Tải bản đầy đủ (.doc) (92 trang)

PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN TRÀNG AN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.18 MB, 92 trang )

Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

CHUYÊN ĐỀ
PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG
KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG
KHOÁN TRÀNG AN

Sv: Nguyễn Thị Nhàn

1

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU

Một trong những đặc trưng của thị trường chứng khoán là hoạt
động theo nguyên tắc trung gian. Theo nguyên tắc này, các giao dịch trên
thị trường chứng khoán bắt buộc phải được thực hiện qua công ty chứng
khoán và nhân viên môi giới chứng khoán. Chỉ có như vậy mới đảm bảo
cho các chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực và hợp pháp,
bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, duy trì hoạt động lành mạnh của thị
trường.
Môi giới chứng khoán là hoạt động nghiệp vụ mang tính nhà nghề
cao, đòi hỏi đặc biệt về kỹ năng, nghiệp vụ, chất lượng, đạo đức nghề
nghiệp, đồng thời đòi hỏi một môi trường hỗ trợ tương đối phức tạp (về


tổ chức, pháp luật, thiết bị, văn hoá, xã hội). Mặt khác, môi giới chứng
khoán lại là một hoạt động rất gần gũi với những người dân bình thường,
bởi vì họ chính là công chúng đầu tư - những đối tượng chủ yếu tiếp
nhận các dịch vụ môi giới chứng khoán.
TTCK phát triển ở một trình độ cao là tiền đề để hoạt động môi
giới có thể đảm nhận tốt chức năng cung cấp các dịch vụ và sản phẩm tài
chính. Ngược lại, trong một môi trường Tài chính còn thô sơ, sự xuất
hiện và phát triển hoạt động môi giới Chứng khoán sẽ là nhân tố thúc
đẩy sự phát triển và hoàn thiện thị trường Chứng khoán nói riêng và thị
trường Tài chính nói chung trên thế giới.
Cùng với sự ra đời của thị trường Chứng khoán Việt Nam, các
Công ty Chứng khoán cũng được thành lập và đã đi vào hoạt động. Môi
giới Chứng khoán là một trong những hoạt động cơ bản mà hầu hết các
Công ty Chứng khoán đều tham gia, song mới chỉ ở mức độ rất thấp và
không có sự gắn kết giữa quyền lợi, trách nhiệm với nhau và với khách
Sv: Nguyễn Thị Nhàn

2

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

hàng. Nghiệp vụ môi giới của các Công ty Chứng khoán Việt Nam hiện
nay chưa thực sự đúng với nghiệp vụ môi giới vẫn thường thấy trên các
thị trường Chứng khoán của thế giới. Để thu hút được đông đảo các nhà
đầu tư và trở thành một dịch vụ có uy tín và chất lượng, hoạt động môi

giới sẽ phải thay đổi và phát triển hơn nữa.
Vì lý do đó, việc tìm hiểu những đặc trưng của nghề môi giới
Chứng khoán là rất cần thiết, không chỉ cho những ai mong muốn làm
giầu chính đáng thông qua việc tham gia cung cấp hay sử dụng loại hình
dịch vụ này mà còn cho tất cả những người muốn khám phá một lĩnh vực
mới mẻ và thú vị của ngành tài chính nói chung. Nhận thức được vấn đề
này, em đã chọn đề tài: "Phát triển nghiệp vụ môi giới Chứng khoán tại
Công ty Cổ phần Chứng khoán Tràng An" làm chuyên đề tốt nghiệp.
Kết cấu chuyên đề: Ngoài lời mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo,
chuyên đề gồm có ba phần chính:
Chương I: Công ty Chứng khoán và nghiệp vụ môi giới Chứng khoán.
Chương II: Thực trạng nghiệp vụ môi giới Chứng khoán tại Công ty Cổ
phần Chứng khoán Tràng An.
Chương III: Một số giải pháp phát triển nghiệp vụ môi giới Chứng khoán
tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Tràng An.
Em xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của
Cô giáo: th.s Lê Thị Hằng Ngân - đã giúp đỡ em về phương pháp cũng
như nội dung nghiên cứu đề tài.
Em xin được cảm ơn Công ty Chứng khoán Tràng An đã cho phép
em được thực tập tại công ty, để thu thập những số liệu thực tế giúp cho
bài viết có tính xác thực và thuyết phục hơn đối với người đọc.

Sv: Nguyễn Thị Nhàn

3

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính


Chuyên Đề Tốt Nghiệp

CHƯƠNG I
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG
KHOÁN
1.1 Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm về công ty chứng khoán
Theo Giáo trình kinh doanh chứng khoán của trường Học Viện Tài
Chính (Chuyên nghành kinh doanh chứng khoán) xuất bản năm 2010,
Công ty Chứng khoán là một tổ chức hoạt động kinh doanh thông qua
việc thực hiện một hoặc vài dịch vụ Chứng Khoán với mục đích tìm
kiếm lợi nhuận.
Một số nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu trên Thị Trường

Chứng

Khoán:
- Môi giới chứng khoán;
- Tự doanh chứng khoán;
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán;
- Tư vấn đầu tư chứng khoán.
1.1.2 Phân loại về công ty chứng khoán
Trải qua quá trình hàng trăm năm, tương thích với sự phát triển của
thị trường (số lượng và chủng loại khách hàng, số lượng và chủng loại
sản phẩm dịch vụ tài chính), các công ty môi giới chứng khoán được
hình thành và phát triển theo hướng rất đa dạng, cả về phương diện
Sv: Nguyễn Thị Nhàn

4


Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

quy mô, địa bàn hoạt động cũng như tính chất hoạt động. Công ty môi
giới có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau như:
- Phân loại theo hình thức tổ chức kinh doanh chứng khoán :
+ Công ty hợp danh: Là loại hình kinh doanh có từ hai chủ sở hữu
trở lên
Thành viên của công ty hợp danh bao gồm: Thành viên góp vốn và
thành viên hợp danh. Các thành viên hợp danh phải chịu toàn bộ trách
nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ đối với công ty.
Các thành viên góp vốn không tham gia điều hành công ty, họ chỉ phải
chịu trách nhiệm hữu hạn theo phần vốn góp vào công ty với những
khoản nợ của công ty.
Thông thường công ty hợp danh không được phép phát hành bất kì một
loại chứng khoán nào.
+ Công ty TNHH: Thành viên công ty chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và các tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp vào
doanh nghiệp.
Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phiếu.
- Công ty cổ phần: Là một pháp nhân độc lập với chủ sở hữu công ty
là các cổ đông. Cổ đông chịu trách nhiệm về nghĩa vụ nợ và các tài sản
khác của doanh nghiệp theo số vốn góp vào doanh nghiệp.
CTCP có quyền phát hành chứng khoán (trái phiếu và cổ phiếu) ra công
chúng theo quy định của pháp luật.

Do các ưu điểm, tính đa năng của công ty TNHH và CTCP so với
công ty hợp danh nên hiện nay hai hình thức CTCK này đuợc tổ chức
chủ yếu trên thế giới.

Sv: Nguyễn Thị Nhàn

5

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Ở Việt Nam, theo quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998
của UBCK, CTCK là công ty cổ phần, công ty TNHH hợp pháp tại Việt
Nam, được ủy ban chứng khoán cấp giấy phép thực hiện một hay một số
loại hình kinh doanh.
- Phân loại theo nghiệp vụ kinh doanh
Do CTCK có thể thực hiện kinh doanh một số lĩnh vực, nghiệp vụ
chứng khoán nhất định nên có những quan điểm chia công ty chứng
khoán thành các loại sau:
+ Công ty kinh doanh chứng khoán: Là CTCK chủ yếu thực hiện
nghiệp vụ tự doanh, có nghĩa là tự bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về kết
quả kinh doanh.
+

Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán: Là công ty chủ yếu


thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh lệch giá.
+

Công ty môi giới chứng khoán: Là công ty chỉ thực hiện chức

năng trung gian mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa
hồng.
+

Công ty chứng khoán phi tập trung: Là các công ty hoạt động

chủ yếu trên thị trường OTC và thường đóng vai trò là nhà tạo lập thị
trường.
+

Công ty trái phiếu: Là công ty chuyên kinh doanh các loại trái

phiếu.
1.1.3 Vai trò của công ty Chứng Khoán
Theo những đặc điểm trên, công ty Chưng Khoán có những vai trò
khác nhau đối với từng chủ thể trên thị trường chứng khoán. Những vai
trò này tạo ra sự gắn kết các chủ thể trên thị trường, giúp cho thị trường
hoạt động thông suốt và đem lại lợi ích cho các bên tham gia.
Sv: Nguyễn Thị Nhàn

6

Lớp: CQ45/17.02



Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

1.1.3.1 Đối với tổ chức phát hành
Tổ chức phát hành khi tham gia vào thị trường có mục tiêu chính là
huy động vốn thông qua việc phát hành chứng khoán. Các CTCK, do vậy
đóng vai trò là các đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, tạo ra cơ chế
huy động vốn phục vụ các nhà phát hành.
Nguyên tắc trung gian là nguyên tắc hoạt động quan trọng trên thị
trường chứng khoán. Theo nguyên tắc này những nhà đầu tư và những
nhà phát hành không được phép mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải
thông qua các trung gian mua bán. Công ty chứng khoán đảm nhận trung
gian cho cả nhà đầu tư và nhà phát hành. Công việc này đã tạo ra cơ chế
huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị trường chứng khoán.
1.1.3.2 Đối với nhà đầu tư
Công ty chứng khoán được phép thực hiện các nghiệp vụ như môi
giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư. Do vậy, công ty chứng
khoán đã giúp làm giảm các chi phí và thời gian giao dịch, từ đó nâng
cao hiệu quả đầu tư và tạo tính năng động trên thị trường chứng khoán.
Điều này có thể hơi ngược so với các loại hàng hóa thông thường, khi
mà hoạt động trung gian làm tăng chi phí cho người mua và người bán.
Chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt, đòi hỏi người kinh doanh
phải bỏ rất nhiều thời gian và chi phí tìm hiểu thông tin, nó cũng rủi ro
rất cao khi tham gia đầu tư. Công ty chứng khoán với các hoạt động
chuyên nghiệp, chuyên môn cao và uy tín sẽ giúp thị trường hoạt động
hiệu quả hơn.
1.1.3.3 Đối với thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán muốn phát triển thì không thể thiếu được vai
trò của các công ty chứng khoán.Bởi vì:

Sv: Nguyễn Thị Nhàn

7

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

- Công ty chứng khoán góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường
Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định. Tuy nhiên do người
mua và người bán không thể trực tiếp tham gia vào quá trình mua bán
nên để đưa ra mức giá cuối cùng họ phải thông qua các công ty chứng
khoán. Các công ty chứng khoán là thành viên của thị trường, họ cũng
góp phần tạo ra giá cả cho thị trường thông qua đấu giá. Trên thị trường
sơ cấp công ty chứng khoán cùng với nhà phát hành đưa ra mức giá đầu
tiên, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định
giá của công ty chứng khoán.
Các công ty chứng khoán còn có vai trò quan trọng hơn khi tham gia
điều tiết thị trường. Nó có thể giành một tỷ lệ giao dịch nhất định trong
quyền hạn để bình ổn thị trường. Hoạt động này giúp bảo vệ lợi ích của
các nhà đầu tư và của cả công ty chứng khoán.
- Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài khoản tài chính
Thị trường chứng khoán là nơi giúp tăng tính thanh khoản của các
tài sản tài chính. Tuy nhiên, CTCK mới là tổ chức chính thực hiện tốt
nhất vai trò này vì nó tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường. Trên thị
trường cấp 1 các công ty chứng khoán những huy động một lượng vốn
lớn đưa vào sản xuất kinh doanh thông qua bảo lãnh phát hành, chứng

khoán hóa, mà còn gián tiếp làm tăng tính thanh khoản của các chứng
khoán đầu tư khi chúng được mang giao dịch trên thị trường cấp 2. Điều
này làm giảm rủi ro và tạo tâm lý yên tâm cho nhà đầu tư. Trên thị
trường cấp 2, công ty chứng khoán trực tiếp tạo tính thanh khoản cho các
tài sản tài chính khi chuyển chứng khoán thành tiền mặt thông qua việc
giao dịch mua bán hàng ngày.
1.1.3.4 Đối với nhà đầu tư
Sv: Nguyễn Thị Nhàn

8

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Công ty chứng khoán được phép thực hiện các nghiệp vụ như môi
giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư. Do vậy, công ty chứng
khoán đã giúp làm giảm các chi phí và thời gian giao dịch, từ đó nâng
cao hiệu quả đầu tư và tạo tính năng động trên thị trường chứng khoán.
Điều này có thể hơi ngược so với các loại hàng hóa thông thường, khi
mà hoạt động trung gian làm tăng chi phí cho người mua và người bán.
Chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt, đòi hỏi người kinh doanh
phải bỏ rất nhiều thời gian và chi phí tìm hiểu thông tin, nó cũng rủi ro
rất cao khi tham gia đầu tư. Công ty chứng khoán với các hoạt động
chuyên nghiệp, chuyên môn cao và uy tín sẽ giúp thị trường hoạt động
hiệu quả hơn.
1.1.3.5 Đối với cơ quan quản lý thị trường

Thông tin trên thị trường chứng khoán sẽ được các công ty chứng
khoán cung cấp đến các cơ quan quản lý thị trường, để từ đó các cơ quan
này có thể điều hành thị trường và có những tác động kịp thời khi thị
trường có những dấu hiệu tiêu cực, thiếu sự minh bạch hay có sự thao
túng, lũng đoạn thị trường. Các công ty chứng khoán có thể hiện được
vai trò này bởi họ vừa là nhà bảo lãnh phát hành, nắm các thông tin của
các tổ chức phát hành, vừa là trung gian thực hiện các giao dịch trên thị
trường, nắm các thông tin về các nhà đầu tư. Một trong những yêu cầu
của thị trường là các thông tin cần phải được công khai hóa dưới sự giám
sát của các cơ quan quản lý thị trường .Việc cung cấp thông tin cho các
cơ quan này vừa là quy định của pháp luật, vừa là nguyên tắc nghề
nghiệp của các công ty chứng khoán.
Tóm lại: Công ty Chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp, có
vai trò vô cùng cần thiết trên thị trường chứng khoán, đối với các nhà
Sv: Nguyễn Thị Nhàn

9

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

đầu tư, đối với tổ chức phát hành và với các nhà quản lý thị trường. Vai
trò này thể hiện qua các nghiệp vụ cụ thể của các công ty chứng khoán
và là cơ sở để thị trường phát triển. Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển
của thị trường, các công ty Chứng khoán cũng ngày càng lớn mạnh và
phát huy những vai trò quan trọng của nó.

1.1.4 Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán.
1.4.1.1 Các nghiệp vụ chính
- Nghiệp vụ Môi giới Chứng khoán
Là hoạt động trung gian hay đại diện mua bán chứng khoán cho
khách hàng để hưởng hoa hồng. Như vậy, công ty chứng khoán sẽ giúp
khách hàng thực hiện các quyết định mua bán chứng khoán, khối lượng
giao dịch, giá cả mà họ đưa ra theo cơ chế giao dịch tại SGDCK hoặc thị
trường OTC mà chính khách hàng chịu trách nhiệm đối với các quyết
định của họ.
Thông qua hoạt động môi giới các công ty chứng khoán sẽ đem đến
cho khách hàng các sản phẩm, các dịch vụ tư vấn, và kết nối giữa nhà
đầu tư mua và nhà đầu tư bán chứng khoán, từ đó tạo ra sự thông suốt,
sôi động cho thị trường, cũng như việc đầu tư mang lại hiệu quả hơn, đặc
biệt đối với những thị trường mới nổi như Việt Nam khi mà các nhà đầu
tư còn thiếu kiến thức, bản lĩnh và kinh nghiệm đầu tư.
- Nghiệp vụ tự doanh
Là việc các công ty chứng khoán trực tiếp thực hiện các hoạt động
mua bán chứng khoán cho mình như một nhà đầu tư trên thị trường. Nó
cũng được thực hiện thông qua cơ chế giao dịch của SGDCK hay thị
trường OTC. Tại một số thị trường hoạt động theo cơ chế khớp giá
(quote driven) hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực
Sv: Nguyễn Thị Nhàn

10

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính


Chuyên Đề Tốt Nghiệp

hiện với chức năng tạo lập thị trường. Khi đó, công ty chứng khoán đóng
vai trò là nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số loại chứng khoán nhất
định và tiến hành mua bán để hưởng chênh lệch giá.
Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi cho chính công ty
chứng khoán. Nghiệp vụ này hoạt động song hành cũng với nghiệp vụ
môi giới, vì vậy trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi
ích giữa việc thực hiện giao dịch cho khách hàng và cho bản than công
ty. Do đó luật pháp các nước đều quy định phải tách biệt rõ ràng giữa
hoạt động môi giới và tự doanh, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của
khách hàng trước lệnh tự doanh.
Khác với hoạt động môi giới, công ty chứng khoán chỉ làm trung
gian thực hiện lệnh cho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động
tự doanh CTCK kinh doanh bằng chính nguồn vốn của công ty. Vì vậy
công ty chứng khoán đòi hỏi phải có nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân
viên có trình độ chuyên môn cao, khả năng phân tích và đưa ra các quyết
định đầu hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóng vai trò là nhà tạo lập thị
trường.
Sơ đồ 1: Quy trình hoạt động tự doanh tại công ty chứng khoán
Xây dựng chiến lược đầu tư

Khai thác, tìm kiếm cơ hội
đầu tư
Phân tích, đánh giá chất
lượng, cơ hội đầu tư

Sv: Nguyễn Thị Nhàn

11


Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Thực hiện đầu tư

Quản lý đầu tư và thu hồi
vốn
(Nguồn:Trung tâm đào tạo Ủy ban chứng khoán)
- Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Bảo lãnh phát hành là việc công ty chứng khoán giúp các tổ chức phát
hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, như định
giá chứng khoán, phân phối chứng khoán và bình ổn giá chứng khoán
trong thời gian đầu sau khi phát hành.
Để được tham gia vào nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, CTCK phải có
một số vốn tương đối lớn và phải đệ trình một phương án cùng với các
cam kết lên UBCK. Bởi đây là hoạt động mang tính rủi ro khá cao, vì thế
CTCK phải thực hiện một loạt các nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi quyết
định có hay không chấp nhận bảo lãnh.

Sv: Nguyễn Thị Nhàn

12

Lớp: CQ45/17.02



Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Sơ đồ 2:Quy trình hoạt động bảo lãnh phát hành
Công ty chứng khoán

Nhận đơn yêu cần bảo lãnh

Công ty
phát
hành

Ký hợp đồng tư vấn quản lý
quỹ

Đệ trình phương án bán

Lập nghiệp đoàn bảo lãnh phát hành,định

giá chứng khoán và ký hợp đồng bảo lãnh

UBN
N

Đơn xin bảo lãnh,nộp bản cáo
bạch

Phân phát bản cáo bạch và phiếu

đăng ký mua chứng khoán
Đăng ký phát hành chứng
khoán có hiệu lực

Phân phối chứng khoán trên cơ
sở phiếu đăng kí

Thanh toán
(Nguồn:Trung tâm đào tạo ủy ban chứng khoán)
Sv: Nguyễn Thị Nhàn

13

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Có bốn phương pháp bảo lãnh phát hành chứng khoán:
+ Bảo lãnh cam kết chắc chắn: là hình thức tổ chức bảo lãnh cam kết
mua toàn bộ số chứng khoán chưa phân phối hết của tổ chức phát hành.
+ Bảo lãnh cam kết tối đa: là việc tổ chức bảo lãnh cam kết phân phối
tối đa số chứng khoán của tổ chức phát hành mà không cam kết có phân
phối hết số chứng khoán đó hay không
+ Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa: là phương thức bảo
lãnh trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và
phương thức bảo lãnh bán tất cả hoặc không bán gì. Theo phương thức
này, tổ chức phát hành chỉ thị cho tổ chức bảo lãnh phát hành phải bán

tối thiểu một tỷ lệ nhất định chứng khoán phát hành. Nếu lượng chứng
khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành
sẽ bị hủy bỏ
+ Bảo lãnh cam kết tất cả hoặc không gì cả: nếu số chứng khoán được
phân phối chưa đạt tới giới hạn tối thiểu đã được xác định trước thì toàn
bộ số chứng khoán đã hoặc chưa phân phối đều bị huỷ bỏ
Ở Việt Nam, theo qui định tại Thông tư 01/1998/TT-UBCK ngày
13/10/1998 của UBCK Nhà nước hướng dẫn Nghị định 48/1998/NĐ-CP
ngày 11/7/1998 về phát hành cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng thì bảo
lãnh phát hành được thực hiện theo một trong hai phương thức sau
+

Mua toàn bộ số lượng cổ phiếu hoặc trái phiếu được phép phát

hành để bán lại. Đây chính là phương thức cam kết chắc chắn vì tổ chức
bảo lãnh phát hành cam kết mua toàn bộ lượng cổ phiếu hoặc trái phiếu
của đợt phát hành.

Sv: Nguyễn Thị Nhàn

14

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính
+

Chuyên Đề Tốt Nghiệp


Mua số cổ phiếu hoặc trái phiếu còn lại của đợt phát hành chưa

được phân phối hết Đây thực chất cũng là một dạng của phương thức
cam kết chắc chắn, nhưng tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết mua phần
chứng khoán còn lại của đợt phát hành chưa được phân phối hết.
Thu nhập của CTCK từ hoạt động này là phí bảo lãnh hoặc một tỷ
lệ hoa hồng nhất định trên số tiền thu được từ đợt phát hành. Mức phí
này tuỳ thuộc vào tính chất của đợt phát hành (số lượng lớn hay nhỏ,
thuận lợi hay khó khăn, phát hành lần đầu hay phân phối sơ cấp,...)
1.4.1.2 Nghiệp vụ phụ trợ
- Nghiệp vụ tín dụng: Ở một số nước, CTCK có thể cho khách hàng
của mình vay để họ mua chứng khoán hoặc cho phép khách hàng vay
tiền để thực hiện nghiệp vụ mua ký quỹ. Khi khách hàng không trả được
nợ, công ty có quyền bán các chứng khoán đó để thu hồi khoản vay.
Giao dịch mua bán với số tiền cho vay này được thực hiện trên tài khoản
bảo chứng. Quy trình thực hiện mua - bán không khác các giao dịch công
ty thực hiện cho khách hàng trên tài khoản giao dịch.
Rủi ro sẽ xảy ra đối với CTCK nếu chứng khoán được mua từ tiền vay
giảm giá.Vì thế đòi hỏi CTCK khi mở tài khoản bảo chứng cho khách
hàng phải đòi hỏi một tỷ lệ ký quỹ nhất định. Ngoài ra, công ty cũng cần
đưa chiến lược quản lý khoản vay, tránh tập trung vào một loại khách
hàng để đảm bảo thu hồi vốn.
- Lưu ký chứng khoán: Là việc bảo quản, lưu giữ chứng khoán của
khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán. Qua việc thực
hiện nghiệp vụ này, CTCK có thể thu được các khoản phí lưu kí chứng
khoán, phí gửi, phí chuyển nhượng và phí rút chứng khoán.

Sv: Nguyễn Thị Nhàn

15


Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

- Quản lý thu nhập của khách hàng: Xuất phát từ việc lưu ký chứng
khoán cho khách hàng, các CTCK sẽ theo dõi tình hình cổ tức, thu lãi
của chứng khoán và đứng ra chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài
khoản của khách hàng.
- Quản lý quỹ: Ở một vài TTCK, pháp luật của TTCK còn cho phép
các CTCK được thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư. Theo đó, CTCK
sẽ cử đại diện của mình để quản lý quỹ và sử dụng vốn cùng tài sản của
quỹ đầu tư để đầu tư vào chứng khoán. Công ty sẽ thu được phí dịch vụ
quản lý quỹ đầu tư.
Ngoài ra tuỳ theo sự phát triển của TTCK mà có nhiều dịch vụ khác
để cung cấp cho nhà đầu tư nhằm đáp ứng cao nhất các tiện ích, đồng
thời nâng cao chất lượng cho các dịch vụ chính.
1.2 Hoạt động môi giới tại công ty Chứng Khoán
1.2.1 Khái niệm môi giới Chứng Khoán
Theo luật chứng khoán Việt Nam ban hành ngày 29/6/ 2006 “Môi
giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện
mua, bán chứng khoán cho khách hàng”.
Thị trường chứng khoán là loại thị trường đặc biệt, một đỉnh cao của
nền kinh tế thị trường ở đó thực hiện trao đổi, mua bán các loại chứng
khoán,”tư bản giả”. Đây là những hàng hóa khác với những hàng hóa
thông thường. Những hàng hóa này không thể đánh giá chất lượng bằng
việc cân, đo, đong đếm … mà để đánh giá nó đòi hỏi những người tham

gia thị trường phải có khả năng phân tích, nhận định tình hình và đưa ra
những xu hướng vận động về giá cả cũng như nhu cầu của hàng hóa trên
thị trường. Từ đó có những quyết định đầu tư đúng đắn và tìm được đối
tác trên thị trường. Với những yêu cầu cao khi kinh doanh hàng hóa này
Sv: Nguyễn Thị Nhàn

16

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

như vậy nên trong qua trình phát triển không ngừng của thị trường
chứng khoán, môi giới chứng khoán đã được hình thành và nhanh chóng
trở thành một nghiệp vụ đặc trưng, cơ bản và không thể thiếu của thị
trường chứng khoán.
1.2.2 Vai trò của hoạt động môi giới
1.2.2.1 Giảm chi phí giao dịch
Do lợi thế của việc chuyên môn hóa, môi giới chứng khoán giúp giảm
thiểu chi phí giao dịch. Trên thị trường hàng hóa để tiến hành giao dịch,
người mua và người bán phải có cơ hội để gặp nhau, thẩm định chất
lượng hàng hóa và thỏa thuận giá cả. Đối với chứng khoán, đây cũng là
một loại hàng hóa nên cũng có những yêu cầu trên để giao dịch, nhưng
do là một hàng hóa đặc biệt trên thị trường bậc cao nên để thẩm định
chất lượng và định giá hàng hóa, người ta cần một khoản chi phí khá lớn
và tiêu tốn nhiều thời gian cho việc thu thập, xử lý thông tin, phân tích.
Những chi phí này chỉ có các công ty chứng khoán mới có điều kiện để

trang trải do được hưởng lợi thế quy mô. Ngoài ra, tổ chức trung gian
này với các hoạt động chuyên nghiệp của mình sẽ làm cầu nối cho bên
mua và bên bán gặp nhau làm giảm đáng kể chi phí tìm kiếm đối tác, chi
phí soạn thảo và chi phí giám sát thực thi hợp đồng. Trong trường hợp
này, môi giới giúp giảm đáng kể chi phí giao dịch với từng giao dịch
riêng lẻ, cũng như đối với tổng chi phí giao dịch trên thị trường.
1.2.2.2 Phát triển các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường
Khi thực hiện vai trò trung gian giữa người mua và người bán chứng
khoán, công ty chứng khoán mà trực tiếp là nhân viên môi giới chứng
khoán có thể nắm bắt được nhu cầu của khách hàng và từ đó có phản ánh
với người cung ứng hàng hóa dịch vụ. Hoạt động môi giới có thể coi là
Sv: Nguyễn Thị Nhàn

17

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

một trong nhưng nguồn cung ứng các ý tưởng thiết kế sản phẩm và dịch
vụ theo yêu cầu của khách hàng. Dần dần sẽ cải thiện được tính đơn điệu
của hàng hóa, giúp đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa cơ cấu khách
hàng, thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, trong xã
hội cho đầu tư phát triển.
Trong thị trường mới nổi, hàng hoá và dịch vụ còn nghèo nàn, đơn
điệu thì hoạt động môi giới chứng khoán có vai trò quan trọng cải thiện
môi trường này. Môi trường đầu tư đa dạng về sản phẩm, với chi phí

giao dịch thấp và có lợi nhuận thoả đáng sẽ thu hút được nguồn vốn nhàn
rỗi cho tăng trưởng.

Sv: Nguyễn Thị Nhàn

18

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

1.2.2.3 Cải thiện môi trường kinh doanh
Góp phần hình thành nền văn hóa đầu tư: Hoạt động của công ty
chứng khoán và nhân viên môi giới chứng khoán khi đã thâm nhập sâu
rộng vào các doanh nghiệp và nhà đầu tư sẽ tạo nên một nền văn hóa đầu
tư. Đăc trưng chủ yếu của nền văn hóa đầu tư này là:
- Ý thức và thói quen đầu tư trong cộng đồng. Trong những nền kinh
tế mà môi trường đầu tư còn thiếu linh hoạt, sơ khai, như Việt Nam, thu
nhập được tạo ra từ các hộ gia đình sau khi trang trải cho các nhu cầu cơ
bản thường được tiêu dùng vào các hàng hóa phi sản xuất với tỷ lệ tương
đối cao, trong khi đó vốn cần thiết đầu tư tăng trưởng kinh tế lại thiếu
trầm trọng. Nhân viên môi giới với tư cách là nhà trung gian sẽ tiếp cận
tới từng khách hàng, cung cấp cho họ các sản phẩm, dịch vụ tài chính
phù hợp, giải thích các lợi ích đem lại, và sau khi khách hàng chấp nhận
mở tài khoản, nhân viên môi giới tiếp tục đóng vai trò là người chăm sóc
khách hàng theo hướng có lợi nhất cho họ. Khác với đầu tư vào hàng hóa
thông thường khác, khi mà hoạt động môi giới thường không được nhìn

nhận tích cực, thì với thị trường chứng khoán, môi giới lại được tin
tưởng và đề cao, bởi lợi ích của nhà đầu tư gắn liền với lợi ích của nhà
môi giới. Từ niềm tin và sự tiếp cận đó, dần dần tạo thành thói quen đầu
tư vào tài sản tài chính của công chúng. Nguồn tiền nhàn rỗi sẽ được sử
dụng hợp lý và tránh lãng phí, nâng cao hiệu quả nền kinh tế. Hơn nữa,
khi tham gia thị trường, nhà đầu tư tự hình thành cho mình các kỹ năng
dự đoán, lựa chọn và kết hợp các sản phẩm để giảm thiểu rủi ro và tối đa
hóa lợi nhuận. Khi trở thành nếp suy nghĩ và nối hành xử chung của cả
cộng đồng, nó sẽ tạo ra một khía cạnh quan trọng của nền văn hóa đầu

Sv: Nguyễn Thị Nhàn

19

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

tư, yếu tố không thể thiếu được trong một nền kinh tế thị trường phát
triển.
- Thói quen và kỹ năng xử dụng dịch vụ tư vấn, mà chủ yếu là sử
dụng dịch vụ tư vấn. Cùng với thời gian, nhà đầu tư sẽ tin tưởng và ủy
thác cho nhà môi giới chứng khoán chăm sóc danh mục đầu tư của mình.
Nhà đầu tư ý thức được lợi ích mà dịch vụ này mang lại và sẵn sang chi
trả để hưởng dịch vụ, được cho ý kiến đầu tư tin cậy, hợp lý và giúp họ
quản lý tài sản để có thời gian cho những việc khác mà vẫn có được lợi
ích; hay đơn giản chỉ là chia sẻ những băn khoăn trong lĩnh vực tài

chính.
- Môi trường pháp lý, sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật: Chính hoạt
đông môi giới chứng khoán là một yếu tố quan trọng góp phần hoàn
thiện môi trường pháp lý kinh doanh chứng khoán, bởi lĩnh vực này là
nơi phát sinh và bộc lộ rõ những xung đột lợi ích giữa các đối tượng
tham gia thị trường. Nếu môi trường pháp lý không đủ chặt chẽ hiệu lực
thì những mâu thuẫn phát sinh, phát triển sẽ dẫn đến những đổ vỡ trên
thị trường. Hoạt động môi giới sẽ đưa pháp luật đến với nhà đầu tư, giúp
cho họ luôn ý thức và tìm hiểu tuẩn thủ pháp luật trong quá trình theo
đuổi lợi ích của mình; đồng thời cũng phản ánh những bất cập còn tồn tại
trong khuôn khổ pháp lý tới các nhà làm luật để kịp thời bổ sung, chỉnh
sửa. Đó là một đặc trưng quan trọng của nền văn hóa đầu tư.
1.2.3 Chức năng của môi giới chứng khoán
Với tư cách là nhà trung gian cung cấp cơ sở vật chất và các công cụ
đầu tư hợp pháp cho NĐT tham gia kinh doanh trên thị trường chứng
khoán. Môi giới chứng khoán có hai chứng năng chính:
- Một là tư vấn và cung cấp thông tin cho khách hàng
Sv: Nguyễn Thị Nhàn

20

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính
-

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Hai là cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính, giúp khách


hàng thực hiện giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích của khách hàng.
Cụ thể như sau:
- Chức năng Tư vấn và cung cấp thông tin cho khách hàng
Qua nhân viên môi giới, công ty chứng khoán cung cấp cho khách
hàng các báo cáo nghiên cứu và những khuyến nghị đầu tư. Các nguồn
nghiên cứu này chủ yếu do bộ phận nghiên cứu trong công ty cung cấp.
Để có thể thu thập và xử lý được các thông tin này trên một thị trường
mà các sản phẩm đa dạng đòi hỏi những khoản đầu tư rất lớn cho hệ
thống thiết bị và nhân lực mà chỉ có công ty mới có đủ năng lực tài chính
để trang trải.
Nhà phân tích nghiên cứu các thông tin trên 3 lĩnh vực chính:
+ Diễn biến tổng thể của thị trường;
+ Động thái của từng khu vực riêng biệt trong thị trường
đó;
+ Hoạt động của từng công ty trong khu vực.
Hàng tuần, bộ phận phân tích của công ty cung cấp cho nhà môi
nhưng thông tin nghiên cứu khổng lồ đã được tổng hợp và phân tích
cùng với lời khuyến nghị về việc mua bán chứng khoán. Nhân viên môi
giới sẽ cung cấp các thông tin này cho khách hàng theo yêu cầu và tham
số cụ thể tương ứng với từng khách hàng và từng sản phẩm. Ở thị trường
phát triển người môi giới là người đầu tiên được tiếp cận các thông tin từ
mọi nguồn liên quan đến chứng khoán mà khách hàng nắm giữ. Không
có người môi giới nhà đầu tư hoàn toàn phụ thuộc vào các thông tin qua
báo cáo tài chính, các thông tin được tung trên các mạng xã hội mà
không được phân tích cụ thể về các loại chứng khoán.Hơn nữa,các thông
Sv: Nguyễn Thị Nhàn

21


Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

tin này thường đến rất chậm và có thể thiếu chính xác, đặc biệt các thị
trường mới nổi khi mà các thông tin cung cấp chưa thực sự hoàn hảo.
TTCK càng phát triển, hàng hóa trên thị trường các phong phú, đa
dạng, các trung gian tài chính đem đến các sản phẩm, dịch vụ mới, các
công cụ phái sinh có chất lượng cao hơn so với sản phẩm thông thường,
thì vai trò của người môi giới ngày càng trở nên quan trọng. Ngoài việc
cung cấp các dịch vụ đơn giản, nhà môi giới còn giúp khách hàng cập
nhật các chứng khoán mới, đơn vị tín thác của các quỹ tín thác…và quan
trọng hơn cả là giúp nhà đầu tư tạo được các danh mục đầu tư nhằm
giảm thiểu rủi ro, từ đó giúp việc đầu tư trở nên hiệu quả hơn.
Tuy môi giới chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán được chia
lam hai nghiệp vụ riêng biệt nhưng để phát huy thực sự vai trò của hoạt
động môi giới thì hàm lượng tư vấn đầu tư khá cao. Nhà đầu tư mong
chờ ở nhà môi giới những tư vấn quan trọng như:
+ Cho biết thời điểm nên mua;
+ Cho biết thời điểm nên bán;
+ Cho biết thông tin mới nhât về những diễn
biến cụ thể của thị trường: giá cả, các nhân tố tác động trong ngắn hạn
và dài hạn…
Khách hàng tìm đến nhà môi giới không chỉ để đáp ứng các mục tiêu
tài chính của mình, mà đôi khi còn tìm đến nhà môi giới như một người
bạn tin cẩn, giúp họ giải quyết các vấn đề tâm lý liên quan đến tài chính
mà họ đang phải đối mặt. Điều họ mong muốn mỗi khi gọi điện cho nhà

môi giới không chỉ để tim kiếm những giải pháp mà còn mong muốn
chia sẻ và giải tỏa tâm lý căng thẳng. Do vậy chức năng này của nhà môi

Sv: Nguyễn Thị Nhàn

22

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

giới là rất quan trọng, nhờ vậy mà nghề môi giới đang ngày càng phát
triển và đòi hỏi những kỹ năng chuyên nghiệp hơn.
- Chức năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính
Người môi giới nhận đơn đặt hàng của khách hàng và thực hiện giao
dịch cho họ. Quy trình này bắt đầu từ việc mở tài khoản tại công ty, tiến
hành giao dịch theo yêu cầu của khách hàng, xác nhận giao dịch, thanh
toán và chuyển giao dịch cho khách hàng. Sau khi giao dịch được thực
hiện, người môi giới vẫn tiếp tục chăm sóc tài khoản của khách hàng,
đưa ra những khuyến cáo và cung cấp thông tin, theo dõi để nắm bắt
những thay đổi có thể dẫn tới những thay đổi trong tình trạng tài chính
và thái độ chấp nhận rủi ro của khách hàng, từ đó đề nghị những giải
pháp hay chiến lược mới cho phù hợp nhất.
Công ty Chứng Khoán là nơi đảm bảo các yêu cầu vật chất –bao gồm
địa điểm, hệ thống máy móc thiết bị được kết nối với sở giao dịch, nhân
lực và pháp lý để cho quá trình này được phát triển nhanh chóng, chính
xác, hiệu quả, đồng thời khi xảy ra tranh chấp thì có thể giải quyết một

cách thỏa đáng.
Hai chức năng này được triển khai theo nhiều cấp độ và xu hướng
phát triển của thị trường. Chẳng hạn, ở một thị trường sơ khai, do sản
phẩm còn đơn giản nên đối với một số người đầu tư, chức năng tư vấn
dường như là chưa cần thiết, song do mặt bằng dân trí còn thấp nên hoạt
động tiếp thị, tư vấn đầu tư, giới thiệu sản phẩm trên một diện rộng lại
càng quan trọng. Ngược lại, ở những thị trường phát triển hơn, để đáp
ứng nhu cầu đa dạng của nhà đầu tư, các công ty được chuyên môn hoá
theo loại hình "dịch vụ đầy đủ" hoặc "công ty giảm giá".
1.2.4 Quy trình hoạt động môi giới chứng khoán
Sv: Nguyễn Thị Nhàn

23

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Công ty chứng khoán có trách nhiệm giúp lệnh mua bán của khách
hàng gặp nhau, cung cấp thông tin về chứng khoán cho khách hàng, tư
vấn đầu tư giúp khách hàng đưa ra được những quyết định đầu tư hợp lý,
và từ các hoạt động đó công ty có được thu nhập từ các khoản phí.
Quy trình hoạt động môi giới được hiểu là các bước mà bộ phận môi
giới và nhân viên môi giới thực hiện để hoạt động môi giới cho khách
hàng.
Mỗi CTCK có quy trình môi giới riêng sao cho phù hợp với đặc điểm
của công ty. Tuy nhiên về cơ bản, quy trình môi giới của các CTCK có

những đặc điểm chung nhất định, bao gồm:
- Mở tài khoản cho khách hàng
Khách hàng khi muốn giao dịch thông qua một CTCK sẽ phải mở tài
khoản tại công ty đó. Công ty hướng dẫn thủ tục mở tài khoản, điền
thông tin vào "giấy mở tài khoản" các thông tin theo quy định của luật
và công ty yêu cầu (nếu cần). Bộ phận quản lý khách hàng của công ty sẽ
kiểm tra tính chính xác của thông tin, đồng thời trong quá trình hoạt
động của tài khoản, những thay đổi về thông tin cũng cần được cập nhật
và bổ sung. Việc kiểm soát các thông tin khách hàng rất cần thiết do
CTCK đang quản lý tài sản của khách hàng, những sơ suất có thể dẫn tới
kiện tụng, tranh chấp đáng tiếc, bị mất uy tín.
Hiện nay, tài khoản giao dịch có thể chia thành nhiều loại khác nhau
như:
+ Tài khoản tiền mặt( cash account): Đối với tài khoản này khi các
khoản thanh toán phát sinh sẽ được thanh toán bằng tiền mặt và thường
các CTCK yêu cầu khi mua chứng khoán khách hàng phải phải thanh
toán không chậm hơn ngày thanh toán (thường trong vòng T+3 ngày làm
Sv: Nguyễn Thị Nhàn

24

Lớp: CQ45/17.02


Trường Học Viện Tài Chính

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

việc kể từ khi diễn ra giao dịch). Do đó, khi thực hiện nghiệp vụ mua
chứng khoán, khách hàng phải có tiền đầy đủ trên tài khoản.

+ Tài khoản lưu ký: (Margin account) là tài khoản mà qua đó
khách hàng có thể vay tiền công ty để mua chứng khoán. Để mở được tài
khoản này, khách hàng phải ký quỹ với một tỷ lệ nhất định. Với giao
dịch ký quỹ, CTCK không chỉ hưởng hoa hồng của việc mua bán hộ
chứng khoán mà còn thu được lãi trên số tiền cho khách hàng vay.
+ Tài khoản tuỳ nghi: (Diseretionary account) là tài khoản mà
khách hàng cho phép CTCK mua và bán chứng khoán tuỳ ý lựa chọn với
giá cả và thời điểm mà công ty cho là hợp lý. CTCK không bị bắt buộc
phải hỏi ý kiến khách hàng mà phân tích dựa trên sự hiểu biết về khách
hàng này, tình hình thị trường, cũng như một số vấn đề khác để giao
dịch. Tuy nhiên, trước khi cho phép CTCK quyền tự quyết thì khách
hàng phải cân nhắc kỹ lưỡng. Việc giao quyền này được ghi thành văn
bản có chữ ký của chủ tài khoản và được lưu giữ tại công ty. Trong văn
bản nêu rõ quyền hạn của công ty, quy định rõ loại chứng khoán nào mà
CTCK được phép mua, bán...Tất cả quy định trên nhằm bảo vệ quyền lợi
của khách hàng và CTCK, cũng như tranh chấp có thể xảy ra về sau.
+ Tài khoản liên kết: Loại tài khoản này do hai người đứng tên và
mọi quyết định liên quan đến tài khoản phải do cả hai người cùng chấp
thuận
+ Tài khoản chung: Là loại do nhiều bên thành viên cùng đứng tên.
Để mở tài khoản này, CTCK cần biết được tên, địa chỉ và tất cả chữ ký
của thành viên hợp pháp trên tài khoản. Đồng thời cần có một văn bản
xác nhận sự thoả thuận giữa các thành viên về sự liên hợp hoạt động.

Sv: Nguyễn Thị Nhàn

25

Lớp: CQ45/17.02



×