Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

Chuyên đề Lịch sử TDTT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (651.93 KB, 20 trang )

THỂ DỤC THỂ THAO
TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU CỦA THỜI KỲ CẬN ĐẠI
Thời đại phát triển của chủ nghĩa tư bản từ cuộc cách mạng tư sản
đầu tiên ở thế kỷ 17 (cách mạng tư sản Anh 1946) đến trước cách mạng
xã hội chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại gọi là thời cận đại.
Thời kỳ này nền kinh tế văn hóa của chế độ xã hội mới đã được
phát triển, đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa cái mới, tiến bộ và cái cũ phản
động. Đồng thời, trong lý luận và thực tiễn của giáo dục chung và giáo
dục thể chất, của y học và một số ngành văn hóa khác có quan hệ với
tăng cường sức khỏe, phát triển và hoàn thiện con người đã đạt được
những thành tựu đáng kể.
1. Những cơ sở tư tưởng lý luận của giáo dục thể chất
Thời kỳ này thì triết học duy vật, khoa học tự nhiên và lý luận giáo dục
mới có ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của cơ sở lý luận giáo dục
thể chất.
Giăng Giác Rútxô ( 1712 - 1778) đã phát triển tư tưởng về vai trò quy
định của môi trường bên ngoài trong việc hình thành nhân cách con
người. Ông viết “thân thể sinh ra trước tâm hồn, nên việc quan tâm đến
thân thể phải là việc trước tiên”. Bắt đầu là rèn luyện cơ thể sau đó là các
trò chơi và các bài tập giáo dục thể chất.
Nhà giáo dục Thụy Sỹ Logan Pêxtalốtxi (1746 – 1827) có công lớn
trong lĩnh vực giáo dục thể chất. Ông đã soạn ra phương pháp phân tích ,
gọi các động tác ở khớp là động tác sơ đẳng, là cơ sở để giảng dạy động
tác phối hợp phức tạp.
Các nhà cách mạng tư sản Pháp ở cuối thế kỷ XVIII có công lớn trong
cơ sở lý luận cho giáo dục thể chất. Họ cho rằng cần phải đưa giáo dục
thể chất vào hệ thống giáo dục quốc dân.

Trang 1



2. Sự nảy sinh và phát triển của hệ thống giáo dục thể chất quốc gia
Vào đầu thế kỷ XIX hầu hết các nước tư bản, các hệ thống giáo dục
quốc gia bắt đầu đươc xây dựng ở Đức, Pháp, Thụy Điển. Tất cả các hệ
thống ấy đều là những hệ thống thể dục, bởi thể dục đã tạo khã năng
huấn luyện các bộ phận khác nhau của thân thể , huấn luyện các động tác
và kỹ xảo cụ thể và cũng đáp ứng tốt hơn với phương thức tiến hành
chiến tranh trong thời gian ấy.
2.1 Hệ thống giáo dục thể chất ở Đức
Các đại biểu nổi tiếng của hệ thống này là Antôn phít và Lôgan
Gútmút (1763 – 1839) cho rằng phương tiện giáo dục thể chất gồm:
- Rèn luyện chống thời tiết xấu và nhiệt độ thấp của không khí, biết chịu
đựng đói , khát , mất ngủ.
- Các bài tập phát triển các giác quan , chủ yếu trong lúc tham gia trò
chơi đặc biệt.
- Tất cả các bài tập Hy Lạp, trượt băng, mang vác vật nặng.
- Các trò chơi giải trí.
- Các bài tập cưỡi ngựa, đấu kiếm, nhảy múa, trong đó cá bài tập trên
ngựa gỗ và một số dụng cụ khác.
- Các động tác đơn giản của từng bộ phận cơ thể.
- Lao động chân tay.
Công lao chính của Gútmút là soạn thảo kỹ thuật của các bài tập thể
dục và đưa vào trường học.
2.2 Hệ thống giáo dục thể chất của Thụy Điển
Dấu hiệu của bài tập thể dục Thụy Điển là tính đối xứng và thẳng
hàng. Tư thế đúng của tay chân và mình được đặc biệt chú ý. Trong thời
gian tập có nhiều lần nghĩ giữa giờ. Thể dục Thụy Điễn đã đặt cho cơ sở

Trang 2



cho sự phát triển thể dục phát triển chung. Đến nay hệ thống thể dục
Thụy Điển vẫn được áp dụng rộng rãi trong nhà trường.
2.3 Hệ thống giáo dục thể chất của Pháp
Vào những năm 1770 – 1848 Đại tá Phơranxixcô Amôrốt và những
người kế tục ông có công lao to lớn trong việc xây dựng hệ thống giáo
dục ở Pháp. Các ông đã biên soạn hệ thống bài tập có tính chất ứng dụng
quân sự đào tạo binh sĩ.
Ông cho rằng bài tập thể dục tốt nhất là bài tập phát triển kỹ năng
cần thiết trong đời sống, đặc biệt là trong chiến tranh như các bài tập đi,
chạy, nhảy, mang vác ở các địa hình tự nhiên. Các bài tập thăng bằng, bò,
leo trèo, bơi, lặn, vật, ném, bắn, đấu kiếm, nhào lộn hay các bài tập tay
không, múa.
Quan điểm dạy của ông là không theo một sơ đồ nào mà dựa vào
nguyên tắc chung: Vừa sức với người tập và đơn giản trong chừng mực,
có thể theo nguyên tắc từ dễ đến khó và chú ý đặc điểm cá nhân. Đây là
hệ thống giáo dục thể chất có tầm quang trọng trong giáo dục.
2.4 Giáo dục thể chất và thể thao của các nước khác
Đan Mạch, Anh, Mỹ và một số nước Đông Á, Đông Nam Á ở các nước
này trường học trở thành trung tâm chính phát triển thể thao. Tại các
trường học xuất hiện các nhóm thể thao nghiệp dư như: chạy, đấm bốc,
bơi, chèo thuyền, các môn bóng. Từ những năm 30 của thế kỷ XIX người
ta tổ chứa các cuộc thi thường xuyên về các môn thể thao cho học sinh.
Tại các nước Đông Nam Á , trong các trường truyền đạo, giáo dục thể
chất gồm trò chơi, bơi, các cuộc hành tiến.. Song việc giảng dạy trong các
trường này trình độ thấp.

Trang 3


Những mặt mạnh và tồn tại của các nhà nhân đạo chủ nghĩa và các

nhà xã hội không tưởng góp phần làm cơ sở tư tưởng của lý luận giáo
dục thể chất.

THỂ DỤC THỂ THAO
TRONG GIAI ĐOẠN THỨ HAI CỦA THỜI KỲ CẬN ĐẠI
I. Sự nảy sinh và phát triển phong trào TDTT công nhân
1. Sự xuất hiện các tổ chức thể dục đầu tiên của công nhân
Trong quá trình đấu tranh bảo vệ lợi ích, giai cấp công nhân đã xây
dựng các tổ chức của mình. Liên đoàn những người cộng sản (Là tổ chức
cộng sản đầu tiên trong lịch sử 1847 – 1852, tiền thân của quốc tế thứ
nhất) đã lãnh đạo hoạt động của các hội quần chúng khác nhau của giai
cấp công nhân.
Những người cộng sản đã tham gia các tổ chức thể dục khác nhau và
xây dựng trong quần chúng các nhóm thể dục và ca hát mới. Về sau đã
trở thành một tổ chức quần chúng tự lập của những người lao động.
Ví dụ: Hội thể dục kỳ nghỉ hè của công nhân được thành lập ở Đức năm
1850.
2. Phong trào thể thao của xã Pari
Phong trào thể thao của công xã Pari, số lượng các tổ chức khác nhau
của giai cấp công nhân đã tăng lên. Trong số đó, có những tổ chức thể
thao do công nhân thành lập cho họ và con cái của họ. Có tổ chức hoạt
động thể thao không mang tính chất chính trị. Nhưng cũng có những tổ
chức tham gia chính trị, theo yêu cầu của các tổ chức Đảng, trở thành
những trung tâm tuyên truyền cổ động.

Trang 4


Sự phát triển rộng rãi thể thao của công nhân diễn ra vào cuối thế kỷ
XIX ở Đức, Pháp, Hunggary ... phong trào trở thành một bộ phận lớn của

lực lượng tiến bộ trong lịch sử thể dục thể thao.
Lo sợ trước sự phát triển này, nhiều xí nghiệp của các nhà tư bản đã
thành lập tổ chức thể thao cho công nhân để loi kéo thanh niên công
nhân về phía mình, mục đích để họ lãng quên các tổ chức chính trị của
giai cấp công nhân.
Năm 1913 một tổ chức thống nhất các tổ chức thể thao công nhân các
nước Anh, Áo, Hunggary, Đức, Pháp, Bỉ đã làm nền tảng cho sự thống
nhất quốc tế của các vận động viên công nhân. Song, do chiến tranh thế
giới lần thứ nhất nên bị gián đoạn, sau cách mạng Tháng Mười và chiến
tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, tổ chức thể thao quốc tế ra đời.
3. Phong trào “chim ưng” và thể dục “Chim ưng”
Để thu hút thanh niên, phong trào “chim ưng” ở Tiệp Khắt đã soạn
thảo hệ thống và quy định trang phục thống nhất, có nhạc đệm.
Bài tập được chia thành 4 nhóm:
Nhóm 1: Thể dục dụng cụ gồm có xà đơn, xà kép, ngựa gỗ,...
Nhóm 2: Những động tác tay không.
Nhóm 3: Các động tác tập thể.
Nhóm 4: Các động tác chiến đấu gồm có vật, đấu gươm, thể dục quân sự.
II. Sự phát triển tiếp tục của thể thao và hệ thống giáo dục thể chất
Chính sách trong lĩnh vực thể thao của giai cấp tư sản và các chính
phủ tư sản ngày càng trở nên phản động. Thể thao đã được sử dụng
nhằm cũng cố chế độ tư bản và lôi kéo thanh nhiên về phía mình và làm
cho quần chúng xao nhãng đấu tranh giai cấp. Chúng đã khuyến khích
xây dựng các công trình thể thao, cải tiến các hệ thống giáo dục thể chất.
Nhưng chúng chỉ tập trung vào những hình thức có lợi cho chúng.
Trang 5


1. Các tổ chức thể thao tư sản
Giai cấp tư sản đã cố gắn mở rộng ảnh hưởng của chúng bằng cách

thành lập các hội và các câu lạc bộ thể thao mới, khuyến khích hoạt động
thể thao trong các tổ chức khác nhau.
Vào năm 1911 Liên đoàn câu lạc bộ thể thao Thiên chúa giáo quốc tế
ra đời với mục đích tách thanh niên ra khỏi đời sống chính trị chuẩn bị
cho họ phục vụ quân đội.
2. Sự xuất hiện các hình thức mới trong giáo dục thể chất
Trong lĩnh vực thể thao có những nhà hoạt động tiến bộ, họ nhìn thấy
thể thao là phương tiện tốt nhất để giáo dục đạo đức và thể chất cho
thanh niên, tăng cường hữu nghị giữa các dân tộc.
Trong thời kỳ này, có các hệ thống thể dục:
2.1 Thể dục Gioócgiơ Đêmêni
Thể dục Gioócgiơ Đêmêni đã có những cống hiến lớn vào việc xây
dựng cơ sở khoa học thể dục, thể thao, tró chơi. Ông tập trung nghiên
cứu về sinh lý học, giáo dục và giáo dục thể chất.Ông phê phán một số
trường phái của giáo dục Thụy Điển và cho rằng:
Bài tập thể dục phải động chứ không tĩnh. Thể lực phải cải thiện khả
năng, chức năng, chức năng cơ thể và các hệ thống cơ quan, nâng cao
năng lực phối hợp động tác và khéo léo. Khi thực hiện các bài tập phải
biết thả lỏng cơ bắp đã tham gia hoạt động. Các bài tập phải tuân thủ
theo nguyên tắc chung, đảm bảo về mặt sinh lý vận động, giáo dục và
phát triển các tố chât thể lực và các phẩm chất tâm lý, ý chí. Tuy nhiên
còn hạn chế về mặt nhìn nhận sinh lý học trong giáo dục thể chất.
2.2 Phương pháp tự nhiên của Goóc – Ebe
Ông đề nghị tiến hành các bài tập trên địa hình tự nhiên, không cần
teng thiết bị chuyên môn. Tùy theo hoàn cảnh, giáo viên phải biết sáng

Trang 6


tạo các bài tập trong hoàn cảnh khác nhau kể cả tạo ra chướng ngại vật

nhân tạo. Ông tập trung vào phương pháp tập luyện của nam mà không
nêu ra phương pháp tập luyện của nữ.

2.3 Thể dục cơ bản của Ninxơ Búc
Ông sử dụng rộng rãi các dụng cụ thể dục sáng tạo như thang dóng,
ghế băng, khung treo... Ông đã làm cho thời gian động của giờ học đạt
tới giới hạn. Cho đến nay, phương pháp này vẫn được áp dụng.
III. Những quan điểm giáo dục thể chất tiến bộ ở nước nga trước
cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng mười
- Giáo dục trí tuệ và giáo dục thể chất phải chuẩn bị cho con người lao
động có năng suất cao, vì hạnh phúc của toàn xã hội.
- Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục thể chất là trao dồi kỹ năng lĩnh hội
các kết quả thu được từ các bài tập cũng như kỹ năng phân tích chung.
- Chỉ có giáo dục phát triển con người hài hòa mới có thể có năng suất và
hiệu quả cao.
Các quan điểm của các nhà nhân đạo chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa
không tưởng bàn về giáo dục thể chất cho con người
* Về mặt mạnh:
- Tư tưởng cơ bản của các nhà nhân đạo chủ nghĩa . Sử dụng giáo dục
thể chất không những để huấn luyện quân sự mà còn để tăng cường sức
khỏe, phát triển sức mạnh thể chất cho con người . Đây là tư tưởng mới
tiến bộ hơn trước.
- Nhà nhân đạo chủ nghĩa người Italia V.D.Phentrơ (1378 - 1446) thành
lập trường học có dạy thể dục, giáo dục thể chất được đưa vào kế hoạch

Trang 7


giảng dạy trong trường, dạy các bài tập cưỡi ngựa, đấu kiếm, bơi, đua
thuyền.

- Nhà nhân đạo chủ nghĩa người Pháp Phơrăngxoa Rappolo (1478 –
1553) vì coi trọng giáo dục thể chất nên ông đề nghị luân phiên giờ học
văn hóa và tập thể dục. Ông sử dụng các bài tập của giới quý tộc và của
cả người nghèo vào mục đích giáo dục con người.
- Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Tômátmô (1478 – 1535) người
Anh và Tômadô Campalena (1568 – 1639) người Italia là đỉnh cao của sự
phát triển về giáo dục của các tư tưởng theo trường phái nhân đạo chủ
nghĩa. Các ông miêu tả về xã hội tương lai và đời sống hạnh phúc con
người. Theo các ông, mục đích của giáo dục là chuẩn bị kiến thức cho trẻ
em phục vụ xã hội, tăng cường giáo dục thể chất là điều cần thiết để phát
triển hài hòa tinh thần và thể chất của con người, trong đó có người lao
động.
* Về mặt tồn tại:
Hạn chế của quan điểm này là khuynh hướng giáo dục thể chất chỉ
nhằm bảo đảm hạnh phúc cá nhân của con người.

Trang 8


TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC TDTT
TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG MỚI
I. Quan điểm, đường lối của Đảng và nhà Nước về công tác TDTT
trong giai đoạn cách mạng mới
Khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, cách mạng nước ta chuyển
sang một giai đoạn mới, Ban Bí thư trung ương Đảng đã ra chỉ thị số 227
CT/TƯ ngày 18/11/1975. Chỉ thị đã nhận định : trong những năm qua,
từ khi có chỉ thị 180 /CT/TƯ 28/08/1970 công tác TDTT phát triển đúng
hướng, góp phần phục vụ sản xuất, chiến đấu, đời sống và xây dựng con
người mới. Trong tình hình mới chỉ thị yêu cầu ngành TDTT “phấn đấu
vươn lên, đưa phong trào quần chúng rèn luyện thân thể và nề nếp, phát

triển công tác TDTT có chất lượng, có tác dụng tích cực nhằm mục tiêu
khôi phục và tăng cường sức khỏe của nhân dân, góp phần xây dựng con
người mới phát triển toàn diện”.
Để thực hiện mục tiêu này, chỉ thị đã nêu ra 4 phương hướng là:
- Kết hợp TDTT, lấy thể dục làm cơ sở, kết hợp thể dục với vệ sinh phòng
chống bệnh kết hợp thành tựu hiện đại của thế giới với kinh nghiệm
truyền thống của dân tộc, tập trung phục phụ phong trào cơ sở.
- Tập luyện TDTT phải phù hợp với từng lứa tuổi nam nữ, ngành nghề,
sức khỏe của từng người và phù hợp với điều kiện kinh tế, hoàn cảnh địa
lý tự nhiên và truyền thống của từng vùng. Thực hiện kiểm tra y học và
đảm bảo an toàn trong tập luyện,thi đấu.
- Kết hợp việc phát triển phong trào quần chúng với việc xây dựng lực
lượng nòng cốt bao gồm cán bộ, huấn luyện viên, trọng tài, giáo viên,
hướng dẫn viên và vận động viên TDTT.
- Triệt để sử dụng những điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất có sẵn dựa
vào lực lượng của nhân dân.
Trải qua 20 năm thực hiện chỉ thị 227 CT/TƯ Ban Bí thư Trung ương
Đảng đã đánh giá:
Trang 9


Những năm gần đây TDTT đã phát triển, phong trào TDTT đã được mở
rộng với nhiều hình thức, nhiều môn thể thao dân tộc đã được khôi phục
và phát triển, nhiều môn thể thao đã đạt thành tích khá khích lệ, cơ sở
vật chất đã được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới.
Tuy nhiên TDTT ở nước ta còn ở trình độ thấp, số người tập luyện
TDTT còn ít, thanh thiếu niên tham gia chưa tích cực, giáo dục thể chất
trong trường và lực lượng vũ trang còn thấp…
Để thực hiện tốt và khắc phục được yếu kém ngành TDTT phải:
+ Coi TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh

tế- xã hội của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát huy nhân tố con người.
+ Thực hiện giáo dục thẻ chất trong tất cả các trường học,làm cho việc
luyện tâp TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh
viên, thanh niên, chiến sĩ lượng lượng vũ trang và một bộ phận nhân
dân.
+ Kiện toàn hệ thống đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, huấn
luyện viên, giáo viên TDTT kiện toàn tổ chức ngành TDTT các cấp. Nâng
cấp, xây dựng mới và hiện đại hóa một số cơ sở nghiên cứu, ứng dụng
khoa học, y học TDTT, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ nền thể
thao Việt Nam đầu thế kỷ XXI.
II. Những mặt tốt và chưa tốt của công tác TDTT Việt Nam hiện
nay.

* Mặt tốt:
Thể thao Việt Nam đã đạt được những mặt tích cực rất tốt đẹp. Trước

hết, là những thành tựu của Thể thao quần chúng có rất nhiều khởi sắc,
đánh dấu sự phát triển rõ nét phong trào TDTT trong quần chúng nhân dân.
Đặc biệt, ,thông qua Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VII, phong trào thể
thao quần chúng đã có những chuyển biến tích cực, 98% các huyện, thị, xã
phường đã tổ chức Đại hội và 99% các huyện đã tổ chức thành công Đại
hội TDTT cấp huyện, 100% các tỉnh tổ chức hiệu quả Đại hội TDTT.
Thông qua Đại hội TDTT lần này đã thu hút đông đảo quần chúng nhân
Trang 10


dân tham gia tập luyện thi đấu. Bên cạnh việc tổ chức Đại hội TDTT thì
hoạt động TDTT quần chúng ở các xã phường, CLB Thể thao đã có những
bước tiến bộ mạnh về chất lượng thông qua kế hoạch phát triển xây dựng
nông thôn mới.

Thành quả đạt được của ủy ban OLYMPIC VIỆT NAM:
 Hoạt động đối nội:
Ủy ban Olympic Việt Nam đã tăng cường mối quan hệ nhiều mặt với
các liên đoàn và hội thao Việt Nam, giúp đỡ các tổ chức này hình thành,
cũng cố tổ chức hoạt động. Tổ chức giới thiệu tuyên truyền các hoạt
động của phong trào Olympic quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi để các liên
đoàn bồi dưỡng lựa chọn vận động viên tham gia các cuộc thi quốc tế,
tăng cường cơ sở vật chất đáng kể cho ủy ban Olympic các liên đoàn.
 Hoạt động đối ngoại:
Ủy ban Olympic Việt Nam đã tham gia các hội nghị do Ủy ban
Olympic quốc tế triệu tập, đã dùng các nước thống nhất chương trình
hành động và các luật lệ của quốc tế trên phạm vi thế giới, châu lục hoăc
khu vực. Tham gia các cuộc thi đấu quốc tế, Đại hội Olympic mùa hè lần
thư 22 tại Moscow ( Liên Xô ) và đã đóng góp một phần nhỏ tạo nên sự
thành công về mặt chính trị cho cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Đại hội lần
thứ 23 tại Los Angeles ( Mỹ ) Việt Nam không tham dự. Đại hội lần thứ
24 tham dự tại Seoul ( Hàn Quốc ). Lần thứ 25 tham dự tại Barcelona
( Tây Ban Nha ).
Tham gia các đại hội thể thao châu Á : năm 1982 tại New Dehli (Ấn
Độ) , Đại hội lần thứ 10 không tham dự ,Đại hội lần thứ 11 tham dự tại
Bắc Kinh ( Trung Quốc ).
Tham dự phong trào thể thao của thanh niên sinh viên quốc tế ở
Canada, Cộng hòa dân chủ Đức, Nam Tư, Nhật Bản…

Trang 11


Tham gia thi đấu quốc tế từng môn thể thao, kể cả các giải vô địch
thế giới về thể dục dụng cụ, bắn súng, điền kinh, bơi lội, võ, vật, bóng bàn,
quyền Anh, cờ quốc tế…

Nếu như những năm 50 của thế kỷ trước, Việt Nam mới chỉ có 9
Hiệp hội Thể thao Quốc gia được các Liên đoàn, Hiệp hội Thể thao
Quốc tế công nhận. Đó là: Điền kinh, Bơi lội, Bóng đá, Bóng bàn, Bóng
rổ, Xe đạp, Quần vợt, Quyền Anh và Kiếm, thì đến nay, con số đó đã
nâng lên gấp hơn 2 lần (22 liên đoàn). Không chỉ gia tăng về số lượng,
chất lượng thể thao cũng như các kỳ có mặt và tạo dấu ấn tại các Thế
vận hội, Đại hội Thể thao Châu lục và Đại hội Thể thao khu vực Đông
Nam Á ngày một cao hơn. Cho đến nay, Việt Nam đã phát triển khoảng
hơn 40 môn thể thao khác nhau, Phong trào Olympic của Việt Nam
đang phát triển mạnh cả về bề rộng lẫn chiều sâu.

Nguyễn Thị Ánh Viên được mệnh danh là kình ngư của Việt Nam. Cô đã
đưa môn bơi lội của Việt Nam lên một tầm cao mới
Thành tích của Thể thao Việt Nam tại các Đại hội thể thao khu
vực từng bước khẳng định vị trí 1 trong 3 quốc gia có nền thể thao
mạnh ở Đông Nam Á và đứng trong tốp các quốc gia có nền thể thao
Trang 12


phát triển mạnh ở châu Á. Ngoài những môn thế mạnh, nhiều lần
giành thứ hạng cao tại các giải vô địch thế giới như Wushu, Pencak
Silat, Taekwondo, Cầu mây nữ, Cờ Vua,... các môn đạt vị trí cao tại khu
vực và châu lục như: Karatedo, Cờ Tướng, Thể dục Thể hình, Xe đạp thì
nay đã xuất hiện thêm một số môn như: Cử tạ, Vật, Điền Kinh, Thể Dục
Dụng Cụ, Billiards-Snooker cũng đang từng bước khẳng định vị trí
trên đấu trường thể thao tầm cỡ thế giới. Những thành tích đó của
Thể thao Việt Nam đã được minh chứng cụ thể bằng số lượng huy
chương mà các VĐV Việt Nam đã giành được tại các đấu trường thể
thao lớn như: Olympic, Asiad, SEA Games.


Châu Tuyết Vân vận động viên taekwondo tài năng của Việt Nam

Trang 13


Phạm Phước Hưng vận động viên thể dục dụng cụ Việt Nam Anh đã
mang về hơn 30 HCV cho môn Thể dục dụng cụ

Lực sĩ Phạm Văn Mách với 3 HCV thế giới, 8 HCV Châu Á
Ở đấu trường châu lục, thành tích của thể thao Việt Nam cũng
từng bước được khẳng định, nhất là ở những môn thuộc hệ thống thi

Trang 14


đấu Olympic như điền kinh, đua thuyền, Taekwondo, cầu lông, vật,…
Những gương mặt như Vũ Thị Hương (điền kinh), Nguyễn Tiến Minh
(cầu lông), Lê Quang Liêm (cờ Vua) hiện đang là điểm sáng của thể thao
Việt nam trong các giải châu Á và quốc tế. Còn tại đại hội thể thao của
khu vực, thể thao Việt Nam vẫn giữ vững vị trí TOP đầu của khu vực với
những thành tích đáng nể và phá vỡ nhiều kỷ lục SEA Games.

Vận động viênVũ Thị Hương nữ hoàng tốc độ của làng điền kinh Việt
Nam

Lê Quang Liêm vận động viên cờ vua Việt Nam

Trang 15



Vận động viên cầu lông Nguyễn Tiến Minh, tay vợt số một Việt Nam
Không chỉ phát triển ở thể thao thành tích cao, VOC còn đóng góp
không nhỏ cho công cuộc vận động đăng cai và tổ chức các đại hội thể
thao ở Việt Nam. Mặc dù lần đầu tiên Việt Nam đăng cai SEA Games
năm 2003, nhưng Việt Nam đã khiến bạn bè phải ngưỡng mộ về công
tác tổ chức khá hoàn hảo. Đó chính là tiền đề để Hội đồng Olympic
châu Á (OCA) quyết định giao quyền đăng cai Asian Indoor Games 3
năm 2009 cho Việt Nam. Sự tin tưởng đó đã được đặt đúng chỗ khi AI
Games 3 được bạn bè quốc tế và giới truyền thông khen ngợi hết lời về
công tác tổ chức, sự đón tiếp cũng như công tác chuyên môn… Sau 2
kỳ Đại hội này, được sự đồng ý của Chính phủ, VOC đã thành công

Trang 16


trong việc vận động đưa Asian Beach Games 2016 về với Nha Trang,
Khánh Hoà và hiện đang tích cực chuẩn bị chuẩn bị hồ sơ vận động
đăng cai ASIAD 18-2019.
Hoàn thành nhiệm vụ được giao không chỉ ở công tác quan hệ
quốc tế và phối hợp với thể thao đỉnh cao, VOC còn thực hiện hiệu quả
những kế hoạch và ý kiến chỉ đạo của Uỷ ban Olympic quốc tế, Chính
phủ, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Tổng cục TDTT đề ra như giáo
dục tư tưởng Olympic, tổ chức các khoá đào tạo HLV, VĐV, phối hợp
với các đơn vị liên quan cử cán bộ quản lý, HLV, trọng tài,.. tham dự
các khoá đào tạo quốc tế, nâng cao nhận thức về thể thao quần chúng,
tìm nguồn tài trợ, hỗ trợ trang phục, kinh phí cho các đoàn thể thao…
Hơn 35 năm không ngừng phát triển và lớn mạnh, VOC đã và
đang bước đi một cách vững chắc, xứng đáng là đại biểu duy nhất của
Việt Nam trong Phong trào Olympic Quốc tế. Thời gian tiếp tục trôi và
VOC ngày càng thể hiện phong độ của mình thông qua những kế hoạch

hoạt động cho Chiến lược Thể thao Việt Nam 2010 - 2020 đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt, tăng cường và mở rộng các quan hệ quốc
tế với IOC, OCA, các Uỷ ban Olympic quốc gia và vùng lãnh thổ, đặc
biệt trong năm 2011 là chuẩn bị tối đa nguồn lực cho SEA Games 26
tại Indonesia, hoàn thành đề án tổ chức Asian Beach Games 2016 và
hồ sơ xin đăng cai ASIAD 2019. Với khối lượng công việc khổng lồ như
trên, các thành viên VOC, cán bộ, công chức, viên chức thường trực
của VOC sẽ phải phấn đấu hết mình để phát triển Thể thao, phong trào
Olympic ở trong nước, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên
diễn đàn quốc tế.
Những cột mốc quan trọng:
20/12/1976: Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký Quyết định số

Trang 17


500/TTg cho phép thành lập Uỷ ban Olympic Quốc gia Việt Nam.
28/4/1980: Uỷ ban Olympic Quốc tế ra Quyết định công nhận
chính thức Uỷ ban Olympic Quốc gia Việt Nam là thành viên của
Phong trào Olympic Quốc tế.
Tháng 4/1993: Đại hội đại biểu Uỷ ban Olympic Việt Nam
nhiệm kỳ I (1993 - 1998) bầu ra Ban chấp hành mới gồm 36 thành
viên. Chủ tịch là ông Hà Quang Dự Nguyên Uỷ viên TW Đảng,
nguyên Bộ Trưởng phụ trách công tác Thể thao - Thanh niên.
Tháng 7/1998: Đại hội đại biểu Uỷ ban Olympic Việt Nam nhiệm
kỳ II (1998 - 2002). Chủ tịch là ông Hà Quang Dự.
Tháng 8/2001: Đại hội giữa nhiệm kỳ bầu ông Nguyễn Nguyễn
Danh Thái, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục thể thao làm
Chủ tịch Uỷ ban Olympic Việt Nam.
Tháng 3/2007: Đại hội đại biểu Uỷ ban Olympic Việt Nam

nhiệm kỳ III (2007 - 2010). Ông Nguyễn Danh Thái tiếp tục được
bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Olympic Việt Nam.
* Hạn chế:
Song song với những thành tựu đạt được thì Thể thao Việt Nam vẫn
còn những tồn tại, để lại những trăn trở và suy nghĩ. Trước hết, phải nói
đến Bóng đá, vẫn còn những hiện tượng tiêu cực, đặc biệt là việc các cầu
thủ của hai đội bóng Vinakasai Ninh Bình và đội bóng Đồng Nai tham gia
vào đánh bạc và cá độ, dàn sếp tỷ số điều đó đã để lại những hậu quả rất
xấu đối với Bóng đá nói riêng và Thể thao Việt Nam nói chung. Bên cạnh
đó mộ số đội bóng do điều kiện kinh tế khó khăn đã phải giải thể và rút
khỏi V - league.
Một vấn đề nữa là còn tồn tại vấn đề bạo lực trong thi đấu các giải
thể thao đỉnh cao. Liên đoàn Bóng đá Việt Nam đã xử phạt nghiêm những

Trang 18


hiện tượng bạo lực trong Bóng đá và tại Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ
VII đã có hiện tượng VĐV, HLV xô xát đánh trọng tài và buộc những HLV,
VĐV cấm thi đấu vĩnh viễn đấu hay tước quyền điều hành và chỉ đạo của
một số trọng tài, HLV. Ngoài ra, những vấn đề xung quanh công tác chuyển
nhượng VĐV trong Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VII đã đặt ra cho các
cấp quản lý và giới chuyên môn cần phải suy nghĩ để từng bước tìm cách
điều chỉnh và khắc phục phù hợp.
III. Sự thúc đẩy hội nhập của thể thao Việt Nam
Thực hiện đường lối đổi mới và chính sách tăng cường hội nhập,
Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, từ năm 1989 thể thao Việt
Nam đã tham gia đều đặn các kỳ đại hội thể thao khu vực ( SEA Game
lần thứ 15-24…) Thành tích của đoàn thể thao Việt Nam tại các đại ội
đều có sự tăng trưởng tiến bộ và để lại dấu ấn khó quên trong lòng bạn

bè. Đặc biệt là SEA Game 22 tổ chức tạo Hà Nội thành công tốt đẹp, đoàn
thể thao Việt Nam đã đứng đầu, vượt xa các nước về tổng số huy
chương.
- Tại Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á Việt Nam đã đạt được 155
huy chương gồm 39 HCV, 51 HCB, 65 HCĐ.
- Tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á Việt Nam dã đạt được tổng cộng
1241 huy chương trong đó có: 407HCV, 373HCB, 461HCĐ.
- Tổng các huy chương của Việt Nam trong các kỳ Đại hội bao gồm cả
SEAP Game và SEA Game là 1396 trong đó gồm có: 446 HCV, 424 HCB,
526 HCĐ.
Với mục tiêu xây dựng và phát triển sự nghiệp thể dục thể thao Việt
Nam đã trở thành nội dung quan trọng trong sự nghiệp phát triển con
người, góp phần nâng cao sức khỏe, thể trạng, tầm vóc và làm phong
phú đời sống tinh thần, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh

Trang 19


của con người Việt nam.Nhiều đề án phát triển, chiến lược đào tạo vận
động viên hay các chủ trương đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các
tiến bộ của khoa học vào lĩnh vực thể dục thể thao cũng được triển khai
có hiệu quả trong thời gian qua. Hợp tác quốc tế về thể thao được tăng
cường, vị thế của thể thao Việt Nam được nâng cao và đã trở thành
những "sứ giả" của tình đoàn kết, hữu nghị, thể hiện tinh thần và chủ
trương chủ động hội nhập quốc tế của nước ta. Tương lai sau này là một
nhà sư phạm thể dục thể thao, bản thân nhận thấy cần có những việc
làm thiết thực để góp phần thúc đẩy sự hội nhập của thể thao nước nhà.

Trang 20




×