếu hội thảo khoa học, các
luận văn thạc sỹ.
Bài báo, tạp chí:
Thuật ngữ “nguồn lực thông tin” được tác giả Nguyễn Hữu Hùng dùng
đầu tiên trong bài viết “Hoạt động thông tin trong khoa học và quản lý” công
bố vào năm 1973 và sau đó trong nhiều bài viết được tác giả tập hợp trong
cuốn “Thông tin: Từ lý luận tới thực tiễn”[10]. Gần đây, tác giả có bài “ Phát

triển NLTT trong bối cảnh công nghệ thông tin mới”[13],“Phát triển TT để
trở thành nguồn lực”[11], “ Vấn đề phát triển và chia sẻ NLTT số hóa tại Việt
Nam” đăng trên tạp chí Thông tin &Tư liệu năm 2006[12, tr.5-10]. Trong các
bài viết trên tác giả thể hiện hệ quan điểm để tạo lập, quản trị và khai thác
NLTT trong các hoạt động xã hội.
Tác giả Vũ Văn Sơn với các bài “ Một số quan niệm về chính sách
phát triển nguồn tư liệu” đăng trên Tạp chí Thông tin & Tư liệu năm
1994[ 23, tr.1-4]; “Chính sách chia sẻ NLTT trong thời kỳ áp dụng công nghệ
thông tin mới” đăng trên tạp chí Thông tin &Tư liệu năm 1995 [24, tr.7-10].;
tác giả Nguyễn Viết Nghĩa với bài “Phương pháp luận xây dựng chính sách
phát triển nguồn tin” đăng trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu, số 1 năm
2001[16,tr.12-17] đã trình bày khía cạnh chính sách đối với NLTT. Tác giả

7


Nguyễn Huy Chương và Trần Mạnh Tuấn trong bài “ Phát triển nguồn học
liệu tại các tổ chức nghiên cứu đào tạo hiện nay” đăng trên tạp chí Thông tin
& Tư liệu năm 2008[2, tr.10-13] nêu vấn đề tổ chức NLTT về học liệu tại các
nhà trường.
Tác giả Trần Thị Quý trong bài “Số hóa tài liệu - từ nhận thức đến triển
khai đào tạo tại Khoa TT-TV”[21] đã xem xét cách tiếp cận để tạo lập các bộ
sưu tập số trong cơ sở đào tạo.
Nhìn chung, các bài viết trên đây của các tác giả, đã đặt ra những khía
cạnh học thuật của NLTT, trình bày về các cách tiếp cận và giải quyết những
vấn đề khác nhau trong lý luận và thực tiễn tổ chức NLTT. Đây là những căn
cứ phương pháp luận khoa học, mang tính khái quát và vì vậy, khi ứng dụng
vào thực tiễn từng cơ quan TT-TV cụ thể cần có sự nghiên cứu để áp dụng
sao cho phù hợp với điều kiện, năng lực của mỗi cơ quan.
Hội thảo khoa học:

Bên cạnh các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành còn có các Kỷ yếu
của các hội thảo, hội nghị khoa học liên quan đến NLTT đã được tổ chức như:
+ Hội thảo: “Xây dựng và chia sẻ NLTT địa phương dạng số phục vụ
bảo tồn di sản và phát triển kinh tế xã hội diễn ra ngày 25/11/2011 tại Thư
viện Quốc gia do Vụ Thư viện tổ chức
+ Hội thảo “Xây dựng và phát triển nguồn học liệu phục vụ đào tạo và
nghiên cứu khoa học” do Trung tâm TT-TV Đại học QGHN phối hợp với Liên
hiệp Thư viện Đại học khu vực phía Bắc tổ chức tại Đại học Đà Lạt năm 2007.
+ Hội thảo “Giải pháp xây dựng và chia sẻ tài nguyên số diễn ra ngày
10/3/2012 tại Trung tâm thông tin tư liệu Đại học Cần Thơ” …
Luận văn:

8


Đề tài về NLTT được thể hiện khá nhiều trong các luận văn thạc sỹ,
như “ Phát triển NLTT tại Trung tâm TT-TV Viện Khoa học & Công nghệ
Việt Nam phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước.” của tác giả Nghiêm Thị Như
Ngọc bảo vệ năm 2010[17]; “ Phát triển NLTT tại TV Bộ Tư pháp” của tác
giả Phạm Thị Thu Hà bảo vệ năm 2010[5]; “ Phát triển NLTT phục vụ công
tác đào tạo tín chỉ tại Trung tâm TT-TV Trường Đại học LĐ-XH” của tác giả
Nguyễn Tiến Đức bảo vệ năm 2010[4]; “ Phát triển NLTT tại Thư viện
Trường Đại học Hoa Lư”, của tác giả Lê Thị Tuyết Nhung bảo vệ năm
2011[18]; “ Phát triển NLTT tại Trung tâm TT-TV Trường Đại học An ninh
Nhân dân TPHCM” của tác giả Nguyễn Công Trứ bảo vệ năm 2013[26]; “
Phát triển NLTT tại Trung tâm TT-TV Trường Đại học Công nghiệp Hà
Nội”của tác giả Trần Thị Anh Đào bảo vệ năm 2013[3]; “ Phát triển NLTT tại
Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền
bảo vệ năm 2013[6]…Nhìn chung các luận văn về NLTT được thực hiện để
nghiên cứu về thực trạng NLTT và công tác PTNLTT tại các cơ quan TT-TV

cụ thể. Mỗi tác giả lại có các cách tiếp cận và giải quyết vấn đề khác nhau,
phụ thuộc vào tính chất và đặc thù của từng cơ quan nhằm đưa ra các giải
pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác phát triển NLTT tại các cơ quan
TT-TV trong giai đoạn hiện nay.
Nghiên cứu về hoạt động thông tin tại Thư viện HVTC đến nay có 2
luận văn. Đó là luận văn của tác giả Nguyễn Thị Nghĩa “Tăng cường hoạt
động TT-TV ở HVTC thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” bảo
vệ năm 2003[14]. Đề tài này nghiên cứu thực trạng công tác tổ chức, quản lý
hoạt động TT-TV và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TTTV của Thư viện phục vụ công tác giảng dạy và học tập, NCKH của HVTC;
tác giả Vũ Thanh Thủy bảo vệ đề tài: “ Nghiên cứu nhu cầu tin tại Thư viện
HVTC” năm 2011[25]. Như vậy mặc dù đến nay có khá nhiều luận văn, bài

9


viết khoa học về công tác PTNLTT nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu
về công tác PTNLTT tại Thư viện HVTC.
Vì vậy, có thể nói đề tài: “Phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện
Học viện Tài chính” là một đề tài hoàn toàn mới, không trùng lặp với các
công trình nghiên cứu nào đã công bố cho tới nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Đề tài luận văn này hướng tới việc khảo cứu thực trạng NLTT tại
TVHVTC, từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp khắc phục những tồn tại,
tiếp tục PTNLTT cả về lượng và chất, đáp ứng NCT của NDT phục vụ công
tác NCKH, giảng dạy, học tập của Học viện.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu những vấn đề cụ thể như sau:
+ Hệ thống hóa lý luận về NLTT;
+ Tìm hiểu thực tiễn hoạt động của HVTC;

+ Nghiên cứu thực trạng NLTT, công tác PTNLTT tại TVHVTC;
+ Luận chứng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác
PTNLTT tại Thư viện Học viện Tài chính.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Thực trạng NLTT tại TVHVTC còn tồn tại nhiều hạn chế như: chưa
xây dựng CSBS tài liệu, nguồn bổ sung chưa được bao quát đầy đủ, kinh phí
bổ sung còn hạn hẹp, vấn đề liên kết, chia sẻ NLTT chưa được triển khai, …
do vậy NLTT tại TVHVTC hiện còn chưa thể được coi là hoàn thiện, từ đó
năng lực đảm bảo thông tin phục vụ hoạt động NCKH, giảng dạy và học tập
của Học viện mới chỉ đáp ứng được một phần NCT của NDT. Nếu NLTT của
Thư viện được tăng cường đủ mạnh cả về số lượng và chất lượng thì hoạt

10


động của Thư viện sẽ đáp ứng tốt hơn NCT của NDT góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo và NCKH của Học viện.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Nguồn lực thông tin tại TVHVTC.
* Phạm vi nghiên cứu:
* Về mặt không gian: Thư viện Học viện Tài chính
* Về mặt thời gian: Công tác PTNLTT tại TVHVTC từ 2009 đến nay.
Đây là giai đoạn HVTC bắt đầu đào tạo theo hình thức tín chỉ do đó cần phải
có NLTTđủ mạnh cả về chất và lượng phục vụ hoạt động NCKH, giảng dạy
và học tập của Học viện.
6. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận:
Luận văn dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
quan điểm của Đảng, Nhà nước về hoạt động giáo dục đào tạo và công
tác TT-TV.

* Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu,thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu;
- Phương pháp quan sát, phỏng vấn trực tiếp/ trao đổi;
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi;
- Phương pháp thống kê.
7. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
* Về mặt lý luận khoa học:
Luận văn góp phần bổ sung một số vấn đề lý luận khoa học về NLTT
và PTNLTT nói chung và trong hệ thống thư viện đại học nói riêng.
* Ý nghĩa thực tiễn:
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra các giải pháp có thể
ứng dụng vào thực tiễn nhằm khắc phục những mặt còn hạn chế, PTNLTT tại

11


TVHVTC nhằm thỏa mãn tối đa NCT của NDT trong giai đoạn hiện nay và
những năm tiếp theo, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về lĩnh
vực tài chính cho đất nước. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn là tài liệu
tham khảo hữu ích cho các cán bộ chuyên môn trong các cơ quan TT-TV, cán
bộ giảng dạy, học viên cao học, sinh viên của các cơ sở đào tạo ngành TTTV.
8. Dự kiến kết quả nghiên cứu
8.1.Về định lượng
Luận văn dự kiến có dung lượng khoảng 100 trang khổ giấy A4 thể
hiện công tác PTNLTT tại Thư viện Học viện Tài chính.
8.2.Về định tính
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về PTNLTT
+ Nghiên cứu cơ sở thực tiễn và những vấn đề liên quan đến đề tài
+ Nêu thực trạng công tác PTNLTT và các yếu tố tác động
+ Đưa ra các tiêu chí đánh giá NLTT của TVHVTC.

+ Nhận xét ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân dẫn đến thực
trạng này.
+ Đưa ra các kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm PTNLTT tại TVHVTC
9. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phục lục, phần nội
dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn lực thông tin
tại Thư viện Học viện Tài chính.
Chương 2: Thực trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư
viện Học viện Tài chính.
Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Học
viện Tài chí

12


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
1.1. Cơ sở lí luận về phát triển nguồn lực thông tin
1.1.1. Khái niệm về nguồn lực thông tin
Nguồn lực thông tin là một trong bốn thành tố cơ bản cấu thành cơ
quan TT-TV, nó có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thỏa mãn NCT của
NDT, đồng thời phản ánh tiềm lực của mỗi thư viện trong quá trình xây dựng
và phát triển.
Thuật ngữ “Nguồn lực thông tin” được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh
“Information Resource”. Khái niệm NLTT được dùng để phản ánh phần
thông tin tích cực trong xã hội, có cấu trúc, được kiểm soát, có thể truy cập
được, có giá trị phục vụ cho hoạt động thực tiễn của con người. Như vậy,
không phải mọi thông tin có trong xã hội đều là nguồn lực, mà đây chỉ là phần
thông tin tích cực của xã hội được tổ chức giúp cho các hoạt động quản lý ra

quyết định và điều hành công việc.
Hiện nay ở Việt Nam, khái niệm về “Nguồn lực thông tin” chưa được
hiểu và định nghĩa một cách thống nhất, có những quan điểm khác nhau. Pháp
lệnh Thư viện quy định “Vốn tài liệu thư viện là những tài liệu được sưu tầm
tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định, được xử lý theo quy tắc, quy
trình khoa học của nghiệp vụ thư viện để tổ chức phục vụ người đọc đạt được
hiệu quả cao và được bảo quản”[19]. Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng “
Nguồn lực thông tin là một dạng sản phẩm của lao động trí óc, trí tuệ của con
người, là phần tiềm lực thông tin có cấu trúc được kiểm soát và có giá trị thực
tiễn trong quá trình sử dụng”[10]. Theo TS.Nguyễn Viết Nghĩa “NLTT là tập
hợp có tổ chức các loại hình tài liệu dưới mọi dạng khác nhau của một cơ
quan TT-TV nhằm thỏa mãn nhu cầu của NDT”[15]. PGS.TS. Trần Thị Quý
cho rằng “NLTT chính là các dạng vật chất khác nhau lưu giữ các thông tin/tri

13


thức của con người được tổ chức, sắp xếp lại, có cấu trúc, có ý nghĩa, có nội
dung mà con người có thể khai thác được chúng theo nhiều cách tiếp cận khác
nhau. NLTT này do một tổ chức, cá nhân nào đó kiểm soát chúng nhằm phục
vụ cho lợi ích của con người”[20].
“ Nguồn lực thông tin” là sản phẩm của trí tuệ con người, là sản phẩm
lao động khoa học, phản ánh những kiến thức được kiểm soát và ghi lại dưới
một dạng vật chất nào đó. Để trở thành nguồn lực, thông tin tiềm năng phải
được tổ chức, cấu trúc lại để NDT có thể truy cập, tìm kiếm khai thác và sử
dụng được, phục vụ nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội. Bên cạnh quan điểm
phổ biến trên đây, có một số quan điểm cho rằng “nguồn lực thông tin” đồng
nhất với các yếu tố tiềm năng đảm bảo cho sự phát triển của hoạt động thông
tin, bao gồm nguồn tin, nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất và tài chính.
Nguồn lực thông tin là loại tài sản cố định đặc biệt, khác với những tài

sản vật chất khác, càng được khai thác sử dụng thì giá trị càng giàu thêm mà
không hề bị hao mòn mất mát đi. Trong các cơ quan TT-TV, việc đầu tư vào
các công việc như xử lý, lưu giữ và tạo các công cụ để thuận lợi cho việc khai
thác sử dụng các nguồn tin như tổ chức kho lưu trữ - bảo quản, xây dựng các
mục lục, các CSDL chính là làm tăng thêm giá trị sử dụng của vốn tài liệu cố
định đó.
Như vậy, về cơ bản các khái niệm về “nguồn lực thông tin” được trình
bày ở phần trên là có cùng bản chất và đều coi NLTT là một dạng nguồn lực
mới mà giá trị của chúng ngày càng được thừa nhận. NLTT là một thực thể
phức tạp mà sản phẩm trí tuệ, kết quả của lao động trí óc của con người, là
những thông tin được tổ chức, kiểm soát và có giá trị trong hoạt động thực
tiễn của con người. NLTT được coi là phần tích cực của tiềm lực thông tin
được tổ chức sao cho NDT có thể dễ dàng truy cập, tìm kiếm, khai thác, sử
dụng để phục vụ cho các lợi ích khác nhau của xã hội.

14


Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả hiểu khái niệm về NLTT theo
nghĩa thường được sử dụng trong cơ quan TT-TV và trên các ấn phẩm thuộc
lĩnh vực thông tin, thư viện như sau: NLTT trong các cơ quan TT-TV bao
gồm các bộ sưu tập về các loại nguồn tài liệu như : sách, báo, tạp chí, luận
văn, luận án,... dưới mọi hình thức vật lý khác nhau và các phương tiện để
kiểm soát và tra cứu chúng như cơ sở dữ liệu, các công cụ tra cứu.
1.1.2. Khái niệm phát triển nguồn lực thông tin
Theo từ điển tiếng Việt “phát triển” là sự biến đổi hoặc làm cho biến
đổi theo chiều hướng tăng từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, từ hẹp đến rộng, từ
đơn giản đến phức tạp, mở mang từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh. Như
vậy, “phát triển” là sự biến đổi của sự vật, hiện tượng từ trạng thái tồn tại cũ
sang trạng thái tồn tại mới, đó là sự biến đổi cả về chất và lượng theo chiều

hướng tốt lên.
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về “phát triển nguồn lực
thông tin”.Theo Từ điển Giải nghĩa thư viện học và tin học của Hiệp hội thư
viện Mỹ, “Phát triển NLTT” chính là phát triển bộ sưu tập của thư viện, bao
gồm việc xác định và phối hợp chính sách tuyển chọn, định lượng nhu cầu
của người sử dụng, những nghiên cứu về việc sử dụng sưu tập, việc đánh giá
sưu tập, nhận diện các nhu cầu của sưu tập, tuyển chọn tài liệu, lập kế hoạch
về việc chia sẻ tài nguyên, việc bảo quản sưu tập và loại bỏ tài liệu ra khỏi
sưu tập.Theo TS. Nguyễn Viết Nghĩa: “phát triển” gắn liền với quản trị nguồn
tin, vì phát triển là tiền đề của quản trị và quản trị là một khâu quan trọng
trong PTNLTT [16].
Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả hiểu thuật ngữ “phát triển NLTT”
là hoạt động làm cho vốn tài liệu, các công cụ tra cứu thông tin của thư viện
được lớn mạnh theo xu hướng tốt lên, phong phú cả về lượng và chất, giúp
NDT có thể tra cứu, khai thác thỏa mãn tốt hơn NCT của mình.

15


1.1.3. Vai trò của nguồn lực thông tin đối với hoạt động TT-TV:
NLTT có một vị trí đặc biệt quan trọng, là điều kiện tiên quyết cho sự
xuất hiện của một thư viện. Muốn xây dựng thư viện, đầu tiên phải có một
khối lượng tài liệu nhất định, đó là cơ sở quan trọng đảm bảo cho hoạt động
thư viện phục vụ bạn đọc.
NLTT là động lực phát triển mọi hoạt động của thư viện bởi NCT luôn
biến đổi, đa dạng và phong phú. Phục vụ tốt nhất NCT của NDT làm cho hoạt
động thư viện trở nên có ý nghĩa, hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu đặt ra. Một
cơ quan TT- TV sẽ không thể được hình thành, phát triển nếu NLTT không
được tổ chức, duy trì và khai thác hiệu quả. NLTT giúp cơ quan TT-TV hoàn
thành chức năng, nhiệm vụ mà xã hội giao cho, góp phần phát triển khoa học,

kinh tế, văn hóa, xã hội... bằng cách đáp ứng NCT của đông đảo các nhà
chuyên môn trên các lĩnh vực hoạt động và giúp họ giải quyết được những
vướng mắc về chuyên môn cũng như tiếp cận với những thành tựu khoa học
mới của thế giới. NDT sẽ đến cơ quan TT- TV nếu ở đó quản trị được NLTT
“đủ mạnh” đáp ứng NCT của họ. Ngược lại, nếu NLTT nghèo nàn, yếu kém,
không đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến việc thu hút NDT đến khai thác, sử dụng và
như vậy khả năng đáp ứng NCT của cơ quan TT- TV cũng hạn chế.
Trong các học viện, nhà trường NLTT góp phần tích cực vào việc nâng
cao chất lượng giảng dạy, học tập và NCKH. Giáo dục đại học nước ta đang
bước vào thời kỳ đổi mới căn bản và toàn diện, NLTT trong thư viện các
trường đại học là vấn đề cần được chú trọng phát triển. Thư viện là “giảng
đường thứ hai”, NLTT trong thư viện là thước đo quan trọng hàng đầu đánh
giá hiệu quả hoạt động thư viện và ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng công
tác đào tạo, NCKH của nhà trường. Hiện nay, hầu hết các trường đại học ở
Việt Nam tiến hành thay đổi phương thức đào tạo niên chế sang đào tạo theo
học chế tín chỉ. Phương thức đào tạo mới đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải đầu

16


tư nhiều công sức hơn cho việc soạn bài giảng, chuẩn bị tài liệu, hướng dẫn
thảo luận, tăng cường thời gian NCKH; sinh viên phải tham gia học tập với
thái độ tích cực, chủ động tìm kiếm và tham khảo các tài liệu thích hợp với
từng môn học, từng chuyên đề khác nhau để đạt yêu cầu của mỗi tín chỉ. Với
yêu cầu đổi mới về giáo dục đào tạo, NLTT tại các thư viện đóng vai trò quan
trọng giúp NDT trong nhà trường hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ học tập, giảng
dạy, nghiên cứu của mình.
NLTT cung cấp cho xã hội những thông tin khoa học mới mẻ, những
thành quả của các công trình nghiên cứu do cán bộ, giảng viên và sinh viên thực
hiện. Với phương pháp đào tạo theo học chế tín chỉ như hiện nay, người dạy,

người học phải dành nhiều thời gian cho NCKH, phải chủ động tìm kiếm và tự
nghiên cứu tài liệu để tạo ra những công trình nghiên cứu có chất lượng hàm
chứa những thông tin mới đặc thù và đôi khi là những thông tin duy nhất, khó
tìm thấy ở nơi khác. Ở đây cũng cần nhấn mạnh tới vai trò của nguồn học liệu là
vô cùng quan trọng tại trường đại học, quyết định phần lớn tới chất lượng đào
tạo và kết quả nghiên cứu.
1.1.4. Các yếu tố tác động đến sự phát triển nguồn lực thông tin
Sự phát triển của NLTT chịu ảnh hưởng trực tiếp của cách mạng khoa học
kỹ thuật và công nghệ đang diễn ra trên thế giới và những yếu tố nội tại bên
trong của tổ chức. Hiện nay, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công
nghệ, một khối lượng thông tin tài liệu vô cùng lớn được sản sinh và luân chuyển
trong xã hội. Đây là điều kiện thuận lợi đồng thời cũng là thách thức đối với công
tác PTNLTT tại mỗi cơ quan TT-TV. Để việc PTNLTT đáp ứng được yêu cầu
về chất lượng và hiệu quả, đòi hỏi phải có sự chọn lọc kỹ càng, cẩn trọng dựa
trên NCT của NDT, hiểu được các yếu tố ảnh hưởng tới các dòng tin tài liệu và
năng lực thực tiễn của mỗi cơ quan.

17


* Sự tác động của các yếu tố KH&CN
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của KH&CN đã tác động trực
tiếp tới các dòng tin, hình thức và phương tiện thông tin hiện đại, tạo thêm cơ
hội các để thư viện đáp ứng tốt hơn nhu cầu tin đa dạng của NDT.
+ Quy luật về sự gia tăng tài liệu.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của KHCN, đội ngũ những người làm
công tác khoa học đang tăng lên và sản phẩm của họ là các tài liệu khoa học
cũng tăng lên nhanh chóng, nó ảnh hưởng không nhỏ tới quy mô, thành phần
vốn tài liệu của mỗi cơ quan TT-TV. Điều này đã dẫn tới một hiện tượng mà
các nhà khoa học gọi là “bùng nổ thông tin”, thể hiện ở sự gia tăng mạnh mẽ

của các dòng thông tin tư liệu trên thế giới mấy chục năm gần đây. Khoa học
kỹ thuật phát triển đã làm khối lượng tri thức khoa học trong xã hội tăng
nhanh cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh những loại hình tài liệu đã xuất
bản theo phương thức truyền thống như sách, báo, tạp chí... là những dạng tài
liệu điện tử như đĩa từ, đĩa quang, băng từ, CSDL trực tuyến... Và điều này có
ảnh hưởng lớn tới thành phần, cơ cấu kho tài liệu. Từ những năm 50 thế kỷ
XX, nhà nghiên cứu lịch sử học và khoa học luận người Mỹ J. Price đã nghiên
cứu ảnh hưởng của cuộc cách mạng KHKT tới việc gia tăng tài liệu. Quy luật
tăng trưởng theo hàm mũ của dòng tin: Cứ sau chu kỳ 10 - 12 năm vốn tài
liệu của thế giới lại tăng gấp đôi đã đặt ra yêu cầu về sự phát triển của vốn tài
liệu như sau: các cơ quan TT-TV phải tăng cường thu thập, có chiến lược
chọn lọc và xử lý tài liệu hợp lý.
+ Quy luật về sự tập trung và tản mạn thông tin:
Quy luật này được hình thành do tác động của xu thế phân hóa và tổng
hợp trong sự phát triển khoa học hiện đại. Quá trình phân hóa theo chuyên
môn dẫn đến hình thành các tài liệu theo chuyên môn ngành hẹp. Quá trình
liên kết các khoa học hình thành các tài liệu khoa học liên ngành.

18


Trong những năm 30 của thế kỷ XX, qua thống kê của nhà khoa học
người Anh S. Bradford cho thấy rằng: Nếu sắp xếp số tạp chí khoa học theo
thứ tự giảm dần số bài báo về một chuyên ngành nào đó thì trong danh sách
nhận được ta có thể tìm thấy một số lượng nhỏ các “tạp chí hạt nhân”. Số tạp
chí hạt nhân này chỉ chiếm 10% đến 15% số tạp chí nhưng chứa đựng tới 90%
số bài báo liên quan đến ngành đó.
Nhờ xác định tạp chí hạt nhân, người ta xây dựng được danh mục các tạp
chí cần đươc ưu tiên mua một cách hợp lý và tránh được lãng phí trong các
quy trình thông tin trong các cơ quan TT-TV.

+ Quy luật về thời gian hữu ích và tính lỗi thời của tài liệu:
Thời gian hữu ích hay tuổi thọ của tài liệu khoa học kỹ thuật phụ thuộc
vào lĩnh vực tri thức và giá trị nội dung của tài liệu. Tuổi thọ tài liệu được tính
bằng khoảng thời gian từ lúc công bố đến lúc tài liệu trở nên lỗi thời, không
còn được sử dụng. Tài liệu chuyên môn được sản sinh theo một yêu cầu nào
đó thường giảm dần giá trị sử dụng cùng với sự phát triển của yêu cầu này
cho đến khi trở nên lỗi thời.
Ý nghĩa của quy luật này có tác dụng trong việc tổ chức công tác thanh
lọc tài liệu trong vốn tài liệu ở các cơ quan TT-TV. Tài liệu khi không còn giá
trị, không đáp ứng được nhu cầu của NDT nữa thì nên thanh lọc để tiết kiệm
diện tích kho, công sức của cán bộ, kinh phí cũng như để nâng cao hệ số hữu
ích và chất lượng của kho tài liệu.
+ Quy luật giá cả tăng liên tục:
Hiện nay, do nhiều yếu tố tác động như lạm phát, giá cả tiêu dùng tăng,
chi phí lao động cũng tăng lên nên giá cả tài liệu cũng tăng lên nhanh trong
nhiều thập kỷ qua. Giá cả tài liệu bao hàm hai yếu tố cấu thành, đó là giá
thông tin mà tài liệu chứa đựng và chi phí phần vật chất chứa đựng thông tin
và các phương tiện phân phối tài liệu.

19


Nghiên cứu của một số tác giả trên tạp chí “Nguồn lực Thư viện và dịch
vụ kỹ thuật” (Library Resourse and Technical Service) cho thấy, trong khoảng
10 năm, từ 1986 đến 1996, giá các loại tạp chí tăng khẳng 15,4%/năm và giá
của tài liệu khoa học công nghệ tăng trung bình 12-13%/năm.
Các nguyên nhân của sự tăng giá tài liệu là do:
− Lạm phát của hầu hết các nền kinh tế trên thế giới,
− Số trang, số tập của các tạp chí đều tăng dẫn tới khối lượng tăng,
− Giá giấy và giá các nguyên vật liệu khác tăng,

− Chi phí để nâng cao chất lượng sản phẩm tăng,
− CNTT tác động mạnh đến công nghệ xuất bản.
Việc giá của ấn phẩm tăng liên tục khiến việc bổ sung tài liệu mua bằng
kinh phí của Thư viện mỗi năm một giảm đi, đã ảnh hưởng không nhỏ tới
công tác PTNLTT của các cơ quan TT-TV. Do vậy, để duy trì công tác
PTNLTT tốt và mang lại hiệu quả cao thì phải chú ý tới sự chi phối của các
quy luật trên và tìm ra những giải pháp hữu hiệu để giảm thiểu sự chi phối đó.
+ Ảnh hưởng của xuất bản điện tử:
Trong thời đại hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và truyền
thông đã làm thay đổi cơ cấu các loại hình tài liệu có trong mỗi cơ quan TTTV. Tài liệu truyền thống không còn là nguồn tài liệu duy nhất, cùng với đó là
sự cân bằng với các tài liệu hiện đại, tài liệu điện tử, tài liệu số, các dạng
CSDL và vật phẩm đa phương tiện... Ấn phẩm điện tử, ấn phẩm số ra đời đã
tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, liên kết, trao đổi thông tin có chất
lượng cao và nhanh chóng.
Các ấn phẩm thông tin hiện đại với ưu điểm nổi bật là dễ kiểm soát
thông tin và khả năng tìm kiếm thông tin nhanh, rút ngắn thời gian xuất bản,
tiết kiệm diện tích lưu trữ, khả năng linh hoạt trong liên kết tới tài liệu gốc, hỗ
trợ đa phương tiện, dễ kết nối trên phạm vi toàn cầu thông qua mạng

20


Internet,... vì thế nó đang lấn át các vật mang tin truyền thống. Do vậy, công
tác PTNLTT ở các cơ quan TT-TV cần phải có chính sách hợp lý, cân đối
giữa các loại hình tài liệu mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của NDT.
* Sự tác động của các yếu tố nội tại của cơ quan TT-TV
+ Chính sách phát triển nguồn lực thông tin:
Chính sách là một hệ quan điểm có tính sách lược có mục tiêu và kế
hoạch để thực hiện chúng. Đây chính là yếu tố nội tại quan trọng, có vai trò
định hướng và dẫn dắt trong công tác PTNLTT của mỗi cơ quan TT-TV.

Chính sách PTNLTT chịu ảnh hưởng từ chính sách vĩ mô của Đảng, Nhà
nước tới trực tiếp là chính sách, chiến lược phát triển của chính cơ quan chủ
quản, của lãnh đạo cơ quan TT-TV. Về cơ bản, chính sách PTNLTT là một tài
liệu chính thức thành văn được lãnh đạo cơ quan ban hành xác lập phương
hướng và cách thức xây dựng, tạo lập, duy trì, phát triển vốn tài liệu đủ sức
đáp ứng NCT của tổ chức. Trong TV, chính sách PTNLTT trước hết hướng
đến việc xác định cụ thể diện tài liệu bổ sung của từng cơ quan trên cơ sở đặc
trưng của từng loại hình thư viện và dựa vào NCT của NDT tại cơ quan đó.
Đối với các thư viện trường đại học, chính sách PTNLTT khoa học, đầy đủ,
kịp thời, chính xác và bám sát với chuyên ngành đào tạo có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng của NLTT.
+ Trình độ của cán bộ bổ sung:
Để công tác PTNLTT đạt hiệu quả cao, đòi hỏi cán bộ bổ sung phải có
trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ nhất định và kinh nghiệm thực tế.
Khi có trình độ chuyên môn vững vàng, trình độ ngoại ngữ tốt cán bộ bổ sung
có thể xác định, đánh giá được chất lượng của nguồn tin, tránh tình trạng thu
thập ồ ạt, chỉ đảm bảo về mặt số lượng mà không đảm bảo chất lượng, dẫn tới
hiện tượng tài liệu “vừa thừa vừa thiếu”, gây lãng phí và làm suy giảm chất
lượng của NLTT.

21


+ Kinh phí bổ sung:
Kinh phí là nguồn tài lực giữ vai trò quan trọng và quyết định đến sự
phát triển, tổ chức, khai thác NLTT của thư viện.Với nguồn kinh phí đủ
mạnh, thư viện sẽ có thể xây dựng kế hoạch bổ sung đầy đủ về nội dung và đa
dạng về loại hình tài liệu mà NDT cần, từ đó tạo niềm tin với NDT đồng thời
nâng cao uy tín, thương hiệu của thư viện. Trong thực tiễn, hiện nay, nguồn
kinh phí dành cho bổ sung của các thư viện Việt Nam còn rất hạn chế trong

khi NCT ngày một tăng, đặc biệt là các thư viện trường đại học. Bởi vậy, với
nguồn kinh phí luôn hạn hẹp, lãnh đạo các thư viện cần, một mặt, phải có
chiến lược, kế hoạch bổ sung nguồn tài liệu hợp lý, chính xác và kịp thời, mặt
khác, cần đa dạng hóa các kênh tài chính và nguồn bổ sung hỗ trợ khác.
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Để công tác PTNLTT đạt hiệu quả cao thì việc đầu tư, hoàn thiện cơ sở
vật chất kỹ thuật tại mỗi cơ quan TT-TV có ý nghĩa to lớn. Vì khi có cơ sở vật
chất kỹ thuật tốt, đảm bảo chất lượng sẽ là điều kiện tốt để tăng cường NLTT,
làm giàu có, phong phú NLTT của mỗi cơ quan TT-TV, NDT mới có thể khai
thác tối đa NLTT đó. Nếu CSVC được chú trọng đầu tư trong khi NLTT lại
không được phát triển thì đó là sự không cân xứng, không đáp ứng được NCT
của NDT. Ngược lại, nếu NLTT được tăng cường bổ sung nhưng cơ sở vật
chất kỹ thuật chưa được đầu tư tương ứng thì NDT không đủ công cụ để tiếp
cận nguồn tin.
+ Đào tạo theo hình thức tín chỉ:
Với phương châm giáo dục mới, thực học, thực nghiệm giảng viên và
sinh viên thay bằng việc sử dụng thời gian trên lớp học là thời gian tự nghiên
cứu để đáp ứng yêu cầu giảng dậy và học tập của mình. Họ thường xuyên
phải tìm đến thư viện khai thác NLTT, tìm kiếm tài liệu đáp ứng yêu cầu đặt
ra của môn học. Vì vậy mỗi thư viện phải bổ sung NLTT đủ mạnh để đáp ứng

22


×