Tải bản đầy đủ (.docx) (34 trang)

Nghiên cứu sự tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước tỉnh bình thuận

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (475.06 KB, 34 trang )

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được niên luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ, chỉ bảo cũng như những lời động viên của các quý thầy cô, gia đình và bạn bè.
Xin chân thành cảm ơn ThS. Lê Thị Thường, người đã hướng dẫn tôi hoàn
thành báo cáo niên luận. Cảm ơn cô đã tận tình chỉ báo, hộ trợ và động viên tôi
trong suốt quá trình thực hiện niên luận này.
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời tri ân sâu sắc đến tất cả các quý thầy cô trong
khoa Khí tượng – Thủy văn của trường Đại học Tài nguyên Môi trường Hà Nội đã
tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiế thức cũng như những kinh nghiệm quý báu
cho chúng em trong suốt quá trình học tập tại trường.
Cảm ơn tập thể lớp ĐH2T, các bạn đã giúp đỡ mình trong những ngày tháng
ngồi dưới giảng đường đại học.
Tuy đã cố gắng hoàn thành bài khóa luận những cũng không thể tránh khỏi
những sai sót nhất định trong quá trình thực hiện, rất mong được sự thông cảm và
những chia sẻ quý báu của quý thầy cô và các bạn.

1


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH : Biến đổi Khí hậu
PAO : (tếng Anh: Food and Agriculture Organization of the United Nations) Tổ
chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
KTTV&BĐKH : Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hhậu
TNN : Tài nguyên nước

2


MỤC LỤC


3


DANH MỤC BẢNG BIỂU

4


PHẦN MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước là tài nguyên quan trọng và duy nhất không thể thay thế được. Nước là
thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển của
con người và xã hội. Tài nguyên nước (TNN) có hạn nên nếu chúng ta không biết
khai thác hợp lí thì sẽ làm cạn kiệt tài nguyên nước.
Hiện nay, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) đã gây ra ảnh hưởng
đến cả số lượng và chất lượng nguồn nước, nó thể hiện cụ thể trên các lưu vực sông
đó là sự suy giảm và sự thay đổi số lượng, chất lượng của dòng chảy năm, dòng
chảy lũ, dòng chảy kiệt…trên các con sông, trên hệ thống các lưu vực. Trong bối
cảnh cả nước đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vai trò của
nước càng quan trọng hơn. Những mâu thuẫn, cạnh tranh trong việc khai thác, sử
dụng nước sẽ nảy sinh. Yêu cầu điều hòa, chia sẻ nguồn nước, đảm bảo các nhu cầu
khai thác, sử dụng không chỉ cho các ngành kinh tế, du lịch, dịch vụ mà còn cho các
giá trị văn hóa, các hoạt động xã hội, cho duy trì môi trường trong lành…
Vì vậy, tìm ra một quyết định tốt cho sử dụng tài nguyên nước để đáp ứng
được các yêu cầu dùng nước thì cần phải nghiên cứu, tính toán, phân phối lại nguồn
nước sao cho sử dụng một cách hợp lí và hiệu quả nhất.
Dựa trên cơ sở đó và với mong muốn vận dụng các kiến thức đã học, em đã
chọn “Nghiên cứu sự tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước tỉnh
BìnhThuận”để làm đề tài niên luận.
II. ĐỐI TƯỢNG - MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên nước tỉnh Bình Thuận
2. Mục tiêu:
Nghiên cứu sự tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước tỉnh Bình
Thuận
3. Phạm vi nghiên cứu:
Tỉnh Bình Thuận

5


III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp điều tra và thu thập số liệu
- Phương pháp thống kê , xử lý số liệu
- Phương pháp kế thừa: Tham khảo và kế thừa một số tài liệu, kết qur có liên
quan đã được nghiên cứu trước đó
IV. BỐ CỤC CỦA NHIÊN LUẬN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nhiên luận được trình bày trong ba chương,
bao gồm
Chương 1:Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác động của biến đổi khí
hậu đến TNN
Chương 2 : Đặc điểm địa lí tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Bình Thuận.
Chương 3 : Đánh giá tác động của BĐKH đến TNN tỉnh Bình Thuận

6


CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC
“Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học
gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc

sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các
hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”. [Theo công
ước chung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu].
1.1: TỔNG QUAN VỀ TAC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI
NGUYÊN NƯỚC THẾ GIỚI
Trong những năm gần đây, BĐKH gây ra những tác hại theo hướng nóng lên
toàn cầu như: gia tăng mực nước biển, băng hà lùi về hai cực, những đợt nóng, bão
tố và lũ lụt, khô hạn, ...
Những minh chứng cho các vấn đề này được biểu hiện qua hàng loạt tác
động cực đoan của khí hậu trong thời gian gần đây như:
- Có khoảng 250 triệu người bị ảnh hưởng bởi những trận lũ lụt ở Nam Á,
châu Phi và Mexico.
- Các nước Nam Âu đang đối mặt nguy cơ bị hạn hán nghiêm trọng dễ
dẫntới những trận cháy rừng, sa mạc hóa. Các nước Tây Âu thì đang bị đe dọa bởi
những trận lũ lụt lớn có thể xảy ra do mực nước biển dâng cao cũng như những đợt
băng giá mùa đông khốc liệt.
- Những trận bão lớn vừa diễn ra tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ...
nguyên nhân là do hiện tượng trái đất ấm lên trong nhiều thập kỷ qua.
- Những dữ liệu thu được qua vệ tinh từng năm cho thấy số lượng các trận
bão không thay đổi, nhưng bão, lốc với cường độ mạnh, sức tàn phá lớn đã tăng lên,
đặc biệt ở Bắc Mỹ, tây nam Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, bắc Đại Tây Dương.
Số lượng các trận bão lớn, lốc xoáy cường độ mạnh tăng gấp đôi, trùng hợp với
nhiệt độ bề mặt đại dương tăng lên. Trận sóng thần ở Ấn Độ Dương (2004) cướp đi
sinh mạng 225.000 người thuộc 11 quốc gia; hay cơn bão Katrina đổ bộ vào nước
Mỹ (2005) gây thương vong lên đến hàng ngàn người và thiệt hại kinh tế ước tính

7


25 tỷ USD; và gần đây nhất siêu bão Nargis đánh vào Myanmar (2008) là thảm họa

thiên nhiên tàn khốc nhất năm qua tính theo số lượng người thiệt mạng. Trận bão
này giết chết hơn 135.000 người và đẩy hơn một triệu người vào cảnh không nhà
cửa. Tính ra, thiên tai đã cướp đi mạng sống của hơn 220.000 người trong năm
2008 và gây thiệt hại khoảng 200 tỷ USD, biến nó thành một trong những năm đáng
sợ nhất trong lịch sử loài người tính theo tổn thất thiên tai về người và của.
- Diễn biến mới nhất của thiên tai là trận cháy rừng khủng khiếp do thời tiết
quá khô hạn vừa xảy ra ở nước Úc (2/2009) đã giết chết ít nhất 210 người và làm bị
thương hơn 500 người cùng những thiệt hại nặng nề về vật chất.
Tóm lược những ảnh hương của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước
trên Thế Giới
Châu Á : Đến năm 2050 lượng nước ngọt có thế sử dụng đươc ở : Trung Á ,
Nam Á , Đông Á và Đông Nam Á ở các lưu vực sông lớn giảm.
Vùng ven biển nhất là các vùng châu thổ lớn sẽ chịu nhiều rủi ro nhất từ lũ
sông, biển.
Châu Phi : Vào năm 2020, khoảng 75 – 250 triệu người sẽ phải chịu áp lực
lớn về nước do biến đổi khí hậu.
Năm 2080, diện tích đất khô cằn và bán khô cằn ở Châu Phi sẽ tăng từ 5% 8% theo các kịch bản khí hậu.
Châu Âu : Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng sự khác biệt giữa các khu vực. Tăng
nguy cơ xảy ra lũ quét trong nội địa, lũ lụt ven biển thường xuyên hơn và xói mòn
mạnh hơn.
Các vùng núi sẽ đối mặt với sự thu hẹp của sông băng, độ che phủ của tuyết
giảm.
Nghiêm trọng hơn là giảm khả năng sử dụng nước.
Châu Mỹ La Tinh : Ở miền Đông Amazon. Nhiệt độ tăng cao kết hợp với
suy giảm lượng nước sẽ dẫn đến sự thay thế rừng nhiệt đới bằng các hoang mạc.
Thảm thực vật bán khô hạn sẽ được thay bằng thảm thực vật khô hạn.
Bắc Mỹ : Nóng lên làm các dãy núi miền tây sẽ làm giảm lớp phủ băng

8



tuyết, tăng lũ lụt mùa đông và giảm lưu lượng nước mùa hè khiến cho cuốc cạnh
tranh vì tài nguyrn nước phân bổ không đều diễn ra khốc liệt hơn.
Ôxtraylia và New Zealand : Đến năm 2030, các vấn đề an ninh nguồn nước
sẽ trầm trọng hơn ở miền nam và đông Ôxtraylia, phía Bắc và một số vùng Đông
New Zeland
Vào năm 2050, phát triển ven biển và tăng dân số một số khu vực thuộc
Ôxtraylia và New Zeland sẽ làm tăng nguy cơ mực nước biển dâng, tăng tần suất và
cường độ bão lũ ven biển.
Các vùng cực : Các ảnh hưởng chủ yếu sẽ làm giảm độ dày và diện tích của
các sông băng, mũ băng và băng biển.
Đối với các cộng đồng ở bắc cực, các tác động đặc bieeyj là tác động do thay
đổi trạng thái của băng, tuyết sẽ rất phức tạp
Các đảo nhỏ : Mực nước dâng sẽ làm gia tăng lũ lụt , dông bão, xói lở và
các thảm họa ven biển khác.
Biến đổi khí hậu sẽ làm suy giảm tài nguyên nước ở nhiều đảo nhỏ như vùng
Caribe và Thái Bình Dương không có đủ nước để đáp ứng nhu cầu.
Nóng lên toàn cầu và nước biển dâng có thể tiếp diễn trong nhiều thế kỷ do
tính phức tạp và sự phản hồi của quá trình khí hậu, thậm chí ngay cả khi nồng độ
các khí nhà kính đã ởn định.Sau năm 2100, sự thu hẹp của dải băng Greenland sẽ
tiếp diễn, góp phần cho mực nước biển tăng cao hơn. Các mô hình hiện nay cho
thấy dải băng tan chảy hoàn toàn sẽ làm cho mực nước biển dâng cao khoảng 7m.
Các nghiên cứu mô hình toàn cầu hiện nay dự báo, dải băng nam cực vẫn
còn quá lạnh để tan chảy trên bề mặt rộng lớn và vẫn tiếp tục tích tụ do mưa tuyết
nhiều hơn. Tuy nhiên khối lượng băng có thể giảm thực sự giảm xu thế tan chảy trội
hơn trong cân bằng khối của dải băng.
1.2 : TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC VIỆT
NAM
Việt Nam có 3.260 km bờ biển với 28/64 tỉnh, thành phố có biển. Kinh tế
biển đã trở thành một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong chiến lược kinh tế

9


đất nước. Biến đổi khí hậu sẽ tác động mạnh mẽ đến đời sống con người, song đối
với một nước có đường bờ biển dài và hai đồng bằng châu thổ lớn thì mối đe doạ do
biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao sẽ thực sự nghiêm trọng. Các vùng ven biển
Việt Nam sẽ phải chịu ảnh hưởng nhiều nhất do biến đổi khí hậu gây ra như bão, lũ
lụt, xói lở bờ biển và xâm nhập mặn…Ở Việt Nam, xu thế biến đổi của nhiệt độ và
lượng mưa rất khác nhau trên các vùng trong 50 năm qua.
Giai đoạn sau năm 2020, mực nước ngầm có thể giảm xuống đáng kể do
cgiụ ảnh hưởng của hoạt động khai thác và suy giảm lượng nước cung cấp cho dòng
chảy trong mùa khô . Tại vùng đồng bằng Nam Bộ, nếu ượng nước dòng chảy mùa
khô giảm khoảng 15% đến 20% thì mực nước ngầm có thể hạ thấp 11m so với hiện
tại. Mực nước ở các vùng không ảnh hưởng thủy triều có xu hướng thấp hơn.
1.2.1 Tác động của biến đổi khí hậu đối với dòng chảy sông ngòi
Biến đổi khí hậu sẽ làm dòng chảy sông ngòi thay đổi về lượng và sự phân
bố theo thời gian, vùng lãnh thổ. Tác động của biến đổi khí hậu lên dòng chảy năm,
dòng chảy mùa lũ, dòng chảy mùa cạn của các thời kì tương lai được đánh giá như
sau
a/ Dòng chảy năm
Tác động của biến đổi khí hậu đến dòng chảng năm rất khác giữa các
vùng /hệ thống sông trên lãnh thổ Việt Nam. Theo kịch bản biến đổi khí hậu hậu B2
dòng chảy trên các sông Bắc Bộ, phần phái bắc của Bức Trung Bộ có xun hướng
tăng 2%, vào thời kì 2040 - 2059 và lên tới 2% đến 4% vào thời kì 2080 - 2099
Trái lại , từ phần phía Bắc Trung Bộ đến phần phái bắc của Nam Trung Bộ
và Đông Nam Bộ ( hệ thống sông Đồng Nai), dòng chảy năm lại có xu thế giảm ,
thường dưới 2% ỏ sông Thu Bồn, Ngàn Sâu nhưng giảm mạnh ở hệ thống sông
Đồng Nai, sông Bé từ 4% đến 7% vào thời kì 240 - 2059 và 7% đến 9% vào thời kì
2080 – 2099( bảng 1 )
Theo kết quả nghiên cứu của Ủy hội sông Mê Công, dòng chảy năm trên

sông Mê Công, tại Kratie, nguần cấp nước chủ yếu cho đồng bằng sông Cửu Long,
trung bình thời kì 2010 – 2050 so với thời kì trước năm 1895 – 2000 tăng khoảng
10


4% đến 6% ở kịch bản B2
Bảng 1.1 : Biến đổi dòng chảy trung bình năm của các sông chính dự báo theo kịch
bản biến đổi khí hậu trung bình B2
Trạm thủy
văn

Tạ Bú
Yên Bái
Vụ Quang
Chiêm
Hóa
Sơn Tây
Gia Bảy
Dừa
Nghĩa
Kánh
Hòa Duyệt
Nông Sơn
Củng Sơn
Tà Lài
Tà Pao
Phước Hòa

Sông


Dòng chảy
thời kì 18901999

Dòng chảy thời kì 2040
- 2059

Dòng chảy thời kì
2080 - 2099

m3/s

m3/s

Mức
tăng(% )so
với năm
18901999

Đà
Thao


1.530,00
711,00
1.076,00

1.550,00
717,00
1.089,00


0,79
0,74
1,36

1.579,00
728,00
1.108,00

Mức
tăng(% )
so với
năm
1890 199
1.579,00
2,07
3,21

Gấm

384,00

391,00

1,75

396,00

3,03

Hồng

Cầu
Cả

3.315,00
54,40
423,11

3.483,00
55,00
430,61

0,68
0,94
1,77

3.559,00
56,00
439,32

2,95
2,49
3,83

Hiếu

132,16

134,67

1,90


136,93

3,61

112,84

111,97

-0,77

111,64

-1,06

276,63

273,33

-1,73

267,86

-1,19

279,71

292,11

4,43


294,11

5,15

349,00

335,00

-4,01

232,30

-7,36

77,23
227,58

74,13
210,78

-4,01
-6,94

71,93
206,98

-6,86
-9,05


Ngàn
Sâu
Thu
Bồn
Ba
Đồng
Nai
Là Ngà


m3/s

b/ Dòng chảy mùa lũ
Dòng chảy mùa lũ hầu hết các sông có xu thế tăng so với hiện nay, song với
mức độ khác nhau, phôe biến tăng từ 2% đến 4% vào thời kì 2040-2059 và vào thời
kì 2080-2099. Riêng sông Thu Bồn, sông Ngàn Sâu chỉ tăng dưới 2% vào thời kì
2040- 2059 và dưới 3% vào thời kì 2080-2099 (bảng2)
trong khi đó, dòng chảy mùa lũ của các sông trên hệ thống sông Đồng Nai,
sông Bé lại giảm khoảng từ 2,5% đến 6% và từ 4% đến 8% vào hai thời kì nói trên.
Đối với sông Mê Công, so với thời kì 1985 – 2000, dòng chảy mùa lũ tại

11


Kratie trung bình thời kì 2010- 2050 tăng khoảng 5% đến 7%
Bảng 1.2. Biến đổi dòng chảy mùa lũ của các sông chính dự báo theo kịch bản
biến đổi khí hậu trung bình B2
Trạm thủy văn

Sông


Dòng chảy
thời kì 18901999

Dòng chảy thời kì 2040
- 2059

Dòng chảy thời kì 2080
- 2099

Tạ Bú
Yên Bái
Vụ Quang

Đà
Thao


2.849,00
1.203,00
1.806.00

2.919,00
1.247,00
1,849,00

Mức
tăng(% )so
với năm
18901999

2,48
3,65
2,40

Chiêm Hóa

Gấm

676,00

695,00

2,72

712,00

5,22

Sơn Tây
Gia Bảy

Hồng
Cầu

6.041,00
81,90

6.191,00
85,00


2,48
3,58

6.408,00
88,00

6,07
7,51

Dừa

Cả

740,73

771,05

4,09

797,88

7,72

Nghĩa Kánh

Hiếu

215,60

222,90


3,39

228,99

6,21

Hòa Duyệt

Ngàn Sâu

192,68

195,81

1,63

198,49

3,01

Nông Sơn

Thu Bồn

770,14

780,18

1,30


786,08

2,07

Củng Sơn

Ba

609,40

656,70

7,76

674,00

10,60

Tà Lài

Đồng Nai

655,80

637,30

-2,82

617,00


-5,92

Tà Pao

Là Ngà

145,74

142,54

-2,20

139,84

-4,05

Phước Hòa



433,52

406,72

-6,18

398,52

-8,07


m3/s

m3/s

m3/s

Mức
tăng(% )so
với năm
1890 - 199

2.995,00
1.289,00
1.901,00

5,15
7,15
5,31

c/ Dòng chảy mùa cạn
Biến đổi khí hậu có xu hướng làm suy giảm dòng chảy mùa cạn, so với xu
hướng dòng chảy mùa cạn phổ biến giảm từ 2% đến 9% vào thời kỳ 2040 – 2059 và
từ 4% đến 12% vào thời kỳ 2080 – 2099 (Bảng 3).
Tuy nhiên, dòng chảy mùa cạn không thể hiện xu thế tăng hoặc giảm rõ ràng ở sông
Mê Công tại Kratie và Tân Châu.

12



Bảng 1.3: Biến đổi dòng chảy mùa cạn của các sông chính dự báo theo kịch bản
biến đổi khí hậu trung bình B2
Dòng chảy
thời kỳ

Dòng chảy thời kỳ

Dòng chảy thời kỳ

2040 - 2059

2080 - 2099

1980 - 1999
Trạm thủy văn

Sông

Mức tăng

Mức tăng
m²/s

m²/s

(%) so với

m²/s

1980 - 1999

572,00
339,00
547,00
1.549,0

mức 1980 -

−5,19
−576
−158

567,00
328,00
540,00

1999
−5,98
−8,76
−2,74

−81

170,00

−2,61

Tạ Bú
Yên Bái
Vụ Quang


Đà
Thao


604
360,00
566,00

Chiêm Hóa

Gấn

175,00

Sơn Tây

Hồng

1.617,00

22,00

−424

Gia Bảy
Dừa
Nghĩa Khánh
Hòa Duyệt
Nông Sơn
Củng Sơn

Tà Lài

Cầu
Cả
Hiếu
Ngàn Sâu
Thu Bồn
Ba
Đồng Nai

23,00
196,24
72,56
55,81
112,13
114,72
129,93

187,45
71,64
52,20
104,39
109,62
120,93
23,20

−433
−448
−126
−667

−690
−445
−683

0

(%) so với

1.523,0
0
22,00
183,21
71,17
49,61
100,44
103,92
116,03

−579
−6,68
−6,64
−1,91
−11,11
−10,42
−9,41
−10,70

1.2.2. Tác động đến bốc hơi nước
Theo kịch bản biến đổi khí hậu trung bình B2, lượng nước thoát hơi tiềm
năng đều tăng khoảng 7% đến 10% vào thời kỳ 2040 – 2059. Từ 12% đến 16% vào

thời kỳ 2080 – 2099 so với hiện tại. Đặc biệt Trung Bộ và Nam Bộ có tỷ lệ tăng
lượng bốc thoát hơi tiềm năng cao nhất là 10% đến 13% và 18% đến 22% vào thời
kỳ trên (Bảng 4).
Bảng1. 4. Lượng bốc thoát hơi tiềm năng dự báo theo kịch bản biến đổi khí hậu
trung bình B2

13


Lượng

bốc

hơi tiềm năng
năm thời kỳ
Khu vực

1980 - 1999
mm

Lượng bốc hơi tiềm Lượng bốc thoát hơi
năng thời kỳ 1980 - tiềm năng năm thời
1999

kỳ 1980 - 1999
Mức tăng (%)

Mức

mm


so với 1980 - mm

(%) so với

1.44
1.389
1.378
1.571

1980 - 1999
11,49
14,28
14,52
16,69

Tây Bắc
Đông Bắc
Đông Bắc Bộ
Bắc Trung Bộ

1.292
1.215
1.204
1.344

1.379
1.317
1.306
1.477


1999
6,75
8,38
8,53
9,92

Nam Trung Bộ

1.536

1.732

12,89

1.87

21,96

Tây Nguyên
Nam Bộ

1.59
1.418

1.726
1.552

8,50
10,62


1.821
1.646

14,47
18,09

tăng

1.2.3. Tác động đến nước ngầm
Giai đoạn sau năm 2020, mực nước ngầm có thể giảm đáng kể do chịu ảnh
hưởng của hoạt động khai thác và suy giảm lượng nước cung cấp cho dòng chảy
ngầm cho mùa khô. Tại vùng đồng bằng Nam Bộ, nếu lường dòng chảy mùa khô
giảm khoảng 15% - 20% thì mực nước ngầm có thể hạ thấp khoảng 11m với hiện
tại. Mực nước tại các vùng không bị ảnh hưởng của thủy triều có xu hướng hạ thấp
hơn.
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC TỈNH
BÌNH THUẬN
Từ cuối năm 2014 đến nay, tại các tỉnh Nam Trung Bộ đã xảy ra hạn hán
nghiêm trọng, trong đó Bình Thuận là địa phương chịu ảnh hưởng nặng nhất vì nằm
trong vùng có lượng mưa thấp nhất. Hạn hán đã tác động lớn đến đời sống, sinh
hoạt của người dân. Theo dự báo, thời gian tới, tình trạng khô hạn, thiếu nước sẽ
xảy ra trên diện rộng, do đó, tỉnh Bình Thuận hiện đang tích cực triển khai nhiều
giải pháp đảm.

14


a/ Hạn hán ra tăng do thiếu hụt dòng chảy:
Bình Thuận là tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng

ẩm, lượng mưa phân bố không đều. Bên cạnh đó những năm gần đây do tác động
của biến đổi khí hậu, dòng chảy năm và dòng chảy lũ trên lưu vực sông thuộc tỉnh
Bình Thuận có xu thế tăng nhẹ, dòng chảy mùa cạn có xu thế giảm, điều này dẫn
đến tình trạng thiếu nước ngày càng gia tăng. Nhiệt độ cao, lượng mưa tăng rất ít
khiến cho nguồn nước ngày càng khan hiếm.
Thực tế cho thấy, nắng hạn gay gắt từ tháng 7/2014 đến nay làm dòng chảy
trên các sông suối của Bình Thuận cạn kiệt, nguồn nước trong các hồ chứa bị thiếu
hụt nghiêm trọng. Tỉnh Bình Thuận có 45 hồ chứa, nhưng hiện nay đá số các hồ chỉ
đạt từ 30% đến dưới 40% dung tích nước, một số hồ nhỏ đã cạn ở ngưỡng mức
chết, không đủ cung cấp nước cho hoạt động sản xuất và phục vụ sinh hoạt cho
người dân.Tại Hàm Tân, nhiều xã cũng trong tình trạng khô hạn nghiêm trọng. Hệ
thống nước máy đã ngừng cung cấp do nhà máy nước không có nguồn nước.
b/ Mùa mưa đến muộn, cần chủ động chống hạn
Theo các chuyện gia KTTV&BĐKH, hiện nay hiện tượng ENSO ( sự kết
hợp dồng thời của El Nino và La Nina) đang ở trạng thái pha nóng. Dự báo trong
những năm tới, khae năng xuất hiện của El Nino vào khoảng 50 – 60%. Khu vực
nam trung bộ sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất, hiện tại dòng chảy khu vực này đang bị
thiếu hụt so với trung bình nhiều năm là 20 – 30%. Các hồ chứa cũng thiếu nước,
nhiều hồ chỉ đạt 40 – 50% dung tích thiết kế, có hồ chỉ đạt 20%.
Nguyên nhân bước đầu được xác định do biến đổi khí hậu gây ra. Bên cạnh
đó, do gia tăng dân số nên việc sử dụng nước cũng tăng theo. Cụ thể là vào giai
đoạn 2080 – 2099 tỷ lệ dùng nước sẽ đạt ngưỡng lớn nhấ với tổng lượng nước là
1.184 tỷ m³/s, tăng 582 triệu m³ so với thời kỳ 1980 – 1999. Theo tính toán này, thì
tổng lượng nước thiếu của toàn tỉnh là 286,98 triệu m³.
Theo các chuyên gia, tỉnh Bình Thuận cần xây dựng các chiến lược, quy
hoạch và kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trong đó phải có biện
pháp bảo đảm nguồn nước, nhất là nước sinh hoạt cho dân. Bên cạnh đón cần tăng

15



cường tổ chức tuyên truyền, vận động người dân sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn
nước.
Kết Luận chương 1
Sau khi kết thúc chương 1, thì thấy nội dung chương 1 đã đề cập tới một số
vấn đề sau
Tìm hiểu những đặc điểm, ảnh hưởng và hậu quả của tác động biến đổi khí
hậu đến tài nguyên nước Thế Giới, Việt Nam, cũng như tỉnh Bình Thuận
Để đánh giá rõ sự tác động của Biến đổi Khí hậu có tác động như thế nào
đến tài nguyên nước tỉnh Bình Thuận thì chương 2 em xin gới thiệu về đực điểm
địa lý tự nhiên, khí hậu, điều kiện khí tượng thủy văn …

16


CHƯƠNG 2 : ĐẶC ĐIỂM ĐẠI LÝ TỰ NHIÊN TỈNH BÌNH THUẬN
2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Tỉnh Bình Thuận nằm ở tọa độ từ 10°34’35’’ đến 11° 37’30’’ độ vĩ Bắc và
107°23’30’’ đến 108°32’30’’độ kinh Đông (xem Hình 2. 1), được giới hạn bởi:
- Phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng;
- Phía Nam giáp biển Đông, với chiều dài bờ biển 192km;
- Phía Tây giáp 2 tỉnh: Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu;
- Phía Đông và Đông Bắc giáp biển Đông và tỉnh Ninh Thuận.

Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bình Thuận
Bình Thuận nằm trong vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ, có mối liên hệ
chặt chẽ với vùng Đông Nam Bộ và nằm trong khu vực ảnh hưởng của địa bàn kinh
tế trọng điểm phía Nam. Nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km, cách Thành phố
Nha Trang 250 km, có quốc lộ 1A, đường sắt Thống nhất chạy qua nối vùng nghiên
cứu với các tỉnh phía Bắc và phía Nam của cả nước; quốc lộ 28 nối liền thành phố

Phan Thiết với các tỉnh Nam Tây Nguyên; quốc lộ 55 nối liền với trung tâm dịch vụ
dầu khí và du lịch Vũng Tàu. Với vị trí địa lý như trên, bên cạnh mối quan hệ kinh tế
truyền thống với địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng nghiên cứu có điều kiện
17


mở rộng mối quan hệ giao lưu phát triển kinh tế với các tỉnh Tây Nguyên và cả nước.
2.2 ĐỊA HÌNH, ĐỊA CHẤT_THỔ NHƯỠNG
a/ Địa hình
Địa hình dạng chuyển tiếp từ Tây Nguyên xuống đồng bằng ven biển nên
biến đổi rất đa dạng và phức tạp. Phía Bắc và Tây Bắc là những dãy núi cao, độ cao
trung bình 500-1500m. Phía Nam và Đông Nam là những vùng đồng bằng thấp, hẹp
trong những thung lũng sông nhỏ với những dãy đồi cát, đụn cát kéo dài theo bờ
biển. Nếu xét theo độ cao có thể chia địa hình thành 4 loại sau:
Vùng núi trung bình (>500m): Chiếm 31,65% diện tích tự nhiên, chủ yếu
tập trung phía Bắc và Tây Bắc; Có độ dốc cao, địa hình phức tạp, chủ yếu là rừng
phòng hộ đầu nguồn.
Vùng đồi núi thấp (cao độ trung bình 200-500 m): Chiếm 40,7% diện tích
tự nhiên, chủ yếu là đất lâm nghiệp và rừng.
Vùng đồi, đụn cát ven biển (cao độ 100 m - < 200 m): gồm các đồi cát
phân bố dọc bờ biển từ Tuy Phong tới Hàm Tân có hình dạng gò đồi lượn sóng
chiếm 18,22% diện tích tự nhiên.
Vùng đồng bằng phù sa (cao độ khoảng 5-100 m): chiếm 9,43% diện tích,
gồm các đồng bằng Tuy Phong (Lòng Sông), Phan Rí, Sông Mao (Sông Luỹ),
Phan Thiết (Sông Quao, Cà Ty), Đức Linh, Tánh Linh (sông La Ngà). Đặc điểm
địa hình nói trên tạo điều kiện phát triển nền kinh tế đa dạng nhưng cũng gây
khó khăn nhiều cho sản xất kinh tế.
b/ Địa chất _ Thổ nhưỡng
Trên bản đồ thổ nhưỡng Việt Nam, vùng Bình Thuận - Ninh Thuận gồm 2 kiểu
đất: “Đất xám bạc màu vùng khô hạn”, và “Đất feralit”, đất vàng đỏ trên các đá

magma axit và trung tính.
Trên cơ sở nghiên cứu vỏ phong hoá, theo quan điểm địa hoá thổ nhưỡng có thể
xếp đất vùng Bình Thuận - Ninh Thuận vào nhóm đất “Aridisols” theo phân loại
của FAO, 1975 và có thể chia ra 3 kiểu đất sau:

18


1. Kiểu đất vụn thô: Ứng với kiểu đất “Ustisols” theo phân loại của FAO,
1975. Kiểu đất này phát triển trên vùng đá gốc lộ tảng và các thành tạo trầm tích
biển-gió. Đất vụn thô màu xám vàng, xàm nâu phát triển trên vỏ phong hoá saprolit,
đặc trưng cho vùng núi. Kiểu đất này thường rất mỏng, lớp phủ thực bì kém, đất
chứa nhiều sản phẩm vật liệu vụn thô, ít sét và vật chất hữu cơ. Kiểu đất này chủ
yếu phát triển trên các bề mặt san bằng và theo các khe nứt của đá. Đất có chứa các
khoáng vật như hyđromica, kaolinit, monmorilonit và keo sắt có khả năng hấp thụ
và trao đổi cation cao, có khả năng giữ ẩm nên thực vật có thể phát triển được. Đối
với loại đất này khó có khả năng canh tác. Cho nên, những vùng đất này nên quy
hoạch phát triển lâm nghiệp, duy trì và bảo tồn rừng tự nhiên.
2. Kiểu đất sialferit: Phát triển ở vùng đồi núi thấp (ứng với kiểu đất
Xerosols theo phân loại của FAO, 1975). Đất sialferit thường có pH từ 6 đến 7, môi
trường oxy hoá yếu (Eh: 30-70 mV) phát triển ở địa hình đồi núi thấp, ven chân núi.
Đất bị rửa lũa yếu, các nguyên tố kiềm thường xuyên có mặt trong đất. Đất chủ yếu
chứa các khoáng vật có khả năng hấp thụ và trao đổi cation cao và có khả năng giữ
ẩm như hyđromica, kaolinit, monmorilonit, các keo sắt. Các nguyên tố vi lượng
thường nằm trong giới hạn thích hợp cho môi trường. Tuy nhiên, ở một số khu vực
một số nguyên tố Pb, Zn, As, F và Cu có xu hướng tăng cao cần phải được quan
tâm nghiên cứu. Nói chung, kiểu đất này phân bố ở những vùng khá thuận lợi cho
việc cải tạo, tưới tiêu và thích hợp cho việc quy hoạch và phát triển nông nghiệp,
cây công nghiệp như nho, bông, thuốc lá, thanh long, hành tỏi, lúa nước…
3. Kiểu đất sialit kiềm: Phát triển ở các thung lũng (ứng với kiểu đất

Yermosols theo phân loại của FAO, 1975). Đất sialit kiềm chủ yếu phát triển ở các
thung lũng thuộc địa hình thấp. Đặc trưng của kiểu đất này là thường có hiện tượng
muối hoá bề mặt, Đất giàu Ca ở dạng kết vón, Na và K ở dạng muối dễ hoà tan nên
môi trường đất có kiềm tính cao, không thuận lợi cho cây trồng.Tuy nhiên, kiểu đất
này dễ cải tạo [2, 4, 9]. Nếu được tưới tiêu thường xuyên và cải tạo thì loại kiểu đất
này có thể thích hợp cho trồng lúa nước và một số loại cây ngắn ngày, cây một vụ
và cây chịu mặn.

19


20


2.3: THẢM PHỦ THỰC VẬT
Càng ngày độ che phủ trên bề mặt đất càng giảm, rừng bị chặt phá nhiều, cây cỏ
tên bề mặt không phát triênt được vì thiếu nước, khả năng trữ ẩm và trữ nước trong
đất kém. Khi có mưa không thấm hết vào lòng đất mà lại tạo thành những dòng
chảy tràn trên mặt đất, hết mưa hơi nước lại thoát đi nhanh chóng
Thảm phủ thực vật rừng tự nhiên bao gồm các kiểu:
1. Kiểu rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm gió mùa phân bố chủ yếu ở các vùng
2.
3.
4.
5.

núi phía Bắc
Kiểu rừng nửa rụng lá nhiệt đới
Kiểu rừng nửa rụng lá nhiệt đới
Thảm thực vật rừng trồng

Thảm phủ trồng nông nghiệp: bao gồm cây lúa tập trung chủ yếu ở thung lũng các
sông lớn, cây ăn quả phân bố ở các khu vực thềm sông…
2.4 ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU
Đặc điểm khí hậu tỉnh Bình Thuận: phân chia ra 2 mùa rõ rệt
Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 10
Mùa khô” từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ trung bình: 27°C
Lượng mưa trung bình: 1.024mm
Độ ẩm tương đối: 79%
Tổng số giờ nắng: 2.459
Bình Thuận nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhiều
nắng, nhiều gió, không có mùa đông và khô hạn nhất cả nước với hai mùa rõ rệt.
Nhiệt độ đều cao, trung bình trong năm là 26 - 27°C, độ ẩm trung bình 75 – 85%,
lượng mưa trung bình 800 – 2000 mm/năm, phân hóa theo mùa và khu vực theo
hướng tăng dân về phía nam. Có thể phân chia thành 4 khu vực địa lý như sau:
Vùng ven biển Đông phạm vi bao gồm huyện Tuy Phong, Đông Nam huyện
Bắc Bình, huyện Hàm Thuận Bắc và Đông Bắc thành phố Phan Thiết. Đây là vùng
chịu ảnh hường chủ yếu của khí hậu ven biển Nam Trung Bộ, lượng mưa ít, thiếu
ẩm và khô hạn tỉnh, đất đai kém dinh dưỡng, thực vật nghèo nàn, có khoảng
70.000ha đất cát ven biển khô hạn thiếu nước…nhưng là vùng dồi dào năng lượng
21


bức xạ, chứa đựng tiềm năng lớn về một cùng chuyên canh cây trồng và vật nuôi có
năng suất cao khi giải quyết được nguồn nước tưới.
Vùng giữa theo hướng Tây Bắc – Đông Nam thuộc phạm vi phía Tây huyện
Bắc Bình, Phan Thiết, Hàm Thuận Nam và Hàm Tân. Đây là vùng mưa vừa, có
lượng mưa không ổn định, đất đai tương đối khá, nếu có nước tưới có thể thích hợp
để phát triển nhiều loại cây công nghiệp ngắn ngày hàng năm và lúa.
Vùng lưu vực sông La Ngà gồm toàn bộ phân lưu vực sông nằm trong ranh

giới tỉnh gần trọn vẹn 2 huyện Đức Linh và Tánh Linh. Đây là vungc ảnh hưởng
chủ yếu của khí hậu Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên, nên có nhiệt độ thấp
hơn, lượng mưa cao, đất đai khá tốt, thực vật tự nhiên với thảm rừng xanh lá nhiệt
đới lạnh ẩm và các hệ thống cây trồng nông nghieeph phát triển phong phú
Vùng khí hậu hải dương gồm khu vực biển và đảo Phú Qúy, khí hậu ôn hòa
mát mẻ, thích hợp cho các loại cây trồng vật nuôi phát triển, đặc biệt là nuôi trồng
thủy sản nhưng diện tích không nhiều.
2.5 MẠNG LƯỚI SÔNG NGÒI
Sông ngòi tại Bình Thuận đều ngắn, lượng nước không điều hòa, mùa mưa
thì nước sông chảy mạnh, mùa nắng làm sông bị khô hạn. Tỉnh có 4 sông lớn là
sông Lũy, sông Lòng Sông, sông Cái và sông Mường Mán. Sông Lòng Sông phát
nguyên từ dãy núi ranh giới hai tỉnh Ninh Thuận – Bình Thuận, chảy theo chiều Bắc
– Nam dọc theo ranh giới hai quận Tuy Phong và Chàm. Sông này dài khoảng
40km, sông Lũy phát nguyên từ cao nguyên Tuyên Đức.
Từ nguồn đến ranh giới quận Hòa Đa, sông chảy theo hướng Bắc – Nam, rồi
rẽ ra đến biển, chảy theo hướng Tây – Đông và dài hơn 20km, lòng sông hẹp, quanh
co, vào mùa mưa thường gây lụt lội. Sông Cái phát nguồn từ Lâm Đồng chảy qua
địa phận Thiện Giao, chảy theo hướng Bắc – Nam và dài khoảng 40km. Sông
Mường Mán phát nguyên từ cao nguyên phía tây và chảy theo hướng Đông – Nam
dài 27km.
Bờ biển Bình Thuận dài 170km, phía nam có nhiều đồi cát. Còn đảo Phú
Qúy cách bờ 120km, nằm về phía đông tỉnh lỵ Phan Thiết, có nhiều đá ngầm.

22


Bảng 2.1 Khả năng nguồn nước của các sông chính tỉnh Bình Thuận
Đặc trưng

Khả năng khai thác


nguồn nước
Tổng
TT

Tên sông

Flv

lượng

(km²)

nước
(m³)

1
1

2
Sông Lòng
Sông

3

4

511

108


2

Sông Lũy

1.91

591

3

Sông Cái

1.05

289

4

Sông Cà Ty

753

332

5

Sông Phan

582


321

6

Sông Dinh

904

753

7

Tổng cộng

Sử dụng 8
Tuyến
côngtrình
khai thác
5
Hồ Đá
Bạc
Hồ Cà
Tót
Hồ Sông
Quang
Đập Ba
Màu
Hồ Sông
Phan

Hồ Sông
Dinh

2.394

Flv
(km²)

tháng mùa
kiệt trong
vùng đất cát

6

(m³)
7

67,1

Lượng mưa

Tiềm
năng

có thể khai

khai

thác cho vùng


thác

đất cát (m³)
8

(m³)
9

3,5

4,5

6,0

140

1,5

4

26,6

296

3,0

13

124,5


342

2,5

9

16,1

136

6,0

12

19,8

551

9,0

74

117,2

1465

112

[1]
Kết luận chương 2

Ở chương 2 này em đã đề cập tới vị trí địa lý, đặc điểm khí hậu và đặc điểm
sông ngòi
Và ở chương 3 em sẽ nói rõ hơn tác động của biến đổi khí hậu tới tài nguyên
nước tỉnh Bình Thuận
CHƯƠNG III: TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN
NƯỚC CỦA BÌNH THUẬN
3.1 HIỆN TRẠNG NGUỒN NƯỚC CỦA BÌNH THUẬN

23


Bình thuận có 7 lưu vực sông chính là: sông Lòng Sông, sông Lũy, sông Cái
Phan Thiết, sông Cà Ty, sông Phan, sông Dinh và sông La Ngà. Tổng diện tích lưu
vực 9.880 km² với chiều dài sông suối 663km. Nguồn nước mặt hàng năm của tỉnh
khoảng 5,4 tỉ m³ nước trong đó lượng dòng chảy bên ngoài đưa đến 1,25 tỉ m³, riêng
sông La Ngà chiếm 2,1 tỉ m³. Nguồn nước phân bổ mất cân dối theo không gian và
thời gian. Lưu vực sông La Ngà thừ nước thường bị ngập úng nhưng vùng Tuy
Phong, Bắc Bình, ven biển (lưu vực sông Phan, sông Dinh), thiếu nước trầm trọng,
có những nơi như vùng Tuy Phong, Bắc Bình có dấu hiệu báo động tình trạng
hoang mặc hóa đã xuất hiện.
Tuy có nhiều tầng chứa nước song có thể nói Bình Thuận có nguồn tài
nguyên nước dưới đất kém phong phú do nước ngầm phân bố rất không đều theo
không gian. Mặt khác, là một tỉnh ven biển nên nước ngầm của Bình Thuận thường
bị nhiễm mặn, ở các vùng này thành phần hóa học của nước ngầm biến đổi rất phức
tạp. Ngoài ra do các hoạt động kinh tế ngày càng tăng có thể dẫn đến việc gây ô
nhiễm các nguồn nước nói chung và nước ngầm nói riêng, nhất là ở những vùng có
nước ngầm chứa trong các tầng cát nằm gần mặt đất vốn rất phổ biến ở Bình Thuận.
Qua khảo sát thực tế kết hợp với những kết quả nghiên cứu của các nhà Địa
chất - Thủy văn về quá trình thành tạo, vị trí phân bố thành phần thạch học, mức độ
chứa nước của đất đá tỉnh Bình Thuận và khu vực đất cát ven biển cho thấy nguồn

nước ngầm trên vùng đất cát ven biển Bình Thuận tồn tại ở 3 dạng chính : mạch rỉ,
lỗ hổng, khe nứt và được kiến tạo bởi các tầng chứa nước chính. Các tích tụ biển,
gió phân bố thành các dải cát ven biển từ Tuy Phong đến Hàm Tân. Thành phần đất
đá chủ yếu là các hạt nhỏ, nước không áp tầng nông, bề dày chứa nước từ 4 - 6m,
đôi khi 10 - 15 m. Mực nước ở độ sâu 1 - 3 m. Lưu lượng Q= 0,4 - 0,5l/s, tỷ lưu
lượng q = 0,4 - 0,5 l/s.m, có khả năng cấp nước cho sinh hoạt và dịch vụ. Tại khu
vực có tầng cát đỏ và một phần từ tầng Neogen có thể khai thác mỗi công trình
giếng đào đạt 10 - 50 m3/h. Module lưu lượng (module dòng ngầm) từ 0 - 7
l/s.km2, trữ lượng động tự nhiên ước khoảng 290 - 300 m/ngày/km².

24


Nguồn nước ngầm ít, bị nhiễm mặn, phèn rất ít có khả năng phục vụ nhu cầu
sản xuất, chỉ đáp ững được phần nhỏ cho sinh hoạt và sản xuất trên một số vùng
nhỏ Phan Thiết và đồng bằng sông La Ngà.
Diễn biến của biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp và khó lường trước.
Trong khi đó tình trạng thiếu hụt nước ở Bình Thuận hay nguồn nước bị xâm nhập
mặn và hoang mạc hóa càng diễn ra mạnh xảy ra các hiện tượng:
Hạn khí tượng (Meteorological Drought): “Thiếu hụt lượng mưa trong cán
cân lượng mưa - bốc hơi” . Trong đó lượng mưa đặc trưng cho phần thu, lượng bốc
hơi đặc trưng cho phần chi. Lượng bốc hơi càng cao càng góp phần làm hạn gia
tăng.
Hạn nông nghiệp (Agricultural Drought): Thiếu hụt nước mưa dẫn tới mất
cân bằng giữa lượng nước thực tế và nhu cầu nước của cây trồng. Hạn nông nghiệp
thường xảy ra ở nơi độ ẩm đất không đáp ứng đủ nhu cầu của một cây trồng cụ thể
ở thời gian nhất định và cũng ảnh hưởng đến vật nuôi và các hoạt động nông nghiệp
khác. Mối quan hệ giữa lượng mưa và lượng mưa thấm vào đất thường không được
chỉ rõ. Sự thẩm thấu lượng mưa vào trong đất sẽ phụ thuộc vào các điều kiện ẩm
trước đó, độ dốc của đất, loại đất, cường độ của sự kiện mưa. Các đặc tính của đất

cũng biến đổi. Ví dụ, một số loại đất có khả năng giữ nước tốt hơn, nên nó giữ cho
các loại đất đó ít bị hạn hơn.
Hạn thuỷ văn (Hydrological Drought): Hạn thủy văn liên quan đến sự thiếu
hụt nguồn nước mặt và các nguồn nước mặt phụ. Nó được lượng hóa bằng dòng
chảy, tuyết, mực nước hồ, hồ chứa và nước ngầm. Thường có sự trễ thời giangiữa
sự thiếu hụt mưa, tuyết, hoặc ít nước trong dòng chảy, hồ, hồ chứa, làm cho các giá
trị đo đạc của thủy văn không phải là chỉ số hạn sớm nhất
Hạn kinh tế - xã hội khác hoàn toàn với các loại hạn khác. Bởi nó phản ánh
mối quan hệ giữa sự cung cấp và nhu cầu hàng hóa kinh tế (ví dụ như cung cấp
nước, thủy điện), nó phụ thuộc vào lượng mưa. Sự cung cấp đó biến đổi hàng năm
như là một hàm của lượng mưa và nước. Nhu cầu nước cũng dao động và thường có
xu thế dương do sự tăng dân số, sự phát triển của đất nước và các nhân tố khác nữa.

25


×