Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

NGHIÊN cứu vấn đề THẤT NGHIỆP và BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (169.2 KB, 8 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
LỚP CAO HỌC QUẢN LÝ KINH TẾ
---o0o---

TIỂU LUẬN
MÔN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ NÂNG CAO

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP
VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP
Giảng viên phụ trách
Học viên
Lớp
Niên khóa

:PGS.TS. Đoàn Thu Hà
: Lê Thanh Mai
: QLKTK1C
: 2014-2016


HẢI PHÒNG, THÁNG 10 NĂM 2015

2


LỜI MỞ ĐẦU

Trong điều kiện kinh tế thị truờng việc làm và thất nghiệp là vấn đề mang
tính toàn cầu, vấn đề này không loại trừ một quốc gia nào cho dù quốc gia đó là
nước đang phát triển hay là nước công nghiệp phát triển. Vì vậy, giải quyết tình


trạng thất nghiệp luôn là vấn đề nan giải, do thất nghiệp vừa là vấn đề kinh tế,
vừa là vấn đề chính trị -xã hội.
Sau đây em xin trình bày đề tài: “Nghiên cứu vấn đề thất nghiệp ở Việt
Nam và các biện pháp giải quyết tình trạng thất nghiệp hiện nay"

3


1. Nguyên nhân
Trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều nguyên nhân gây ra thất nghiệp
và kèm theo nhiều tác động xấu đến sự phát triển kinh tế xã hội và sự ổn định
của đất nước. Dưới đây là một số nguyên nhân chính:
- Chu kì kinh doanh có thể mở rộng hay thu hẹp do sự điều tiết của thị
trường. Khi mở rộng thi thu hút thêm lao động làm cho cung cầu trên thị trường
co giãn, thay đổi phát sinh hiện tượng thất nghiệp.
- Do sự tiến bộ của khoa học công nghệ đặc biệt là sự tự động hoá quá
trình sản xuất diễn ra nhanh chóng nên trong một chừng mực nhất định máy móc
đã thay thế con người. Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận các nhà sản xuất luôn
tìm cách mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, đưa ra những dây chuyền tự
động hoá vào quá trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để cạnh
tranh. Một cỗ máy, một dây chuyền sản xuất tự động hoá có thể thay thế hàng
chục, thậm chí hàng trăm công nhân. Số công nhân bị máy móc thay thế lại tiếp
tục bổ sung vào đội quân thất nghiệp.
- Sự gia tăng dân số và nguồn lao động cùng với quá trình quốc tế hoá và
toàn cầu hoá nên kinh tế cũng có nhiều mặt tác động tiêu cực đến thị trường lao
động làm một bộ phận người lao động bị thất nghiệp. Nguyên nhân này chủ yếu
diễn ra ở các nước đang phát triển. Ở những nước này, dân số và nguồn lao động
thường tăng nhanh, để hội nhập với nền kinh tế thế giới một cách nhanh chóng
họ phải tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới và sắp xếp lại các doanh
nghiệp. Những doanh nghiệp làm ăn thua nỗ phải giải thể hoặc phá sản. Số

doanh nghiệp còn lại phải nhanh chóng đầu tư theo chiều sâu, đổi mới thiết bị
công nghệ và sử dụng lao động ít lao động dần dẫn đến lao động dư thừa.
- Do người lao động không ưa thích công việc đang làm hoặc địa điểm làm
việc họ phải đi tìm công việc mới, địa điểm mới.
Những nguyên nhân trên đây làm cho tình trạng thất nghiệp luôn tồn tại.
Thất nghiệp ở các nước chỉ khác nhau về mức độ, không có trường hợp nào tỉ lệ
thất nghiệp bằng không.

4


2. Hậu quả
Từ những nguyên nhân đã đưa ra ở trên, người ta nhận thấy rằng thất
nghiệp không những ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động và gia đình họ mà
còn tác động mạnh mẽ đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị - xã hội của mỗi
quốc gia.
Đối với nền kinh tế: Thất nghiệp là một sự lãng phí nguồn nhân lực xã hội,
là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm
phát triển, làm khả năng sản xuất thực tế kém hơn tiềm năng, nghĩa là tăng thu
nhập quốc gia (GNI) thực tế thấp hơn (GNI) tiềm năng. Nếu tình trạng thất
nghiệp gia tăng sẽ kéo theo sự gia tăng của lạm phát, từ đó làm cho nền kinh tế
bị suy thoái, khả năng phục hồi chậm. Đối với người thất nghiệp, thu nhập bị
mất đi dẫn đến đời sống khó khăn.
Đối với xã hội: Thất nghiệp đã làm cho người lao động hoang mang buồn
chán và thất vọng, tinh thần luôn bị căng thẳng và dẫn tới khủng hoảng lòng tin.
Về khía cạnh xã hội, thất nghiệp là một trong những nguyên nhân gây nên
những hiện tượng tiêu cực, đẩy người thất nghiệp đến chỗ bất chấp kỷ cương,
luật pháp và đạo đức để tìm kế sinh nhai như: Trộm cắp, cờ bạc, mại dâm, tiêm
chích ma tuý....
Đối với chính trị: Thất nghiệp gia tăng còn làm cho tình hình chính trị xã

hội bất ổn, hiện tượng bãi công, biểu tình có thể xảy ra. Người lao động giảm
niềm tin vào chế độ, vào khả năng lãnh đạo của nhà cầm quyền. Tỷ lệ thất
nghiệp là một trong những chỉ tiêu đánh giá uy tín của nhà cầm quyền.
3. Chính sách và biện pháp khắc phục tình trạng thất nghiệp
Thất nghiệp tác động mạnh mẽ đến kinh tế xã hội, đến suy nghĩ và hành
động của con người. Khắc phục tình trạng thất nghiệp không những tạo điều
kiện để kinh tế phát triển mà còn thúc đẩy sự ổn định của xã hội. Một xã hội có
nền kinh tế phát triển, tỷ lệ thất nghiệp thấp, kỷ luật, kỷ cương xã hội được thiết
lập, duy trì và đẩy mạnh thì các tệ nạn xã hội cũng bị đẩy lùi. Theo thực tế mà
mỗi nước có chính sách và những biện pháp giải quyết khác nhau. Dưới đây xin

5


đưa ra một số chính sách và biện pháp giải quyết tình trạng thất nghiệp mà các
nước đã và đang áp dụng.
3.1. Chính sách dân số
Chính sách này đã và đang được áp dụng ở nhiều nước như: Ấn Độ, Trung
Quốc, Indonesia, Việt Nam...Thực hiện chính sách này có nghĩa là thực hiện các
chương trình kế hoạch hoá gia đình, can thiệp sức khoẻ giảm tỉ lệ sinh để từ đó
giảm được tỷ lệ gia tăng dân số, nguồn lao động. Hạ thấp tỉ lệ gia tăng dân số có
nghĩa là giảm được tỷ lệ tăng lực lượng lao động từ đó tạo thêm cơ hội tìm kiếm
việc làm.
3.2. Ngăn cản di cư từ nông thôn ra thành thị
Ta thường thấy tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị thường cao hơn nông thôn do
một bộ phận dân cư nông thôn vẫn có xu hướng di cư ra thành thị để tìm việc
làm. Bởi lẽ tâm lý người dân thường thích sống ở thành thị nơi có quá trình đô
thị hoá diễn ra nhanh chóng họ có thể kiếm thu nhập cao hơn. Chính điều này
cũng gây ra một số lượng lớn người dân ở thành thị lâm vào tình trạng thất
nghiệp. Bởi vậy với những vùng tập trung dân cư đông đúc như: thành phố,các

khu công nghiệp...cần có chính sách di dân và phân bố dân cư và lực lượng lao
động hợp lý nhằm ngăn chặn dòng dân cư tự do vào các khu đô thị lớn.
3.3. Áp dụng các công nghệ thích hợp
Khoa học ngày càng phát triển, máy móc dần dần thay thế lao động của
con người. Vì vậy chính phủ thường khuyến khích các doanh nghiệp vừa và
nhỏ, doanh nghiệp địa phương sử dụng công nghệ thích hợp để sản xuất ra
những hàng hoá thu hút nhiều lao động phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người
dân lao động. Để sử dụng hiệu quả biện pháp này Nhà nước cần sử dụng công
cụ thuế và lãi suất để điều tiết. Chẳng hạn như: Nhà nước có thể đánh thuế cao
đối với những hàng xa xỉ, còn những mặt hàng thiết yếu thì đánh thuế thấp hơn.
3.4. Giảm độ tuổi nghỉ hưu
Khi thực hiện chính sách này sẽ thu được một bộ phận người lao động bị
thất nghiệp thay thế chỗ làm việc của người về hưu. Nhưng đây chỉ là biện pháp
“tình thế”. Vì khi giảm độ tuổi nghỉ hưu thì làm cho số tiền trả trợ cấp hưu trí
6


tăng lên gây gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Bên cạnh đó sẽ làm tăng khoản
đóng góp của người lao động và chủ sử dụng lao động. Do vậy khi triển khai
biện pháp này cần tính toán và cân nhắc kĩ lưỡng.
3.5. Chính phủ tăng cường đầu tư cho nền kinh tế
Thực chất của chính sách này là tăng cầu lao động bằng cách chính phủ
“bơm tiền” vào đầu tư cho nền kinh tế để xây dựng nhiều vùng kinh tế, xây
dựng cơ sở hạ tầng và các công trình công cộng tạo thêm nhiều việc làm cho
người lao động .Đây là giải pháp vừa cơ bản lâu dài, vừa khó khăn phức tạp, bởi
lẽ cần chú trọng đến tình trạng lạm phát khi bội chi ngân sách.
3.6. Trợ cấp thôi việc, mất việc làm
Để góp phần giải quyết khó khăn và ổn định cuộc sống cho người lao động
khi họ thôi việc hoặc mất việc làm do doanh nghiệp phá sản, giải thể, tinh giảm
biên chế...doanh nghiệp sẽ trợ cấp cho người lao động một khoản tiền để trợ cấp

do họ có một quá trình đóng góp để tạo nên phúc lợi cho doanh nghiệp, thực
chất là phần lợi nhuận mà trước đây người lao động đã tham gia tạo nên. Mức
trợ cấp phụ thuộc vào thời gian mà người lao động làm cho doanh nghiệp trước
khi họ bị thôi việc,mất việc làm. Tuy vậy một khó khăn gặp phải đó là khi doanh
nghiệp có nhiều người thôi việc khi doanh nghiệp khó khăn trong sản xuất kinh
doanh, do vậy sẽ gặp khó khăn trong việc chi trả cho người lao động.
3.7. Trợ cấp thất nghiệp
Đây là một trong những chế độ của BHXH mà tổ chức lao động quốc tế
(ILO) đã khuyến cáo từ năm 1952 và cho đến nay đã có nhiều nước thực hiện.
Sau khi bị thất nghiệp người lao động được nhận một khoản tiền để ổn định
cuộc sống và xúc tiến tìm việc làm mới. Khoản trợ cấp này được lấy từ quỹ bảo
hiểm quốc gia, với điều kiện người nhận bảo hiểm trợ cấp phải có quá trình
đóng góp vào quỹ trước khi bị thất nghiệp. Thực hiện trợ cấp thất nghiệp do Nhà
nước thực hiện kết hợp với liên đoàn lao động. Liên đoàn lao động thực hiện
cho thành viên của mình là người lao động làm trong các doanh nghiệp không
may bị thất nghiệp, còn Nhà nước thực hiện với những đối tượng còn lại. Số tiền
trợ cấp từ phía Nhà nước được lấy từ ngân sách .
7


3.8. Bảo hiểm thất nghiệp
Đây là một chính sách nằm trong hệ thống các chính sách kinh tế xã hội
của các quốc gia. Bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phận của BHXH nhưng vì
nhiều lý do khác nhau nó đã dần tách khỏi BHXH. Ngày nay, BHTN được coi là
một trong những chính sách có vai trò to lớn khắc phục tình trạng thất nghiệp.

8




×