Tải bản đầy đủ (.doc) (80 trang)

Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tây hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (476.63 KB, 80 trang )

Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

DANH MỤC VIẾT TẮT
NHNo&PTNT
NHTM
DN
DNVVN
DNNQD
SXKD
TCTD
NH
NHNN
DNNN
DNTN
Quỹ BLTD
CBTD
TCKT

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ngân hàng thương mại
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Sản xuất kinh doanh
Tổ chức tín dụng
Ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước
Doanh nghiệp Nhà nước
Doanh nghiệp tư nhân


Quỹ bảo lãnh tín dụng
Cán bộ tín dụng
Tổ chức kinh tế

LỜI NÓI ĐẦU
Kể từ khi xóa bỏ chế độ bao cấp bước sang nền kinh tế thị trường năm 1986,
nhiều doanh nghiệp tư nhân đã bắt đầu xuất hiện và hoạt động trong nhiều ngành công
nghiệp khác nhau. Việc ban hành Luật doanh nghiệp vào năm 2000 đã tạo điều kiện
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

thuận lợi cho nhiều nhà doanh nghiệp lập các công ty mới về cả số lượng và chất
lượng. Số lượng doanh nghiệp tư nhân, và đặc biệt là các DNVVN đã tăng mạnh. Đối
với một nước đang phát triển như Việt Nam thì sự tồn tại của loại hình DNVVN đóng
một vai trò to lớn và có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh các
tập đoàn kinh tế, các tổng công ty, các doanh nghiệp lớn thì các DNVVN là sự bổ sung
cần thiết cho nền kinh tế. Nó tạo động lực phát triển toàn diện và sự tăng trưởng mạnh
mẽ của nền kinh tế, góp phần tận dụng tối đa mọi nguồn lực vào việc tạo ra của cải
cho toàn xã hội. Nhưng để thúc đẩy phát triển DNVVN ở nước ta đòi hỏi phải giải
quyết hàng loạt khó khăn mà các doanh nghiệp hiện nay đang gặp phải, đặc biệt đó là
việc huy động vốn dùng cho SXKD và đổi mới công nghệ.
Xuất phát từ thực trạng trên, sau một thời gian thực tập tại NHNo&PTNT Chi
nhánh Tây Hà Nội được sự giúp đỡ của ban lãnh đạo, của cán bộ nhân viên phòng tín
dụng, đồng thời có sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS-TS. ĐINH XUÂN HẠNG
em đã chọn đề tài: “ Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay các doanh nghiệp vừa và

nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Hà Nội ”.
Luận văn được chia làm 3 phần:
Ch¬ng 1 : Lý luận chung về hiệu quả cho vay đối với DNVVN.
Ch¬ng 2 : Thực trạng hiệu quả cho vay đối với DNVVN tại NHNo&PTNT Tây
Hà Nội.
Ch¬ng 3 : Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay đối với DNVVN tại
NHNo&PTNT Tây Hà Nội.
Do trình độ lí luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên luận văn thầy cô
giáo và các anh chị trong ngân hàng để luận văn được hoàn thiện và đầy đủ hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên

SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

Nguyễn Thị Minh Huệ

CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ

SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04



Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh
tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo
quy định của Pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất phong phú và đa dạng,
song chúng ta chỉ đi sâu vào nghiên cứu DNVVN. Nhiều chuyên gia kinh tế và pháp
luật của Việt Nam cho rằng khái niệm DNVVN và sau đó khái niệm doanh nghiệp nhỏ
được du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam. Vấn đề tiêu chí để phân loại doanh nghiệp
vừa, nhỏ và cực nhỏ là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển của khu
vực này trong nhiều năm qua. Định nghĩa về DNVVN, doanh nghiệp nhỏ rõ ràng phải
dựa trước tiên vào quy mô doanh nghiệp. Thông thường đó là tiêu chí về số nhân
công, vốn đăng kí, doanh thu...Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh
tế của một nước ( trình độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng lên ), tính
chất ngành nghề, vùng lãnh thổ. Các tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, từng
chương trình phát triển khác nhau.
Ở Việt Nam để giải quyết vấn đề định nghĩa này một phần nào. Công văn số
681 /CP-KTN ban hành ngày 20-6-1998 theo đó DNVVN là doanh nghiệp có số công
nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD
- theo tỷ giá giữa VND và USD tại thời điểm ban hành công văn). Tiêu chí này đặt ra
nhằm xây dựng một bức tranh chung về các DNVVN ở Việt Nam phục vụ cho việc
hoạch định chính sách. Trên thực tế tiêu chí này không cho phép phân biệt các doanh
nghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ. Vì vậy, tiếp theo đó Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đưa ra
chính thức định nghĩa DNVVN như sau: “ DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc
lập, có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người ”.

Cùng với sự phát triển của đất nước, các DNVVN nước ta không ngừng lớn
mạnh. Theo đó, ngày 30 tháng 06 năm 2009 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, quy định:
“ DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinh doanh theo quy định pháp luật, được
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn ( tổng nguồn vốn
tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp)
hoặc số lao động bình quân năm ( tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. Cụ thể như
sau:
Quy mô

Khu vực

Doanh
nghiệp
siêu nhỏ
Số lao
động

Doanh nghiệp nhỏ
Tổng
nguồn vốn

Số lao

động

Doanh nghiệp vừa
Tổng nguồn
vốn

Số lao
động

I- Nông, lâm nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ
trên
thủy sản
trở xuống trở xuống người đến tỷ đồng đến 200 người
200 người 100 tỷ đồng đến
300
người
II- Công nghiệp và xây 10 người 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 Từ
trên
dựng
trở xuồng trở xuống người đến tỷ đồng đến 200 người
200 người 100 tỷ đồng đến
300
người
III- Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 10 Từ trên 50
dịch vụ
trở xuồng trở xuống người đến tỷ đồng đến người đến
50 người
50 tỷ đồng
100 người
Tính đến nay, DNVVN chiếm 95% trong tổng số doanh nghiệp có đăng kí. Riêng

trong năm 2009 đã có trên 76.5 nghìn doanh nghiệp mới thành lập, trong đó đại bộ
phận là DNVVN. Theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có trên 500.000 doanh nghiệp
nhỏ và vừa , chiếm tới 98% số lượng doanh nghiệp với số vốn đăng ký lên gần
2,313,857 tỷ đồng tương đương 121 tỉ USD) đóng góp trên 40% tổng GDP của cả nước.
1.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ
• DNVVN có vốn đầu tư ban đầu tư ban đầu không lớn, khả năng thu hồi vốn
nhanh, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp
Vốn đầu tư ban đầu của một DNVVN là rất thấp. Theo NĐ 90/CP, vốn đăng kí
DNVVN là dưới 10 tỷ đồng. Với quy mô vừa và nhỏ thì nhu cầu nhà xưởng không
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

phải lớn, do đó chi phí ban đầu cũng không cao. Khả năng thu hồi vốn nhanh do chu
kỳ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và và nhỏ ngắn. Một số DNVVN
thành lập mang tính gia đình, bạn bè nên khi khó khăn công nhân và chủ lao động đều
có tinh thần nỗ lực; lao động được tận dụng để thay thế vốn bằng tiền vào việc mua
sắm máy móc thiết bị, DNVVN giảm được chi phí có định nhưng vẫn có thể đạt hiệu
quả kinh tế cao.
• DNVVN năng động, nhạy bén và dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường
DNVVN thường có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên có
phản ứng khá nhanh nhạy với sự biến đổi của thị trường. Do quy mô vừa và nhỏ, mô
hình tổ chức quản lý sản xuất giản đơn nên DNVVN dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng
những yêu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa. Với cơ sở vật chất kĩ
thuật không lớn, DNVVN đổi mới linh hoạt hơn, dễ dàng chuyển đổi sản xuất hay thu
hẹp quy mô để thích nghi với sự thay đổi của nền kinh tế. Vì vây mà ít bị ảnh hưởng

trước những biến động lớn trên thị trường, phục hồi dễ dàng hơn so với doanh nghiệp lớn.
• DNVVN có phạm vi hoạt động rộng khắp, lĩnh vưc hoạt động rất phong phú
và đa dạng, tạo điều kiện khai thác tối ưu tiềm lực trong nước
DNVVN hoạt động kinh doanh ở mọi ngành nghề, phát triển rộng rãi ở mọi vùng
lãnh thổ, kể cả nông thôn và miền núi, cung cấp hàng hóa dịch vụ cho dân cư địa
phương và các vùng phụ cận, góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng
trong cả nước. Các DNVVN rất có lợi thế trong việc tuyển dụng lao động địa phương
và tận dụng các nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất sẵn có, phát huy hết lợi thế vùng
kinh tế cho sản xuất kinh doanh.
• Khả năng tài chính của DNVVN hạn chế
Với ưu thế được tạo lập dễ dàng với một lượng vốn ít, DNVVN gặp phải một hạn
chế là năng lực tài chính thấp. Từ đó dẫn đến một loạt khó khăn cho DNVVN trong
SXKD.

SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

Vốn chủ sở hữu ít nên khả năng vay vốn của DNVVN cũng bị hạn chế. Các
DNVVN thường thiếu tài sản đảm bảo các khoản vay. Các ngân hàng e ngại khi cho
các doanh nghiệp này vay vốn vì khả năng gặp rủi ro cao. Khả năng tài chính hạn chế,
quy mô kinh doanh không lớn, các DNVVN cũng rất khó khăn để huy động vốn trên
thị trường. Chính vì vây, phần lớn các DNVVN luôn trong tình trạng thiếu vốn.
• Công nghệ sản xuất dịch vụ của các DNVVN hiện nay còn lạc hậu
Số ít các doanh nghiệp được trang bị công nghệ hiện đại là các doanh nghiệp liên
doanh với nước ngoài, còn lại hầu hết trình độ công nghệ DNVVN ở Việt Nam lạc hậu

từ 20- 50 năm so với các nước trong khu vực. Trong khi đó, các DNVVN lại rất khó
tiếp cận được với nguồn tín dụng trung và dài hạn để đổi mới công nghệ. Máy móc cũ
kỹ, lạc hậu làm cho năng suất lao động giảm, lãng phí nhiều nguyên liệu đầu vào, khả
năng cạnh tranh trên thị trường thấp, doanh thu theo đó cũng hạn chế, lợi nhuận không
được đảm bảo.
• DNVVN thiếu thông tin, trình độ quản lý bị hạn chế, ít có khả năng thu hút
được nhà quản lý và người lao động giỏi, năng lực cạnh tranh thấp
Trong thời đại ngày nay, thông tin cũng là một yếu tố đầu vào hết sức quan trọng
trong hoạt động SXKD. Với khả năng tài chính còn hạn chế các DNVVN thường khó
khăn trong việc tiếp cận thông tin thị trường.
Vấn đề đầu tư để nâng cao trình độ quản lý cho các nhà quản trị cũng ít được quan
tâm. Đội ngũ lao động chủ yếu là lao động phổ thông với trình độ tay nghề đơn giản.
Quy mô SXKD không lớn, DNVVN gặp phải bất lợi trong việc mua nguyên vật
liệu, máy móc thiết bị và tiêu thụ sản phẩm như: không được hưởng các khoản chiết
khấu giảm giá do mua với số lượng ít, nhập khẩu máy móc thiết bị nước ngoài do
thiếu ngoại tệ nên phải mua qua đại lý với giá đắt hơn mua trực tiếp. Ngoài ra, nguồn
tài chính của DNVVN dành cho việc thực hiện chiến lược marketing còn hạn chế, ít có
khả năng vươn ra thị trường thế giới.
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

• DNVVN có vai trò quan trọng trong việc thu hút tối đa mọi nguồn nhân lực
của đất nước, giải quyết nạn thất nghiệp, góp phần ổn định xã hội
Một trong những nhân tố không thể thiếu khi thành lập doanh nghiệp là nguồn lao

động. Hàng năm nước ta có trên 1.5 triệu người bước vào tuổi lao động, con số này
không ngừng gia tăng theo từng năm đang đặt ra bài toán khó cho các nhà quản lý lao động.
Tuy số lượng lao động trong một DNVVN không đông, nhưng số lượng doanh
nghiệp lớn nên loại hình doanh nghiệp này vẫn là nguồn chủ yếu tạo ra phần lớn việc
làm cho xã hội.
Với lợi thế đa dạng về lĩnh vực kinh doanh và địa bàn hoạt động, DNVVN có thể
sử dụng nguồn lao động dồi dào ở khắp mọi nơi, ở mọi trình độ, từ đó giải quyết một
số lượng lớn chỗ làm việc cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp
phần xóa đói giảm nghèo. Xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm cho người lao
động, thì khu vực này vượt trội hơn hẳn so với khu vực khác, góp phần giải quyết
nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Vai trò tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập cho người
lao động của DNVVN có ý nghĩa rất quan trọng. Nó không chỉ nâng cao mức sống
cho người dân trong nước mà còn góp phần ổn định chính trị - xã hội về lâu dài.
• DNVVN góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo vùng lãnh thổ
DNVVN có tính linh hoạt, nhạy bén với thị trường, phạm vi hoạt động rộng khắp,
yêu cầu về địa bàn hoạt động không cao. Trong khi đó các doanh nghiệp lớn thường
tập trung ở các vùng đô thị nên không đáp ứng được tất cả các nhu cầu của nền kinh tế
như: lưu thông hàng hóa dịch vụ, ngành nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp…
Việc các DNVVN phân bố rộng và đáp ứng nhanh chóng, đầy đủ nhu cầu thị trường
góp phần tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nên đã góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối trong phát triển các vùng
miền, địa phương.
• DNVVN có nhiều khả năng thu hút nguồn vốn trong dân cư và sử dụng hiệu
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm


Luận văn Tốt nghiệp

quả các nguồn lực trong xã hội
Từ việc tạo lập DNVVN đã đưa một lượng vốn lớn từ tầng lớp dân cư đi vào
đầu tư sản xuất. DNVVN đã tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể dễ dàng huy động
vốn từ bạn bè và người thân. Nên, DNVVN được coi là phương tiện có tính hiệu quả
trong việc huy động, sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư và biến nó trở
thành nguồn vốn đầu tư phát triển SXKD khá quan trọng. Số lượng lớn các DNVVN
cùng với các hình thức huy động vốn linh hoạt và đa dạng, phương thức sử dụng vốn
có hiệu quả đã làm cho khối các DNVVN góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã
hội đất nước.
• DNVVN đóng góp vào việc tăng trưởng kinh tế và tăng giá trị xuất khẩu của
cả nước
Theo số lượng thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mỗi năm các DNVVN tạo ra
khoảng 40% GDP của cả nước, trên 30% giá trị sản lượng công nghiệp, gần 90% tổng
mức bán lẻ, trên 70% tổng khối lượng vận chuyển hàng hóa, 100% giá trị sản lượng
hàng hóa của một số ngành nghề thủ công mỹ nghệ như thêu ren, chạm khảm…Trong
các ngành may mặc, thủ công mỹ nghệ, chế biến thủy sản, DNVVN đã góp phần quan
trọng trong việc tạp ra giá trị xuất khẩu thông qua việc tham gia cung ứng nguyên liệu,
gia công, chế biến…
• DNVVN hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp lớn, góp phần làm cho nền
kinh tế phát triển năng động hơn
Các DNVVN có vai trò quan trọng giúp các doanh nghiệp lớn thực hiện sản xuất
mang tính chuyên môn hóa, đồng bộ và hiện đại hóa. Vai trò của DNVVN trong mối
quan hệ này là: DNVVN làm đại lý, vệ tinh tiêu thụ hàng hóa và cung cấp các vật tư
đầu vào với giá rẻ hơn, góp phần hạ giá thành, nâng cao hiệu quả SXKD của doanh
nghiệp lớn.
1.1.4 Xu hướng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ

SV: Nguyễn Thị Minh Huệ

Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

Phát triển DNVVN đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng, được
xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế- xã
hội. Đặc biệt trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO đồng nghĩa với việc Việt Nam
đã chính thức "nhảy" vào sân chơi quốc tế, do đó các doanh nghiệp trong nước cũng
đang phải đối mặt với một thị trường mang tính cạnh tranh khốc liệt..
DNVVN ở nước ta hiện nay chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp trên toàn
quốc với trên 500.000 doanh nghiệp . Trong đó, doanh nghiệp Nhà nước chiếm hơn
2%, còn lại chủ yếu là DNNQD. Các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 17%, lĩnh vực xây dựng 12%, nông nghiệp 11%,
còn lại 60% số doanh nghiệp này hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ.
Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ về việc hỗ trợ giúp các
DNVVN đã xác định mục tiêu như sau: “ Phát triển DNVVN là một nhiệm vụ quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại
hóa đất nước”.
Vì vậy, Đảng và Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các
DNVVN phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa
học công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng liên kết với các loại hình doanh nghiệp
khác, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường, phát triển
SXKD, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động. Trong tương lai,
DNVVN có xu hướng tăng lên cả về số lượng lẫn chất lượng. Dự tính đến cuối năm
2011 trên cả nước sẽ có khoảng 600.000 doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm cho
người lao động, giúp ổn định chính trị- xã hội.
1.2 HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI

DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.2.1 Khái niệm hoạt động cho vay
Theo quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng kèm theo Quyết định

SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước: “
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng
sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn
trả cả gốc và lãi ”.
Như vậy có thể hiểu: “ Hoạt động cho vay của NHTM là hình thức cấp tiền
vay, theo đó NHTM giao cho DNVVN sử dụng một khoản tiền vào mục đích và thời
gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.
1.2.2 Các hình thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
• Cho vay ngắn hạn
Là các khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng và vốn vay từ ngân hàng sẽ hình
thành lên tài sản lưu động cho DNVVN.
Cho vay ngắn hạn đối với DNVVN bao gồm:
+ Cho vay thế chấp, cầm cố tài sản:
Cầm cố/thế chấp là phương pháp sử dụng tài sản để đảm bảo trả nợ cho một khoản
vay nào đó.
+ Cho vay bảo lãnh
Là sự cam kết bằng văn bản của NHTM( bên bảo lãnh) với bên nhận bảo lãnh
( DNVVN) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng ( bên được bảo

lãnh) khi khách hàng không thực hiện quyền lợi nếu người được bảo lãnh không thực
hiện đúng và đủ những cam kết đối với bên yêu cầu bảo lãnh. Ngân hàng thường bảo
lãnh cho các DNVVN mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán,
vay vốn của TCTD khác ...
+ Cho vay tín chấp:
Là việc ngân hàng cho vay dựa vào sự tín nhiệm đối với người vay mà không cần
có tài sản đảm bảo cho món vay đó.
Khi các DNVVN đi vay dưới hình thức này sẽ:
- Không mất bất kỳ khoản chi phí nào khi vay tiền.
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

- Không phải tới ngân hàng, chỉ cần ở nhà vẫn có thể vay được tiền.
- Có thể liên hệ qua E-mail hoặc điện thoại, fax…
- Không phải nộp sổ đỏ, công chứng bất kỳ loại giấy tờ nào, chỉ cần photo là đủ.
- Không phải mất hàng tháng mới nhận được tiền, chỉ mất từ 3 tới 7 ngày.
+ Cho vay theo hình thức chiết khấu:
Là việc NHTM mua giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của DNVVN. Giấy tờ
có giá là các phương tiện chuyển đổi ra tiền, có giá trị và có thời hạn nhất định.
Bao gồm:
- Chiết khấu toàn bộ: NHTM mua hẳn giấy tờ có giá của các ngân hàng.
- Chiết khấu có kỳ hạn: NHTM chiết khấu kèm theo yêu cầu ngân hàng cam kết
mua lại toàn bộ giấy tờ có giá sau một thời gian nhất định.
+ Cho vay thấu chi:
Là hình thức cấp tín dụng của TCTD cho DNVVN bằng cách cho phép DNVVN

chi vượt 1 số tiền nhất định trong tài khoản tiền gửi thanh toán của mình, đáp ứng nhu
cầu cần tiền nóng của DNVVN, vì vậy lãi suất thường cao và tính theo ngày. Cho vay
thấu chi được thực hiện trên tài khoản vãng lai và chủ yếu nhằm mục đích cho vay
đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nảy sinh bất chợt. Ngân hàng có thể tùy vào uy tín hoặc
chính sách của mình mà cấp cho hạn mức thấu chi có tài sản đảm bảo hoặc không. Tuy
nhiên, lãi suất thấu chi rất cao, gấp 1,5 lần lãi suất vay thông thường.
• Cho vay trung và dài hạn
Các khoản cho vay có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm là khoản cho vay trung hạn
còn trên 5 năm là cho vay dài hạn. Vốn vay từ ngân hàng sẽ hình thành lên tài sản cố
định cho DNVVN.
Cho vay trung và dài hạn bao gồm:
+ Cho vay theo dự án đầu tư:
Đây là hình thức tín dụng trung dài hạn chủ yếu của các NHTM Việt Nam hiện
nay. Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất dựa trên cơ sở căn cứ khoa học và thực
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

tiễn về việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng, cải tạo đổi mới kỹ thuật và công nghệ
những đối tượng là tài sản cố định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến
hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất
định. Dựa vào lĩnh vực tài trợ mà người ta chia hai hình thức phổ biến:
Hình thức tín dụng trung dài hạn nhằm cải tạo, khôi phục, mở rộng, thay thế tài
sản cố định.
Hình thức tín dụng trung dài hạn nhằm đầu tư cho các dự án xây dựng mới, đổi
mới kỹ thuật, ứng dụng khoa học và công nghệ để tiến hành hoạt động SXKD.

+ Cho vay hợp vốn( đồng tài trợ dự án đầu tư):
Khoản vay hợp vốn là một khoản vay được cấp cho người vay bởi một nhóm các
ngân hàng. Khoản vay này thường được “ thu xếp” bởi ngân hàng có uy tín nhất trong
tổ hợp ngân hàng đồng tài trợ.
Khi thực hiện vay hợp vốn, DNVVN được hưởng những ưu đãi như:
- Có thể vay được nhiều thông qua khoản vay hợp vốn.
- Có được quan hệ với ngân hàng mới.
- Hiệu quả về chi phí và thủ tục hành chính đơn giản.
- Đảm bảo bí mật.
+ Cho thuê tài chính:
Đây là hoạt động tín dụng trung dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa
bên cho thuê là TCTD với khách hàng thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng
mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đố theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp
đồng. Hoạt động này đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế nói chung và các bên liên
quan nói riêng.
1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
• Cung cấp nguồn vốn để DNVVN mở rộng sản xuất
Các doanh nghiệp hoạt động vì mục đích sinh lời và để làm được điều đó thì họ

SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

phải không ngừng mở rộng SXKD, nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Đây là
nhu cầu cấp thiết của mỗi doanh nghiệp, trong đó có DNVVN. Tuy nhiên không phải
doanh nghiệp nào cũng có điều kiện để mở rộng hoạt động sản xuất của mình vì khả

năng tài chính của các DNVVN bị hạn chế. Vì vậy mà nguồn vốn vay ngân hàng trở
thành mục tiêu mà các DNVVN tìm đến nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn của mình.
• Giúp hình thành một cơ cấu vốn hợp lý cho DNVVN
Nguồn vốn của doanh nghiệp gồm: vốn chủ sở hữu và vốn huy động. Chi phí vốn
chủ sở hữu thường cao hơn nhiều so với chi phí đi vay- lãi suất. Do đó, nguồn vốn vay
chính là đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các
DNVVN, do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì
vốn hạn hẹp và nếu có sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm sẽ khó được thị trường
tiếp nhận. Để kinh doanh hiệu quả, doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết
cấu hợp lý từ đó tối đa hóa lợi nhuận.
• Góp phần thúc đẩy DNVVN hoạt động liên tục
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp không tránh khỏi những
thời điểm thiếu vốn tạm thời, đặc biệt là DNVVN với lượng vốn hạn chế. Nguyên
nhân có thể do vốn bị ứ đọng trong hàng tồn kho, khách hàng mua hàng chịu…Thực
tế, hoạt động SXKD của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng. Vì vậy, doanh
nghiệp phải huy động vốn từ bên ngoài để duy trì hoạt động của mình, giúp cho việc
kinh doanh không bị gián đoạn. Và cho vay của ngân hàng chính là một trong những
giải pháp an toàn, hiệu quả giúp cho DNVVN hoạt động liên tục.
• Thúc đẩy DNVVN nâng cao khả năng quản lý và sử dụng vốn, tăng tính cạnh tranh
Để có thể vay vốn từ phía ngân hàng, DNVVN phải đáp ứng đủ điều kiện vay vốn
của ngân hàng trong đó doanh nghiệp có phương án SXKD hiệu quả là rất quan trọng.
Và các CBTD ngân hàng với công tác thẩm định của mình sẽ đánh giá năng lực của
doanh nghiệp, tính khả thi của phương án. Ngân hàng chỉ cấp tiền vay cho các phương
án vay vốn có hiệu quả kinh tế đảm bảo tạo ra nguồn để trả nợ vay ngân hàng cả gốc
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm


Luận văn Tốt nghiệp

lẫn lãi. Như vậy, ngân hàng trở thành người tư vấn, giám sát giúp cho DNVVN nâng
cao khả năng quản lý và sử dụng vốn, trong đó có cả vốn tự có của doanh nghiệp và
vốn vay ngân hàng. Từ đó giúp DNVVN thực hiện được những phương án kinh doanh
hiệu quả, tạo đà nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, đôi bên cùng có lợi.
1.3 HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả cho vay
Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu và đem lại phần lớn thu nhập cho ngân
hàng. Song đây là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất trong hoạt đọng của ngân hàng.
Vì vậy, nâng cao hiệu quả cho vay như thế nào đối với ngân hàng là một bài toán khó.
Hiệu quả cho vay được hiểu là: Đồng vốn của các ngân hàng cho các doanh
nghiệp vay phù hợp với khả năng của ngân hàng, phù hợp với chính sách phát triển
kinh tế của từng vùng và quan trọng hơn là với đồng vốn đó các doanh nghiệp sẽ
tiến hành hoạt động SXKD hiệu quả, thu được lợi nhuận và hoàn trả vốn vay cho ngân
hàng cả gốc và lãi đúng thời hạn đã kí trong hợp đồng.
Như vậy, hiệu quả cho vay là sự đáp ứng yêu cầu của DNVVN về vốn vay phù
hợp với định hướng phát triển kinh tế của địa phương cũng như của nhà nước, đảm
bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, và đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn cho nhu
cầu vay vốn của doanh nghiệp cũng như tạo tâm lý thoải mái cho họ trong và sau khi
giao dịch với ngân hàng.
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.2.1 Đối với ngân hàng thương mại
Ngân hàng thường mại hoạt động theo nguyên tắc đi vay để cho vay. Do đó nâng
cao hiệu quả cho vay trước tiên đem lại nguồn trả nợ cho ngân hàng. Hoạt động kinh
doanh ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro vì tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản thường
thấp. Khi khách hàng không trả được nợ, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong thanh toán
nguồn vốn đã huy động. Nếu số lượng khách hàng không trả được nợ tăng, ngân hàng
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ

Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

sẽ đứng bên bờ phá sản. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính
Mỹ năm 2008- khởi nguồn của cuộc suy thoái kinh tế thế giới mà đến nay mọi quốc
gia vẫn phải chống chọi, trong đó có Việt Nam. Vì vậy, nâng cao hiệu quả cho vay
doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng trở thành mục tiêu hướng đến của mọi
ngân hàng để duy trì hoạt động của chính mình.
1.3.2.2 Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hoạt động SXKD của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, liên tục, do đó theo
chu kỳ doanh nghiệp lại xuất hiện nhu cầu về vốn. Khi doanh nghiệp đi vay, ngân
hàng sẽ kiểm tra lịch sử tín dụng của doanh nghiệp. Chắc chắn không ngân hàng nào
muốn cho vay một doanh nghiệp đã từng bị gia hạn nợ, treo lãi hay phải cơ cấu lại thời
hạn nợ…Để trả nợ đúng hạn, doanh nghiệp không còn cách nào khác là phải thực hiện
tốt phương án SXKD, có lãi đủ trang trải chi phí vay vốn. Như vậy kinh doanh có hiệu
quả không những đem lại lợi nhuận cho chính doanh nghiệp mà còn tạo dựng lòng tin
cho các ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho những lần vay kế tiếp, cải thiện mối
quan hệ ngân hàng- doanh nghiệp.
1.3.2.3 Đối với nền kinh tế
Ngân hàng và các doanh nghiệp là hai mắt xích quan trọng trong mạng lưới nền
kinh tế. Nếu 1 trong 2 mắt xích này gặp trục trặc thì nền kinh tế sẽ suy yếu tức khắc và
dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng về mặt xã hội. Ngược lại, khi cả ngân hàng và
DNVVN đều ăn nên làm ra thì công ăn việc làm, phúc lợi xã hội đều được nâng cao.
Đây là tiền đề để duy trì một xã hội ổn định, vận hành một nền kinh tế vững mạnh.
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay
1.3.3.1 Các chỉ tiêu định tính

* Về phía ngân hàng
- Chấp hành các bước cụ thể trong quy trình tín dụng, đây là việc làm cơ bản mà
về nguyên tắc là không thể bỏ qua bất kỳ một công đoạn nào. Nó là cơ sở pháp lý đảm
bảo cho món vay được an toàn, hiệu quả. Hiện nay, một quy trình cho vay thường gồm
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

năm bước cơ bản: lập hồ sơ, thẩm định hồ sơ, quyết định cho vay, giải ngân và cuối
cùng là giám sát và thanh lý khoản vay.
- Kết cấu nguồn vốn cho vay: một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng là phân tán rủi ro. Cơ cấu của nguồn vốn cho vay là rất quan trọng
trong việc hạn chế rủi ro của ngân hàng. Để đảm bảo dược yêu cầu này, các ngân hàng
phải đa dạng hóa đối tượng khách hàng của mình, từ đó mà tránh được rủi ro lại có thể
góp phần thúc đẩy sự phát triển của một nền kinh tế đa dạng.
- Quy mô của hoạt động tín dụng: một ngân hàng không chỉ quan hệ với các tổng
công ty lớn mà quên đi thị trường tiềm năng là các DNVVN. Một ngân hàng có hiệu
quả cho vay cao phải có đội ngũ khách hàng đông đảo và đa dạng, hơn nữa tỷ lệ dư nợ
trên một khách hàng không nên quá cao.
* Về phía khách hàng
- Một món vay có hiệu quả cao chỉ khi khách hàng có ý muốn hợp tác và là một
khách hàng có uy tín. Sự hợp tác thể hiện ở chỗ khách hàng cung cấp đầy đủ và chính
xác những thông tin liên quan cho cán bộ ngân hàng phân tich như: báo cáo tài chính,
báo cáo tổng hợp, những thông tin về tình hình vay nợ trước đó…Ngân hàng sẽ đưa ra
quyết định cho vay sau khi đã tiến hành các bước phân tích, thẩm định tín dụng.
- Những phương án SXKD hợp lý, khả năng về tài chính đảm bảo sẽ được chấp

nhận cho vay từ phía ngân hàng. Nhưng việc sử dụng vốn đúng mục đích mới là yếu
tố quyết định đến chất lượng khoản vay. Một khoản vay được sử dụng đúng mục đích
sẽ mang lại uy tín cho khách hàng, ngân hàng có được một đối tác đáng tin cậy, từ đó
sẽ thiết lập mối quan hệ tốt đẹp giữa khách hàng với ngân hàng.
* Về phía Nhà nước
- Các hợp đồng tín dụng muốn được thành lập nhanh chóng chỉ khi các giấy tờ, thủ
tục của cơ quan có thẩm quyền, ủy ban các cấp được giải quyết kịp thời. Hiện nay ở
nước ta, thủ tục giấy tờ còn rất rườm rà, mất thời gian làm ảnh hưởng tới tốc độ giải
ngân, gây thiếu vốn, làm chậm quá trình SXKD của doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

1.3.3.2

Luận văn Tốt nghiệp

Các chỉ tiêu định lượng

• Doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ
Doanh số cho vay trong một thời kỳ nhất định ( thường tính theo quý/năm) phản
ánh lượng vốn mà ngân hàng đã giải ngân cho doanh nghiệp trong đầu tư cải tiến máy
móc thiết bị, ứng dụng công nghệ mới, mở rộng SXKD. Con số và tốc độ của doanh
số cho vay qua các năm phản ánh quy mô và xu hướng của hoạt động tín dụng là mở
rộng hay thu hẹp.
Doanh số thu nợ phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã thu hồi được trong một thời
kỳ nhất định ( quý, năm), phản ánh tình hình thu nợ của khách hàng. So sánh con số
này với doanh số cho vay để xem xét hiệu quả hoạt động thu nợ của ngân hàng, từ đó

cho thấy chất lượng của khoản vay giúp ta quan sát được diễn biến hoạt động của ngân hàng.
Dư nợ phản ánh lượng vốn mà khách hàng còn nợ ngân hàng tại một thời điểm cụ
thể. Con số này nếu tăng trưởng đều và ổn định qua các năm chứng tỏ quy mô hoạt
động cho vay dần được mở rộng, hiệu quả cho vay được nâng cao, tình hình hoạt động
của ngân hàng tiến triển tốt.
• Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ khoản nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ
Từ việc tính toán tỷ lệ trên, chúng ta có thể đánh giá được phần nào chất lượng hoạt
động cho vay của ngân hàng đó. Tỷ lệ nợ quá hạn cao thể hiện chất lượng tín dụng
thấp, rủi ro tín dụng cao và ngược lại. Việc ngân hàng có nhiều khoản vay là nợ quá
hạn không những làm giảm uy tín của ngân hàng mà có thể làm cho ngân hàng bị mất
vốn và mất khả năng thanh toán. Một ngân hàng có nhiều khoản vay là nợ quá hạn có
nguy cơ bị mất vốn chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng là yếu kém. Nếu tỷ lệ
nợ quá hạn vượt quá khả năng tự bù đắp của ngân hàng có thể làm cho ngân hàng bị
đẩy đến bờ vực phá sản.
• Nợ xấu
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

Nợ xấu bao gồm những khoản nợ nhóm 3, 4, 5 theo quy định của NHNN về phân loại nợ.
Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/ Tổng dư nợ
Đây là một tỷ lệ đánh giá chất lượng tín dụng. Cùng với các quy định về cơ
cấu nợ (gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ) và chuyển nợ quá hạn, chất lượng cho vay
được xem xét toàn diện hơn do đã tính đến khoản nợ đã được cơ cấu lại. Nếu như

trước đây, việc chuyển nợ quá hạn chỉ được thực hiện khi khoản nợ đã đến hạn mà
không trả nợ được và không cơ cấu thì hiện nay NHTM có thể chuyển nợ quá hạn khi
khoản nợ đó chưa đến hạn nhưng bị đánh giá là không có khả năng trả. Một ngân hàng
có tỷ lệ nợ xấu cao là NHTM hoạt động kém hiệu quả, chất lượng cho vay thấp.
• Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ/ Dư nợ bình quân
Chỉ tiêu này cho biết số lần vốn từ ngân hàng đến tay khách hàng rồi quay lại đúng
thời hạn trong một thời gian nhất định. Tốc độ luân chuyển vốn cao chứng tỏ đồng vốn
của ngân hàng đã tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD của doanh nghiệp. Với số lượng
vốn nhất định, nhưng do tốc độ vòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng không
những đáp ứng được nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp mà còn thêm nguồn vốn để
tiếp tục đầu tư cho các doanh nghiệp khác thực hiện phát triển SXKD. Vòng quay vốn
tín dụng nhanh chứng tỏ tốc độ quay vòng vốn của các doanh nghiệp vay vốn cao, các
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả với đồng vốn vay của ngân hàng và chất lượng
cho vay được nâng cao.
• Lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay
Lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng. Lợi nhuận ngân hàng chủ yếu
đến từ hoạt động cho vay. Do đó không thể đánh giá hiệu quả cho vay là cao khi mà
lợi nhuận nó đem lại quá thấp. Với chỉ tiêu lợi nhuận, hiệu quả cho vay có thể xem
xét hai chỉ tiêu:
- Chỉ tiêu 1: Lợi nhuận từ hoạt động cho vay/Tổng dư nợ
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp


Phản ánh một đồng dư nợ sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng
cao thì chứng tỏ khả năng sinh lời của khoản cho vay càng lớn.
- Chỉ tiêu 2: Lợi nhuận từ hoạt động cho vay/Tổng lợi nhuận
Chỉ tiêu cho biết lợi nhuận từ hoạt động cho vay chiếm bao nhiêu trong tổng lợi
nhuận của ngân hàng. Chỉ tiêu này cao thì hoạt động cho vay của ngân hàng là hiệu quả.
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.4.1 Các nhân tố từ phía Ngân hàng thương mại
* Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của NHTM bao gồm các yếu tố: hạn mức cho vay đối với một
khách hàng, kỳ hạn khoản tín dụng, lãi suất cho vay và mức lệ phí, sự bảo đảm và khả
năng thanh toán nợ của khách hàng, hướng giải quyết các khoản nợ có vấn đề…Chính
sách tín dụng quyết định toàn bộ hướng phát triển của ngân hàng đó. Một chính sách
cho vay đồng bộ, thống nhất, khoa học và đúng đắn giúp cho cán bộ tín dụng có
phương hướng khi thực hiện nhiệm vụ, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động
cho vay. Khi ngân hàng đã có định hướng đầu tư cho DNVVN, họ sẽ có các chính
sách tín dụng riêng, các ưu đãi đối với bộ phận khách hàng này.
DNVVN có quy mô và phạm vi hoạt động phong phú, ngành nghề đa dạng nên
chính sách tín dụng của NHTM cũng cần phải được quyết định cụ thể, vừa đúng đắn
vừa linh hoạt, phù hợp với thực trạng của loại hình doanh nghiệp này.
* Quy trình cho vay
Quy trình cho vay là quy định các bước cần thiết phải thực hiện trong quá trình cho
vay được bắt đầu từ khi phân tích nhu cầu cho đến khi thu hồi đủ nợ gốc và lãi. Việc
xây dựng và thực hiện quy trình cho vay một cách chặt chẽ, hợp lý sẽ giúp cho ngân
hàng quản lý tốt các khoản nợ, thu hồi nợ đúng hạn và hạn chế rủi ro về khả năng mất
vốn…Ngoài ra, quy trình cho vay cần phải rõ ràng. Nếu quy trình quá rườm rà và
phức tạp sẽ gây khó khăn cho khách hàng khi đến giao dịch vay vốn. điều này sẽ làm
giảm số lượng khách hàng đến xin vay, quy mô tín dụng của ngân hàng bị thu hẹp.
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04



Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

* Sự đổi mới của hoạt động tín dụng và các sản phẩm bổ trợ
Sự đổi mới của hoạt động ngân hàng nhất là hoạt động tín dụng tạo ra sức hút lớn
đối với khách hàng. Ngân hàng cũng cần phải chứng minh uy tín và trình độ phát triển
của mình thông qua các sản phẩm bổ trợ cho hoạt động tín dụng như: thanh toán,
chuyển tiền, tài trợ thương mại, nhấn mạnh đến hoạt động marketing ngân hàng. Đối
với DNVVN, họ thường rất nhanh nhạy và đặc biệt quan tâm đến chất lượng dịch vụ
như: giá cả hợp lý, có nhiều sự lựa chọn, phục vụ chuyên nghiệp, công nghệ hiện đại…
* Chất lượng cán bộ ngân hàng
Hoạt động ngân hàng ngày càng đa đạng, phương tiện thiết bị ngày càng tiên tiến
hiện đại, đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải có đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ giỏi, khả
năng giao tiếp tốt, hiểu biết rộng, như vậy sẽ tạo ấn tượng tốt với khách hàng và nâng
cao uy tín của ngân hàng. Trình độ cán bộ nhân viên có ảnh hưởng trực tiếp đến việc
mở rộng và nâng cao hiệu quả cho vay.
DNVVN hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau và khá phức tạp. Vì vậy CBTD
yếu kém về năng lực hoặc chưa được đào tạo một cách đầy đủ, thiếu sự nhanh nhạy
với thị trường sẽ không thể phân tích và đánh giá một cách chính xác, đầy đủ về khách
hàng cũng như phương án, dự án SXKD. Các nhận định về khả năng thị trường hiện
tại và tương lai, chu kỳ vòng đời sản phẩm…là yếu tố quan trọng trong sự thành công
của dự án và đảm bảo cho khả năng trả nợ ngân hàng. Một CBTD giỏi còn là nhà tư
vấn đắc lực, tin cậy cho doanh nghiệp.
* Thông tin tín dụng
Các thông tin tín dụng bao gồm những thông tin tài chính, năng lực pháp lý, uy tín,
trình độ quản lý của doanh nghiệp và thông tin về kinh tế xã hội…Để hoạt động tín
dụng thực sự có hiệu quả cần nắm bắt được các thông tin tín dụng chính xác, kịp thời.
Sự chính xác, kịp thời và đầy đủ của các thông tin sẽ giúp ngân hàng đưa ra quyết định

đúng đắn với khách hàng và lựa chọn món vay có lợi cho ngân hàng.
* Tình hình huy động vốn của ngân hàng
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

Đặc trưng nhất của ngân hàng là ‘đi vay để cho vay’, bởi vậy nếu không đi vay
được tức là không có vốn để cho vay. Nguồn vốn huy động được càng lớn và đa dạng
thì càng có điều kiện phát triển hoạt động cho vay. Bên cạnh đó, chi phí hoạt động huy
động vốn cũng ảnh hưởng lớn tới lãi suất cho vay vì lãi suất phải đủ để trang trải chi
phí đầu vào.
Chất lượng hoạt động cho vay và chất lượng huy động vốn luôn đi đôi với nhau.
Nếu ngân hàng huy động được nhiều vốn mà không thực hiện được hoạt động cho vay
hoặc thực hiện ít sẽ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, chi phí trả lãi vốn tăng trong khi
thu nhập thấp hơn chi phí vốn thì ngân hàng sẽ không có lãi.
* Cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngân hàng
Với trang thiết bị hiện đại có thể giúp ngân hàng thực hiện nghiệp vụ một cách
nhanh chóng và chính xác. Ngân hàng có thể dễ dàng nắm bắt được tình hình thị
trường để đưa ra những chiến lược, những chính sách phù hợp và kịp thời; cập nhật
liên tục thông tin liên quan đến khách hàng để loại bỏ những thông tin dư thừa, hạn
chế rủi ro tín dụng và nâng cao chất lượng phục vụ.
* Công tác tổ chức bộ máy hoạt động của ngân hàng
Công tác sắp xếp cán bộ và các phòng ban một cách khoa học, phối hợp chặt chẽ
nhịp nhàng giữa các phòng ban, các bộ phận trong ngân hàng nhằm phát huy tối đa
năng lực của mỗi cá nhân.
1.3.4.2 Các nhân tố từ phía doanh nghiệp vừa và nhỏ

* Thực trạng tài chính và tình hình hoạt động kinh doanh của DNVVN
Thực trạng tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng của khoản vay. Đối với DNVVN thuận lợi lớn nhất là áp lực
thanh toán các khoản tiền lương công nhân, nợ người bán, nợ vay ngân hàng…không
quá lớn và họ thường dễ dàng xoay xở hơn so với các doanh nghiệp có quy mô lớn.
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của họ lại là khả năng quản lý và cân đối nguồn tiền.

SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

Sự hạn hẹp về vốn khiến các DNVVN thường tập trung đầu tư vào tài sản cố định, dẫn
đến tình trạng thường xuyên thiếu vốn lưu động trong SXKD. Thậm chí có doanh
nghiệp còn sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư vào tài sản có tính chất dài
hạn, làm ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thanh toán, doanh nghiệp làm ăn có lãi
nhưng vẫn phá sản do không đủ khả năng thanh toán nợ đến hạn. Hiệu quả làm ăn của
doanh nghiệp cũng ảnh hưởng tới chất lượng của khoản vay. Nếu làm ăn thua lỗ thì
khả năng không trả được nợ ngân hàng sẽ cao, ngân hàng có thể phải gia hạn nợ hoặc
phải chuyển sang nợ quá hạn, thậm chí là nợ khó đòi.
* Trình độ quản lý và khả năng điều hành của chủ doanh nghiệp
Người điều hành có một vai trò quyết định trong sự thành bại của DN. So với các
doanh nghiệp lớn có mô hình quản lý chuyên biệt thì các DNVVN tỏ ra thua kém hơn
trong tính chuyên nghiệp của hoạt động quản lý. Hiện nay các chủ DNVVN đa số là
những người trẻ tuổi, có trình độ học vấn cao, nhưng điều đó không có nghĩa là trình
độ quản lý của họ được hoàn toàn cải thiện, hạn chế lớn nhất của họ là thiếu kinh nghiệm.
Một doanh nghiệp được quản lý tốt sẽ hoạt động hiệu quả và có lãi, nên dễ dàng

được các ngân hàng cho vay vốn vì mức độ rủi ro thấp và ngược lại. Chính vì điều
nàycũng là nguyên nhân làm thu hẹp hay mở rộng quy mô cho vay của ngân hàng.
* Hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh
Các DNVVN thường bị hạn chế trong việc khảo sát và thu thập các thông tin thị
trường dẫn đến việc lập dự án, phương án SXKD không được đầy đủ và chính xác,
khó thuyết phục được ngân hàng đồng ý cho vay. Khi một phương án, dự án SXKD
khả thi và hiệu quả sẽ đảm bảo cho khả năng trả nợ của doanh nghiệp, ngân hàng sẽ
hạn chế được rủi ro và có thể cho vay với quy mô lớn hơn.
* Đạo đức doanh nghiệp
Các doanh nghiệp muốn được ngân hàng chấp thuận cho vay, trước hết doanh
nghiệp phải cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác. Tuy nhiên, thực trạng doanh
nghiệp nhất là các DNVVN có 2-3 hệ thống sổ sách kế toán nhằm che dấu những
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

thông tin từ đó làm mất lòng tin của các nhà đầu tư, lập báo cáo tài chính không rõ
ràng, không minh bạch để gửi đến ngân hàng xin vay.
Thiện chí trả nợ của chủ doanh nghiệp cũng là một nhân tố có ảnh hưởng lớn tới
chất lượng của khoản vay. Trong điều kiện hệ thống pháp luật còn chưa hoàn chỉnh,
doanh nghiệp lại được tự do kinh doanh và giao dịch với ngân hàng thì ngân hàng thực
sự khó khăn trong việc quản lý nguồn thu nợ. Vì vậy, nếu chủ doanh nghiệp thiếu
thiện chí thì dù hợp đồng tín dụng có quy định chặt chẽ đến đâu cũng chưa phải là giải
pháp chắc chắn nhất.
1.3.4.3 Các nhân tố khác
* Môi trường kinh tế xã hội

Hoạt động cho vay của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng đạt
hiệu quả cao hay thấp , rủi ro ít hay nhiều đều có quan hệ mật thiết với các yếu tố như:
tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp…Một môi trường kinh tế xã hội
ổn định sẽ giúp cho các doanh nghiệp có nhiều điều kiện thuận lợi trong sản xuất và
tiêu thụ hàng hóa, hạn chế được các yếu tổ rủi ro ngoài dự kiến, đảm bảo trả nợ vay
ngân hàng đầy đủ, đúng hạn. Còn ngân hàng cũng có đủ nguồn vốn, niềm tin để tăng
trưởng, mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp.
* Môi trường pháp lý và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước
Hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước tạo ra môi trường hành lang pháp
lý cho các hoạt động của ngân hàng. Nhân tố pháp luật ở đây bao gồm: tính đồng bộ
của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ và thống nhất của các văn bản dưới luật, đồng thời
nâng cao tính chấp hành pháp luật của các thành phần kinh tế và trình độ dân trí trong
toàn xã hội.
Sau luật doanh nghiệp và nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về phát
triển DNVVN, Chính phủ đã có nhiều biện pháp, chính sách hỗ trợ cho sự thành lập và
phát triển DNVVN. Mới đây nhất là nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6
năm 2009 về trợ giúp phát triển DNVVN. Nhiều cơ quan tổ chức được thành lập vì
SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


Khoa Ngân hàng- Bảo hiểm

Luận văn Tốt nghiệp

mục tiêu này như Hiệp hội DNVVN Việt Nam và các tỉnh, thành phố, Cục phát triển
DNVVN- Bộ Tài chính, Quỹ BLTD…
* Môi trường tự nhiên
Bên cạnh sự ảnh hưởng bởi những nhân tố do con người tạo ra thì những yếu tố
bất thường do thiên nhiên mang lại như thiên tai, lũ lụt, hạn hán, mất mùa…cũng ảnh

hưởng đến chất lượng tín dụng cho vay của ngân hàng. Những yếu tố này xảy ra có thể
gây hậu quả nghiêm trọng cho khách hàng và ngân hàng do việc kinh doanh của khách
hàng bị đình trệ, dẫn tới tổn thất lớn hiệu quả kinh doanh giảm sút, các khoản nợ của
ngân hàng bị trì hoãn thậm chí không thể trả được. Đặc biệt ở nước ta, số DNVVN
hoạt động trong các ngành nông- lâm- ngư nghiệp với nhiều hạn chế về trình độ khoa
học kĩ thuật, phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên chiếm tỷ trọng không nhỏ. Vì vậy,
điều kiện tự nhiên thuận lợi là một tiền đề quan trọng để DNVVN hoạt động có hiệu
quả, từ đó nâng cao chất lượng cho vay của các NHTM.

Chương 1 đã giới thiệu những vấn đề lý luận về hoạt động cho vay của NHTM đối
với DNVVN, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động này. Cho vay DNVVN là một
hoạt động quan trọng trong các nghiệp vụ của NHNo&PTNT Tây Hà Nội. Sau đây là
chương 2 giới thiệu tổng quan về ngân hàng và kết quả đạt được trong công tác cho
vay đối với DNVVN.

SV: Nguyễn Thị Minh Huệ
Lớp: CQ45/15.04


×