William Shakespeare (phiên âm tiếng Việt: Uy-li-am Sếch-xpia, sinh năm 1564 (làm lễ
rửa tội ngày 26 tháng 4,[Ghi chú 1] ngày sinh 23/4/1564), mất ngày 23 tháng 4, 1616,
theo lịch Julian) là một nhà văn và nhà viết kịch Anh, được coi là nhà văn vĩ đại nhất của
Anh và là nhà viết kịch đi trước thời đại.[1] Ông cũng được vinh danh là nhà thơ tiêu
biểu của nước Anh và là "Nhà thơ của Avon" (Avon là quê của Shakespeare, viết tắt của
Stratford-upon-Avon).[2][Ghi chú 2] Những tác phẩm của ông, bao gồm cả những tác
phẩm hợp tác, bao gồm 38 vở kịch,[Ghi chú 3] 154 bản sonnet, 2 bản thơ tường thuật dài,
và vài bài thơ ngắn. Những vở kịch của ông đã được dịch ra thành rất nhiều ngôn ngữ lớn
và được trình diễn nhiều hơn bất kì nhà viết kịch nào.[3]
Shakespeare được sinh ra và sinh trưởng tại Stratford-upon-Avon. Vào năm 18 tuổi, ông
kết hôn với Anne Hathaway và có ba người con, đó là Susanna Hall và cặp đôi song sinh,
Hamnet Shakespeare và Judith Quiney. Trong những năm từ 1585-1592, sự nghiệp của
ông thành công vang dội tại thủ đô Luân Đôn với vai trò là một diễn viên, nhà văn và đôi
lúc là người sở hữu của một công ty kịch Lord Chamberlain's Men, với tên gọi sau đó là
King's Men. Ông quay về quê Stratford để nghỉ hưu vào năm 1613, lúc ông 49 tuổi, sau
đó 3 năm ông qua đời tại đấy. Số ít tài liệu về cuộc sống của ông tại đây đã được tìm thấy,
được suy đoán là về các vấn đề thể chất, tình dục, tín ngưỡng, tôn giáo, và được cho là do
những người khác có quan hệ gần gũi với ông ghi chép lại.[4]
Hầu hết các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông được ông sáng tác trong giai đoạn từ 1589
đến 1613.[5][Ghi chú 4] Những vở kịch đầu tiên của ông chủ yếu là hài kịch và kịch lịch
sử, những thể loại này được ông tăng lên sự tinh tế của nghệ thuật vào cuối thế kỉ XVI.
Sau đó, ông sáng tác chủ yếu là bi kịch đến năm 1608, bao gồm các tác phẩm Hamlet,
Vua Lear, Othello và Macbeth, gồm một vài tác phẩm nổi tiếng nhất của ông bằng tiếng
Anh. Trong giai đoạn cuối cùng của sự nghiệp sáng tác, ông sáng tác những vở kịch buồn
(tragicomedies), hay còn gọi là lãng mạn, và hợp tác với một số nhà viết kịch khác.
Nhiều vở kịch của ông được tái bản nhiều lần với các chất lượng khác nhau và một cách
chính xác trong suốt cuộc đời của ông. Năm 1623, hai đồng nghiệp cũ của Shakespeare,
cũng làm việc trên sân khấu kịch, xuất bản First Folio, một tập hợp tất cả các vở kịch
được coi là của ông. Nhưng đến nay, chỉ có hai trong tổng số đó được công nhận là của
Shakespeare.
Căn nhà của John Shakespeare, thân phụ của William Shakespeare tại Stratford-uponAvon. Đây được tin là nơi sinh của nhà văn.
William Shakespeare là con trai của John Shakespeare, một người thợ làm găng tay và ủy
viên hội đồng địa phương đến từ Snitterfield và Mary Arden, con gái của một chủ đất
giàu có.[6] Ông được sinh ra tại Stratford-upon-Avon và được rửa tội vào ngày 26 tháng
4 năm 1564 tại đó. Ngày sinh thật sự của ông vẫn chưa rõ, nhưng những báo cáo ban đầu
là ngày 23 tháng 4 năm 1564, ngày của thánh George (St. George's Day).[7] Ông là con
thứ ba trong tổng số tám người con của gia đình Shakespeare và là người con duy nhất
còn sống sót.[8]
Mặc dù không còn những ghi chép về quãng đời đầu tiên của ông, nhưng các nhà nghiên
cứu về tiểu sử của ông đồng ý rằng Shakespeare được giáo dục tại trường King's New ở
Stratford,[9] một ngôi trường miễn học phí thành lập năm 1553,[10] cách nhà ông
khoảng một phần tư dặm. Vào thời Nữ hoàng Elizabeth, các trường dạy ngữ pháp có chất
lượng không đồng nhất nhưng có một khuôn mẫu chương trình được quy định bởi luật
pháp áp dụng trên toàn nước Anh,[11] và trường cũng cung cấp chương trình giáo dục
chuyên sâu về ngữ pháp tiếng Latinh và những tác giả cổ điển trong tiếng Latinh.
Năm 18 tuổi, Shakespeare kết hôn với một cô gái 26 tuổi, Anne Hathaway. Giáo hội của
Worcester đồng ý cho phép tổ chức lễ cưới vào ngày 27 tháng 11, 1582. Sáu tháng sau
khi kết hôn, Anne sinh được một người con gái, Susanna, được rửa tội vào ngày 26 tháng
5 năm 1583.[12] Cặp song sinh một trai Hamnet và một gái Judith được sinh ra hai năm
sau đó và được rửa tội vào ngày 2 tháng 2 năm 1585.[13] Hamnet mất vì một nguyên
nhân không rõ vào năm 11 tuổi và được mai táng vào ngày 11 tháng 8 năm 1596.[14] Sau
khi cặp song sinh ra đời, Shakespeare rời quê.
Đến Luân Đôn[sửa | sửa mã nguồn]
Vào năm 1585, ông rời quê lên Luân Đôn đang lúc kịch trường ở chốn kinh kỳ trong thời
kỳ sôi nổi.
Bước đầu ông xin làm chân giữ ngựa, soát vé ở cổng rạp hát. Sau đó làm nghề nhắc
tuồng, thợ sửa bản in, dần dần lên làm diễn viên, đạo diễn và nhà viết kịch. Lợi nhuận thu
từ rạp hát là nguồn sống suốt đời của ông. Khi đời sống đã khá, ông củng cố địa vị xã hội
bằng cách mua một tước quý tộc nhỏ.
Lúc ở kinh thành Luân Đôn, ông được Bá tước Southampton giúp đỡ. Dưới mái nhà của
bá tước, có một người Ý lưu vong là Giovani Florio. Ông Giovani Florio đã giúp
Shakespeare hiểu biết thêm về văn học Phục Hưng của Ý và Pháp. Cuộc sống đang êm
đềm thì xảy ra biến cố. Đó là vụ án Essex và Southampton (1601). Essex bị kết tội gây
loạn chống triều đình Elizabeth I. Shakespeare cũng bị tình nghi có liên quan vì vở kịch
Richard III được diễn ra một hôm trước đó. Essex bị chặt đầu, Southampton bị tù chung
thân, còn Shakespeare trốn biệt[cần dẫn nguồn]
Vào năm 1603, Elizabeth I qua đời, Quốc vương nước Scotland là James VI lên nối ngôi
và trở thành Quốc vương James I của nước Anh; khi đó Bá tước Southampton được trả tự
do và trọng dụng. Shakespeare xuất hiện trở lại với đoàn kịch của mình và được triều
đình hậu đãi.
Vào năm 1612, Shakespeare rời kinh đô Luân Đôn sau 1/4 thế kỷ hoạt động sân khấu và
trở về Stratford để sống những năm cuối đời. Ông mất ngày 23 tháng 4 năm 1616. Hiện
nay, ở Stratford-upon-Avon quê hương ông, người ta thành lập Công ty kịch nghệ
Shakespeare Hoàng gia.[15]
Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]
Chữ ký của Shakespeare trong tờ di chúc
Trong đời mình, Shakespeare viết hơn 40 vở kịch, tất cả đều dưới dạng thơ, và được chia
thành 3 loại:
Hài kịch[sửa | sửa mã nguồn]
Thơ
Kịch thất lạc
Tầm ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]
Cống hiến của Shakepeare in đậm dấu ấn lên kịch nghệ và văn chương các thế hệ sau. Ví
như ông đã phát triển kịch nghệ cả về xây dựng nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ và thể
loại. Cho tới trước vở Romeo và Juliet, lãng mạn không được xem là đề tài giá trị đối với
bi kịch. Độc thoại đã từng được sử dụng chủ yếu để truyền đạt thông tin về nhân vật và
sự kiện nhưng Shakespeare đã sử dụng nó để khám phá tâm trí nhân vật. Tác phẩm của
Shakepeare ảnh hưởng sâu sắc tới thi ca thế hệ sau. Rõ ràng, ông vĩ đại hơn hẳn các nhà
viết kịch lớn của Pháp trước thời ông như Racine hay Molière.[16] Những nhà thơ trường
phái lãng mạn đã nỗ lực để làm sống lại kịch thơ Shakespeare, dù đạt được rất ít thành
công. Nhà phê bình Gorge Steiner phát biểu rằng tất cả các vở kịch thơ từ Coleridge đến
Tennyson chỉ là những "phiên bản mờ nhạt viết dựa trên các chủ đề của Shakespeare".
Tuy nhiên, vào thế kỷ 18, đại văn hào nước Pháp là Voltaire (FranÇois-Marie Arouet,
1694 - 1778) - khi phân tích về kịch nghệ của Shakespeare cũng như những nhà soạn
kịch nổi tiếng khác - đã phê phán ông, theo đó ông chỉ đáng được tôn vinh tại Anh:[17]
“
Ông ta là một tên man rợ giỏi tưởng tượng; ông ta viết vài tác phẩm được ca tụng,
nhưng những tuyệt tác của ông ta không thể được trình diễn ở một nơi nào ngoại trừ Luân
Đôn và Canada. Đó không phải là dấu hiệu tốt đối với nền văn học của một quốc gia, vì
những tuyệt tác của quốc gia ấy chỉ được trình diễn thành công trên mỗi chính quốc mà
thôi. Không có bất kỳ một tuyệt tác nào của Shakespeare đã được trình diễn ở nước
ngoài. ”— Voltaire
Voltaire cũng bảo Shakespeare là "quái vật" tuy nhiên, bảo đại văn hào Pháp không bao
giờ biết khen ngợi ông thì thật sai lầm. Voltaire luôn luôn cho rằng, ông là một nhà soạn
kịch "có bản chất cao đẹp, mặc dù tởm lợm".[17] Thời đó, Quốc vương Friedrich II (tức
Friedrich Đại Đế, 1712 - 1786) - vị đại anh quân của nước Phổ và cũng chính là bạn thân
của Voltaire[18] chỉ có thể đọc Shakespeare bằng các bản dịch tiếng Pháp. Vào năm
1780, xuất bản tác phẩm "De la littérature allemande". Qua đó, ông phê phán "các tác
phẩm ghê tởm" của Shakespeare:[19][20]
“
Những trò hề nực cười, chỉ diễn được trên vùng đất hoang vu Canada, vi phạm
những quy tắc của kịch nghệ.
”— Friedrich II Đại Đế[21]
Vị Quốc vương này chỉ trích Shakespeare còn thậm tệ hơn cả Voltaire: "Làm sao đống tác
phẩm quái đản nửa đê tiện nửa cao thượng, nửa bi thảm nửa hài hước, lại thu hút ai
được?"[22] Song, Shakespeare đã ảnh hưởng lên những nhà viết tiểu thuyết Thomas
Hardy, William Faukner và Charles Dickens. Dickens thường trích dẫn Shakespeare, có
thể rút ra 25 trong số các tựa tác phẩm của ông là lấy từ các tác phẩm của Shakespeare.
Ngay từ thế kỷ 18, dù bị một đại anh quân nước Phổ và một đại văn hào nước Pháp phê
phán dữ dội, trớ trêu thay, Shakespeare lại truyền cảm nền văn hóa nghệ - thuật khắp
châu Âu, và trớ trêu hơn nữa - ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với nền văn nghệ Đức, nhà
thơ Johann Gottfried Herder đã tán dương tài năng viết kịch của ông "như thần thánh".
[23] Như doanh nhân nước Đức Ludwig Reiners (1896 - 1957) viết vào năm 1952, các
đại văn hào Đức thời Friedrich II Đại Đế đã "bắt chước những vở kịch tồi tệ, nhảm nhí và
chán ngắt của Shakespeare".[24] Trước tình cảnh đó, Quốc vương Friedrich II Đại Đế với thái độ công kích nền văn hóa Đức (kể cả tác phẩm duy nhất mà ông biết của đại thi
hào Goethe chịu ảnh hưởng của Shakespeare[22]) - lại phải viết:[25]
“
...Có thể thông cảm cho Shakespeare vì ông ta sống trong cái thời đại chẳng mấy
phát triển của nền văn hóa Anh. Tuy nhiên, những người đương thời của Trẫm và Các
Khanh mà lại tiếp bước những sai lầm của ông ta thì thật không thể tha thứ được - Trẫm
lấy một ví dụ là tác phẩm "Götz von Berlichingen" của cậu Goethe - một sự bắt chước
kinh tởm đối với những vở kịch Anh dở ẹc kia...'
”
Giới thiệu về William Shakespeare
William Shakespeare (1504 - 1616) là một trong số những nhà văn hóa vĩ đại nhất của
loài người. Từ lâu, sáng tác của ông đã vượt ra ngoài phạm vi nước Anh để trở thành tài
sản chung của thế giới, cái gia tài quý báu nhất mà nghệ thuật kịch thế giới để lại cho
chúng ta để tiếp thu và phát triển. Tính thời sự của gia tài ấy không mảy may giảm đi mà
trái lại tăng lên cùng theo năm tháng. Chỉ riêng trong nửa đầu thế kỷ XX, số công trình
viết về ông đã nhiều hơn số công trình của ba thế kỷ trước cộng lại.
Bí quyết tạo thành tính bất tử, tính thời sự và tính toàn nhân loại của cái gia tài ấy chính
là ở điểm ông đã trung thành nói lên những nguyện vọng, những ước mơ, những hoài bão
thầm kín nhất của nhân dân Anh và từ chỗ phản ảnh trung thành tính nhân dân của một
nước cụ thể, ông cũng đồng thời phản ảnh một cái gì cũng bất tử như nhân dân, đó là
nhân loại.
I - Thời đại
Hoạt động văn học của Shakespeare gắn liền với cả một trào lưu tư tưởng và nghệ thuật
vĩ đại đã lôi cuốn châu Âu từ giữa thế kỷ XIV, gọi là thời Văn nghệ Phục hưng. Đó là một
thời đại đầy những mâu thuẫn gay gắt trong xã hội.
Do sự phát triển của các đô thị, thị trường thế giới mở rộng nhờ việc phát hiện ra châu
Mỹ và con đường biển sang Ấn Độ, những mầm mống tư bản chủ nghĩa đang hình thành
trong lòng xã hội phong kiến châu âu lớn lên nhanh chóng phá vỡ cái vỏ phong kiến bấy
lâu kìm hãm nó. Tầng lớp thị dân đang lớn lên nhanh chóng chống lại nền văn hoá phong
kiến - nhà thờ đang cản trở sự hình thành của nó như một giai cấp tự nó và vì nó. Nó phải
phá vỡ chế độ cát cứ phong kiến hàng rào thuế khoá chống lại sự thống nhất thị trường
nội địa để tạo lập những dân tộc. Nó phải đạp tan thần học đã trói buộc tư tưởng để xây
dựng những khoa học giúp nó chinh phục thế giới: đồng thời nó phải xây dựng một văn
hoá riêng, một hệ tư tưởng riêng để đáp ứng những lạc thú thế gian chung cho mọi người
chống lại thứ tư tưởng an bần, khổ hạnh, chịu kiếp tôi đòi của nhà thờ Thiên Chúa giáo.
Trong cái đà này xuất hiện những người khổng lồ về văn hoá. Như Enghen viết trong
Biện chứng pháp của tự nhiên: "Đó là bước ngoặt tiến bộ vĩ đại nhất mà nhân loại xưa
nay mới thấy. Một thời đại cần đến những người khổng lồ về mặt tư tưởng, về nhiệt tình
và tính cách, khổng lồ về tài năng mọi mặt, và về sự hiểu biết sâu rộng của họ". Một loạt
người khổng lồ xuất hiện: Đantê (Dante) ở Italia, Xecvantét (Cervantes) ở Tây Ban Nha.
Rabơle (Rabelais) ở Pháp. Họ xây dựng lên nền nghệ thuật mới nhằm giải phóng con
người thoát khỏi những ràng buộc của tôn giáo và hệ tư tưởng phong kiến. Nội dung của
nó là tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa, tinh thần tự do dân chủ, hình thức của nó là ngôn ngữ
dân tộc đã đạt đến trình độ nghệ thuật mẫu mực.
Nhưng Thời đại Phục hưng cũng đồng thời là thời đại tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản,
thời đại nông dân phá sản, bị bóc lột cùng cực và nổi lên bạo động, thời đại mở đầu sự
thống trị nghiệt ngã của đồng tiền. Hai mâu thuẫn này trong bản thân cuộc sống đều được
ít nhiều phản ảnh trong các tác phẩm văn học làm thành tính nhân dân sâu sắc của chúng.
Nhưng có thể nói không ở đâu mà hai mặt này thể hiện sâu sắc bằng ở Shakespeare, ở
đấy chúng làm thành một mâu thuẫn đau đớn trong từng tác phẩm, khiến cho tác phẩm
càng có sức thu hút lạ thường. Người đọc khó lòng phân biệt đây là tiếng cười hay tiếng
khóc, là sân khấu hay cuộc đời. Điều này cũng có cái nguyên nhân khách quan của nó.
Thực vậy, không ở đâu mà mặt vinh quang và mặt đen tối của thời tích luỹ nguyên thuỷ
của tư bản lại cụ thể cho bằng ở quê hương nhà thơ. Với thế kỷ XVI, nước Anh đã bước
vào một bước ngoặt về mọi mặt: kinh tế, xã hội, văn hoá, biến thành "nước điển hình của
tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản", như lời nhận định của Marx.
Những nền móng của chế độ phong kiến đang tan rã ở Anh. Sau thế kỷ XVI, nước Anh
đã rời khỏi con đường sản xuất nông nghiệp tự túc để chuyển sang nền kinh tế thị trường,
sản xuất để bán. Đối tượng xuất cảng chính là len. Bọn đại địa chủ cướp đất nông dân,
biến đất cày thành đồng cỏ mênh mông để chăn cừu. Nông dân mất hết nhà cửa, ruộng
vườn, trở thành dân lang thang. Tômat Morơ (Thomas Moore), nhà tư tưởng nổi tiếng thế
kỷ XVI trong quyển Nước lý tưởng viết: "Tại tất cả mọi nơi, cừu là con vật rất hiền lành
và sống kham khổ, thế mà ở đây, nó đã trở thành hung tợn và tham lam đến nỗi ăn thịt cả
người, làm cho nông thôn, nhà cửa và làng mạc vắng tanh". Riêng dưới thời Henry VIII
(1509-1547), cha của nữ hoàng Elizabet (1558-1603) 72.000 nông dân "lang thang" bị
giết. Những người nông dân này đã thành "tự do" ở chỗ thoát ly khỏi mọi ràng buộc
phong kiến và mất mọi tài sản. Họ kéo nhau vào các xí nghiệp, công trường và biến thành
những người vô sản. Quảng đại nông dân đã nhiều lần nổi dậy. Đặc biệt, nổi bật là cuộc
khởi nghĩa nông dân năm 1607 đã lôi cuốn một phần nhân dân quan trong miền trung
nước Anh. Nhưng các cuộc khởi nghĩa đều bị đàn áp và nước Anh thời Shakespeare bị
bao phủ bởi những thớt chặt đầu và những giá treo cổ" (Môrôzốp). Về thái độ trắng trợn
của bọn quý tộc đối với nông dân, ta có thể tìm thấy trong Côriôlanut (viết năm 1608) lời
tố cáo đanh thép: "Họ chẳng bao giờ cần đến chúng tôi cả. Họ để chúng tôi chết đói trong
khi kho của họ đầy nứt đố đổ vách, họ ban hành những luật lệ để bênh vực bọn cho vay
nặng lãi, ngày ngày thu hồi những sắc lệnh bất lợi cho bọn giàu có và ban hành những
luật lệ gắt gao để kìm hãm trói buộc đàn áp dân nghèo. Nếu chiến tranh không nuốt sống
chúng tôi thì họ cũng sẽ nuốt chúng tôi. Đấy tình yêu của họ đối với chúng tôi là như thế
đấy" (Hồi I, Cảnh 1).
Tầng lớp quý tộc đi theo con đường tư sản hoá và giai cấp tư sản ra sức ủng hộ nhà vua
thống nhất quốc gia chống lại bọn phong kiến phân quyền thực hiện thống nhất thị trường
nội địa đồng thời chống lại Tây Ban Nha lúc bấy giờ mạnh nhất thế giới về hải quân để
giành lấy chủ quyền ngoại thương. Trong một thời gian ngắn nước Anh đã đứng đầu thế
giới về thương nghiệp và hải quân. Trận đại thắng Acmađa năm1588 của Anh đánh tan
hạm đội Tây Ban Nha mở đường cho việc buôn bán đại quy mô, kỷ nguyên xâm lược
thuộc địa cũng là lúc phát triển mạnh mẽ tinh thần yêu nước, cũng như triết học và văn
học nghệ thuật.
Những thay đổi về kinh tế và xã hội là cơ sở thuận tiện để tiếp thu và phát triển những tư
tưởng nhân đạo chủ nghĩa thời Phục hưng. Vô số tác phẩm Pháp, Italia, Tây Ban Nha
được dịch sang tiếng Anh. Nước Anh trước đây còn lạc hậu đã đuổi kịp các nước tiên tiến
và đứng đầu châu âu về triết học. Franxit Bâycân (Francis Bacon), nhà duy vật vĩ đại mở
đầu sự đoạn tuyệt với thần học, kêu gọi sự xây dựng khoa học thực nghiệm dựa trên khảo
sát thực tế, đã để lại một ảnh hưởng sâu sắc tới toàn bộ tác phẩm của Shakespeare. Hàng
loạt nhà thơ trữ tình phát triển, kịch đang phát triển rầm rộ.
Nhưng cũng chính ở Anh, sự bần cùng hoá của nông dân diễn ra sâu sắc hơn ở đâu hết.
Để tích luỹ tư bản, bọn thống trị đã làm đủ mọi cách: cướp đoạt, cho vay nặng lãi, xâm
lược thuộc địa. Như Mác viết: "Lịch sử của sự tước đoạt này được viết trong sử sách của
nhân loại bằng tiếng nói của lửa và máu... Sự tước đoạt những người sản xuất trực tiếp
được tiến hành với sự dã man tàn nhẫn nhất, dưới áp lực của những dục vọng hèn hạ
nhất, bẩn thỉu nhất, vụn vặt nhất và điên cuồng nhất”.
Và sau khi làm nhiệm vụ tố cáo những bất công của chế độ phong kiến, giai cấp tư sản đã
phơi bày bộ mặt thực của mình: "Tại mọi nơi nó nắm được quyền thống trị, giai cấp tư
sản đã đập nát mọi quan hệ phong kiến, gia trưởng thi vị. Nó đã xé toang không thương
tiếc những dây xích sặc sỡ đã từng buộc chặt con người vào "các đấng quân chủ trời cho"
của họ, mà không để lại gì giữa người với người một liên hệ nào khác ngoài cái quyền lợi
trần truồng "tiền trao cháo múc" một cách tàn nhẫn. Trong làn nước băng giá của sự tính
toán ích kỷ, nó đã dập tắt mối rung cảm thiêng liêng hiệp sĩ của sự rung cảm ngây ngất
của tôn giáo, lòng nhiệt tình có tính chất hiệp sĩ, tính đa cảm phi-lit-tanh....Tóm lại, nó đã
thay thế sự bóc lột bị che đậy bởi những ảo tưởng tôn giáo và chính trị bằng sự bóc lột
công khai, trơ trẽn, trắng trợn và súc vật".
Một loạt người xuất hiện, quỷ quyệt, tàn nhẫn, vô liêm sỉ, những Sailôc, Iago, Etmun,
Măcbet ra đời, điển hình cho cái thời đại mà theo Mác, "mới sinh ra đã toát tất cả máu và
bùn ở mọi lỗ chân lông".
Shakespeare là con người của cái bước ngoặt lịch sử vĩ đại và đau thương ấy. Con người
ấy sống như thế nào và nhìn cuộc sống như thế nào?
II - Con người
Cuộc đời của Shakespeare không phải như người ta thường nói không được biết đến. Trái
lại, ngay vào thời ông còn sống, những gương mặt văn học lớn nhất của thời đại đã nhắc
đến và thán phục ông: Mintân (Milton), Đraiđân (Dryden), Pâupơ (Pope). Các vở kịch
của ông vẫn tiếp tục trình diễn suốt thế kỷ XVII, XVIII. Nhưng phải đến nửa thế kỷ
XVIII, nhất là từ giai đoạn của chủ nghĩa lãng mạn trở đi, ông mới trở thành con người
của cả châu Âu và cả thế giới. Danh tiếng ông không nhạt đi mà tăng lên với thời gian.
Chỉ tính nửa đầu thế kỷ XX, số công trình nghiên cứu về ông và các tác phẩm của ông đã
nhiều hơn ba thế kỷ trước cộng lại. Tên ông trở thành đối tượng của một ngành học mới,
ngành Shakespeare học tồn tại ở Anh, Pháp, Đức và Liên Xô cũ.
Ông sinh ngày 23 tháng 4 năm 1564 ở thành phố Xtratfo trên sông Âyvân, thuộc quận
Ioocsơ miền Trung nước Anh. Đó là một thành phố nhỏ chung quanh là ruộng và đồng cỏ
xanh. Cậu bé William lớn lên giữa khung cảnh thiên nhiên thanh tú, làm quen với con
sông đẹp, những câu chuyện và những bài hát dân gian, những điều sẽ để lại một ấn
tượng tươi mát trong các tác phẩm của tác giả. Cha ông - Giôn là một thương gia khá giả,
làm nghề bán len, bán tất tay đã từng giữ nhiều chức và cả chức thị trưởng thành phố.
Lúc lên bốn, cậu đã có thể thấy cha mặc lễ phục chủ toạ những chợ phiên. Ông thị trưởng
này rất khuyến khích việc diễn kịch ở thành phố mình. Trong số tám đứa con ông, Etmun,
sinh sau William 16 năm trở thành diễn viên và chết năm 46 tuổi. Cách đấy 30 cây số là
thành phố Coventri nổi tiếng về những vở kịch tôn giáo hằng năm. Năm 1575, nữ hoàng
Elizabet đến ở lâu đài Keni nước cách đấy 2 giờ đi bộ, trong 19 ngày liền. Đó là những
ngày tráng lệ. Người ta đua nhau diễn kịch. Chắc chắn cậu bé 11 tuổi, con ông thị trưởng
không vắng mặt tại các cuộc trình diễn này.
Lên bảy, cậu vào học trường thành phố, gọi chung là "trường ngữ pháp", thuộc loại nổi
tiếng lúc bấy giờ. Việc học tập trung vào tiếng Latinh. Nhưng ở các lớp trên không dạy
tiếng Anh. Trong vở hài kịch Những người vợ vui vẻ ở Windsor (Uynxo), Hồi IV, cảnh 1
có nhắc lại cảnh một thầy giáo dạy tiếng Latinh cho cậu học trò Uyliam, chắc hẳn là xuất
phát từ chính thể nghiệm của ông. Trong trường hợp này người ta dạy tiếng Latinh, tập
dịch từ tiếng Latinh sang tiếng Anh và học các quy tắc từ chương học. Trình độ học tuy
chưa cao nhưng nó cũng đã giúp cậu bé quen với thơ tình ái của Ôvit, Hôrat, kịch của
Plautut Tơsenxơ những điều thấy rất rõ trong các tác phẩm đầu tiên của ông. Ngoài ra,
ông còn biết thêm tiếng Pháp và tiếng Italia mặc dầu các sinh ngữ không được dạy trong
trường.
Những ngày rảnh, gia đình đi dạo ngắm cảnh nông thôn tươi mát bao quanh. Những ngày
chủ nhật thế nào cả gia đình cũng đến nhà thờ thành phố nghe giảng kinh Phúc âm.
Nhưng có một điều rất lạ khiến ông khác mọi nhà văn hoá thời Phục hưng đó là trong
toàn bộ sự nghiệp văn học đồ sộ của ông, gần như vắng mặt ảnh hưởng của kinh Phúc âm
trong khi ảnh hưởng này rất sâu sắc ở mọi nhà văn, nhà thơ Anh.
Vào khoảng 15 tuổi ông thôi học, không được tiếp tục vào trường Đại học. Câu chuyện
của Giôn Aubrây viết vào năm 1681 nói Shakespeare đã từng là một thầy giáo nông thôn.
Năm 1582, Shakespeare lấy một người vợ hơn mình 8 tuổi và sinh con gái đầu. Gia đình
cha mẹ đã sa sút nhanh chóng và cuộc sống của gia đình Shakespeare càng chật vật vì sau
ba năm kết hôn đã có ba con.
Năm 1585, Shakespeare đi bộ đến Luân Đôn trong khi các vở kịch của Lili, Maclô, Grim
và Kít đang chinh phục thủ đô. Krixtôfơ Maclô (1564-1593) là người sáng lập bi kịch
Anh thời Phục hưng với những vở kịch thấm nhuần tinh thần dân chủ, tự do và vô thần
(Tacmeclan, Fauxtơ) đặc biệt với vở Người Do Thái ở đảo Mantơ trong đó người Do Thái
Barabat có thể sánh với Sailôc trong Chàng thương nhân thành Vơnidơ: Ông sẽ cấp cho
Shakespeare tư tưởng nhân đạo và những hình ảnh nhân vật đồ sộ từ Sailôc đến Măcbet,
Lia, Côriôlanut. Giôn Lili (1554-1604) với những vở hài kịch độc đáo, tế nhị, mang tính
huyền thoại như Người đàn bà trên mặt trăng, Enđimiôn, Miđat và những bài hát nhí
nhảnh, yêu đời, báo trước những vở kịch rộn ràng như Giấc mộng đêm hè, Lắm tiếng mà
chẳng có gì. Rôbớc Grin (1558-1592) với những vở như Giắc IV đã miêu tả nhân dân rất
sinh động, nội dung phong phú, tuy bi đát nhưng bao giờ cũng kết thúc vui vẻ, đã để lại
một ảnh hưởng rất rõ trong Periklét, Ximbơlin, Cơn bão. Và cuối cùng Tomat Kit (15581594) đã là một bậc thầy trong nghệ thuật trình bày một hành động chặt chẽ, căng thẳng
và không ngừng phát triển nhanh chóng, đặc biệt trong vở Hămlet của ông.
Đến Luân Đôn trong những ngày huy hoàng nhất của kịch trường Anh, Shakespeare đã
tìm thấy một thế giới những tình cảm mới mẻ, những đề tài, những nhân vật và toàn bộ
kỹ thuật của kịch trường Phục hưng. Quan trọng hơn, ông đã nắm được con người xem
kịch. Lúc này ở Luân Đôn có hai loại sân khấu dành cho hai loại khán giả khác nhau. Bên
cạnh sân khấu dành cho các khán giả "thượng lưu" (quý tộc, tư sản giàu); còn có sân
khấu dành cho khán giả bình dân gồm thợ thủ công, thuỷ thủ, nông dân tại các làng gần
Luân Đôn, đầy tớ các nhà quyền quý, học sinh và sinh viên. Đặc biệt các khán giả không
biết chữ tìm ở kịch hình ảnh cuộc đời và thể hiện mơ ước của mình. Lớp khán giả này
yêu cầu kịch phải nói lên những điều họ ấp ủ, phải vạch trần những tật xấu, nêu lên sự
thắng lợi của tư tưởng nhân đạo, chống lại tư tưởng khổ hạnh giả dối của phong kiến và
nhà thờ, khẳng định giá trị yêu ghét của quần chúng và sức mạnh của quần chúng.
Shakespeare sẽ không viết cho tầng lớp quý tộc, tầng lớp được gọi là "thượng lưu" vốn
tìm ở nghệ thuật một sự tiêu khiển và do đó thiên về mặt kiểu cách, ngôn ngữ cầu kỳ, tình
cảm giả dối, hình thức gò bó. Ông nói với nhân dân. Kịch của ông khác mọi nhà viết kịch
đương thời mang tính phê phán, để qua đó rút ra một suy nghĩ triết học. Ông đưa ra một
"tấm gương trước cuộc sống" (Hămlet, Hồi III, cảnh 3), để chính người xem rút ra những
suy nghĩ liên quan tới cách lựa chọn "nên sống như thế nào?". Đây là điểm khu biệt một
thiên tài với một nhà văn bình thường. Thiên tài không minh hoạ cuộc sống mà lý giải lại
cuộc sống theo cách lý giải mới của mình nhiều người chưa vươn tới được. Đây mới là
điểm mới Shakespeare đem đến cho kịch trường Anh cũng như kịch trường thế giới và
khiến ông làm bá chủ kịch trường thế giới mấy trăm năm nay. Cái mới trong kịch
Shakespeare mà ít người chú ý đến đó là kịch ông không chỉ là nơi đối lập của những
hoàn cảnh, những phong tục, những mưu mô, những tình thế tức là những chủ đề tạo nên
các loại kịch khác nhau mà ta vẫn biết. Kịch ông là nơi va chạm của tư tưởng với tư
tưởng, những kẻ đại biểu cho các tư tưởng tham lam, bóc lột, lừa dối của giai cấp tư sản
trình bày cái lý bênh vực các cách làm của mình hết sức thoải mái, đắc ý và tự do như
những nhà tư tưởng mới chống lại những nhân vật tích cực khẳng định quan điểm nhân
dân xuất phát từ chính truyền thống đạo đức quen thuộc. Như nhiều nhà tội phạm học
nhận xét, bọn tội phạm hầu như bao giờ cũng khoe khoang tư tưởng của mình và nói
chuyện triết học, các nhân vật tiêu cực của Shakespeare là những người như vậy, và dù
cho thất bại, chết, họ vẫn cứ là họ, không thay đổi, không chấp nhận đạo đức của quần
chúng và tự cho mình là sáng suốt hơn. Đồng thời, họ cũng có những lý do đáng kể để
bênh vực, chứ không phải chỉ tham lam đơn thuần, ích kỷ đơn thuần: những quan điểm
cố hữu về chủng tộc, địa vị, ngôi thứ, tài năng vân vân. Họ muốn khẳng định những giá
trị cá nhân mới. Chính đó mới là cơ sở của lối Shakespeare hoá. Đây là bí quyết làm ta
cảm thấy không phải Shakespeare sao lại cuộc đời, mà hình như cuộc đời sao lại kịch
Shakespeare, bởi vì trong xã hội trước mắt những nhân vật thua trong kịch lại thắng trong
đời, những nhân vật tích cực dù có thắng là do một điều ngẫu nhiên, không phải do bản
thân quy luật của cuộc sống. Đối với lớp người muốn thay đổi xã hội để xây dựng xã hội
cho người lao động, kịch Shakespeare khẳng định rõ ràng không tài nào thắng cái xấu
trong xã hội bằng những đổi mới lẻ tẻ, nhất là bằng lòng tốt, cái tâm sẵn có, mà phải xây
dựng lại xã hội theo những nguyên lý mới trên con đường đang tìm kiếm, con đường xã
hội chủ nghĩa. Nếu không, thì cái xấu vẫn cứ thắng, nhân dân vẫn cứ bị lừa dối, bị chà
đạp, và sự thắng lợi sẽ chỉ là chốc lát, mong manh. Dĩ nhiên, Shakespeare không đủ sức
cấp cho ta câu trả lời. Câu trả lời là thuộc thế kỷ XXI.
Nhưng Shakespeare còn phải chịu đựng nhiều thử thách, sống cuộc đời lận đận, khó khăn
trước khi thực hiện được mơ ước của mình và điều đó là tất yếu, bởi vì nhà tư tưởng gia
của thời đại không thể là sản phẩm tự phát của thời đại mà phải là kết tinh những suy
nghĩ, băn khoăn của thời đại. Thiên tài nào cũng phải chịu đựng một sự trả giá khắc
nghiệt, đau đớn. Theo những công trình khảo sát công phu về đời ông, ông đã phải làm
mọi công việc hèn kém tại rạp hát trước khi viết kịch: giữ ngựa cho khách xem, soát vé,
nhắc vở, rồi đóng những vai phụ chẳng hạn vai hồn ma của cha Hămlet, nhưng trước đó
là những vai phụ trong các vở kịch của người khác. Ben Giônxơn nhắc đến diễn viên
Shakespeare trong vở Mỗi người theo tính khi mình diễn năm 1598. Ông nhanh chóng trở
thành thành thạo với mọi hoạt động trong kịch trường và trở thành người quản lý Nhà hát
chính của Luân Đôn vào năm 1597. Năm 1599, ông là một thành viên của nghiệp đoàn
xây dựng nhà hát Globus (Địa cầu). Kinh nghiệm thực tiễn về sân khấu là điều không thể
thiếu trong việc đào tạo một kịch tác gia toàn diện.
Nhưng Shakespeare không chỉ là con người của sân khấu. Cũng như mọi nhà văn hoá
thời Phục hưng, ông cố gắng làm một học giả. Những năm sống ở Luân đôn là những
năm học tập cần mẫn. Qua những tác phẩm, dù là các bài thơ Xon-nê hay các vở kịch, ta
thấy rõ ông khá thạo tiếng Pháp, tiếng Italia là những nước đi trước nước Anh trong
phong trào Phục hưng, đã đọc Xecvantét. Rabơle, nhất là chịu ảnh hưởng tư tưởng hoài
nghi của Môngtenhơ (biểu lộ rất rõ trong Hămlet), đã cố gắng nhiều để học luật, vạn vật,
lịch sử của Hôlinset, nhất là văn học dân gian. Đành rằng đây đó có một vài chi tiết
không đúng chỗ, một tên người, tên đất dùng sai, một số điển tích hiểu không đúng,
những điều mà mọi người tự học không có ai hướng dẫn đều mắc, điều mà một học giả
uyên bác như Bâycân nhất định không phạm. Nhưng cái thao trường mênh mông bao
gồm Hy-lạp, La-mã, đến Xcốt-lân, Đan-mạch, từ cổ đại đến cận đại cũng đủ nói lên tinh
thần nghiêm túc, khổ học của tác giả và đủ để xoá tan những câu chuyện hoang đường về
chàng Shakespeare dốt nát của trưởng ngữ pháp ngày xưa "chỉ học một ít chữ Latinh và
càng ít chữ Hy-Lạp hơn" theo lời của Ben Giônxơn.
Hình như tác phẩm viết đầu tiên còn lại của ông không phải là một vở kịch mà là một tập
thơ, gồm 154 bài thơ xon-nê và một vài bài thơ khác. Ví thử Shakespeare không viết kịch
thì chỉ riêng các bài thơ trữ tình của ông cũng đủ khiến ông trở thành nhà thơ lớn nhất
nước Anh đương thời và một trong những nhà thơ lớn của châu Âu thời bấy giờ. Nhưng
đối với hậu thế thơ trữ tình của ông phải chịu một số phận không may vì nó bị che mờ
bởi những vở kịch quá vĩ đại mà đã gọi là một người có văn hoá ở châu Âu không ai
được phép bỏ qua. Trong bài giới thiệu này, tôi bắt buộc phải cải chính điều oan uổng ấy
trong phần nói riêng về thơ trữ tình của ông.
Đoàn kịch Shakespeare gia nhập đầu tiên là đoàn kịch của hầu tước Xtrangiơ. Ông không
phải là một diễn viên nổi tiếng. Trái lại, sớm nổi tiếng là một kịch tác gia vô địch. Lời
nhắc đến Shakespeare đầu tiên được in ra là vào năm 1592 trong một bài văn châm biếm
in trong tác phẩm của Robơc Grin ngay sau khi ông này mất. Nó nói đến một "con quạ
mới phất" (An upstart crow) "hình như có khả năng buông ra một bài thơ không vần như
người giỏi nhất trong các anh" và là người duy nhất lay chuyển - sân khấu trong một
nước". Nguyên văn đoạn này là "the only shake - scene", rõ ràng nhại tên Shakespeare.
Đây rõ ràng là một lời nói bực tức của một kẻ ghen tài, nhưng bất lực: chữ "mới phất", và
"con quạ" muốn khẳng định danh tiếng của đối thủ sẽ mong manh. Mặc dầu thế, Grin vẫn
khuyên các bạn viết kịch nên giải nghệ đi thôi bởi vì mọi cố gắng đối chọi đều sẽ vô ích.
Những vở kịch đầu tiên được giữ lại là hai vở hài kịch Hai chàng quý tộc thành Vêrôn.,
Sự thuần dưỡng người đàn bà đanh đá vào cuối những năm 1580. Hoạt động sân khấu
của Shakespeare bị đình lại trong hai năm (1592-1594) vì nạn dịch ở Luân Đôn. Lợi dụng
hoàn cảnh này, Shakespeare viết hai tập thơ trữ tình là Vênut và Ađônit và Lukrexơ đều
để tặng hầu tước xứ Xaothămtân là Henri Raiôthêtxli, một vị Mạnh Thường Quân về
nghệ thuật. Hình ảnh Raiôthêxli chính là điển hình của chàng thanh niên mã thượng, đẹp
trai, của các chàng Fecđinăng, Bătxaniô, Flôrizen, Bairôn trong các vở kịch sau này.
Shakespeare được gọi là "chàng Shakespeare với cái lưỡi bằng mật ong" và được sánh
ngang hàng với Ôvit của Lamã. Nó chứng tỏ Shakespeare đã tiếp thu được toàn bộ tinh
hoa của văn hoá Italia.
Có thể nói từ 1591 trở đi, suốt mười mấy năm liền các vở kịch của Shakespeare đã tuyệt
đối làm bá chủ kịch trường Anh. Đó là thời gian sáng tác sôi nổi, cứ mỗi năm viết hai vở
kịch. Shakespeare viết cùng một lúc cho nhiều đoàn kịch khác nhau, đã thế còn đạo diễn,
lãnh đạo đoàn kịch của mình ở rạp hát Globus lớn nhất Luân đôn. Và ông đã hoàn tất sự
nghiệp vĩ đại nhất của kịch trường thế giới gồm 37 vở kịch (theo những công trình khảo
sát nghiêm túc nhất), hầu hết là kiệt tác.
Năm 1613, ông rời khỏi kịch trường. Nguyên nhân của việc này không phải vì nguồn thơ
đã cạn, mà vì thị hiếu triều đình đã thay đổi: vua Jăc I chi thích loại kịch kiểu cách, quý
tộc. Sân khấu xưa tương đối tự do, nay bị kiểm soát gắt gao. Nhà pháp sư của ngôn ngữ
rời khỏi kịch trường trở về cuộc sống yên lặng ở quê hương cho đến khi chết (ngày 22
tháng 4 năm 1618), trùng với ngày sinh.
Theo Stanlcy Wells khi viết lời giới thiệu cho Toàn tập đồ sồ của Shakespeare (Clarenton
Press - Oxford, 1986) mà tôi đã kiếm được khi sang Pháp năm 1988 thì "cuộc đời của
Shakespeare ít nhất cũng có đầy đủ tư liệu như hầu hết những người đương thời không
thuộc vào những gia đình lớn; chúng ta biết về ông còn nhiều hơn các nhà viết kịch khác
đương thời trừ Ben Giôn-xôn. "Trong quyển sách này có đủ các giấy tờ, chúc thư, các chi
tiết về gia đình, con cái, nhưng tôi không tiện đưa vào vì không cần thiết. Tôi bắt buộc
phải dẫn chuyện trên đây vì câu chuyện được bàn tán không dứt mấy thế kỷ nay:
Shakespeare là ai?
Vào thế kỷ XVII, địa vị người viết kịch rất thấp, viết kịch không phải là một nghề. Mặc
dầu các vở của Shakespeare được mọi người hoan nghênh, nhưng mấy ai quan tâm đến
tác giả, tìm hiểu cuộc đời ông ta. Vĩ đại như Môlie, kịch tác giả duy nhất của Pháp có thể
sánh với Shakespeare mà chết còn không được xức dầu thánh theo quy tắc nhà thờ,
không được chôn trong nghĩa địa của nhà thờ thì người đời không hiểu cuộc đời của
Shakespeare hỏi có gì lạ? Còn xét ở ngay các vở kịch thì tác giả hoàn toàn hy sinh cho
tác phẩm không hề một lời nhắc đến cá nhân mình. Các bài thơ trữ tình chỉ nói đến một
tình yêu không toại nguyện, không có chi tiết cá nhân về tác giả. Tình trạng này rất thuận
tiện cho các lý thuyết muốn phủ nhận sự tồn tại thực tế của diễn viên, nhà đạo diễn và
kịch tác gia mang tên Shakespeare.
Nhiều học giả cho rằng một sự nghiệp phi thường như thế lẽ nào lại không phải do một
quý tộc đương thời, học vấn bao la thiên kinh vạn quyển làm ra? Lẽ nào nó lại là sự
nghiệp của một anh chàng học trường ngữ pháp, chưa bước chân vào đại học ngày nào và
là con một thương nhân phá sản? Thế là những câu chuyện thoá mạ Shakespeare ra đời,
khẳng định con người mang tên Shakespeare kia học hành dốt nát, vì ăn cắp mà bỏ trốn
đến Luân Đôn để tránh truy nã, và sau đó vào một rạp hát. Các vở kịch dù có xuất bản
mang tên Shakespeare đều do một học giả quý tộc, học vấn uyên thâm viết ra nhưng để
tránh tai tiếng, nên cho Shakespeare mượn tên. Sau khi phủ nhận vai trò đích thực của
Shakespeare, dĩ nhiên người ta phải tìm tác giả thực tế, và tác giả ấy dĩ nhiên phải là con
người thông thái nhất nước Anh thời bấy giờ. Người được chọn đầu tiên là nhà triết học
Franxit Bâycân, rồi đến hầu tước Etuác đơ Vêrây, hầu tước Uylam Xtanli, Giônxân. Hầu
tước Ôcxfo v.v...
Mọi "thuyết" này chẳng có một cơ sở khách quan nào hết. Mọi người đồng thời quen biết
Shakespeare đều chẳng ai mảy may hoài nghi về một anh chàng Shakespeare nào khác...
Lại có xu hướng cho rằng Shakespeare chỉ viết có một nửa số tác phẩm còn số nửa kia là
do người khác bởi vì theo họ có những đoạn không xứng với tài năng của Shakespeare.
Khoa khảo chứng học hiện đại đã bác bỏ lập luận này. Người ta đã tìm được những bản
viết tay của nhiều vở kịch không phải là bản sao mà chính là bản gốc với những sửa chữa
của tác giả vào khoảng 1600. Tuy có nét chữ của người khác trong các phần chữa, nhưng
toàn bộ là của một người.
Nói chung, những mâu thuẫn trong một sự nghiệp đồ sộ là chuyện chung của mọi nhà
văn hoá. Không có nhà văn hoá lớn nào lại không có những cái gọi là "mâu thuẫn" trong
cách suy nghĩ. Ngay ở Mác cũng chẳng thiếu gì những mâu thuẫn như thế. Con người suy
nghĩ bằng đầu óc của mình thì có mâu thuẫn vì nhận thức là một quá trình phủ định
không ngừng. Chỉ có con người nghĩ theo và nói theo mới không bao giờ mâu thuẫn bởi
vì họ chỉ chịu trách nhiệm về các thành công còn người khác chịu trách nhiệm về các sai
sót. Bởi vì một nhà tư tưởng một khi là phản ảnh của cả thời đại thì thế nào cũng là một
sự phát triển không ngừng qua nhiều mâu thuẫn. Bởi vì chính cuộc sống chứa đựng mâu
thuẫn, cho nên các mâu thuẫn của một sự nghiệp đồ sộ và mênh mông như sự nghiệp của
Shakespeare chỉ càng chứng minh cái chân thực của một tài năng cũng mênh mông như
cuộc sống và thời đại vậy.
III. Thơ trữ tình
Vì sự nghiệp của Shakespeare gồm cả thơ trữ tình và kịch, xuất hiện đan xen, cho nên
chúng tôi nói trước đến thơ trữ tình của tác giả rồi sau đó mới nói đến kịch. Phần thơ trữ
tình đã làm tác giả nổi tiếng là nhà thơ lớn nhất nước Anh và được mọi người tôn trọng
xem là con người có cái lưỡi mật ong sánh ngang những nhà thơ trữ tình lớn nhất châu
Âu và La mã. Chỉ tiếc rằng phần này hết sức khó dịch, cho nên không thể sánh với các vở
kịch về mặt phổ biến khắp thế giới.
Thơ trữ tình của tác giả gồm trước hết tập 154 bài thơ xon-nê, rồi đến trường ca Người lữ
hành say đắm, Venut và Ađônit, Việc hiếp dâm Lukrexơ. Chỉ riêng phần trữ tình cũng đã
có thể làm thành một tập bề thế đủ để khẳng định giá trị nhà thơ lớn nhất nước Anh trước
Mintôn. Cũng như các vở kịch, các bài thơ trữ tình của Shakespeare đều xuất phát từ
những môtíp quen thuộc, những đề tài có sẵn, không phải do tác giả nghĩ ra. Cái mới là
cách tác giả hoán cải nó, khiến nó mang đậm tính chất Anh. Điều này chứng tỏ
Shakespeare có ý thức học tập thi ca cổ đại, chủ yếu là thơ La mã.
Tập thơ Xon-nê gồm 154 bài xon-nê. Thể thơ xon-nê là một thể thơ chặt chẽ về mọi mặt
có thể xem như thể thơ bát cú Đường luật đối với người Việt Nam. Mỗi bài có 14 câu,
trong đó ba khổ đầu là tứ tuyệt để kết thúc bằng một điệp khúc 2 câu thâu tóm ý chính
của chủ đề. Để thưởng thức thể xon-nê cần nắm nhưng yêu cầu của thể thơ này ở mọi
nước dù ở La mã, Pháp, Anh, Đức hay Italia đều giống nhau.
Trong 14 câu thơ làm thành một xon-nê 8 câu đầu có thể làm thành một khổ riêng bát cú,
đó là thể xon-nê của Italia đại biểu là Pêtrác và nếu ta dùng những chữ cái a, b, c để chỉ
vần thì xon-nê của Italia (Petrác, Đantê...) hiệp vần theo khuôn: abbaabba cdecde. Còn
thơ xon-nê của Shakespeare tiếp thu của Xpenxơ theo khuôn abab cdcd eef gg. Cả 154
bài xon-nê đều theo một khổ như vậy chứng tỏ tác giả thành thạo về luật thơ như thế nào.
Một khi hình thức đã tuân theo khuôn khổ chặt chẽ đến như vậy thì nội dung của thể xonnê, không chỉ ở Shakespeare mà ở toàn bộ thể loại dù ở nước nào, tác giả nào cũng thế,
đều sẽ trình bày tình cảm theo một thế đối lập: Tuổi trẻ/ tuổi già, hạnh phúc/ đau khổ, vẻ
đẹp lúc trẻ/ cảnh già nua xuất xí, bạn thân/ kẻ thù, cái mong manh của hạnh phúc/ cái
chết và sự tan vỡ sẽ đến. Có thể nói đây là một thứ nội dung của thể loại, hầu như ít có
ngoại lệ.
Tập xon-nê của Shakespeare đề tặng W.H, đây là chỉ Bá tước Southămtân, viết trong giai
đoạn 1597 - 1598, và xuất bản lần đầu trong Tập thơ của Tomát Hoocpơ năm 1609. Nội
dung nhắc nhở phải yêu, lấy vợ ngay khi còn trẻ bởi vì tuổi già sẽ đến, phải nắm ngay lấy
hạnh phúc vì hạnh phúc vốn mong manh, và cuộc đời thay đổi. Trong cái nội dung bị quy
định bởi thể loại đã biểu lộ một sự phân tích tâm lý của kẻ si tình rất sâu sắc, báo trước
tài phân tích tâm lý của kịch tác gia. Nó xen với tình cảm của một người bạn trai nhớ một
bạn trai khác và mong cho bạn mình hưởng hạnh phúc. Nhưng vì bó hẹp vào thể loại cho
nên người đọc không thể nào tìm được một cái gì cụ thể liên quan tới tác giả cũng như tới
người tặng.
Thể xon-nê này còn được dùng trong vài vở kịch của tác giả như Phi công đeo đuổi tình
yêu, Rômêô và Giuliet.
Lời than vãn của một chàng đang yêu, gồm 329 câu thơ viết thành 47 khổ mỗi khổ 7 câu
cũng theo một nội dung như trên nhưng nói rõ hơn về mối tình say đắm không toại
nguyện của một chàng si.
Vênut và Ađônit là xuất phát từ huyền thoại Hy Lạp; nữ thần tình yêu là Vênut say đắm
vẻ đẹp của chàng Ađônit tìm mọi cách chinh phục chàng, nhưng chàng lại bị một con lợn
rừng húc chết. Câu chuyện này được nhà thơ La Mã Ôvit kể lại trong 75 câu thơ.
Shakespeare đã chuyển nó thành một trường ca dài 1194 câu thơ với nhiều thay đổi.
Trong tác phẩm này Ađônit là một thiếu niên chưa nghĩ đến tình yêu, không đáp lại tình
yêu của Vênut như trong Ôvit mà tránh né tình của của nàng. Để đỡ bị những quyến rũ
của Vênut thôi thúc, chàng đi săn. Vênut nghe tiếng đàn chó của Ađônit kêu thét và thấy
một con lợn rừng lao đến húc người yêu. Nàng đến thì người yêu đã đắm mình trong
vũng máu. Sau đó thân chàng tan thành nước và Vênut chỉ còn hái được bông hoa màu
tím và màu đỏ mọc lên ở vũng nước. Shakespeare mượn huyền thoại này để trình bày
những cách tán tỉnh của Vênut đối với chàng trai ngây thơ, lời nàng khuyên Ađônit tránh
chuyện săn lợn rừng nguy hiểm, cũng như lời than của Vênut trước cái chết của người
yêu.
Vụ hiếp dâm Lukrexơ viết vào năm 1594, cũng để tặng Bá tước xứ Xaothămtơn, cũng
dựa trên Ôvit. Chủ đề lần này thuộc lịch sử và mang tính bi đát. Trong cuộc vây hãm
thành Acđia, mấy người thủ lĩnh quý tộc ngồi khoe đức hạnh vợ mình, rồi phi ngựa về
nhà để thử vợ. Lukrexơ, vợ của Côlatainơ trung thành với chồng nhưng bị Tacquin say
mê tìm cách chiếm đoạt. Không quyến dỗ nàng được, hắn hiếp nàng rồi trở về La mã.
Nàng tự sát để giữ trinh tiết. Người chồng và cha nàng đau xót than tiếc, nhưng Btutut
kêu gọi phải dùng võ lực để trả thù. Những câu cuối bản trường ca báo trước việc đày
Tacquin nhưng không nói đến việc thành lập chế độ cộng hoà.
Trong trường ca này đã báo trước những tài năng sẽ bộc lộ của nhà kịch tác gia vĩ đại
trong các đoạn miêu tả nội tâm xáo động của Tacquin khi đến phòng của Lukrexơ, lời
than khóc xé ruột của Lukrexơ sau khi thất tiết, lời nàng nguyền rủa Tacquin.
Các thơ trữ tình của Shakespeare tuy đã nêu cao tài nghệ thuật vô song của nhà thơ
nhưng dẫu sao cũng thiếu tính toàn nhân loại. Nó hãy còn mang tính tập dượt và thiếu cái
nhìn phê phán, dục con người tìm một cách lựa chọn để thoát khỏi những ngang trái mà
cuộc đời thực tế đặt ra, không phải vì câu chuyện mà chính vì thực tế là phi lý. Những tác
giả toàn nhân loại như Etsin của Hy lạp, Gơt của Đức, Đỗ Phủ của Trung Hoa, Nguyễn
Du của Việt Nam hay Shakespeare của Anh đều khác mọi người ở điểm khẳng định dù
kín đáo, một sự lựa chọn cho con người mọi thời đại để đấu tranh cho một xã hội hợp lý.
Shakespeare là Shakespeare không phải ở tài năng thi ca, cái đó nhiều người đạt được mà
ở tiếng gọi đòi thay đổi xã hội vì quyền lợi chính đáng của con người.
IV. Quá trình sáng tác các vở kịch
Người ta thường chia quá trình sáng tác kịch của Shakespeare thành ba giai đoạn: giai
đoạn trước 1600, giai đoạn 1601-1608 và giai đoạn 1608-1612. Sự phân chia này không
phải ngẫu nhiên mà phản ảnh hiện thực của xã hội Anh. Trong lịch sử Anh, giai đoạn
trước 1600 là giai đoạn những lực lượng tiến bộ trong nước (tư sản và tầng lớp quý tộc
theo xu hướng tư sản gắn liền với thương nghiệp và công nghiệp) đoàn kết với nhà vua
để thống nhất đất nước, đập tan những thế lực phong kiến tìm cách duy trì sự chia cắt đất
nước. Bấy giờ có hai vấn đề đặt ra: sự hình thành nhà nước dân tộc tư sản và sự hưởng
thụ những lạc thú của cuộc sống khi sản xuất được giải phóng khỏi những xiềng xích
phong kiến bấy lâu kìm hãm nó.
Chính trong giai đoạn này, Shakespeare đã viết toàn bộ (trừ Henri VIII viết năm 1613)
các vở kịch lịch sử lấy tên gọi chung là các biên niên sử Anh: Henri VI (ba tập, tr.590 -
1591), Risac III (1592), Risac II (1504), Vua Giôn (1596), Henri I (hai tập, 1597), Henri
V (1958). Mọi vở này đều xoáy quanh chủ đề quá trình đấu tranh thắng lợi chống lại bọn
lãnh chúa phong kiến, sự thành lập chính quyền quân chủ tập trung và sự hình thành dân
tộc. Đó là những vở kịch lạc quan, sổi nổi, đầy tính sử thi.
Đặc điểm của giai đoạn này là niềm vui rộn ràng, lòng tin yêu vào cuộc sống, vào tương
lai. Nó thể hiện toàn vẹn nhất ở những vở hài kịch tươi vui, đầy sức sống làm thành
những vở hài kịch nổi tiếng nhất của tác giả: Hài kịch của những hiểu lầm (1589 - 1590).
Hai chàng ở thành Veron (1953). Giấc mộng đêm hè (1595). Chàng thương nhân thành
Vơni (1595), Những bà vợ vui vẻ ở Uynxo (1598), Lắm tiếng mà chẳng có gì (1599), Tuỳ
theo ý muốn (1600). Cũng trong giai đoạn này, ông viết hai bi kịch: Rômêô và Giuliét
(1595) và Giuliut Xêza (1599). Tuy kết thúc của Rômêô và Giuliét buồn thảm nhưng vẫn
toát lên cái không khí phục hưng yêu đời, những cảnh cười sảng khoái.
Trong giai đoạn này, một vấn đề thường được nêu lên: tại sao trong giai đoạn lịch sử
trong đó nông dân bị bóc lột, đất đai bị mất, phải đi lang thang mà cuộc sống trong kịch
Shakespeare lại tươi vui, rộn ràng như thế? Một nhà Shakespeare học Liên xô cũ là A.
Xtainơ cho rằng tiền đề để giải thích cơ sở lịch sử của các hài kịch của Shakespeare là
thời mà Mác gọi là "thế kỷ hoàng kim" (thế kỷ XV) ở Anh. Vào cuối thế kỷ XIV ở Anh,
sự lệ thuộc trung cổ của nông dân trong thực tế đã mất. Tối đại bộ phận nông dân lúc này
đã là những nông dân tự do, có nền kinh tế của mình. Con người nông dân tự do, không
biết đến sự lệ thuộc nông nô, nhận thức được giá trị của mình, đã hình thành. Thế kỷ XV
là thế kỷ nước Anh tiền tư bản, gọi là "nước Anh xanh tươi" (Green England), đối lập với
"nước Anh đen" (Black England) của thời Đickenx. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã
gây nên những đau khổ, đã tước đoạt ruộng đất của nông dân, nhưng vẫn không làm họ
quên được cái thời đại hoàng kim. Những kỷ niệm này vẫn sống trong những bài hát,
những bài dân ca, những câu đố, những câu tục ngữ trong văn học truyền miệng của nhân
dân mà các vở kịch của Shakespeare đã giữ lại một phần quan trọng. Các vở kịch của ông
biểu lộ một xu thế chung của văn học châu Âu thế kỷ XVI. Lúc này cá nhân hãy còn
được quan niệm như là một cái gì đồng nhất và duy nhất, không có phát triển và không
biến đổi trong quá trình phát triển. Xmirnov gọi đó là "cá nhân theo quan điểm hình học"
cứng rắn "như một nguyên tử của Đêmôkrit”. Quan điểm này cũng được thể hiện ở
Bôcatxơ, Pêtrac tại Italia, ở Klemăng Marô, Rôngxa tại Pháp, Maclô tại Anh. Cơ sở của
quan niệm này là quan điểm cho rằng bản chất tự nhiên của con người bao giờ cũng tốt,
ta chỉ cần theo nó. Rabơle (Pháp) bảo mọi ham thích tự nhiên của con người bao giờ cũng
chính đáng và người ta tin tưởng "ngây thơ" và "không tưởng" rằng trong xã hội không
có đối kháng, cái đẹp, cái thiện sẽ thắng "dễ dàng", chỉ cần kêu gọi, giáo dục là con người
sẽ vứt bỏ mọi ích kỷ và cuộc sống sẽ tươi đẹp thôi. Mãi đến thế kỷ XVIII. Rutxô ở Pháp
còn chịu ảnh hưởng này một phần, và thuyết "tính thiện" của Mạnh tử ở Trung Quốc
cũng có nhiều điểm "không tưởng" như thế. Đó là không nói đến "các nhà xã hội không
tưởng" thế kỷ XIX. Cơ sở tư tưởng này khiến các hài kịch của Shakespeare mang tính vui
tươi không tưởng nhưng không phải vì thế mà mất sức hấp dẫn đối với đời sau, bởi vì con
người khó lòng thoát khỏi cái không tưởng về một xã hội sắp đến, trong đó cái thiện sẽ
thắng dễ dàng, chỉ cần một đổi mới nào đó, một cuộc vận động chẳng hạn, như lịch sử
cách mạng Việt Nam trước 1975 là một bằng chứng không thể chối cãi.
Nhưng thời đại "nước Anh vui vẻ" (Merry England) quá ngắn ngủi. Từ 1601 đến 1608,
tức là dưới triều vua Jắc I, sự đoàn kết tạm thời giữa quý tộc và tư sản đã tan rã hẳn.
Khẩu hiệu thống nhất quốc gia mà nhà vua và tư sản sử dụng lập tức tách đôi ra, mỗi bên
đều theo đuổi mục đích riêng của mình. Những mầm mống của cuộc cách mạng tư sản
(1642-1648) đang thai nghén. Nếu nhà vua và triều đình ông ta chấp nhận đầu hàng giai
cấp tư sản thì giai cấp này sẽ chia cho họ một số tiền to lớn, và sẽ được hưởng cái tiếng
"trị vì nhưng không cai trị", tức là không có quyền gì, chỉ là vật trang trí. Còn không giai
cấp tư sản sẽ chặt cổ ông vua bằng một cuộc cách mạng. Chuyện chặt đầu vua sẽ đến vào
năm 1649 chờ đợi thiên tài của Mintôn (sinh năm 1606). Vấn đề đặt ra cho một nghệ sĩ
thiên tài không những là có can đảm dám chọn, mà còn phải chọn đúng và dứt khoát. Và
Shakespeare đã làm thế.
Trung thành với lý tưởng nhân đạo chủ nghĩa, Shakespeare đã đoạt tuyệt với những ảo
tưởng phong kiến. Nhưng một điều còn vĩ đại hơn khiến ông trở thành nhà thơ lớn nhất
thời Phục hưng đó là ông có gan nhận thức rằng thời Phục hưng đã chết. Sự tích lũy
nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản đã đẻ ra những mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và quần
chúng nghèo khổ và "giấc mơ thời Phục hưng" đã chết. Ông đã có gan nhìn thẳng vào
thực tế, nêu lên sự tan rã đau đớn của các ảo mộng của con người trước sức mạnh của
đồng tiền. Nhưng không phải vì thế mà chủ nghĩa nhân đạo biến thành chủ nghĩa yếm
thế, bi quan. Như một nhà Shakespeare học khác là Anixt viết, ông không phải là "một
nhà nhân đạo chủ nghĩa kiểu thư phòng" (danh từ của Enghen), mà là con người của quần
chúng. Điều này tuyệt đối không dẫn tới sự đầu hàng của chủ nghĩa nhân đạo mà tới "một
cách võ trang lại" của chủ nghĩa nhân đạo, để khắc phục cái nhìn phiến diện, cứng nhắc
trước đây vào thế giới và con người đang phát triển sâu thêm, rộng thêm, thấm nhuần tính
phê phán. Với cái nhìn ấy, cá nhân hiện ra phức tạp và đa dạng, đầy mâu thuẫn và sinh
động. Đó là lúc Môngtenhơ ở Pháp trong Tạp bút phát hiện ra "cái tôi" đầy mâu thuẫn,
khó hiểu, mở đầu cho nền văn học cận đại. Con người bắt đầu nhận thức rằng riêng lý trí,
lẽ phải thôi, không đủ để làm chủ thực tế, xã hội, hạnh phúc không thể đạt được dễ dàng
mà phải trải qua những hoài nghi đau đớn, những tìm tòi trong đó có những lệch lạc qua
một quá trình vận lộn không ngừng với chính mình.
Trong hoàn cảnh ấy, Shakespeare đã dũng cảm đưa ra một cách thể hiện nhân vật hết sức
mới mẻ. Xuất hiện những con người đa diện, băn khoăn suy nghĩ tìm hạnh phúc cho
mình qua những hành động diễn biến nhanh như một cơn lốc. Thế là sau khi kết thúc văn
học Phục hưng với những hài kịch, Shakespeare đã mở đầu nền văn học cận đại bằng
những bi kịch làm chủ kịch trường thế giới đã bốn trăm năm nay và sang thế kỷ mới cũng
chưa có ai thay thế được. Hămlet (1601), Ôthenlô (1604), Măcbet (1605), Vua Lia
(1607)... Chưa bao giờ ý nghĩa cuộc sống, hạnh phúc con người được đặt ra gay gắt hơn
và bắt người ta suy nghĩ hơn. Ngay trong giai đoạn này, các vở hài kịch cũng đượm vẻ
chua chát, bắt người ta suy nghĩ: Cái gì kết thúc tốt là cái ấy tốt (1602), Trôilut và
Kretxida (1602)...
Từ 1608 trở đi, thế lực quân chủ tạm thời thắng thế. Trên sân khấu lối kịch kiểu cách, đáp
ứng thị hiếu của quý tộc đã lấn át những vở kịch của ông. Lớp tư sản lúc này không muốn
tìm võ khí ở kịch mà ở giáo lý Thanh chân (puritanism) chống lại kịch, bởi vì để lôi cuốn
quần chúng thì tôn giáo là võ khí có tác dụng rộng lớn nhất. Trong hoàn cảnh ấy, tuy nội
dung của kịch vẫn là sự phê phán đầy suy nghĩ và sâu sắc về cuộc sống, nhưng câu
chuyện đã bị đẩy lùi vào xứ sở không tưởng của huyền thoại: Pêriklét (1609), Ximbơlin
(1610), Câu chuyện mùa đông (1610), Cơn bão (1611).
Tư tưởng chủ đạo nào đã đem đến sự thay đổi ấy? Phải chăng như Xmirnôv nói đó là
"một biện pháp để tồn tại?". Trong khi không thay đổi về thế giới quan, về tư tưởng, phải
chăng tác giả phải khoác cho nó bộ áo hài kịch không tưởng kiểu Fletsơ? Hay như Anixt
nói, đây là biểu hiện tinh thần lạc quan, tin tưởng vào những giải pháp thoả đáng trong
một tương lai xa xôi, trong khi cuộc sống trước mắt không thể nào giải quyết được. Dù
sao ta vẫn thấy tác giả cố tìm một cái kết "đại đoàn viên" cho một câu chuyện mà theo cái
lôgíc khách quan lại phải kết thúc như Ôtenlô hay Hămlet.
Nhưng dù cho quá trình sáng tác này có gồm nhiều giai đoạn khác nhau như vậy, trước
sau chúng ta cũng chỉ có một Shakespeare duy nhất. Con người kết thúc thời Phục hưng
trong việc ca ngợi quyền tự do lựa chọn của con người để đạt được hạnh phúc của mình
cũng đồng thời là người mở đầu thời cận đại trong việc bênh vực con người chống lại
những tội ác mà đồng tiền gây nên trong cái xã hội vừa mới hình thành là xã hội tư bản.
1) Những vở biên niên sử
Người ta thường gọi những vở kịch lịch sử của Shakespeare trước 1600 là nhữhng biên
niên sử (chronicles). Đó là vì toàn bộ các vở này làm thành một biên niên sử sinh động và
phong phú của nước Anh. Riêng tên gọi của chúng cũng chứng minh tác giả cố tình đưa
lên sân khấu toàn bộ quá trình hình thành dân tộc Anh qua các triều đại từ Vua Giôn
(1199-1216), Risac II (1377-1399), Henri IV (1399-1412), Henri V (1413-1422), Henri
VI (1422-1461), Risac III (1483-1485), và Henri VIII (1509-1547).
Phần lớn các vở kịch này đều dựa vào Biên niên sử của Anh.. Airơlân và Xcôtlân xuất
bản năm 1577 của Hôlinset, lúc tác giả này hãy còn sống ở ngay cạnh Xtratfo.
Shakespeare theo Hôlinset rất sát ngay cả khi chuyển văn xuôi của Hôlinset sang văn
vần. Ngoài ra, các vở kịch Vua Lia, Ximbơlin, Măcbet cũng đều lấy ở đấy.
Vở biên niên sử nổi tiếng nhất là vở Henri IV. Toàn bộ vở kịch xây dựng trên sự đối lập,
một bên là nhà vua luôn luôn lo tìm những mưu mô chống lại bọn lãnh chúa phong kiến
và một bên là thái tử vô tư lự (sau này là Henri V) lo chơi bời với một lũ vô lại trong đó
nổi bật nhất là gã Fanxtáp. Cuối cùng, thái tử hối hận và trước khi Henri IV chết, thái tử
hứa từ bỏ tất cả bọn bạn bè du đãng để làm một ông vua hiền. Lời hứa này được thực
hiện đẹp đẽ. Henri V lên ngôi đuổi bọn Fanxtáp và trở thành một ông vua mẫu mực. Nổi
bật nhất trong vở kịch là gã Fanxtáp nhát gan, tham lam, trơ trẽn nhưng hết sức láu mép,
và vui nhộn hết chỗ nói. Nhân vật này đã nổi tiếng khắp thế giới và trở thành một danh từ
chung.
Hai vấn đề quán triệt toàn bộ các biên niên sử và các vở kịch lấy ở sử La mã như Giuliut
Xêza, Antôni và Klêôpat, Côriôlan là cách đánh giá chế độ quân chủ tập trung và phương
pháp xây dựng bối cảnh lịch sử mà Enghen gọi là "bối cảnh Fanxtáp".
Shakespeare tán thành thống nhất quốc gia vào một chính quyền trung ương vững chắc.
Ông mạt sát bọn lãnh chúa phong kiến hiếu chiến, hung bạo, tham lam, muốn duy trì tình
trạng chia cắt đất đai để bảo vệ quyền lợi ích kỷ của mình và nhận thấy tình trạng hỗn
loạn, vô chính phủ (âm mưu, ám sát, chiến tranh) là tai hoạ đối với nhân dân. Trong hoàn
cảnh đương thời, ông chỉ có thể nghĩ đến một chế độ quân chủ tập trung do một ông vua
hiền cai trị. Nhưng ông thấy rõ vua chúa nước Anh còn xa mới là những ông vua hiền,
cho nên cái nhìn của ông đối với chế độ quân chủ đồng thời mang tính phê phán: Giôn là
một tên hèn mạt, giả dối, Henri IV là người nhu nhược, Henri VIII khôn ngoan, giảo
hoạt, biết che đậy tính chất bạo quân dưới một mặt nạ công lý. Ông vua lý tưởng theo
ông, phải như Henri V, vui vẻ, bình dân, thân mật với quần chúng, dân chủ với binh sĩ,
biết dựa vào sức mạnh của dân mà thực hiện nhiệm vụ lịch sử. Chính vì vậy ông chống
lại chế độ quân chủ tập trung khi thấy nó đi ngược lại nguyện vọng của quần chúng, kết
quả sân khấu của ông lại là diễn đàn của quần chúng nhân dân chống lại quý tộc.
Xét về mặt nghệ thuật, "lần đầu tiên trong thi ca thế giới, Shakespeare đưa ra những mẫu
mực của chủ nghĩa lịch sử, bằng cách xây dựng những hành động không phải trên thần
thoại và truyền thuyết, mà đây là cái chủ nghĩa lịch sử dầy thi vị, nêu bật quá khứ trong
những bức tranh và những hình tượng đầy kịch tính, bằng cách nắm đúng từng thời đại và
đưa ra một sự đánh giá chính trị và đạo đức của những động lực lịch sử" (Bách khoa toàn
thư Liên xô, mục Shakespeare). Đóng góp to lớn của ông về mặt này không chỉ ở điểm
ông đã hoàn toàn thoát khỏi quan niệm thần bí, xem lịch sử như là sự thể hiện ý chí của
Thượng đế, điều mà một vài học giả thời Phục hưng như Makiaven đã đạt được. Ông là
người đầu tiên ở phương Tây (tôi nói ở Phương Tây, bởi vì quan niệm này đã có từ lâu ở
Trung Quốc) thấy được sự thống nhất của cá nhân với số phận của dân tộc, người đầu
tiên nêu lên sinh hoạt xã hội của quần chúng bình dân (dân nghèo thành thị, nông dân,
thương nhân, binh sĩ) để cho họ nói thẳng ý kiến của họ đúng như bản chất của họ trong
thực tế. Tóm lại một chữ, ông đưa họ lên sân khấu, trực tiếp tham gia hoạt động chính trị
của thời đại và cắt nghĩa sự thành công hay thất bại của nhà vua là ở chỗ nhà vua được họ
ủng hộ hay bị họ chống lại. Lúc cần, ông đưa cả lãnh tụ nông dân lên sân khấu (Henri
VI). Đặc biệt, ông biết rút ra từ nhân dân tinh thần của thời đại. Sự tái tạo quá khứ của
ông thường được so sánh với phương pháp khôi phục lịch sử của Oantơ Xcôt. Nhưng đây
không phải là biện pháp sử dụng khảo cổ học để phục chế các chi tiết bên ngoài (quần áo,
cách ăn, hình dáng các nhân vật), của các nhà tiểu thuyết lịch sử gọi là "màu sắc thời
đại". Trái lại, đây là cách đi sâu vào lịch sử, dựng lên cái bản chất đúng đắn của thời đại,
nhất là hình ảnh những người nông dân tự hào, những người bình dân La mã để bộc lộ
những mâu thuẫn trong xã hội. Chính vì vậy, mặc dầu có những chi tiết trái với lịch sử
(thời gian, địa điểm, biến cố), Shakespeare vẫn xứng đáng với lời ca ngợi của Hende khi
thấy trong sáng tác của Shakespeare "nhân loại, thế giới, lịch sử" và của Hainơ "Con
người Anh vĩ đại không chỉ là một nhà thơ mà còn là một sử gia... Không những
Shakespeare hiểu các biến cố lịch sử của tổ quốc mình mà ông còn hiểu các sự việc mà
các nhà biên niên sử thời cổ đại cho chúng ta biết. Và chúng ta thực sự ngạc nhiên thấy
rằng ở trong những vở kịch của ông, ông miêu tả quá khứ của La mã với những màu sắc
trung thành nhất"
2) Các vở hài kịch
Shakespeare viết đủ mọi loại hài kịch. Có những hài kịch vui tươi rộn ràng từ đầu chí
cuối như Hai chàng thành Vêrôn, Giấc mộng đêm hè, Phí công đeo đuổi tình yêu, Đêm
thứ mười hai. Những bà vợ vui vẻ ở Uynxo; có những hài kịch trong đó cái vui xen lẫn
cái buồn, cái bi như trong Chàng thương nhân thành Vơni, Trôilút và Krenxiđa, Timôn
người Aten.
Cơ sở các hài kịch của Shakespeare đã được Enghen nêu rõ bằng những đánh giá xuất
sắc:
"ồ! Thi ca trong các tỉnh của nước Anh mới thi vị làm sao! Thường thường anh cảm thấy
như là sống trong những golden days of merry England (Những ngày hoàng kim của
nước Anh vui vẻ). P.N) và kìa anh thấy Shakespeare với khẩu súng trên vai, đi nhẹ nhàng
trong những bụi rậm để theo một con thú săn, hay là anh sẽ ngạc nhiên tại sao trên đồng
cỏ xanh này lại không diễn ra trong thực tế một trong những vở kịch thần thiên của ông
ta. Bởi vì hành động vở kịch dù có diễn ra ở Italia, ở Pháp hay ở Nava thì về căn bản,
trước mắt chúng ta, bao giờ cũng là cía merry England, tỏ quốc của những người thương
nhân độc đáo, của những thầy học làm ra vẻ thông minh, của những người đàn bà đáng
yêu và kỳ lạ, anh có thể thấy rằng những hành động kia chỉ có thể xảy ra dưới bầu trời
nước Anh. Chỉ trong một vở hài kịch như Giấc mộng đêm hè người ta mới thấy khí hậu
miền Nam châu Âu cũng như người ta cảm thấy điều đó trong Rômêô và Giuliet".
Khung cảnh quen thuộc là "nước Anh xanh tươi" với những đồng cỏ, những cánh rừng,
với những con người sống để mà yêu, bất chấp uy quyền cha mẹ, như trong Giấc mộng
đêm hè, Tuỳ theo ý muốn. Tình yêu của họ tuy bị trắc trở nhưng cuối cùng họ đều được
toại nguyện. Chính vì vậy các hài kịch của ông rất phong phú tính trữ tình và hài kịch ông
là ngày hội tưng bừng cuả thời Phục hưng. Thực vậy, đây là những kiểu mẫu trước không
có đã đành, mà sau này cũng không ai bắt chước được.
Lý do là vì cái giây phút vui vẻ kia quá ngắn ngủi trong lịch sử loài người. Xã hội tư bản
đã bóp nghẹt cái vui, bắt nhân loại hàng thế kỷ phải đau khổ, quằn quại. Hài kịch từ nay
sẽ đi một con đường khác, con đường của Môlie: cái vui không nằm trong cuộc đời mà
trong thái độ châm biến chế nhạo cuộc đời. Xem hài kịch Môlie ta cười vỡ bụng. Nhưng
đây là cười những lăng nhăng, nhảm nhí, những cái rởm và tật xấu của xã hội. Ta cười
những cái trơ trẽn trong cuộc sống, chứ bản thân anh chàng đạo đức giả, các tiểu thư sính
chữ, con người hà tiện, kẻ ghét đời có gì là vui đâu. Môliê có thể xem là vô địch trong
việc tạo ra những cảnh ngộ, những tâm lý, những câu nói buồn cười. Nhưng tìm đâu thấy
cái không khí tươi vui của Đêm thứ mười hai, tìm đâu thấy những con người như Maria,
Viôla, Tôbi? Đó là vì khi Môlie ra đời thì Shakespeare đã chết được sáu năm và nụ cười
Shakespeare, nếu có thể bắt gặp ở Rabơle, ở Bôcátxơ, thì sau đó đã thuộc về dĩ vãng và
chỉ có thể quay lại với một xã hội khác thay thế xã hội tư bản.
Bên cạnh việc ca ngợi sự đắc thắng của tư tưởng nhân đạo, việc chế nhạo cảnh tan rã của
chế độ phong kiến phân quyền cũng là một chủ đề của hài kịch. Không phải ngẫu nhiên
mà nhân vật Fanxtáp lại xuất hiện hai lần làm nhân vật chính của biên niên sử Henri V và
vở hài kịch Những bà vợ vui vẻ ở Uynxo. Fanxtap là hiện thân sự đổ vỡ của mọi giá trị
phong kiến. Y là một người quý tộc, nhưng đã vứt bỏ mọi cái mà phong kiến gọi là đạo
đức, chỉ lo ăn chơi, rượu chè, mê gái, kiếm tiền và khoe các tật xấu của mình một cách
công khai, khoái trá. Trong Những bà vợ vui vẻ ở Uynxo, y muốn vẽ cùng một lúc cả hai
người đàn bà đẹp là bà Fagiơ và bà York để xoay tiền. Hai bà này mặc dầu có hai ông
chồng hay ghen vẫn thấy rằng họ có quyền bông đùa, miễn là vẫn chung thuỷ với chồng.
Kết quả, anh chàng quý tộc, kỵ sĩ, hiện thân của chế độ phong kiến trong những ngày tàn
lụi, bị hành hạ đủ thứ, bị bỏ vào sọt quần áo bẩn thỉu, rồi quẳng xuống sông, bị mọi người
giả làm tiên trêu cho một mẻ.
Thế kỷ XVI của Anh không những tạo nên được một Shakespeare là tác giả duy nhất của
loài người vĩ đại cả về hài kịch lẫn bị kịch. Nó còn tạo nên cơ sở cho những vở kịch của
ông ở đấy cái bi xen lẫn cái hài. Sự tan vỡ của thế giới hài kịch biểu lộ trong Chàng
thương nhân thành Vơni, Timôn người Aten và trong Rômêô và Giuliét. Trong phần này
chỉ nói vở thứ nhất vì nó chủ yếu là hài kịch. Trong vở kịch này ta bắt gặp những chàng
thương nhân yêu đời, coi tiền như rác, trên đời chỉ biết có tình yêu và tình bạn. Antôniô,
một thương nhân triệu phú thành Vơni vì muốn giúp bạn là Batxaniô, mà phải vay tiền
lão Sailốc, một người Do Thái với một điều khoản kỳ quặc: nếu đến hạn không trả được
thì hắn sẽ được quyền lóc một cân thịt của chàng. Không may, chàng không kịp trả nợ và
có tin đoàn tàu của chàng bị đắm. Trong cơn nguy khốn này, Porxia, người yêu của
Batxôniô cải trang nam giới, làm trạng sư để bênh vực Antôniô. Vở kịch kết thúc bằng sự
đắc thắng của chủ nghĩa nhân đạo; Sailốc bị kết án giết công dân Vơni và bị tịch thu gia
sản. Đồng thời, đoàn tàu chở hàng của Antôniô không phải bị đắm mà đã trở về. Hình
ảnh lão Sailốc tay cầm con dao đòi xẻo thịt người lương thiện đã làm cho vở kịch mang
màu sắc bi đát. Trong Tư bản Mác gọi Sailốc là điển hình của xã hội tư bản và mọi xã hội
có giai cấp.
Hài kịch Shakespeare không có tác dụng to lớn đối với văn học bằng các bi kịch của ông
không phải do giá trị nghệ thuật của bản thân các tác phẩm, mà do chỗ xã hội sau
Shakespeare đã khác. Để đấu tranh chống lại xã hội này, phải có những cách suy nghĩ
khác. Gơtơ, Puskin, Banzac, Xtenđan chú ý trước hết tới các bi kịch và các biên niên sử.
Các nhà hài kịch sau này đi con đường của Môlie. Tuy hài kịch của ông dạy cho con
người giá trị của tự do và hạnh phúc, nhưng để đạt đến các giá trị này phải đi con đường
khác.
3) Các bi kịch
Shakespeare đã để lại cho loài người một loạt bi kịch vĩ đại nhất về trình độ tư tưởng sâu
sắc, kịch tính căng thẳng của hành động, tính hiện thực của nhân vật, phản ánh được cơn
khủng hoảng sâu sắc của thời đại. Trước hết đây là cơn khủng hoảng của ý thức hệ trung
cổ phong kiến trước sự tấn công của tư tưởng nhân đạo của nhân dân. Nhưng khi thế lực
phong kiến chấm dứt ở thế kỷ XVII thì cũng là lúc chủ nghĩa nhân đạo lâm vào bi kịch.
Lý tưởng giải phóng cá nhân để hưởng thụ một cuộc sống sung túc mà sức sản xuất đủ
sức cấp cho nó, đã bị cuộc chạy đua điên cuồng theo lợi nhuận bóp méo, chà đạp. Chủ
nghĩa nhân đạo không phải vì thế mà chết, nhưng nó biểu hiện thành một cuộc đấu tranh
quyết liệt trước hết trong nội tâm để rồi sẽ nổ ra thành cuộc đấu tranh thực tế vào thế kỷ
XX.
Rômêô và Giuliét mặc dầu viết vào năm 1595 với cái kết thúc buồn thảm hãy còn là một
vở kịch với lòng tin say sưa vào tính toàn thắng của chủ nghĩa nhân đạo. Lần đầu tiên
trong văn học nhân loại xuất hiện tình yêu mộc mạc, chân thực ngây ngất của tuổi trẻ.
Hình ảnh đôi lứa Rômêô và Giuliét kiên quyết bảo vệ tình yêu của mình, bất chấp mối
thù đời đời của hai gia đình trung cổ, trân trọng gìn giữ từng khoảnh khắc của giờ hội
ngộ, sẵn sàng hy sinh tất cả để giữ trọn lời thề thuỷ chung là một thành tựu tuyệt vời của
văn hoá Phục Hưng. Nhân vật Mơkiuxiô, hiện thân của tư tưởng sống vui, thoải mái là
"gương mẫu của chàng thanh niên mã thượng của thời đại" (Puskin). Tu sĩ Lôrân là một
nhà tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa thời Phục hưng khoác áo thầy tu, hết sức xa lạ với thiên
chúa giáo, điều mà nhà thơ công giáo Pháp Pôn Klôpđen (Claudel) của Pháp đã thấy cực
kỳ sâu sắc "Ông này hình như chưa đọc Kinh Thánh bao giờ". Tôi đã mất ba tháng trời để
kiểm tra toàn tập của Shakespeare và phải chịu nhận xét ấy là đúng. Như tôi biết, không
một nhà thơ, nhà văn nào của Châu âu thoát khỏi Kinh Thánh. Nhưng tại sao trong toàn
tập Shakespeare lại không thấy đâu vết này? Toàn bộ vở kịch của ông nói lên lòng tin
tưởng vào cái mới, vào tương lai, một lòng tin tha thiết vào hạnh phúc chính đúng của
con người bất chấp mọi thành kiến. Cái chết của Rômêô và Giuliét ở Hồi cuối không
giảm yếu niềm tin tắt thắng của chủ nghĩa nhân đạo.
Nhưng với Hămlet (1601) tình hình đã khác. Từ đây ta bắt gặp con người hoang mang
trước cảnh tan vỡ những giá trị làm thành đức tin trước kia. Chủ nghĩa nhân đạo đã nứt
rạn tuy chưa phải là tan vỡ ấn tượng tóat ra từ tác phẩm là thời đại đảo điên. "trật khớp":
(out of joint), trong đó con người lâm vào cảnh hoang mang. Cha Hoàng tử Hămlet bị em
ruột mình bỏ thuốc độc vào tai mà chết chuyện này và yêu cầu chàng trả thù. Nhưng
chàng là cong thời Phục hưng không tin những lời của hồn ma, nên sai bọn diễn kịch diễn
một tấn kịch giống như cái chết của cha mình để kiểm tra thái độ của chú. Quả nhiên chú
chàng hoảng sợ khẳng định lời của hồn ma Điều này kiến cho chàng hoang mang. Trong
khi thấy "con người là một kiệt tác cao quý làm sao!" (Hồi II.cảnh 2). Hămlét vẫn không
tìm ra ý nghĩa của cuộc sống. Tình vợ chồng ư? Đố là sự lừa lọc. Tình yêu ư? Đó là sự
giả dối. Ngay cả sống hay không nên sống, đó cũng là vấn đề. Bao tin tưởng ngày xưa
đều tan vỡ: "Trời hỡi trời! Bao nhiêu lạc thú trên đời này đối với ta sao mà chán chường,
nhạt nhẽo và vô vị đến thế!....Cả thế giới là một ngục thất mà Đan Mạch lại là cái ngục
thất ghê tởm nhất!..."
Lần đầu tiên trên sân khấu loài người, ta bắt gặp một con người phức tạp đến mức kỳ ảo,
một tâm tư đau thương bị xâu xé giữa những tình cảm trái ngược, ta gặp con người luôn
luôn muốn nhận thức và đánh giá lại mọi vấn đề của cuộc sống, luôn luôn cố gắng hành
động có ý thức, muốn đấu tranh cho một cuộc sống tốt đẹp hơn, công bằng hơn. Như
Bêlinxki nói. "Mỗi lời nói của Hămlét là một mũi tên tẩm thuốc độc". Hămlét mở đầu
cho cả một nền văn học mang tính phê phán cuộc sống, tìm cách hành động cho xứng
đáng với giá trị chân chính của con người, trong một hoàn cảnh bế tắc "hèn hạ và phát
ngấy lên được". Không phải vô cớ mà các nhà triết học hiện sinh thế kỷ XX xem Hămlét
là người hiện sinh đầu tiên về cái phi lý của cuộc sống và tìm một kiểu sống hợp với quan
điểm mình. Có thể nói cho đến nay khó lòng có tác phẩm văn học nào được bàn đến
nhiều hơn và có tính triết học mạnh hơn. Tôi thuộc lớp người mê Shakespeare và thuộc
vở kịch, đã xem ba cuốn phim về Hămlét và xem trình diễn ở Paris, nhưng phải nói đây
là vở kịch không thể nào diễn hết cái hay của nó được.
Ôtenlô (1604) tiếp tục Hămlét trong việc nêu lên sự tan vỡ của hạnh phúc con người khi
con người trở thành nạn nhân của sự dối trá, lừa bịp. Ôtenlô là một con người mới, con
người nhân đạo chủ nghĩa. "con người cao thượng nhất xưa nay do bàn tay con người tạo
ra" (Xuynbơcnơ). Đexđêmôna cũng là một con người thời Phục hưng yêu đời, cởi mở,
chân thành. Nhưng vì họ quá tin vào những hành vi dối trá của một tên hèn mạt là lagô
nên đã bị lợi dụng và đã phá vỡ mất hạnh phúc của mình. Cái cao thượng của tâm hồn đã
bị cái ty tiện của nhân cách thao túng, lagô là tiêu biểu cho tâm lý gian trá, ty tiện của
những kẻ hám lợi thời tích luỹ nguyên thủy của tư bản. Tấn kịch là sự tan vỡ của chủ
nghĩa nhân đạo bị cuộc đời thực tại đầy mưu mô, xảo trá lợi dụng.
Quá trình tan rã của các quan hệ phong kiến gia trưởng được thể hiện mạnh mẽ nhất
trong Vua Lia (1605). Lia là hình ảnh điển hình của thứ vua phong kiến trung cổ, kiêu
ngạo, hách dịch, xem quốc gia là tài sản riêng của mình. Ông có ba cô con gái nhưng chỉ
chia gia tài cho hai cô con gái đầu là Gônơrin và Rêgan vì họ biết nịnh hót, mà hắt hủi cô
gái út Corđêlia, chỉ biết nói sự thực của lòng mình nên chẳng cho cô gì hết. Và sự trừng
phạt đã đến. Lia bị đuổi ra khỏi nhà, đi lang thang trong đêm mưa bão. Bừng tỉnh, ông
nhận ra được cái bất ông, vô lý của trật tự phong kiến, cuộc đời nhân dân đau khổ như thế
nào, và ông đã thay đổi. Không khí bị kịch được tạo nên bởi một loại người gian trá, tàn
nhẫn chẳng kém gì lagô trong Ôtenlô (Gônơrin, Rêgan, Etmun) của thời tích luỹ nguyên
thuỷ, không từ một thủ đoạn nào (đuổi cha, giết anh, thông dâm...) để đạt được mục đích.
Đến Măcbet (1606), Shakespeare lại quay trở lại chủ đề quen thuộc là vấn đề vương
quyền, nhưng trong tình hình mới, ông đã nhận thức nó khác trước. Măcbet là một nhân
vật về cơ bản giống như Risac III đã lên ngôi bằng mọi tội ác, nhưng không chỉ là tên ác
quỷ khát máu. Nó lên án một chế độ sống bằng ám sát, giết hại lẫn nhau, trong cảnh nhốn