Tải bản đầy đủ (.doc) (94 trang)

Tài chính tiền tệ đại học giao thông vận tải

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (413.64 KB, 94 trang )

Tài chính – Tiền tệ

Chương 1
Những quan niệm cơ bản về tài chính trong nền kinh tế thị trường
1.1. Tiền đề ra đời và tồn tại của tài chính
Tài chính ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội, lịch sử nhất định
khi mà ở đó xuất hiện nền sản xuất hàng hóa và nhà nước.
1.1.1. Sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa
Phân công lao động xã hội phát triển, đặc biệt là sự phân công giữa nông nghiệp
và thủ công nghiệp đã nhanh chóng thúc đẩy các hoạt động giao lưu kinh tế đồng thời
làm nên cuộc cách mạng trong công nghệ phân phối: từ phân phối bằng hiện vật sang
phân phối bằng giá trị. Tiền tệ được coi là thước đo giá trị của thế giới hàng hóa và khi
thực hiện giá trị hàng hóa phải gắn liền với sự vận động của tiền tệ đồng thời phát sinh
thu nhập cho người sản xuất hàng hóa. Các khoản thu nhập này là nguồn hình thành
những quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế. Sự liên tục của quá trình sản xuất hàng hóa
luôn luôn đòi hỏi các quỹ tiền tệ phải được tạo lập, phân phối, sử dụng và đây chính là
xuất phát điểm làm nảy sinh các quan hệ phân phối tài chính. Như vậy, chính trong
điều kiện của nền kinh tế hàng hóa với việc sử dụng tiền tệ đã làm nảy sinh phạm trù
tài chính.
1.1..2 Sự xuất hiện của nhà nước
Cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ, khi chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội bắt đầu
phân chia thành các giai cấp và có sự đấu tranh giữa các giai cấp trong xã hội. Chính
sự xuất hiện sản xuất và trao đổi hàng hoá và tiền tệ là một trong các nguyên nhân chủ
yếu thúc đẩy mạnh mẽ sự phân chia giai cấp và đối kháng giai cấp. Trong điều kiện
lịch sử đó, Nhà nước đã xuất hiện.
Nhà nước ra đời, để duy trì quyền lực của mình, cần phải có sự đóng góp của các
công dân dưới hình thức thuế và công trái để tạo lập ra quỹ tiền tệ riêng - ngân sách
ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải


Page 1


Tài chính – Tiền tệ

Nhà nước và các quỹ tài chính khác phục vụ cho hoạt động của mình và thực hiện các
nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, hình thành lĩnh vực tài chínhNhà nước.
Nhà nước bằng chính sách, cơ chế, luật pháp luôn luôn tác động, thúc đẩy kinh
tế hàng hóa- tiền tệ phát triển, tác động tới sự vận động độc lập của tiền tệ và tạo ra
môi trường thuận lợi cho sự hình thành và sứ dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể
trong xã hôi. Chính trong những điều kiên đó các quan hệ tài chính nảy sinh, tồn tại và
phát triển và cung chính vì vậy người ta cho rằng sự tồn tại của nền sân xuất hàng hóatiền tệ và nhà nước được coi là những tiền đề phát sinh và phát triển của tài chính.
Những phân tích kể trên lại cho nhận xét thêm rằng, trong 2 tiền đề kể trên thì
sản xuất hàng hoá - tiền tệ là nhân tố mang tính chất khách quan có ý nghĩa quyết định
đối với sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính và Nhà nước là nhân tố có ý nghĩa
định hướng tạo ra hành lang và điều tiết sự phát triển của tài chính.
1.2.Bản chất và chức năng của tài chính
1.2.1. Bản chất của tài chính
Tài chính, như mọi đối tượng nghiên cứu khác, có hình thức biểu hiện bên ngoài
(hiện tượng) và nội dung bên trong (bản chất) của nó.
1.2.1.1. Biểu hiện bên ngoài
Khi quan sát thực tiễn các quá trình vận động kinh tế xã hội (ví dụ: doanh
nghiệp nộp thuế bằng tiền cho Nhà nước; người dân mua cổ phiếu, trái phiếu của các
doanh nghiệp.... )có thể nhận thấy các biểu hiện bên ngoài của tài chính thể hiện ra
dưới dạng các hiện tượng thu vào bằng tiền và các hiện tượng chi ra bằng tiền ở các
chủ thể kinh tế - xã hội. Nói cách khác hình thức biểu hiện bên ngoài của tài chính thể
hiện ra như là sự vận động của vốn tiền tệ.
Ở những hiện tượng trên, có thể thấy tiền tệ xuất hiện trước hết với chức năng
phương tiện thanh toán (ở người chi ra) và chức năng phương tiện cất trữ (ở người thu
vào). Tiền tệ đại diện cho một lượng giá trị, một thế năng về sức mua nhất định và

được gọi là nguồn tài chính (hay nguồn tài lực, nguồn lực tài chính).
ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 2


Tài chính – Tiền tệ

Như vậy, nguồn tài chính là khả năng tài chính hay tiền tệ mà các chủ thể trong
xã hội có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình. Nguồn tài
chính có thể tồn tại dưới dạng tiền hoặc tài sản vật chất và phi vật chất. Sự vận động
của các nguồn tài chính phản ánh sự vận động của những bộ phận của cải xã hội dưới
hình thức giá trị (tiền tệ). Nguồn tài chính luôn thể hiện một khả năng về sức mua nhất
định.
Sự vận động các nguồn tài chính hình thành nên lĩnh vực tài chính và được đặc
trưng bởi các quỹ tiền tệ.
Các quỹ tiền tệ là một lượng nhất định các nguồn tài chính đã huy động được để
sử dụng cho một mục đích nhất định.
Các quỹ tiền tệ có các đặc điểm sau đây
+ Luôn luôn biểu hiện các quan hệ sở hữu
+ Bao giờ cũng thể hiện tính mục đích
+ Vận động thường xuyên, liên tục
1.2.1.2. Biểu hiện bản chất bên trong của tài chính
Tài chính là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hoá là hệ thống các quan
hệ kinh tê phát sinh trong quá trình phân phối sản phẩm xã hội trên cơ sở đó các quỹ
tiền tệ được hình thành phân phối và sử dụng để đáp ứng nhu cầu của hàng hoá và xã
hội. Như vậy, biểu hiện bên trong của tài chính là các quan hệ kinh tê giữa các chủ thể
trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, quá trình phân phối của cải xã hội dưới

hình thức giá trị. Các quan hệ kinh tế như thế được gọi là các quan hệ tài chính. Các
quan hệ tài chính biểu hiện mặt bản chất bên trong của tài chính ẩn dấu sau các biểu
hiện bên ngoài của tài chính.
Từ đó, có thể có khái niệm tổng quát về tài chính như sau:
Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong
xã hội. Nó phản ánh tổng hợp các môi quan hệ kinh tê nảy sinh trong phân phối các

ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 3


Tài chính – Tiền tệ

nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các
nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội.
1.2.2.Chức năng của tài chính
Chức năng của tài chính là sự cụ thể hoá bản chất của tài chính, nó mở ra nội
dung của tài chính và vạch rõ tác dụng xã hội của tài chính. Chức năng của tài chính là
khả năng bên trong, biểu lộ tác dụng xã hội của nó và tác dụng đó chỉ có thể có được
với sự tham gia nhất thiết của con người.
1.2.2.1. Chức năng phân phối
- Ý nghĩa:
Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó các nguồn lực
đại diện cho những bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau để
sử dùng cho những mục đích khác nhau, đảm bảo những nhu cầu, những lợi ích khác
nhau của đời sống xã hội.
- Đối tượng phân phối

Là của cải xã hội dưới hình thức giá trị, là tổng thể các nguồn tài chính có trong
xã hội.
Xét về mặt nội dung, nguồn tài chính - mặt giá trị của của cải xã hội là đối tượng
phân phối, bao gồm các bộ phận:
1 Bộ phận của cải xã hội mới được sáng tạo ra trong kỳ. Đó là tổng sản phẩm
trong nước (GDP).
2. Bộ phận của cải xã hội còn lại từ thời kỳ trước. Đó là phần tích lũy quá khứ
của xã hội và dân cư.
3. Bộ phận của cải được chuyển từ nước ngoài vào và bộ phận của cải từ trong
nước chuyển ra nước ngoài.
4. Bộ phận tài sản, tài nguyên quốc gia có thể cho thuê, nhượng bán có thời hạn.
- Chủ thể phân phối

ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 4


Tài chính – Tiền tệ

Là tất cả các tổ chức kinh tế xã hội, chủ thể kinh tế xã hội như: Nhà nước (các tổ
chức, cơ quan nhà nước), các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các hộ gia đình hay cá
nhân dân cư. Chủ thể phân phối có thể xuất hiện trên một trong các tư cách là:
1 . Chủ thể có quyền sở hữu các nguồn tài chính. Chủ thể ở đây là những người
chủ "đích thực" của vốn tiền tệ. Họ có quyền phân phối và sử dụng chúng theo ý chí
chủ quan của mình.
2. Chủ thể có quyền sử đụng các nguồn tài chính. Chủ thể ở đây là những người
không có quyền sở hữu vốn tiền tệ, nhưng họ được trao quyền sử dụng vốn tiền tệ. Nói

khác đi, đó là những người đi vay và họ có quyền phân phối và sử dụng số vốn vay đó
theo các mục đích đã định.
3. Chủ thể có quyền lực chính trị. Chủ thể muốn nói ở đây là Nhà nước. Nhà
nước không phải với tư cách là người có quyền sở hữu hay quyền sử dụng các nguồn
tài chính, nhưng Nhà nước vẫn có thể huy động vào tay mình các nguồn tài chính từ
các tổ chức và công dân nhờ Nhà nước có quyền lực chính trị thông qua các quy định
pháp luật (như thuế, phí, lệ phí. . . ).
4. Chủ thể tổ chức quan hệ của các nhóm thành viên xã hội. Chủ thể muốn đề
cập ở đây là các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội, nghiệp
đoàn. . . Do có sự ràng buộc của các quan hệ xã hội mà các tổ chức này là người chủ
trì, các tổ chức này không phải với các lư cách kể trên (quyền sở hữu, quyền sử dụng
nguồn tài chính, quyền lực chính trị) nhưng vẫn xuất hiện với tư cách chủ thể phân
phối khi họ nhận được các khoản đóng góp hội phí của các thành viên, các khoản ủng
hộ, đóng góp tự nguyện...
Như vậy: Lực lựợng chi phối chức năng này là: quyền sở hữu, quyền sử dụng
của các chủ thể KTXH đối với nguồn lực tài chính. Ngoài ra còn có thể bị chi phối bởi
các quan hệ xã hội, quyền lực xã hội trong cộng đồng dân tộc và quốc tế.
- Kết quả của phân phối

ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 5


Tài chính – Tiền tệ

Là sự hình thành (tạo lập) hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã
hội nhằm những mục đích đã định.

Trong phân phối của cải xã hội, không những tài chính mà còn có những phạm
trù kinh tế khác được sử dụng với tư cách một công cụ phân phối như thương mại, giá
cả, tiền lương... Mỗi công cụ đó được sử dụng theo các cách khác nhau và có những
đặc điểm riêng.
- Đặc điểm phân phối tài chính
Phân phối của tài chính mang 3 đặc điểm sau đây:
+ Là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, nó không kèm theo với sự
thay đổi hình thái giá trị.
+ Là sự phân phối luôn luôn gắn liền với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền
tệ nhất định.
+ Là quá trình phân phối diễn ra một cách thường xuyên, liên tục bao gồm cả
phân phôi lần đầu và phân phối lại.
1.1.2.2.Chức năng giám đốc
- Ý nghĩa
Chức năng giám đốc của tài chính cũng là một khả năng khách quan khác của
phạm trù tài chính. Con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan này của tài
chính để tổ chức công tác kiểm tra tài chính. Khi đó tài chính được sử dụng với tư cách
là một công cụ kiểm tra. Đó là kiểm tra tài chính.
Từ đó có thể cho rằng: Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ
vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện đối với quá trình vận động của các
nguồn tài chính để tạo lập các quỹ tiền tệ hay sử dụng chúng theo các mục đích đã
định.
-Đôi tượng của giám đốc tài chính
Là quá trình vận động của các nguồn tài chính, quá trình tạo lập và sử dụng các
quỹ tiền tệ.
ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 6



Tài chính – Tiền tệ

-Chủ thể của giám đốc tài chính
Là các chủ thể phân phối. Bởi vì, để cho các quá trình phân phối đạt tới tối đa
tính mục đích, tính hợp lý, tính hiệu quả, bản thân các chủ thể phân phối phải tiến hành
kiểm tra xem xét các quá trình phân phối đó.
-Kết quả của giám đốc tài chính
Là phát hiện ra những mặt được và chưa được của quá trình phân phối, từ đó
giúp tìm ra các biện pháp hiệu chỉnh các quá trình vận động của các nguồn tài chính,
quá trình phân phối của cải xã hội theo các mục tiêu đã định nhằm đạt hiệu quả cao của
việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền lệ.
- Đặc điểm:
- Thứ nhất: Giám đốc của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông qua sử
dụng chức năng thước đo giá trị và chức năng phương tiện thanh toán của tiền tệ trong
vận động của tiền vốn để tiến hành giám đốc.
- Thứ hai: Giám đốc bằng tiền của tài chính là sự giám đốc bằng tiền thông
qua phân tích các chỉ tiêu tài chính – các chỉ tiêu phản ánh tổng hợp toàn bộ các hoạt
động của xã hội và của các doanh nghiệp.
- Thứ ba: Giám đốc bằng tiền của tài chính còn được thực hiện đối với sự
vận động của tài nguyên trong xã hội.
1.3. Hệ thống tài chính
1.3.1. Một số khái niệm cơ bản
- KN hệ thống tài chính
Hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực khác
nhau của nền kinh tê' quốc dân, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau về việc hình thành
và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế- xã hội hoạt động trong các lĩnh vực
đó.
- Khái niệm về khâu tài chính (tụ điểm vốn):


ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 7


Tài chính – Tiền tệ

Khâu tài chính là nơi hội tụ của các nguồn tài chính, nơi diễn ra việc tạo lập và
sử dụng các quỹ tiền tệ gắn liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chủ thể
trong lĩnh vực hoạt động.
Hệ thống tài chính của một quốc gia là một thể thống nhất do nhiều mắt khâu tài
chính hợp thành. Việc xác định chính xác có bao nhiêu mắt khâu tài chính của hệ thống
đó lại tùy thuộc vào việc chỉ ra một cách đúng đắn các căn cứ lý thuyết để xác định thế
nào là một khâu tài chính. Có thể chỉ ra các tiêu thức chủ yếu của một khâu tài chính là
(3):
- Thứ nhất, một khâu tài chính phải là một điểm hội tụ của các nguồn tài chính,
là nơi thực hiện việc "bơm" và "hút" các nguồn tài chính. Nói cách khác, được coi là
một khâu tài chính nếu ở đó có các quỹ tiền tệ đặc thù được tạo lập và được sử dụng.
- Thứ hai, được coi là một khâu tài chính nếu ở đó các hoạt động tài chính, sự
vận động của các nguồn tài chính, việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ luôn gắn liền
với một chủ thể phân phối cụ thể, xác định. Các hoạt động tài chính gắn với nhiều chủ
thể, sự vận động của các nguồn tài chính ở đó cung do nhiều chủ thể chi phối đều
không được coi là một khâu tài chính độc lập.
- Thứ ba, được xếp vào cùng một khâu tài chính nếu các hoạt động tài chính có
cùng tính chất, đặc điểm, vai trò, có tính đồng nhất về hình thức các quan hệ tài chính
và tính mục đích của quỹ tiền tệ trong lĩnh vực hoạt động. Ví dụ: Có nhiều hình thức
tín dụng nhưng tính chất chung của sự vận động của các nguồn tài chính ở đây là có

thời hạn, có hoàn trả và có lợi tức, do đó, các hoạt động tài chính ở khu vực này được
xếp chung vào một khâu là Tín dụng.
-KN kênh tài chính:
Là tập hợp những quan hệ tài chính giữa bộ phận này với bộ phận khác, trong đó
có sự vận động của giá trị hoặc đại diện của giá trị
1.3.2.Nhiệm vụ của các khâu trong hệ thống tài chính

ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 8


Tài chính – Tiền tệ

Sơ đồ 1.1.Hệ thống tài chính

Trong hệ thống tài chính thống nhất, các khâu có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
nhưng mỗi khâu có những nhiệm vụ riêng.
1.3.2.1. Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia. Đây là
một "tụ điểm" của các nguồn tài chính gắn với việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập
trung của Nhà nước - quỹ ngân sách nhà nước với mục đích phục vụ cho sự hoạt động
của bộ máy nhà nước các cấp và thực hiện các chức năng của Nhà nước trong quản lý
kinh tế - xã hội.
Nhiệm vụ của Ngân sách nhà nước:
- Một là, động viên, tập trung các nguồn tài chính cho việc tạo lập quỹ tiền tệ
của Nhà nước - quỹ Ngân sách.
- Hai là, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách cho việc thực hiện các nhiệm vụ

kinh tế - xã hội (như duy trì bộ máy nhà nước, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển
văn hoá xã hội, phát triển kết cấu hạ tầng, đầu tư kinh tế...).
- Ba là, giám đốc, kiểm tra đối với các khâu tài chính khác và với mọi hoạt động
kinh tế - xã hội gắn liền với quá trình thu, chi ngân sách.
ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 9


Tài chính – Tiền tệ

Với vị trí và quy mô như thế, ngân sách nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng
đối với sự phát triển của hệ thống tài chính quốc gia và sự phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước.
1.3.2.2. Tài chính doanh nghiệp
Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp:
- Một là, bảo đảm vốn và phân phối vốn hợp lý cho các nhu cầu của sản xuất
kinh doanh.
- Hai là, tổ chức cho vốn chu chuyển một cách liên tục và có hiệu quả.
- Ba là, phân phối thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp theo đúng các quy
định của Nhà nước.
- Bốn là, kiểm tra mọi quá trình vận động của các nguồn tài chính trong doanh
nghiệp, đồng thời, kiểm tra mọi hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với các quá
trình đó.
Tài chính doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với tất cả các bộ phận của hệ thống
tài chính trong quá trình hình thành và sử dụng vốn cho các nội dung khác nhau. Quan
hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu tài chính khác có thể là trực tiếp với nhau,
cũng có thể thông qua thị trường tài chính.

1.3.2.3. Bảo hiểm
Quỹ bảo hiểm được hình thành từ sự đóng góp của những người (pháp nhân
hoặc thể nhân) tham gia bảo hiểm và chủ yếu được sử dụng để bồi thường tổn thất cho
họ khi họ gặp rủi ro bất ngờ, bị thiệt hại vật chất theo nguyên tắc đặc thù là "lấy số
đông bù cho số ít". Do tính chất dịch vụ chuyên nghiệp nên phần lớn các quỹ bảo hiểm
kinh doanh được tạo lập và sử dụng có tính chất thương mại, vì mục đích kinh doanh
lấy lợi nhuận.
Trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ bảo hiểm, trước hết bảo hiểm có
quan hệ trực tiếp với các khâu tài chính khác qua việc thu phí bảo hiểm và chi bồi
thường. Đồng thời, do khả năng tạm thời nhàn rỗi của các nguồn tài chính trong các
ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 10


Tài chính – Tiền tệ

quỹ bảo hiểm, các quỹ này có thể được sử dụng tạm thời như các quỹ tín dụng và như
vậy, bảo hiểm cũng có thể có quan hệ với các khâu khác thông qua thị trường tài chính.
Trên ý nghĩa này có thể coi bảo hiểm như một khâu tài chính trung gian trong hệ thống
tài chính
1.3.2.4. Tín dụng
Nhiệm vụ của tín dụng:
-Một là: Thu hút nguồn lực tài chính tạm thời nhàn rỗi theo nguyên tắc hoàn trả
có thời hạn và có lợi tức;
-Hai là cho vay để phát triển sản xuất kinh doanh và sinh hoạt;
-Ba là cung cấp nguồn lực tài chính nhàn rỗi cho thị trường tài chính.
Thông qua hoạt động của các tổ chức tín dụng, khâu tín dụng có quan hệ chặt

chẽ và trực tiếp với các khâu khác của hệ thống tài chính.
1.3.2.5. Tài chính các tổ chức xã hội
Các tổ chức xã hội là khái niệm chung để chỉ các tổ chức chính trị - xã hội, các
đoàn thể xã hội, các hội nghề nghiệp... Các tổ chức này còn được gọi là các tổ chức phi
chính phủ.
Các tổ chức xã hội có quỹ tiền tệ riêng để bảo đảm hoạt động của mình. Các quỹ
tiền tệ ở đây được hình thành từ nhiều nguồn rất đa dạng như: đóng góp hội phí của
các thành viên tham gia tổ chức; quyên góp, ủng hộ, tặng, biếu của các tập thể và cá
nhân; tài trợ từ nước ngoài; tài trợ của chính phủ và nguồn từ những hoạt động có thu
của các tổ chức này. Các quỹ tiền tệ của các tổ chức xã hội chủ yếu được sử dụng cho
mục đích tiêu dùng trong hoạt động của các tổ chức đó. Khi các quỹ chưa được sử
dụng, số dư ổn định của chúng có thể tham gia thị trường tài chính thông qua các quỹ
tín dụng hoặc các hình thức khác (mua tín phiếu, trái phiếu...) do đó trở thành 1 nguồn
lực tài chính.
1.3.2.6. Tài chính hộ gia đình (dân cư)

ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 11


Tài chính – Tiền tệ

Trong dân cư (các hộ gia đình) các quỹ tiền tệ được hình thành từ tiền lương,
tiền công, thu nhập của các thành viên trong gia đình do lao động hay sản xuất kinh
doanh; từ nguồn thừa kế tài sản; từ nguồn biếu tặng lẫn nhau trong quan hệ gia đình
hay quan hệ xã hội ở trong và từ ngoài nước; từ các nguồn khác như: lãi tiền gửi ngân
hàng, lợi tức từ những khoản góp vốn, mua trái phiếu, cổ phiếu...

Quỹ tiền tệ của các hộ gia đình chủ yếu được sử dụng cho mục đích tiêu dùng
của gia đình. Một phần nguồn tài chính của các quỹ này có thể tham gia vào quỹ ngân
sách nhà nước dưới hình thức nộp thuế, phí, lệ phí; tham gia vào các quỹ bảo hiểm
theo các mục đích bảo hiểm khác nhau (bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người, bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế...); tham gia vào các quỹ tín đụng dưới hình thức gửi tiền
tiết kiệm... Nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi của các hộ gia đình cũng có thể được sử
dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong phạm vi kinh tế hộ gia đình, hoặc tham
gia vào thị trường tài chính qua việc góp cổ phần, mua cổ phiếu, trái phiếu , tín
phiếu . . . trở thành 1 nguồn lực tài chính. Nếu có những biện pháp thích hợp, chúng ta
có thể huy động được một khối lượng vốn đáng kể từ các hộ gia đình để phục vụ cho
sự nghiệp phát triển kinh tế, đồng thời còn góp phần vào việc thực hiện các chính sách
về định hướng tích lũy và tiêu dùng của nhà nước.
Như vậy: các khâu trong hệ thống tài chính có mối quan hệ gắn bó, chặt chẽ với
nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Toàn bộ hệ thống tài chính thực hiện vai trò đặc
biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân là đảm bảo nhu cầu về vốn cho phát triển
kinh tế xã hội.
1.4. Thị trường tài chính (TTTC)
1.4.1. Khái niệm và vai trò của TTTC
1.4.1.1. Khái niệm TTTC
Thị trường tài chính là nơi diễn ra hoạt động giao dịch và mua bán quyền sử
dụng những khoản vốn thông qua các phương thức giao dịch và những công cụ tài

ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 12


Tài chính – Tiền tệ


chính nhất định. Thị trường tài chính là tổng hòa các quan hệ cung cầu về vốn trong
nền kinh tế.
Đối tượng mua bán trên TTTC là quyền sử dụng các nguồn tài chính ngắn hạn
hoặc dài hạn.
Giá cả của sự mua bán là số lợi tức mà người mua quyền sử dụng vốn trả cho
người nhượng (bán) quyền sử dụng vốn. Người mua và người bán có thể là tất cả các
chủ thể đại diện cho các khâu của hệ thống tài chính.
Chủ thể tham gia TTTC: tất cả các chủ thể kinh tế xã hội đại diện cho các khâu
của hệ thống tài chính
1.4.1.2. Vai trò
Thị trường tài chính đóng vai trò nòng cốt trong quá trình luân chuyển đồng vốn
từ nhà đầu tư đến nhà sản xuất. Dòng vốn từ người cho vay - người tiết kiệm tới người
vay người chi tiêu qua hai con đường:
+ Tài chính trực tiếp
Người đi vay, vay vốn trực tiếp từ người cho vay bằng cách bán chứng khoán.
+ Tài chính gián tiếp
Vốn được chuyển từ người cho vay tới người vay thông qua trung gian tài chính.
Trung gian tài chính đứng giữa cho vay người tiết kiệm và người vay-người sử dụng và
giúp chuyển vốn từ người này sang người kia.

ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 13


Tài chính – Tiền tệ


Sơ đồ 1.2: Dòng vốn vay –cho vay
Tài chính gián tiếp
Các trung gian
tài chính

Người cho vay (người tiết
kiệm)
1.
2.
3.
4.

Người đi vay (người sử dụng)
1.
2.
3.
4.

Hộ gia đình
Các hãng kinh doanh
Chính phủ
Nước ngoài

Hộ gia đình
Các hãng kinh doanh
Chính phủ
Nước ngoài

Các thị trường
tài chính


Tài chính trực tiếp
Từ các hoạt động kể trên, thị trường tài chính có các vai trò cụ thể như sau:
- Thị trường tài chính thúc đẩy việc tích luỹ và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu
cầu vốn xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Nếu không có thị trường tài
chính thì việc huy động vốn để xây dựng các cơ sở hạ tầng của Chính phủ và chính
quyền địa phương sẽ bị hạn chế vì Ngân sách Chính phủ thường eo hẹp, không đủ đáp
ứng nhu cầu xây dựng và chi tiêu. Thêm vào đó, sức sản xuất xã hội ngày càng phát
triển và quy mô sản xuất ngày càng mở rộng thì nhu cầu tiền vốn ngày càng gia tăng.
Nếu chỉ để vào nguồn tích luỹ vốn của bản thân hay qua con đường vay ngân hàng
truyền thống thì không thể đáp ứng được về mặt thời gian và số lượng. Vì vậy, nếu thị
trường tài chính phát triển thì thông qua đó đơn vị sản xuất và các địa phương có thể
phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu huy động nhanh chóng khối lượng vốn lớn đáp ứng
nhu cầu.
ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 14


Tài chính – Tiền tệ

- Thị trường tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn. Việc sử dụng
vốn có hiệu quả không chỉ đối với người đầu tư mà cả đối với người vay tiền để đầu tư.
Người có tiền tiết kiệm, tiền nhàn rỗi nhận thức rõ giá trị thời gian của đồng tiền mà họ
đang nắm giữ. Đồng tiền sẽ không sinh lợi nếu để trong két sắt hoặc gối đầu giường,
mà tiền chỉ sinh lời khi nó được gửi tiết kiệm hoặc mua cổ phần . . . . Thông thường lãi
thu được qua đầu tư chứng khoán cao hơn lãi trái phiếu Nhà nước hay lãi gửi tiết kiệm.
Do vậy, người đi vay vốn trên thị trường tài chính cũng phải sử dụng vốn vay đó một

cách hợp lý mới có thể trả lại được cho người cho vay, tạo thu nhập và tích luỹ cho
chính mình.
- Hoạt động thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính
sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ. Thông qua thị trường tài chính việc phát
hành trái phiếu ra nước ngoài, bán cổ phần, tạo điều kiện thu hút vôn đầu tư nước
ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong nước. Thị trường tài chính
nhìn chung rất nhạy cảm đối với các hoạt động kinh tế, thị trường tạo điều kiện thúc
đẩy kinh tế phát triển, đồng thời là thước đo hiệu quả các hoạt động kinh tế. Giá trịcổ
phiếu của các công ty là một ví dụ điển hình, thị giá cổ phiếu tỷ lệ thuận với số lợi
nhuận mà công ty đạt được. Chỉ số chung của thị trường chứng khoán phản ánh mức
tăng trưởng của quốc gia đó trong thời gian ngắn, trung và dài hạn.
- Thị trường tài chính cho phép sử dụng các chứng từ có giá, đổi tiền mặt, cho
phép bán cổ phiếu, trái phiếu. Thông qua TTTC, Ngân hàng trung ương có thể căn cứ
vào nhu cầu của từng thời kỳ, điều tiết hoạt động của thị trường mở để khống chế sự'
co dãn cung cầu tiền tệ, tiến tới không chết quy mô và hướng đầu tư tín dụng và tiền tệ,
tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định giá trị đồng tiền.
1.4.2. Phân loại TTTC
1.4.2.1. Dựa theo phương thức huy động nguồn tài chính
Thị trường tài chính được chia thành thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần.

ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 15


Tài chính – Tiền tệ

Ở thị trường nợ, các chủ thể huy động nguồn tài chính thông qua phương thức

chung nhất là đưa ra một công cụ vay nợ. Chúng là sự thỏa thuận có tính chất hợp
đồng, trong đó người vay phải thanh toán cho người giữ công cụ một khoản tiền cố
định trong những khoảng thời gian đều đặn cho tới thời điểm quy định trước là đợt
thanh toán cuối cùng được thực hiện.
Ở thị trường vốn cổ phần, các chủ thể huy động nguồn tài chính thông qua
phương thức phát hành cổ phiếu. Khi bán được cổ phiếu, các công ty cổ phần có được
nguồn tài chính để hình thành, tăng thêm vốn tự có của mình. Các cổ đông (những
người sở hữu cổ phiếu) sẽ là đồng sở hữu công ty cổ phần.
1.4.2.2. Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn tài chính
Dựa vào tiêu thức này, thị trường tài chính được chia thành thị trường sơ cấp và
thị trường thứ cấp.
- Thị trường sơ cấp là thị trường tài chính trong đó việc phát hành mới một
chứng khoán được người huy động nguồn tài chính bán cho người đầu tiên mua nó. Sự
hoạt động của thị trường sơ cấp huy động nguồn tài chính trong' xã hội chuyển thành
vốn đầu tư cho nền kinh tế. Thông qua thị trường này, nguồn tài chính vận động từ
người đầu tư sang chủ thể phát hành chứng khoán.
- Thị trường thứ cấp là thị trường tài chính trong đó thực hiện giao dịch các
chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Trên thị trường này diễn ra việc
mua bán chứng khoán giữa các nhà đầu tư. Nguồn tài chính thu được từ việc bán
chứng khoán không vận động đến chủ thể phát hành mà thuộc về nhà đầu tư đã bán lại
chứng khoán cho nhà đầu tư khác.
1.4.2.3. Căn cứ vào tính chất pháp lý
Căn cứ vào tính chất pháp lý, thị trường tài chính được chia thành hai bộ phận:
thị trường tài chính chính thức và thị trường tài chính không chính thức.
- Thị trường tài chính chính thức là bộ phận thị trường tài chính tại đó các hoạt
động huy động, cung ứng, giao dịch các nguồn tài chính được thực hiện theo những
ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải


Page 16


Tài chính – Tiền tệ

nguyên tắc, thể chế nhất định được nhà nước quy đình rõ ràng trong các văn bản pháp
luật. Các chủ thể tham gia thị trường này với quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của họ được
pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
- Thị trường tài chính không chính thức là thị trường tài chính, ở đó các hoạt
động huy động, cung ứng, giao dịch các nguồn tài chính được thực hiện theo sự thỏa
thuận giữa người cung cấp nguồn tài chính và người cần nguồn tài chính không theo
nguyên tắc thể chế do Nhà nước quy định.
1.4.2.4. Căn cứ vào thời gian sử dụng nguồn tài chính huy động được
Dựa vào thời gian sử dụng nguồn tài chính, thị trường tàichính được phân thành
thị trường tiền tệ (thị trường tài chính ngắn hạn) và thị trường vốn (thị trường tài chính
dài hạn)
- Thị trường tiền tệ được chuyên môn hoá trong việc chuyển giao quyền sử dụng
các nguồn tài chính ngắn hạn (<1năm). Trên thị trường này chỉ có các công cụ nợ ngắn
hạn (thường kỳ hạn đến một năm) được mua bán. Chủ thể huy động nguồn tài chính
chỉ có quyền sử dụng nguồn tài chính huy động được trong thời gian ngắn (tới một
năm).
- Thị trường vốn được chuyên môn hoá đối với các nguồn tài chính được trao
quyền sử dụng dài hạn (lớn hơn một năm). Trên thị trường này có các công cụ vay nợ
dài hạn và cổ phiếu được mua bán. Người huy động nguồn tài chính dài hạn được
quyền sử dụng nguồn tài chính huy động được trong thời gian dài.
Giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ có mối quan hệ khăng khít với nhau. Sự
phát triển mạnh mẽ của thị trường tiền tệ sẽ thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn .
Các tổ chức tài chính trung gian trên thị trường tiền tệ có thể sử dụng kỹ thuật để
chuyển đổi các nguồn tài chính có thời hạn sử dụng ngắn thành các nguồn tài chính có
thời hạn sử dụng dài cung cấp cho thị trường vốn. Sự phát triển của thị trường vốn sẽ

kích thích thị trường liền tệ phát triển.
1.4.3. Thị trường tài chính với doanh nghiệp
ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 17


Tài chính – Tiền tệ

- Thị trường tài chính là nơi để các doanh nghiệp huy động nguồn ngân quỹ mới
hay đầu tư những khoản tài chính nhàn rỗi tạm thời để tăng lợi nhuận.
- Thị trường tài chính là nơi xác lập giá trị của doanh nghiệp qua sự đánh giá
của thị trường.
- Thị trường tài chính thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và
chuyển đổi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành công ty cổ phần.
- Thị trường tài chính là nơi để Chính phủ tác động vào doanh nghiệp và nền
kinh tế nói chung.
1.5.Chính sách tài chính quốc gia
1.5.1. Khái niệm
Chính sách tài chính quốc gia là thái độ định hướng của nhà nước về sử dụng tài
chính. Chính sách tài chính quốc gia là chính sách điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế
trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị. Nội dung của chính sách
tài chính bao gồm: chính sách về vốn, chính sách tài chính doanh nghiệp, chính sách
tài khoá, chính sách tài chính đối ngoại, các chính sách về tín dụng, tiền tệ...
Chính sách Tài chính quốc gia được xác định cụ thể trong từng thời kỳ. Nó gắn
với sự phát triển của hệ thống tài chính.
1.5.2. Mục tiêu của chính sách tài chính quốc gia
Mục tiêu tổng quát của chính sách tài chính quốc gia là củng cố và tăng cường

tiềm lực của nền tài chính quốc gia, trước hết là tiềm lực của ngân sách Nhà nước và
tài chính doanh nghiệp; khôi phục vị trí của tàichính trong nền kinh tế, chuyển hoạt
động tài chính sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, thoả mãn nhu cầu
vốn cho nền kinh tế đi đôi với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng tích luỹ từ nền kinh
tế quốc dân, thực hiện công bằng xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của
chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đã đặt ra.
Mục tiêu tổng quát được chi tiết hóa thành những mục tiêu cụ thể sau đây:

ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 18


Tài chính – Tiền tệ

-Xây dựng chính sách tài chính quốc gia nhằm tăng cường tiềm lực tài chính đất
nước, đặc biệt tăng cường tiềm lực tài chính Nhà nước và tài chính doanh nghiệp. Đảm
bảo các nhu cầu vốn đi đôi với nâng cao hiệu quả sử đụng vốn trong nước cũng như
vốn vay nước ngoài. Phần đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao từ 7- 10%/năm) với
cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy mạnh mẽ tiến bộ khoa họe kỹ thuật, tăng tích luỹ từ nội
bộ nền kinh tế quốc dân, cải thiện rõ rệt cán cân thanh toán quốc tế.
-Kiểm soát lạm phát. Bằng việc thực hiện việc cải tổ cơ bản chính sách tài
chính, đặc biệt chính sách thuế và cơ cấu thu chi ngân sách, loại bỏ nguy cơ tái lạm
phát tiến tới kiểm soát được lạm phát, ổn định giá cả và sức mua của đồng tiền, tạo
điều kiện, môi trường cho sản xuất phát triển, ổn định tình hình kinh tế xã hội, cải thiện
từng bước đời sống nhân dân.
-Tạo công ăn việc làm cho người dân, mở rộng ngành nghề, giải quyết thoả đáng
nạn thất nghiệp, nâng cao đời sung vất chất, văn hoá tinh thần của nhân dân để vượt

qua ngưỡng cửa đói nghèo, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.
-Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thống nhất, phù hợp với cơ chế quản lý
kinh tế và đáp ứng yêu cầu đổi mới các hoạt động kinh tế - xã hội.

ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 19


Tài chính – Tiền tệ

Chương 2
Ngân sách nhà nước
2.1. Những vấn đề chung về NSNN
2.1.1. Khái niệm NSNN
Một số quan niệm phổ biến về khái niệm NSNN:
- NSNN là bản dự toán thu - chi tài chính của Nhà nước trong một khoảng thời
gian nhất định, thường là một năm.
- NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của
Nhà nước.
- NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động
và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau.
Như vậy, một cách tổng quát: NSNN phản ánh các quan hệ kinh tê phát sinh gắn
liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi
Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức
năng của Nhà nước trên cơ số luật định .
2.1.2. Đặc điểm của NSNN
- Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn với quyền lực của Nhà nước và

việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở
những luật lệ nhất định. Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa NSNN với các khoản
tài chính khác..
- NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước, luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi
ích công cộng. Hoạt động thu – chi NSNN là sự thể hiện các mặt hoạt động kinh tế - xã
hội của Nhà nước. Là việc xử lý các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham
gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia, lợi ích của Nhà nước (lợi ích chung của
quốc gia) thể hiện cả trong phân phối thu nhập của các doanh nghiệp, của dân cư, phân
ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 20


Tài chính – Tiền tệ

phối GDP, GNP và cả trong phân bổ các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng của quốc gia.
- NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét riêng biệt của
NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước là nó được chia thành
nhiều quỹ nhỏ, có tác dụng riêng và chỉ sau đó NSNN mới được chi dùng cho những
mục đích nhất định đã định trước.
- Hoạt động thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực
tiếp là chủ yếu.
Nghiên cứu những đặc điểm của NSNN không những cho phép tìm được
phương thức và phương pháp quản lý NSNN hiệu quả hơn, mà còn giúp ta nhận thức
và phát huy tốt hơn các chức năng, vai trò của Ngân sách nhà nước.
2.1.3. Vai trò của Ngân sách nhà nước
2.1.3.1. Đặc điểm của nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ phát triển ở giai đoạn cao

cùng các quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật lưu thông tiền tệ. Cơ chế thi
trường bao gồm các nhân tố cơ bản là cung cầu và giả cả thị trường. Nhìn chung kinh
tế thị trường nó có các ưu điểm cơ bản sau:
- Cơ chế thị trường kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo đIều kiện
thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ. Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng
động, phát huy được các nguồn lực của xã hội vào phát triển kinh tế.
- Cạnh tranh buộc nhà sản xuất phải hao phí lao động cá biệt đến mức thấp nhất
có thể được bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, nhờ đó mà
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất
lượng và số lượng hàng hoá.
- Sự tác động của cơ chế thị trường đưa đến sự thích ứng tự phát giữa khối
lượng và cơ câú sản xuất với khối lượng và cơ cấu nhu cầu xã hội, nhờ đó có thể thoả

ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 21


Tài chính – Tiền tệ

mãn nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và sản xuất về các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
khác nhau.
- Trong cơ chế thị trường tồn tại sự đa dạng của các thị trường. Bên cạnh thị
trường hàng hoá đã xuất hiện các thị trường về vốn, lao động… phục vụ cho sản xuất
kết hợp với hệ thống giá cả linh hoạt vận động theo quan hệ cung cầu của hàng hoá,
dịch vụ.
Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội dã chứng minh rằng cơ chế thị trường là
cơ chế điều tiết nền kinh tế hàng hoá đạt hiệu quả kinh tế cao. Song, cơ chế thị trường

không phải là hiện thân của sự hoàn hảo mà chứa đựng trong nó nhiều nhược điểm.
- Sự xuất hiện độc quyền trong nền kinh tế, độc quyền làm cho giá cả không
phản ánh được quan hệ cung cầu đích thực, hạn chế sản xuất hàng hoá, từ đó dẫn đến
các hiện tượng xã hội như thất nghiệp làm cho cung cầu lao động mất cân đối.
- Trong kinh tế thị trường, mục tiêu cao nhất là lợi nhuận. Chạy theo lợi nhuận
dẫn đến việc sử dụng tài nguyên lãng phí, gây ô nhiễm môi trường.
- Có những mục tiêu xã hội mà dù cơ chế thị trường hoạt động tốt cũng không
thể đạt được. Sự tác động của cơ chế thị trường dẫn đến sự phân hoá giàu, nghèo, tác
động xấu đến đạo đức và tình người.
- Tự phát cũng là căn bệnh của kinh tế thị trường dẫn đến cơ cấu kinh tế mất cân
đối.
Bản thân nền kinh tế không thể khắc phục được các khuyết tật đó, cần có sự can
thiệp của Nhà nước. Nhà nước đưa nền kinh tế tăng trưởng, tạo đầy đủ công ăn việc
làm, ổn định giá cả, hạn chế lạm phát. Sự can thiệp của Nhà nước là sự can thiệp gián
tiếp, thông qua các công cụ chủ yếu như: Pháp luật, Kế hoạch, Tổ chức, Tài chính,
Tiền tệ...
Trong các công cụ đó, ngân sách Nhà nước được coi là công cụ quan trọng nhất
của Nhà nước.
2.1.3.2. Vai trò của Ngân sách Nhà nước
ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 22


Tài chính – Tiền tệ

- Ngân sách có vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của
Nhà nước và thực hiện sự cân đối thu - chi tài chính của Nhà nước. Đây là vai trò lịch

sử của NSNN, được xuất phát từ tính nội tại của phạm trù tài chính mà trong bất kỳ
chế độ xã hội và cơ chế kinh tế nào, NSNN đều phải thực hiện và phát huy.
- Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của Nhà
nước để khắc phục những khuyết tật của nền KTTT thể hiện trên các mặt: kinh tế, xã
hội, thị trường
.+ Về mặt kinh tế :
Nhà nước định hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ
đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho
nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững.
Thông qua các công cụ thuế và thuế suất, Nhà nước kích thích sản xuất phát
triển, thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp. Ngoài ra nhà nước còn dùng ngân sách
nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh
nghiệp hoạt động
+ Về mặt xã hôi:
NSNN giữ vai trò điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Trợ
giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như
chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết
yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù
chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt.
Bên cạnh các khoản chi ngân sách cho việc thực hiện các vấn đề xã hội, thuế
cũng được sử dụng để thực hiện vai trò tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã
hội. Việc kết hợp giữa thuế trực thu và thuế gián thu, một mặt vừa làm tăng các khoản
thu cho ngân sách Nhà nước, mặt khác vữa nhằm điều tiết thu nhập của tầng lớp dân
cư có thu nhập cao, điều tiết tiêu dùng, bảo đảm thu nhập hợp lý của các tầng lớp
người lao động.
ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 23



Tài chính – Tiền tệ

+ Về mặt thi trường:
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu phụ thuộc vào cung
cầu hàng hoá trên thị trường. Do đó, để ổn định giá cả, Chính phủ có thể tác động vào
cung hoặc cầu hàng hoá trên thị trường.
Nhà nước sử dụng ngân sách nhà nước như một công cụ để góp phần bình ổn giá
cả và kiềm chế lạm phát. Nhà nước điều tiết giá cả những mặt hàng quan trọng, những
mặt hàng mang tính chất chiến lược. Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế
suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia. Cùng với ngân hàng trung ương với chính
sách tiền tệ thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu
của chính phủ để kiềm chế lạm phát.
2.2. Thu ngân sách Nhà nước
2.2.1.Khái niệm
Thu ngân sách Nhà nước là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà
nước với các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước nhằm giải quyết
hài hoà các mặt lợi ích kinh tế.
Nguồn tài chính quốc gia là kết quả độ lao động sản xuất trong nước tạo ra được
thể hiện được hình thức tiền tệ (GDP).
2.2.2. Đặc điểm:
- Thu ngân sách Nhà nước phản ánh các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị
nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị tập trung một phần nguồn
tài chính quốc gia (GDP) hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Mọi khoản
thu của nhà nước đều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà
nước;
- Thu ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào thực trạng kinh tế và sự vận động của
các phạm trù giá trị khác như: giá cả, thu nhập, lãi suất. Chỉ tiêu quan trọng biểu hiện
thực trạng của nền kinh tế là chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP), quyết định mức

động viên của thu Ngân sách Nhà nước.
ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 24


Tài chính – Tiền tệ

2.2.3. Nội dung kinh tế của thu ngân sách Nhà nước
Phân loại thu NSNN


Căn cứ vào phạm vi phát sinh:
+ Thu trong nước (thu từ SXKD, cung cấp dịch vụ, bán và cho thuê tài

sản quốc gia,…)
+ Thu ngoài nước (thu từ xuất khẩu lao động, viện trợ, vay nước ngoài)


Căn cứ vào tính chất phát sinh và nội dung kinh tế:
+ Thu thường xuyên (thu từ thuế, phí, lệ phí)
+ Thu không thường xuyên (thu hoạt động kinh tế,sự nghiệp, vay, vtrợ,

…)


Căn cứ vào yêu cầu động viên vốn vào NSNN
+ Thu trong cân đối NS (thu từ thuế, phí, lệ phí, từ các hoạt động ktế..)

+ Thu bù đắp thiếu hụt NS (thu từ vay)

Dựa vào nội dung kinh tế và tính chất các khoản thu Ngân sách Nhà nước gồm
các khoản thu chủ yếu sau:
2.2.3.1.Thu thường xuyên
Thu thường xuyên là các khoản thu phát sinh thường xuyên cùng với nhịp độ
hoạt động của nền kinh tế, có tính chất bắt buộc như thuế, phí, lệ phí với nhiều hình
thức cụ thể do luật định.


Thuế

- Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc được thể hiện bằng luật do pháp nhân và
thể nhân đóng góp cho Nhà nước (thể nhân là cá nhân có đăng ký kinh doanh) . Trong
nền kinh tế thị trường, thuế được coi là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh
tế, là nguồn thu quan trọng chủ yếu cua ngân sách Nhà nước, có ảnh hưởng to lớn đến
công cuộc phát triển kinh tế, thể hiện cụ thể như sau:
+ Thuế góp phần thúc đẩy sự tích lũy tư bản để ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát
triển kinh tế.
ĐHGTVT

BM. Kinh tế Vận Tải

Page 25


×