TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Môn học: PHÂN TÍCH BÁO CÁO
TÀI CHÍNH
Đề tài: PHÂN TÍCH CÔNG TY CỔ PHẦN
DẦU THỰC VẬT TƯỜNG AN - TAC
GVHD
: NGUYỄN MINH LONG
NHÓM
:8
TP.HCM, ngày tháng
năm 2012
Trang:1
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang:2
DANH SÁCH NHÓM
Trang:3
MỤC LỤC
Trang:4
A. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TAC
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
Quá trình xây dựng và phát triển dầu Tường An có thể chia thành 4 giai đoạn:
1. Giai đoạn đầu năm 1977 - 1984 : Tiếp quản và sản xuất theo chỉ tiêu kế
hoạch
Ngày 20/11/1977, Bộ lương thực thực phẩm ra quyết định số
3008/LTTP-TC chuyển Xí Nghiệp Công quản dầu ăn Tường An Công ty thành
Xí Nghiệp công nghiệp quốc doanh trực thuộc Công ty dầu thực vật miền
Nam, sản lượng sản xuất hàng năm theo chỉ tiêu kế hoạch.
2. Giai đoạn 1985 - 1990 được chuyển giao quyền chủ động sản xuất kinh
doanh, xây dựng hoàn chỉnh nhà máy và đầu tư mở rộng công suất
Tháng 07/1984 nhà nước xóa bỏ bao cấp, giao quyền chủ động sản
xuất kinh doanh cho các đơn vị. Nhà máy dầu Tường An là đơn vị thành viên
của Liên hiệp các xí nghiệp dầu thực vật Việt Nam, hạch toán độc lập, có tư
cách pháp nhân, được chủ động hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong giai đoạn này, sản phẩm sản xuất và tiêu thụ chủ yếu của Tường
An là các sản phẩm truyền thống như Shortening, Margarine, Xà bông bánh.
Đây là thời kỳ vàng son nhất của sản phẩm Shortening, thiết bị hoạt động hết
công suất nhưng không đủ cung cấp cho các nhà máy sản xuất mì ăn liền.
Dầu xuất khẩu, chủ yếu là dầu dừa lọc sấy chiếm tỷ lệ cao trên tổng sản
lượng (32%). Việc nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa các mặt
hàng luôn là vấn đề được quan tâm thường xuyên vì vậy sản phẩm Tường An
trong giai đoạn này đã bắt đầu được ưa chuộng và có uy tín trên thị trường.
3. Giai đoạn 1991 - tháng 10/2004: Đầu tư mở rộng sản xuất, nâng công suất
thiết bị, xây dựng mạng lưới phân phối và chuẩn bị hội nhập
a) Định hướng và phát triển sản phẩm chủ lực:
Đầu thập niên 90 là thời kỳ đất nước thực hiện chính sách kinh tế mở
cửa, hàng hóa xuất nhập khẩu dễ dàng và đa dạng. Một số sản phẩm dầu
ngoại nhập bắt đầu xuất hiện tại thị trường Việt Nam, các cơ sở ép địa
phương được hình thành với quy mo nhỏ và trung bình, các sản phẩm dầu ăn
bước vào giai đoạn cạnh tranh mạnh mẽ hơn trong nền kinh tế thị trường.
Với bối cảnh trên, năm 1991 các sản phẩm dầu đặc của Tường An bị
cạnh tranh quyết liệt từ sản phẩm Shortening ngoại nhập. Trước tình hình đó,
Tường An đã xác định lại phương án sản phẩm: vẫn duy trì mặt hàng
Magarine và Shortening truyền thống để cung cấp cho những khách hàng có
Trang:5
nhu cầu sử dụng sản phẩm chất lượng cao mà hàng ngoại nhập không thay
thế được, mặt khác đầu tư cải tiến mẫu mã bao bì kết hợp tuyên truyền
hướng dẫn người tiêu dùng thay đỗi thói quen sử dụng mỡ động vật để đẩy
mạnh sản xuất dầu lỏng tinh luyện, mỡ rộng thị trường tiêu thụ trong nước.
Dầu Cooking Tường An được đưa ra thị trường từ tháng 10/1991, Tường An
là đơn vị đi đầu trong sản xuất dầu Cooking cho người tiêu dùng và cũng là
đơn vị đầu tiên vận động tuyên truyền người dân dùng dầu thực vật thay thế
mỡ động vật trong bữa ăn hàng ngày để phòng ngừa bệnh tim mạch. Sản
lượng tiêu thụ dầu Cooking tăng lên nhanh chóng những năm sau đó (năm
1992 đạt 215% so với năm 1991, năm 1993 đạt 172% so voi năm 1992), được
người tiêu dùng ưa chuộng và trở thành sản phẩm chủ lực của Tường An từ
đó đến nay.
b) Đầu tư phát triển:
Trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, Tường An đã liên tục
đỗi mới trang thiết bị cũng như công nghệ sản xuất, thiết lập dây chuyền sản
xuất khép kín từ khâu khai thác dầu thô đến khâu đóng gói bao bì thành
phẩm.
Các dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng của Tường An nhằm đổi mới công nghệ,
nâng cao năng lực và quy mô sản xuất, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng
sản phẩm, hạ giá thành để phục vụ tiêu dùng trong nước, đáp ứng nhu cầu
xuất khẩu:
- Năm 1994 đầu tư máy thổi chai PET của Nhật, đây là dây chuyền thực sự
phát huy hiệu quả, Tường An là một trong những đơn vị sản xuất đầu tiên ở
Việt Nam có dây chuyền thổi chai PET và chai PET đã được người tiêu dùng
đánh giá cao và góp phần đưa sản xuất dầu chai các loại phát triển.
- Năm 1997 lắp đặt dây chuyền chuyền chiết dầu chai tự động của CHLB
Đức công suất 5000 chai 1 lit/giờ. Đây là dây chuyền chiết rót chai tự động
đầu tiên ở Việt Nam, giúp Tường An tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng năng suất
lao động để phục vụ kịp thời nhu cầu tăng nhanh của thị trường.
- Năm 1998 mặt bằng được mỡ rộng thêm 5700m 2 nâng tổng diện tích
Tường An lên 22000m2, xây trạm biến thế điện 1000KVA, lắp đặt thêm 4300
m3 bồn chứa.
- Năm 2000 lắp đặt dây chuyền thiết bị tinh luyện dầu tự động công suất
150 tấn/ngày công nghệ Châu Âu, góp phần nâng tổng công suất Tường An
lên 240 tấn/ngày.
- Năm 2002 thiết bị hoạt động hết công suất, Tường An đã mua lại Công ty
dầu thực vật Nghệ An công suất 30 tấn/ngày thành phân xưởng sản xuất của
Tường An. Phân xưởng này sau đó đã được đầu tư cải tạo nâng công suất
lên 60 tấn/ngày, là Nhà máy dầu Vinh của Tường An hiện nay.
Trang:6
- Năm 2004 bắt đầu dự án xây dựng Nhà máy dầu Phú Mỹ công suất 600
tấn/ngày tại Khu công nghiệp Phú Mỹ I, Bà Rịa Vũng Tàu với tổng giá trị đầu tư hơn
330 tỷ đồng.
4. Giai đoạn tháng 10/2004 đến nay: Thời kỳ chuyển giao và hội nhập
Từ ngày 01/10/2004, việc chuyển đổi mô hình tổ chức, vả hoạt động từ
doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần đã đánh dấu bước ngoặc
quan trọng đối với Tường An. Quy mô hoạt động được nâng lên, Tường An đã
liên tục đỗi mới và nâng tầm hoạt động để đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển.
Đó là việc sắp xếp lại bộ máy tổ chức, bổ sung nhân lực cho các vị trí còn yếu
và thiếu; nâng cấp và mỡ rộng hệ thống phân phối, đào tạo đội ngũ bán hàng
chuyên nghiệp; đồng thời triển khai chương trình phần mềm vi tính mới nối
mạng toàn Công ty nhằm cung cấp số liệu kịp thời cho công tác quản trị, giúp
định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh, lành mạnh hóa tài chính, hạn chế
những rũi ro và đặc biệt là tạo các nguồn lực để tham giá niêm yết trên thị
trường chứng khoán vào đầu năm 2007.
Năm 2005 Tường An lắp đặt thêm hai dây chuyền chiết dầu chai tự
động công nghệ tiên tiến của Châu Âu, nâng tổng công suất chiết dầu chai tự
động của Tường An lên 22500 lit/giờ, tăng gấp 4,5 lần so với trước đây.
Bên cạnh đó, dự án Nhà máy dầu Phú Mỹ tại Khu công nghiệp Phú Mỹ
I, Bà Rịa Vũng Tàu tiếp tục được đẩy nhanh tiến độ để kịp hoàn thành vào
cuối năm 2006. Đây là bước chuẩn bị tích cực của Tường An trong tiến trình
tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
trụ sở công ty
Nhà máy dầu Phú Mĩ
Trang:7
Trang:8
II. CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ
1. NGÀNH NGHỀ
• Sản xuất, mua bán và xuất nhập khẩu các sản phẩm chế biến từ dầu,
•
•
•
•
•
•
•
•
•
mỡ động thực vật, từ các loại hạt có dầu, thạch dừa.
Sản xuất, mua bán các loại bao bì đóng gói.
Mua bán, xuất nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật
liệu phục vụ sản xuất, chế biến ngành dầu thực vật.
Cho thuê mặt bằng, nhà xưởng.
Sản xuất, mua bán các loại gia vị ngành chế biến thực phẩm, nước
chấm, nước sốt (không sản xuất tại trụ sở).
Sản xuất, mua bán các loại sản phẩm mì ăn liền (mì, bún, phở, bánh đa,
cháo ăn liền).
Đại lý mua bán, ký gửi hàng hoá.
Kinh doanh khu vui chơi giải trí (không hoạt động tại trụ sở).
Hoạt động sinh hoạt văn hoá (tổ chức giao lưu, gặp mặt).
Kinh doanh nhà ở (xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê).
2. MỘT SỐ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY VÀ THỊ TRƯỜNG
CHÍNH
a)
b)
Nhóm dầu dùng để chiên xào
(1)
Dẩu Cooking Oil
(2)
Dầu Vạn Thọ
(3)
Dẩu thực vật tinh luyện (Olita)
Nhóm dầu cao cấp
(1)
Dầu Extra Virgin Olive Oil
(2)
Dầu canola (dầu hạt cải tinh luyện)
(3)
Dầu nành tinh luyện
(4)
Dầu mè tinh luyện
(5)
Dầu phộng tinh luyện
Trang:9
c)
Nhóm dầu dinh dưỡng
(1)
Dầu ăn dinh dưỡng trẻ em thế hệ mới (Vio
Extra)
(2)
d)
e)
Dầu Season
Nhóm dầu đặc
(1)
Margarine (Bơ thực vật)
(2)
Shortening
Sản phẩm công nghiệp
(1)
Dầu dừa
(2)
Dầu cọ tinh luyện
(3)
Dầu olein tinh luyện
3. THỊ TRƯỜNG CHÍNH
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty với khoảng 200 Nhà phân
phối và Đại lý, 20 Siêu thị và 100 khách hàng Công nghiệp. Tường An chiếm
35,2% thị phần cả nước, dẫn đầu thị phần nội địa
4. CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
Trở thành công ty dẫn đầu trong ngành dầu thực vật, định hướng mở
rộng sản xuất và đầu tư sang các lĩnh vực khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao
và ít rủi ro hơn
III. CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CHỨC NĂNG TỪNG
PHÒNG BAN
Hội đồng quản trị và Ban điều hành, quản lý:
Hội đồng quản trị và Ban Tổng Giám đốc của Công ty trong năm và cho đến
thời điểm lập báo cáo này bao gồm:
Hội đồng quản trị
Họ và tên
Chức vụ
Ông Đoàn Tấn Nghiệp
Chủ tịch
Ông Nguyễn Hùng Thành viên
Ngày bổ nhiệm
Ngày
nhiệm
miễn
24/4/2007
24/4/2007
Trang:10
Cường
Ông Dương Tiến Đức
Ông Huỳnh Văn Nhớ
Ông Hà Bình Sơn
Thành viên
Thành viên
Thành viên
30/6/2008
30/6/2008
26/4/2010
Trang:11
Ban kiểm soát:
Họ và tên
Chức vụ
Ông Văn Tích Vĩnh
Trưởng ban
Ông Nguyễn
Đức Kiểm soát viên
Thuyết
Bà Ngô Bạch Mai
Kiểm soát viên
Ngày bổ nhiệm
Ngày
nhiệm
miễn
24/4/2007
24/4/2007
24/4/2007
Ban điều hành
Họ và tên
Chức vụ
Ngày
bổ Ngày
nhiệm
nhiệm
Ông Hà Bình Sơn
Tổng Giám Đốc
30/12/2011
Ông Nguyễn Văn Phó Tổng Giám 31/01/2012
Lừng
Đốc
Ông Dương Tiến Phó Tổng Giám 31/01/2012
Đức
Đốc
Ông Vũ Đức Thịnh
Kế toán trưởng
31/01/2012
miễn
Kiểm toán viên:
Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn (A&C) đã kiểm toán Báo cáo tài chính
cho năm tài chính kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 2011, A&C bày tỏ nguyện
vọng tiếp tục được chỉ định là kiểm toán viên độc lập của Công ty.
Trang:12
IV. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA CÔNG TY
TRONG THỜI GIAN QUA, XU HƯỚNG SẮP TỚI
Thuận lợi :
Thương hiệu mạnh,sản phẩm phong phú và đa dạng
Hệ thống phân phối rộng khắp cả nước
Thị phần lớn là một trong những công ty đi đầu về thị trường tiêu thụ
Luôn đi đầu trong việc phát triển sản phẩm mới,trang thiết bị công nghệ
tiên tiến
- Đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ và kinh nghiệm lâu năm
- Tường An là Công ty Dầu ăn đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên SGDCK
TPHCM do đó hình ảnh Công ty ngày càng được công chúng biết đến
nhiều hơn và đây là động lực để thúc đẩy công ty ngày càng phát triển
cũng như có thể huy động vốn dễ dàng.
- Thị trường gia tăng 12%-15% mỗi năm liên tục đến năm 2010.
-
Trang:13
Khó khăn :
-
-
Hoạt động vẫn chưa thực sự độc lập với công ty mẹ Vocarimex => xung
đột lợi ích nghiêm trọng trong đảm bảo bí mật kinh doanh
Không chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào (90% nhập khẩu ) =>
tác động đến giá vốn của công ty ,ảnh hưởng đến kết quả hoạt động
kinh doanh của công ty
Cạnh tranh trong ngành ngày càng gay gắt( không chỉ trong nước mà
với cả nước ngoài )
Việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ làm cho hàng hóa, sản phẩm cạnh
tranh quyết liệt không chỉ ở thị trường nước ngoài mà ngay cả tại thị
trường nội địa. Đồng thời, sự hỗ trợ của Nhà Nước mang tính chất trực
tiếp cũng không còn (miễn giảm thuế, các khoản trợ cấp, ưu đãi…),
doanh nghiệp sẽ gặp không ít khó khăn trước xu thế hội nhập kinh tế
thế giới.
Xu hướng :
-
-
Với tiềm lực mạnh mẽ và sự nhìn nhận đúng đắn về trung gian
marketing công ty Tường An đã chú trọng vào hệ thống phân phối trên
khắp cả nước, không ngừng cải tiến kỹ thuật ,trang thiết bị để mang lại
cho khách hàng sản phẩm chất lượng, hàm lượng dinh dưỡng cao và
mong muốn trở thành sản phẩm được yêu thích nhất.
Đối với thị trường nước ngoài, thiết lập các đại lý phân phối chính thức
sản phẩm của công ty tại một số nước với chất lượng đảm bảo cạnh
tranh hợp lý.
B. PHÂN TÍCH CHUNG VỀ TÌNH
HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TAC
I. BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
1. TÀI SẢN:
Tổng tài sản của công ty năm 2009 so với năm 2008 giảm 35,008,801,442
VNĐ tương ứng giảm 5.1%, sau đó lại tăng 292,218,250,687 VNĐ tương ứng
tăng 44.82%( tăng ở mức khá mạnh) vào khoảng thời gian từ 2009-2010 và
tăng 9.2% tương ứng với 86,833,103,724VNĐ vào năm 2011.
Nhìn chung , xu hướng về tổng tài sản của công ty là tăng trong 2 năm gần
đây, với sự gia tăng về tài sản phản ánh sự gia tăng đầu tư, mở rộng sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó gia tăng về doanh thu và lợi nhuận, có
Trang:14
thể coi là một dấu hiệu tốt, nhưng còn phải xét thêm một số chỉ tiêu khác để
đánh giá hiêu quả của sự biến động.
Tài sản ngắn hạn:
Mô tả: tài sản ngắn hạn có xu hướng giảm 6.25% từ năm 2008- 2009, sau
đó tăng mạnh lên đến tỷ lệ 71.98% từ năm 2009-2010, sau đó tăng ổn định
12.97% từ năm 2010-2011.
Nhận xét:Vậy ta có thể kết luận sự gia tăng tổng tài sản của công ty chủ
yếu là do tăng tài sản lưu động, điều đó phản ánh dấu hiệu tốt vì công ty có xu
hướng mở rộng sản xuất kinh doanh không thông qua việc đầu tư thêm tài
sản cố định, nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản cố định=> nâng cao đòn bẩy
kinh doanh=> hạ thấp điểm hòa vốn. Nhưng vấn đề sử dụng tài sản ngắn hạn
sao cho hiệu quả là vấn đề quan trọng, để lý giải điều này, ta cần xem xét đi
sâu hơn.
o
Về tiền mặt:
Mô tả: vốn bằng tiền của công ty tăng mạnh từ năm 2008-2009 tương ứng
với 56,363,582,823VNĐ( tăng 70,83%) sau đó lại giảm 10,24% từ năm 20092010và giảm 15,33% từ năm 2010-2011.Nói chung tiền mặt có xu hướng
giảm trong 2 năm gần đây, nhưng xét so với năm 2008, thì tiền mặt sẽ đã tăng
một khoảng đáng kể.
Nhận xét: đây là một dấu hiệu tốt, vì sự tăng tiền mặt sẽ cải thiện tình hình
thanh toán công ty, tăng khả năng thanh toán nhanh, ít rủi ro hơn cho công
ty.Nhưng ta cũng cần phải xem lại vì nếu xét về tỷ trọng của tiền mặt so với
tổng tài sản, thì nó đang giảm trong 2 năm gần đây tương ứng với( 12.97% và
10.6%) trong 2010, 2011. Điều này là không tốt, vì nó cho thấy khả năng thanh
toán nhanh của doanh nghiệp đang xấu đi.
o
Các khoản phải thu ngắn hạn:
Mô tả: về các khoản phải thu trong 3 năm, cụ thể là khoản phải thu tăng
5,844,917,787VNĐ( tương ứng tăng 20.05% vào( 2008-2009), sau đó lại tiếp
tục tăng mạnh 19,835,557,579VNĐ( tương ứng tăng 56.69%) vào( 20092010)và tăng 21.78% vào khoảng thời gian( 2010-2011).
Nhận xét:Xu hướng tăng trong 3 năm. Nguyên nhân chủ yếu là do các
khoản mục “Phải thu khách hàng” tăng. Điều đó cho thấy:
Khoản phải thu tăng phản ánh sự mở rộng thị trường, tăng doanh thu
thông qua việc mở rộng chính sách bán chịu của doanh nghiệp, điều này là
một dấu hiệu tốt.Nhưng sư gia tăng doanh thu hàm chứa sự gia tăng rủi ro
trong việc thu hồi nợ, giảm vòng quay vốn, tăng nguồn vốn bị chiếm dụng của
Trang:15
doanh nghiệp. Vì vậy, ta cũng có thể đi đến một kết luận tiêu cực là khả năng
thu hồi nợ của doanh nghiệp đang giảm.
Nhưng xét thêm về những khoản dự phòng=0, điều này chứng tỏ rủi ro vẫn
ổn định.
Phân tích theo chiều dọc: Khoản phải thu vẫn chiếm một tỷ lệ ổn định so
với tổng tài sản, điều này cho thấy một sự đầu tư khá cân đối của doanh
nghiệp vào các khoản phải thu.
o
Hàng tồn kho:
Mô tả: Hàng tồn kho của doanh nghiệp giảm 69.440.962.986 (tương ứng
25,77%) trong giai đoạn 2008-2009, sau đó lại tăng đột biến lên
273.763.622.687 (tương ứng 136,85%) trong 2009-2010, và tiếp tục tăng
thêm 100.111.125.272 (tương ứng 21,13%) vào 2010-2011. Một mặt, sự tăng
HTK có ưu điểm là doang nghiệp sẽ chủ động được trong sản hàng hóa,
không để mất cơ hội kinh doanh, nhưng có một số nhược điểm là:
Thứ nhất, doanh nghiệp bị ứ đọng vốn.
Thứ hai, tốn chi phí trong việc lưu kho, bảo quản, quản lý HTK.
Thứ ba, HTK là tài sản thanh khoản kém, dễ bị mất giá trị. Từ đó suy ra tính
chất HTK, quyết định HTK là tốt hay xấu.
Kết hợp phương pháp chiều dọc:
Qua phân tích chiều dọc, ta thấy HTK chỉ chiếm có 39,23% vào năm 2008,
năm 2009 giảm còn 30,68%, nhưng lại tăng mạnh lên 50,18% trên bảng cơ
cấu tài sản và tiệp tục tăng 55,67% vào năm 2011.
=> Ta thấy rõ ràng rằng, nguồn vốn tăng của doanh nghiệp chủ yếu là đầu tư
vào HTK. Và TSNH tăng chủ yếu do sự gia tăng của HTK.
Nhận xét: Doanh nghiệp đầu tư vào HTK trong bảng kết cấu tài sản,
chuyển thành những tài sản khác cố tính thanh khoản cao hơn. Bằng cách:
Đẩy mạnh maketting mix (các chiến lược xúc, giias, sản phẩm..) nhằm tiêu thị
lượng HTK dư thừa.
Áp dụng mô hình tồn kho tối ưu để xác định lượng tồn kho hợp lí, bằng
cách ước lượng chi phí phát sinh một cách chính xác. Qua đó, tăng doanh
thu, tăng vòng quay vốn, từ đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
o
Tài sản ngắn hạn khác:
Mô tả: TSNH khác của doanh nghiệp giảm mạnh từ 2008-2009, với con số
18,127,061,712 (tương ứng 67,54%), sau đó lại tăng mạnh trong giai đoạn
Trang:16
2009-2010 với con số chênh lệch dương 19,795,877,171 (tương ứng
277,25%), sau lại giảm 5,134,566,900 trong giai đoạn 2010-2011 (tương ứng
-18,01%). Qua đó ta thấy TSNH khác biến động không theo xu hướng cụ thể,
nhưng nhìn chung có sự gia tăng về số tuyệt đối (2008-2011)
Điều đáng chú ý là Tài sản ngắn hạn vẫn chiếm một tỷ lệ nhỏ và khá ổn
định trong Bảng kết cấu tài sản (1-3%).
Nguyên nhân: Sự biến động tài sản ngắn hạn khác có nguyên nhân chủ
yếu là sự biến động của khoản mục “thuế GTGT được khấu trừ” và “thuế và
các khoản mục phải thu nhà nước”
Dự đoán: Sự gia tăng khoản mục này bắt nguồn từ gia tăng đột biến của
hàng tồn kho và khoản phải thu.
Biện pháp: Đẩy mạnh tiêu thụ hàng tồn kho sẽ giảm được tỉ trọng hai
khoản mục này, giải phóng một lượng nhỏ vốn đưa vào đầu tư.
Tài sản dài hạn:
Mô tả: Tài sản dài hạn theo phân tích chiều ngang có xu hướng giảm qua
các năm.Trong (08-09), giảm 9.649.277.394 vnd (tương ứng -3,43%) và tiếp
tục giảm 7.202.055.325 vnd (tương ứng -2,65%) và 1.312.277.460 vnd (tương
ứng -0,5%).
Tài sản dài hạn giảm có nguyên nhân là sự giảm về lượng của tài sản cố định.
Nguyên nhân: do khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp qua từng
năm.
Phân tích sâu hơn:
Chi phí xây dựng dở dang có xu hướng giảm qua các năm, đây là một dấu
hiệu tốt, phản ánh sự thi công hiệu quả xây dựng tài sản cố định nhanh chóng
đưa vào sản xuất, tăng hiệu suất sử dụng vốn, tăng hiệu quả sử dụng tài sản
cố định.
Trong năm (08-09), có một sự gia tăng nhanh chóng về tài sản cố định hữu
hình, chênh lệch 89.937.661.793 vnd (tương ứng 66,48%) đồng thời là sự
giảm nhanh về chi phí xây dựng dở dang và sau đó được giữ cố định trong
những năm còn lại.
Phân tích chiều dọc:
Tỷ trọng tài sản cố định: chiếm 30,93% Bảng cân đối tài sản trong năm
2008,sau đó tăng nhẹ 41,43% ( do tổng tài sản giảm), và giảm mạnh còn
27,71% và 25,31% tương ứng với các năm 2010-2011.
Trang:17
Chứng tỏ các khoản đầu tư của doanh nghiệp không tập trung vào tài sản cố
định của doanh nghiệp mà hoàn toàn đổ dồn vào tài sản lưu động.
Phỏng đoán:Năm 2008, doanh nghiệp đã đầu tư lấp đặt một hệ thống máy
móc sản xuất với công suất lớn,chính hệ thống này đã làm thay đổi sự kết hợp
giữa tài sản cố định và tài sản lưu động của công ty ( độ bẩy hoạt động),
mang lại một đặc điểm mới cho công ty là tỷ trọng tài sản cố định trên tổng tài
sản quá thấp, công ty đang tối đa công suất của hệ thống này.
2. NGUỒN VỐN:
Mô tả:Nguồn vốn của doanh nghiệp giảm 35.008.801.442 vnd (tương ứng
-5,1%) trong khoảng thời gian 2008-2009 sau đó tăng mạnh với số chênh lệch
là 292.218.250.687 vnd (tương ứng 44,82%) và tăng 86.833.109.724 vnd
(tương ứng 9,2%) trong năm 09-10 và 10-11. Sự tăng vốn phản ánh một dấu
hiệu tốt là công ty đang mở rộng quy mô hoạt động sản xuất của mình, nhưng
còn phải xem xét là sự tăng vốn này do đâu, tăng vốn chủ sở hữu hay tăng nợ
, và cơ cấu nợ/vốn thay đổi như thế nào, và sự phân bổ nguồn lực liệu có hợp
lý không.Ta xét đến từng khoản mục sau:
Nợ phải trả:
Mô tả: Chiều ngang: nợ phải trả giảm 23.564.587.259 tương ứng -6.24%
vào năm 08-09.\, sau đó tăng mạnh vào khoảng 09-10 với số tương ứng là
220,327,204,530( tăng 62.21%) và tiếp tục tăng nhẹ thêm 104.332.481.415
(tương ứng 18.16%).
Nhận xét:Nguồn vốn doanh nghiệp gia tăng trong khoảng 09-10 là do sự
gia tăng nợ và vốn chủ sở hữu nhưng chủ yếu là gia tăng nợ.Sự gia tăng nợ
có một đặc điểm là nếu sử dụng hiệu quả sẽ phát huy ảnh hưởng của đòn bẩy
tài chính, sẽ làm tăng nhanh ROE, nhưng đồng thời nó cũng có nhược điểm là
gia tăng rủi ro cho công ty, nếu có một sự giảm bất thường của lợi nhuận
trước thuế và lãi vay.
Chiều dọc: Qua xem xét,ta thấy tỷ trọng nợ trên bảng kết cấu tài sản tăng
dần qua các năm , từ 54,98% năm 08, 54,32% năm 09 và tăng lên 60,84% và
65,84% trong năm 2010 -2011.
Cơ cấu nợ vẫn ở mức 50 65%, nói chung con số này vẫn chấp nhận
được, nhưng có phần hơi rủi ro ( chưa kết luận và không có cơ sở so sánh),
con số này phản ánh là rủi ro phần lớn thuộc về chủ nợ, và công ty sẽ khó
khăn hơn đi vay món nợ tiếp theo).
o
Nợ ngắn hạn:
Chiều ngang: nợ ngắn hạn giảm vào khoảng niên độ (08-09) với số chênh
lệch là -23.001.193.212 vnd ( tương ứng -7,29%) sau đó lại tăng nhanh chóng
Trang:18
từ 276.225.480.084vnd lên 520.277.754.197 vnd ( tương ứng 88.53%) và tiếp
tục tăng thêm 125.398.112.119 vào năm 10-11 ( tương ứng 24,10%)
Chiều dọc: cơ cấu nợ ngắn hạn chiếm một tỷ lệ rất cao trong tổng tài sản
và phần nợ phải trả của đơn vị.Cụ thể là 43,56% năm 08 và 42,37% năm 09,
55,1% năm 10 và 62,63% năm 11.
Qua phân tích trên, ta có thể thấy được tỷ lệ nợ ngắn hạn càng ngày càng
tăng. Có thể kết luận là tỷ lệ nợ tăng có nguyên nhân là do sự tăng nhanh của
nợ ngắn hạn và công ty đã dùng công cụ nợ ngắn hạn để tài trợ cho các quyết
định đầu tư của mình. Điều này khá hợp lý, bởi vì các quyết định đầu tư của
công ty chủ yếu là tài sản ngắn hạn (điển hình là hàng tồn kho).
Nếu đi sâu vào phân tích khoản mục nợ ngắn hạn, cho thấy chủ yếu của
khoản mục này là “ phải trả người bán” và “nợ vay ngắn hạn”, hai khoản mục
này lại phản ánh trong đó 2 lựa chọn khác trong việc huy động vốn ngắn hạn,
đó là sử dụng “tín dụng thương mại” hay “vay ngân hàng”. Ta thấy, giai đoạn
đầu “tín dụng thương mại” được ưu tiên sử dụng và có xu hướng tăng về
tuyệt đối, nhưng vẫn chiếm một tỷ lệ ổn định trên bảng kết cấu tài sản. Đây là
một dấu hiệu tốt, vì “tín dụng thương mại” là một nguồn vốn được đánh giá là
có chi phí sử dụng vốn rẻ hơn rất nhiều so với việc “vay ngân hàng” và cũng
dễ thỏa thuận hơn. Nhưng qua đó cũng chứng tỏ rằng là doanh nghiệp đạ
khai thác tối đa nguồn lực này=> chứng tỏ uy tín của doanh nghiệp trên
thương trường.
Điều đó được hỗ trợ bởi 1 bằng chứng là:
Doanh nghiệp đang có xu hướng tìm nguồn tài trợ từ phía khách hàng nhất
là trong giai đoạn tăng vốn để hỗ trợ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đã
vay 1 khoản nợ lớn hơn nhiều vào năm 2009( từ 32,424,000,000VNĐ lên đến
169,852,335,215VNĐ) chênh lệch 137,428,335,215VNĐ( tương ứng với
423.85%) và tăng thêm 60.63% vào năm 2011( so với năm 2010).
Việc vay vốn hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh trong khi đã tận dụng hết khả
năng vay thương mại là bình thường nhưng để đầu tư vào hàng tồn kho quá
mức thì lại không tốt chút nào, vì hàng tồn kho là tài sản kém thanh
khoản=>giảm tỷ số thanh nhanh của công ty, điều này không tốt cho những
món vay tiếp theo và xấu đi khả năng trả nợ.
o
Nợ dài hạn:
-Mô tả: chiều ngang giảm về số tuyệt đối, giảm nhanh vao khoảng năm
2009-2010.
Trang:19
Nợ dài hạn của doanh nghiệp có xu hướng giảm một phần nguyên nhân là
do các khoản nợ dài hạn đáo hạn chuyển sang nợ ngắn hạn và cụ thể là do
công ty chủ động trả bớt nợ (không vay thêm nợ mới).
Nhận xét: Điều này cũng cho thấy công ty đã không sử dụng nợ dài hạn
để tài trợ cho các quyết định đầu tư của mình. Điều này lý giải lả do công ty
không đầu tư vào tài sản cố định với quy mô lớn hơn nữa.
Nguồn vốn chủ sở hữu:
Nguồn vốn chủ sở hữu với đặc trưng là khoản mục “ vốn chủ sở hữu” nên
ở đây ta chú trọng phân tích khoản mục này.
-Nguồn vốn chủ sở hữu:
Mô tả: nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp giảm
(11,444,214,183VNĐ) tương ứng(-3.7%) năm 2008 -2009 sau đó lại tăng
71,891,046,157VNĐ( tương ứng 25.12%)năm 2009-2010,rồi lại giảm
(17,499,377,691VNĐ) tương ứng với giảm (-4,73%) năm 2010-2011
Nhìn chung nguồn vốn chủ sở hữu biến động nhất trong khoảng thời gian
2009-2010 với tỷ lệ tăng 25.12%.
Nhận xét: nguyên nhân là do
*Chiều dọc:
Nguồn vốn chủ sở hữu giảm tỷ trọng nguồn vốn , cụ thể là từ mức
45.02%(2008) xuống còn 34.16%(2011).
Nhân xét: Sự giảm tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu có nghĩa là doanh
nghiệp đang tăng rủi ro trong hoạt động của mình, có thể mất dần sự tự chủ
tài chính. Nhưng một tỷ trọng vốn/vốn chủ sở hữu hợp lý sẽ giúp doanh
nghiệp tận dụng ưu thế đòn bẩy nợ, từ đó làm tăng tỷ số ROE,với tỷ số vốn
như thế này có thể xem là hợp lý.
*Chiều ngang:
Nhận xét: Nhìn chung sự biến động của vốn chủ sở hữu bắt nguồn chính
từ khoản mục “ lợi nhuận giữ lại” của doanh nghiệp, cụ thể là giảm
18,049,845,050VNĐ (tương ứng -3.71%) trong khoảng năm 2008-2009.
Nguyên nhâ là do công ty dùng lợi nhuận giữ lại để trả bớt nợ ngắn hạn và nợ
dài hạn=>khiến cho tổng vốn giảm. Sau đó khoản mục này tăng mạnh từ
27,502,658,092VNĐ lên đến 67,244,882,145VNĐ( tăng 144.5%) do doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Nhưng sau đó lại giảm 31.65% trong
giai đoạn 2010-2011. Nguyên nhân là do doanh nghiệp tăng chia cổ tức, tăng
Trang:20
phân bổ vào quỹ đầu tư phát triển. Điều này được cho là tốt , vì chia cổ tức có
tác dụng làm hài lòng tâm lý cổ đông.
Khoản mục “Quỹ đầu tư và phát triển” tăng mỗi năm cho thấy dấu hiệu tốt
trong định hướng tương lai của doanh nghiệp=> chứng tỏ doanh nghiệp rất
quan tâm, tới việc mở rông quy mô kinh doanh.
Nói chung vốn chủ sở hữu tăng là do sự bổ sung của lợi nhuận sau thuế,
không liên quan tới việc phát hành cổ phiếu=> dấu hiệu tốt, chứng tỏ công ty
trong thời kỳ phát triển.
II. BẢNG KẾ QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Chỉ tiêu
2009
2010
2011
Doanh thu bán
hàng và cung cấp 2,645,444,756,730 3,260,828,137,696 4,442,782,680,548
dịch vụ
Các khoản giảm trừ
19,097,757,050
3,772,056,329
10,443,255,402
doanh thu
Doanh thu thuần
bán hàng và cung 2,626,346,999,680 3,257,056,081,367 4,432,339,425,146
cấp dịch vụ
Giá vốn hàng bán 2,391,428,625,351 2,872,031,223,707 4,099,689,843,520
Lợi nhuận gộp về
bán hàng và cung
234,918,347,329
385,024,857,660
332,649,582,626
cấp dịch vụ
Doanh thu họat
2,764,525,224
3,504,827,254
4,492,772,557
động tài chính
Chi phí tài chính
36,370,127,938
30,619,695,964
53,486,856,134
Chi phí bán hàng
142,802,631,422
207,216,783,704
204,263,497,259
Chi phí quản lý
28,625,963,614
48,830,153,729
52,614,754,044
doanh nghiệp
Lợi nhuận thuần
từ họat động kinh
29,884,149,579
101,863,051,517
26,777,246,746
doanh
Thu nhập khác
3,552,936,155
2,319,770,181
1,855,152,992
Chi phí khác
814
60,621,462
Lợi nhuận khác
3,552,121,805
2,319,770,181
1,794,531,530
Tổng lợi nhuận kế
33,436,271,384
104,182,821,698
28,571,778,276
toán trước thuế
Chi phí thuế thu
nhập doanh nghiệp
5,610,992,992
16,433,003,267
3,221,067,114
hiện hành
Chi phí thuế thu
nhập doanh nghiệp
86,125,380
118,820,457
hõan lại
Trang:21
Lợi nhuận sau
thuế thu nhập
doanh nghiệp
Lãi cơ bản trên cổ
phiểu
27,825,278,392
87,663,693,051
25,231,890,705
1.466
4.619
1.329
Nhận xét:
Qua bảng phân tích trong excel, ta thấy doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ năm 2009 là hơn 2,645,444 triệu đồng, doanh thu thuần là 2,626,346
triệu đồng. Doanh thu năm 2010 là hơn 3,260,828 triệu đồng, tăng hơn
615,383 triệu, tương đương 23.3% so với năm 2009, trong đó doanh thu
thuần là 3,257,056 triệu đồng, tăng 24%. Doanh thu năm 2011 là hơn
4,442,782 triệu đồng, tăng hơn 1,181,954 triệu, tương đương 36.253% so với
năm 2010, trong đó doanh thu thuần là 4,432,339 triệu đồng, đạt 36.08%. Và
để hiểu rõ hơn tình hình biến động các khoản mục trong bảng báo cáo, ta đi
sâu phân tích các khoản mục trong bảng báo cáo.
Doanh thu thuần
Doanh thu thuần năm 2010 tăng 630,709 triệu đồng, tăng 24% so với năm
2009, doanh thu thuần năm 2011 tăng 1,175,283 triệu đồng, tăng 36% so với
năm 2010. Nhìn chung, doanh thu thuần chiếm tỷ trọng khá cao, nhất là năm
2010, dù năm 2011 đã giảm so với năm 2010.
Điều này là do tỷ trọng các khoản giảm trừ năm 2011 là 0.24% tăng gấp đôi
so với năm 2010 là 0.12%, đặc biệt năm 2010 giảm rất mạnh so với 2009 là
0.72% doanh thu, có thể thấy được sự thành công của công ty trong việc quản
lý các khoản giảm trừ doanh thu.
Riêng phần giảm trong năm 2011 có thể là do việc kiểm tra chất lượng
hàng hoá trước khi giao hàng không còn tốt như năm 2010, hoặc cũng có thể
là do công ty giảm giá hàng bán cho các đơn đặt hàng số lượng lớn, nhằm
đẩy mạnh việc bán hàng, tăng doanh thu. Công ty cần phải duy trì quy trình
kiểm tra chất lượng, số lượng, nhằm giảm số hàng bán bị trả lại.
Giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán năm 2009 là 2,391,428 triệu đồng, chiếm 90.4% doanh
thu. Giá vốn hàng bán năm 2010 chiếm 88.08% doanh thu , tăng 480,602 triệu
đồng, tương đương 20.1% so với 2009, sang năm 2011 chiếm 92.28% tăng
1,227,658 triệu đồng, tương đương 42.75%, quá cao so với năm 2010.
Ta thấy tỷ trọng giá vốn hàng bán năm 2010 đã giảm, chứng tỏ công ty đã
quả lý chi phí khá tốt, nhưng sang năm 2011 thì đã tăng mạnh trở lại. Điều này
Trang:22
có thể do biến động giá cả nguyên vật liệu, nhân công, các chi phí sản xuất
chung như khấu hao tăng, thuê mướn nhà xưởng,... trong những năm khủng
hoảng.
Tuy nhiên tình hình tài sản cố định hữu của công ty không biến động mạnh
nên công ty cần phải rà sát lại các chi phí trong giá vốn hàng bán, tìm nhà
cung cấp mới để điều chỉnh chi phí nguyên vật liệu, quản lý giờ làm việc của
nhân công cho phù hợp là chủ yếu. Một nguyên nhân khác là công ty đang
giảm giá bán nhằm mở rộng thị trường, khiến giá vốn hàng bán tăng nhanh
hơn doanh thu.
Lợi nhuận:
Năm 2009 lợi nhuận gộp đạt 234,918 triệu đồng chiếm 8.88% doanh thu,
năm 2007 tăng 150,106 triệu đồng, tăng rất cao, 63,9% và chiếm 11.81%
doanh thu. Nhưng năm 2011 lại giảm 52,375 triệu đồng, giảm 13.6%, tỷ trọng
chỉ còn 7.49% Ta có thể lợi nhuận gộp tăng trưởng mạnh ở năm 2010, tuy
năm 2011 có giảm nhưng vẫn cao so với 2009. Như những yếu tố được phân
tích ở phần giá vốn hàng bán cũng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận gộp,
nên chúng ta sẽ phân tích qua phần lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh
doanh
Từ năm 2009 đến 2010: lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh năm
2009 là 29,884 triệu đồng, chiếm 1.13% doanh thu. Tỷ trọng doanh thu
hoạt động tài chính là 0.10%, chi phí tài chính là 1.37%, chi phí bán
hàng là 5.4% à chi phí quản lý là 1.08%. Qua năm 2010 lợi nhuận thuần
đã tăng rất nhanh 71,978 triệu đồng, tức 240.9%, chiếm 3.12%.
Nguyên nhân là do tốc độ tăng trưởng tỷ trọng của lợi nhuận gộp
nhanh hơn của chi phí, ngoài ra mốt số chi phí còn giảm tỷ trọng.
Doanh thu từ hoạt động tài chính tăng 740 triệu đồng, chi phí tài
chính giảm 5,750 triệu đồng mặc dù chi phí lãi vay có tăng, chi phí
bán hàng tăng cao 64,414 triệu đồng, tăng 45.1%, chi phí quản lý
tăng khá cao 20,204 triệu đồng, tăng 70.6%.
Hai khoản mục chi phí này tăng là điều tất yếu vì quy mô sản xuất
tăng, doanh thu tăng, nên các biến phí có liên quan cụ thể cũng tăng
theo.
Tuy nhiên, kết quả hoạt động kinh doanh năm 2010 lại là một sự
thành công khá mỹ mãn so với năm 2009. Thu nhập khác giảm
1,233 triệu đồng, tương đương 34.7% nhưng cũng không ảnh hưởng
nhiều đến lợi nhuận kế toán trước thuế. Đặc biệt năm 2010 không
phát sinh chi phí khác. Lợi nhuận sau thuế tăng 59,838 triệu đồng,
tương đượng 215.1%, chiếm 2.69% doanh thu mặc dù thuế thu nhập
phải tăng tương ứng với doanh thu, cụ thể là tăng 10,822 triệu đồng,
tức 192.9%.
Trang:23
Đến năm 2011 lợi nhuận thuần lại giảm mạnh đến 75,085 triệu đồng,
tương đương 73,71%, chỉ còn chiếm 0.6% doanh thu. Nguyên nhân là
do tốc độ tăng của chi phí nhanh hơn doanh thu, mặc dù doanh thu hoạt
động tài chính có tăng đáng kể là 987 triệu đồng, tức 28,19%. Thậm chí,
lợi nhuận gộp còn giảm 13.6$, chỉ có chi phí bán hàng là giảm 2,954
triệu đồng, tức 1.43%, còn lại các chi phí khác đều tăng như chi phí
quản lý tăng 3,784 triệu đồng, tăng 7.75%.
Đặc biệt là chi phí tài chính tăng quá cao, 22,867 triệu đồng, tương
đương 74.68%. Nguyên nhân là do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu
vốn, tăng nợ dài hạn, nên phải trả lãi cao, nhất là trong năm 2011,
tình hình lạm phát khá cao. Và tất nhiên, lợi nhuận trước thuế cũng
giảm mạnh 72.58%, vì thu nhập khác giảm 20.03%, chi phí khác
tăng. Dẫn đến lợi nhuận sau thuế giảm 62,431 triệu đồng, tương
đương 71.22%.
Nhận xét chung:
Ta thấy rõ ràng rằng năm 2010 có sự gia tăng đột biến về lợi nhuận, còn
năm 2011 thì số liệu khá tương đồng với năm 2009. Năm 2010, công ty phát
triển tốt, khiến doanh thu tăng cao, hơn nữa lại quản lý chi phí khá tốt, khiến tỷ
trọng giá vốn hàng bán giảm đáng kể.
Ngoài ra các chi phí khác đều giảm tỷ trọng so với doanh thu, kéo theo lợi
nhuận trước và sau thuế tăng mạnh. Hơn nữa, do tỷ trọng lợi nhuận của năm
2009 khá thấp, nên lợi nhuận của năm 2010 đã tạo ra sự chênh lệch khá lớn
về tốc độ tăng trưởng cũng như tỷ trọng.
Tuy nhiên cũng phải nói đến chi phí bán hàng và chi phí quản lý của doanh
nghiệp tăng khá cao, nguyên nhân là vì doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài
sản lưu động như hàng tồn kho, khoản phải thu,...
Nhưng đến năm 2011 thì lợi nhuận lại giảm, thậm chí thấp hơn 2009. Vì
doanh thu tăng khá cao nên có thể doanh nghiệp đang muốn phát triển thị
phần nên giảm giá bán, khiến tỷ trọng giá vốn hàng bán tăng cao. Mặc dù vậy,
nguyên nhân cũng có thể là do việc quản lý chi phí yếu kém, không những
không khắc phục được chi phí bán hàng và quản lý trọng như năm 2010 mà
các chi phí khác còn tăng tỷ trọng.
Doanh nghiệp cần rà soát lại giá cả nguyên vật liệu, nhân công,...đặc biệt
là chi phí tài chính tăng rất cao, phần lớn là do doanh nghiệp sự dụng đòn bẩy
tài chính, nên phải trả lãi vay cao, nhưng bù lại tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở
hữu có thể được cải thiện hơn.
Trang:24
III. BẢNG LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ
BẢNG LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ
CHỈ TIÊU
I. Lưu chuyển từ hoạt
động kinh doanh
1. Lợi nhuận trước thuế
2009
2010
2011
33,436,271,384
104,182,821,69
8
28,571,778,276
2. Điều chỉnh cho các
khoản
Khấu hao tài sản cố định
27,859,950,701
28,068,929,561
28,655,207,623
Các khoản dự phòng
-7,764,206,199
-115,200,000
480,000,000
Lãi, lỗ chênh lệch tỉ giá hối
đoái chưa thực hiện
Lãi, lỗ từ hoạt động đầu tư
-10,434,675
459,751,424
206,732,372
-2,490,918,402
-3,244,520,020
-1,927,037,763
Chi phí lãi vay
12,851,968,806
18,298,564,407
41,901,734,801
3. Lợi nhuận từ hoạt
động kinh doanh trước
thay đổi vốn lưu động
Tăng, giảm các khoản phải
thu
Tăng, giảm hàng tồn kho
68,882,631,615
147,650,347,07
0
97,888,415,309
11,628,649,553
-39,714,648,195
-6,505,999,382
77,142,769,815
-100,111,125,272
4,805,772,625
273,763,622,68
7
108,712,074,21
0
24,915,001
Tăng, giảm các khoản phải
trả
Tăng, giảm chi phí trả
trước
Tiền lãi vay đã trả
-36,133,786,899
22,098,432,942
-15,504,717,707
-18,069,663,595
-41,513,419,288
Tiền thu nhập doanh
nghiệp đã nộp
Tiền thu khác từ hoạt động
kinh doanh
Tiền chi khác cho hoạt
động kinh doanh
Lưu chuyển tiền thuần từ
hoạt động kinh doanh
II. Lưu chuyển tiền từ
hoạt động đầu tư
1. Tiền chi để mua sắm,
xây dựng tái sản cố định
và các tài sản dài hạn
-1,201,029,802
-1,719,649,894
-2,870,881,814
207,287,200
1,300,000
-1,712,892,575
-1,608,033,538
5,221,039,994
102,907,395,99
5
-78,280,994,428
-36,549,039,508
-19,677,581,617
-25,615,517,252
-27,981,615,052
-314,785,009
Trang:25