LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa GDTC Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội, Trường THPT Gia Lộc – Hải Dương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi về
mọi mặt trong quá trình thực hiện luận văn.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Hồ
Đắc Sơn đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các chuyên gia, cán bộ và giáo viên trong Trường
Đại học Sư Phạm và trường THPT Gia Lộc – Hải Dương đã giúp đỡ tôi trong
quá trình nghiên cứu và khảo nghiệm để hoàn thành luận văn của mình.
Tác giả
Lương Thị Yến
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt
Viết đầy đủ
GD&ĐT
: Giáo dục và đào tạo
GDTC
: Giáo dục thể chất
NĐC
: Nhóm đối chứng
NTN
: Nhóm thực nghiệm
THPT
: Trung học phổ thông
TDTT
: Thể dục thể thao
HS
: Học sinh
DANH MỤC BẢNG
MỤC LỤC
5
1.Lý do chọn đề tài.
Giáo dục thể chất là một bộ phận của nền giáo dục Việt Nam, có mục
tiêu góp phần phát triển toàn diện cho thế hệ trẻ. GDTC được hiểu là: Quá
trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện về thể chất và
nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người.
GDTC là một bộ phận của TDTT, là một trong những hình thức hoạt
động cơ bản có định hướng rõ của TDTT trong xã hội, một quá trình có tổ
chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo
dục-giáo dưỡng chung(chủ yếu trong các nhà trường).
GDTC cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy
đủ đặc điểm của nó; là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học
vận động(động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người.
Giáo dục thể chất và TT học đường thực sự có vị trí quan trọng trong
việc đào tạo thế hệ trẻ phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, giữ vững và tăng cường an ninh quốc phòng. GDTC trong
nhà trường góp phần cùng với thể thao thành tích cao đảm bảo cho nền TDTT
nước ta phát triển một cách cân đối và đồng bộ, nhằm thực hiện mục tiêu
chiến lược phát triển TDTT Việt Nam từ nay đến năm 2025, đưa nền TDTT
nước ta hòa nhập với các nước khu vực và trên thế giới.
Pháp lệnh TDTT được ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua tháng
9/2000 quy định: “Nhà nước coi trọng TDTT trường học nhằm phát triển và
hoàn thiện thể chất cho các tầng lớp thanh thiếu niên và nhi đồng. TDTT
trường học gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt buộc và tổ chức hoạt
động TDTT ngoại khóa cho người học. GDTC là bộ phận quan trọng để thực
hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam
XHCN”…[14]
6
Nghị quyết 08-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước
phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020 đã chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng,
hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học. Đổi mới
chương trình và phương pháp giáo dục thể chất, gắn giáo dục thể chất với
giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng
sống của học sinh, sinh viên”.[10]
GDTC trong trường học là sự thống nhất giữa công tác giảng dạy của
giáo viên và hoạt động học tập của học sinh. Muốn nâng cao chất lượng
GDTC trong trường học thì phải quan tâm đến chương trình đào tạo, cơ sở vật
chất, đội ngũ giáo viên là những yếu tố trực tiếp tác động đến hiệu quả học
tập của học sinh. Bên cạnh đó cần phải tạo ra tính tích cực, say mê trong học
tập của học sinh. Kết hợp được cả hai nhân tố đó sẽ đem lại một giờ học giáo
dục thể chất hiệu quả nhằm phát triển toàn diện các tố chất vận động nâng cao
sức khỏe và phát triển trí tuệ cho học sinh.
Hải Dương là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng Sông Hồng. Ngay từ
trong lịch sử đã có sự phát triển mạnh mẽ về nhiều lĩnh vực. Cùng với sự phát
triển về kinh tế -chính trị, văn hóa - giáo dục cũng có những bước chuyển
biến đáng kể và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Trong những năm qua giáo
dục đào tạo tỉnh Hải Dương phát triển khá toàn diện, ổn định, vững chắc về
mọi mặt, là một trong những đơn vị dẫn đầu cả nước. TDTT nói chung và
GDTC trường học nói riêng của tỉnh đã đạt được những thành tích cao. Để có
được kết quả đó chính là nhờ sự đầu tư của các cấp lãnh đạo về cơ sở vật chất,
trang thiết bị, sự chú trọng quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo đội ngũ
giáo viên. Song bên cạnh những mặt tích cực còn nhiều mặt hạn chế trong hệ
thống giáo dục tỉnh Hải Dương nói chung và GDTC nói riêng.
Trường THPT Gia Lộc-Hải Dương là ngôi trường có bề dày lịch sử hơn
50 năm thành lập và phát triển; phong trào học tập, hoạt động TDTD diễn ra
7
thường xuyên và liên tục, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giảng dạy môn
Thể Dục tương đối đầy đủ.
Song bên cạnh đó những kết quả đạt được trong công tác GDTC nội
khóa vẫn còn yếu kém. Đó là chất lượng giảng dạy của giáo viên chưa thật sự
hiệu quả, điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu, học sinh chưa nhận thức được vai
trò và tầm quan trọng của GDTC nội khóa, chưa tự giác tích cực học tập.
Nguyên nhân là do nhà trường chưa có biện pháp thích hợp trong việc tổ chức
dạy và học, trình độ của giáo viên còn hạn chế, chưa thật sự phát huy được
hết vai trò của người truyền thụ tri thức.
Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Lựa
chọn biện pháp nâng cao chất lượng GDTC nội khóa của trường THPT
Gia Lộc - Hải Dương”.
2.Mục tiêu nghiên cứu.
Thông qua việc lựa chọn biện pháp nâng cao chất lượng GDTC nội
khóa nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường THPT Gia
Lộc-Hải Dương.
3.Nhiệm vụ nghiên cứu.
Nhiệm vụ 1:Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu; đánh giá
thực trạng hoạt động dạy và học môn Thể Dục của trường THPT Gia Lộc-Hải
Dương.
Nhiệm vụ 2:Nghiên cứu lựa chọn biện pháp nâng cao chất lượng công
tác GDTC nội khóa trường THPT Gia Lộc-Hải Dương và đánh giá hiệu quả
các biện pháp.
4.Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
4.1 Đối tượng nghiên cứu:Các biện pháp nâng cao chất lượng GDTC
nội khóa của trường THPT Gia Lộc-Hải Dương.
8
4.2 Khách thể nghiên cứu:Hoạt động đào tạo của nhà trường THPT
Gia Lộc-Hải Dương.
5.Giả thiết khoa học.
Chất lượng dạy và học môn Thể Dục của trường THPT Gia Lộc- Hải
Dương còn nhiều hạn chế.Thực trạng đó sẽ được khắc phục có hiệu quả, nếu
quá trình nghiên cứu lựa chọn được những biện pháp đảm bảo tính khoa học
và khả thi.
6.Phạm vi nghiên cứu.
- Đánh giá thực trạng GDTC của học sinh lớp 10 trường THPT Gia
Lộc-Hải Dương.
- Kết quả học tập rèn luyện của học sinh lớp 10 trường THPT Gia LộcHải Dương.
- Nghiên cứu lựa chọn biện pháp.
- Đánh giá thực trạng hiệu quả biện pháp.
7.Phương pháp nghiên cứu.
7.1. Phương pháp đọc và phân tích tài liệu.
Quá trình nghiên cứu đã đọc và phân tích các tài liệu sau đây:
- Các nghị quyết của đại hội Đảng về đường lối chủ trương TDTT nói
chung và GDTC trường học nói riêng.
- Nghiên cứu các tài liệu chuyên môn có liên quan đến hoạt động
GDTC trường học và quản lý GDTC trường học.
- Nghiên cứu chương trình môn học GDTC của bậc học phổ thông.
Trên cơ sở đó để thiết lập,xác định cơ sở khoa học của đề tài,xác định
nội dung đánh giá thực trạng và làm cơ sở cho việc lựa chọn các biện pháp.
7.2.Phương pháp chuyên gia.
Đề tài sử dụng phương pháp chuyên gia để khẳng định giá trị, tính khoa
học,tính thực tiễn và khả thi của các biện pháp. Quá trình khảo sát, xin ý kiến
chuyên gia được thực hiện theo các bước.
9
Bước 1: Lập phiếu điều tra xin ý kiến.
Bước 2: Lựa chọn khách thể điều tra.
Nhằm đánh giá tính khả thi, tính cần thiết của các biện pháp để từ đó áp
dụng vào nâng cao chất lượng GDCT nội khóa của trường THPT Gia LộcHải Dương.
7.3.Phương pháp phỏng vấn.
Đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng việc kết hợp phỏng bằng
phiếu hỏivới phỏng vấn trực tiếp học sinh, các giáo viên giảng dạy, các nhà quản
lý giáo dục, các chuyên gia về các vấn đề mà đề tài quan tâm, từ đó có những
tổng hợp, đánh giá nhận xét và đưa ra hướng giải quyết cụ thể cho đề tài.
-
Đối tượng phỏng vấn:
+ Học sinh trường THPT Gia Lộc-Hải Dương.
+Các thầy cô giáo thể dục trường THPT Gia Lộc-Hải Dương.
+Các chuyên gia về GDTC trường học.
7.4.Phương pháp quan sát sư phạm.
- Tiến hành quan sát cơ sở vật chất có đáp ứng được điều kiện học tập
hay không.
- Quan sát quá trình giảng dạy của giáo viên.
+ Việc tổ chức giờ học và sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên.
+ Nội dung và LVĐ của giờ học.
+ Hiệu quả ứng dụng của các biện pháp.
+ Quan sát quá trình học của học sinh.
+Quan sát tính tự giác tích cực của học sinh trong giờ học môn Thể Dục.
7.5.Phương pháp kiểm tra sư phạm.
- Nhằm đánh giá thể lực của học sinh trước và sau thực nghiệm.
- Nội dung kiểm tra căn cứ vào quy định đánh giá, xếp loại thể lực
HSSV hiện nay do Bộ GD và ĐT quy định ( Ban hành kèm theo quyết định số
10
: 53/2008/QĐ – BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ GD và ĐT) gồm
các test sau:
7.5.1. Chạy 30m xuất cao (s)
- Yêu cầu dụng cụ: Đồng hồ điện tử Casio PC 940 (Nhật) có độ chính
xác 0.01 giây, cờ hiệu. Đường chạy bằng phẳng của sân vận động Trường Đại
học Tây Bắc .
- Yêu cầu kỹ thuật động tác:
+ Chuẩn bị: Đối với đối tượng điều tra (chạy bằng chân không hoặc
giày, không chạy bằng dép, guốc), sau khi có hiệu lệnh "vào chỗ", tiến vào
vạch xuất phát, đứng chân trước, chân sau cách nhau bằng 1 vai, trọng tâm
hơi đổ dồn về trước, hai tay thả lỏng tự nhiên, bàn chân trước ngay sau vạch
xuất phát, tư thế thoải mái.
+ Thực hiện: Khi nghe khẩu lệnh “Sẵn sàng – chạy”, đối tượng nhanh
chóng rời khỏi vạch xuất phát, dùng kỹ thuật chạy cự ly ngắn để chạy nhanh
qua đích. Đồng hồ bấm chạy khi có lệnh xuất phát và bấm dừng, khi đối
tượng chạm dây đích như luật Điền kinh quy định.
+ Kết thúc: Khi đối tượng chạm dây đích.
- Cách tính thành tích: Thực hiện một lần và lấy kết quả (tính bằng giây).
7.5.2. Lực bóp tay thuận (KG)
- Yêu cầu dụng cụ: Lực kế tay
- Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra đứng hai chân bằng vai,
tay thuận cầm lực kế hướng vào lòng bàn tay. Không được bóp giật cục và có các
động tác trợ giúp khác. Thực hiện hai lần, nghỉ 15 giây giữa hai lần thực hiện.
- Cách tính thành tích: Lấy kết quả lần cao nhất, chính xác đến 0,1 kg.
7.5.3. Nằm ngửa gập bụng 30 giây (lần)
- Yêu cầu dụng cụ: Đệm cao su hoặc ghế băng, chiếu cói, trên cỏ bằng
phẳng, sạch sẽ.
11
- Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra ngồi chân co 90o ở
đầu gối, hai bàn chân áp sát sàn. Một sinh viên khác hỗ trợ bằng cách hai tay
giữ ở phần dưới cẳng chân, nhằm không cho bàn chân người được kiểm tra
tách ra khỏi sàn.
- Cách tính thành tích: Mỗi lần ngả người, gập co bụng được tính một
lần. Tính số lần đạt được trong 30 giây.
7.5.4 Bật xa tại chỗ (cm)
- Yêu cầu dụng cụ: Thảm cao su giảm chấn, kích thước 1x3m (nếu
không có thảm có thể thực hiện trên nền đất, cát mềm). Đặt một thước đo dài
làm bằng thanh hợp kim hoặc bằng gỗ kích thước 3x0,3m trên mặt phẳng nằm
ngang và ghim chặt xuống thảm (nền đất, cát mềm), tránh xê dịch trong quá
trình kiểm tra.
- Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra đứng hai chân mở
rộng tự nhiên, ngón chân đặt sát mép vạch giới hạn; Khi bật nhảy và khi tiếp
đất, hai chân tiến hành cùng lúc. Thực hiện hai lần nhảy.
- Cách tính thành tích: Kết quả đo được tính bằng độ dài từ vạch xuất
phát đến vệt cuối cùng của gót bàn chân (vạch dấu chân trên thảm). Lấy kết
quả lần cao nhất. Đơn vị tính là cm.
7.5.5. Chạy tuỳ sức 5 phút (m)
- Yêu cầu sân bãi, dụng cụ: Đường chạy dài ít nhất 52m, rộng ít nhất
2m, hai đầu kẻ hai đường giới hạn, phía ngoài hai đầu giới hạn có khoảng
trống ít nhất 1m để chạy quay vòng. Giữa hai đầu đường chạy (tim đường) đặt
vật chuẩn để quay vòng. Trên đoạn 50m đánh dấu từng đoạn 5m để xác định
phần lẻ quãng đường (± 5m) sau khi hết thời gian chạy. Thiết bị đo gồm có
đồng hồ bấm giây, số đeo và tích-kê ghi số ứng với mỗi số đeo.
- Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra thực hiện tư thế xuất
phát cao (tay cầm một tích-kê tương ứng với số đeo ở ngực). Khi chạy hết
12
đoạn đường 50m, vòng (bên trái) qua vật chuẩn và chạy lặp lại trong thời gian
5 phút. Khi hết giờ, người được kiểm tra lập tức thả tích-kê của mình xuống
ngay nơi chân tiếp đất. Thực hiện một lần.
- Cách tính thành tích: Đơn vị đo quãng đường chạy được là mét.
7.5.6. Chạy con thoi 4x10m (s)
- Yêu cầu sân bãi, dụng cụ: Đường chạy có kích thước 10 x 1,2 m cho 1
đường chạy, 4 góc có vật chuẩn để quay đầu, đường chạy bằng phẳng, không
trơn. Để an toàn 2 đầu đường chạy có khoảng trống ít nhất 2 m. Dụng cụ gồm
đồng hồ bấm giây, cờ lệnh, cọc tiêu.
- Yêu cầu kỹ thuật động tác:
+ Thực hiện và kết thúc: Đối tượng điều tra thực hiện theo khẩu lệnh "vào
chỗ - sẵn sàng - chạy" giống như thao tác trình bày trong chạy 30m xuất phát
cao. Khi chạy đến vạch 10 m, chỉ cần 1 chân chạm vạch lập tức nhanh chóng
quay 1800 chạy trở về vạch xuất phát và sau khi chân chạm vạch xuất phát thì
quay trở lại. Thực hiện lặp lại cho đến hết quãng đường, tổng số 4 lần 10m với
lần quay. Quay theo chiều trái hay phải là do thói quen của từng người.
- Cách tính thành tích: Thực hiện một lần và lấy kết quả (tính bằng giây).
7.6.Phương pháp toán học thống kê.
Sử dụng phương pháp này để xử lý số liệu trong quá trình nghiên cứu
thực trạng và đánh giá hiệu quả của các biện pháp.
- Công thức tính số trung bình.
=
: Là số trung bình cộng
:Là giá trị khảo sát
n:Là số cá thể
-Công thức tính độ lệch chuẩn
-Công thức tính hệ số biến sai.
13
=.100%
<10% thành tích tương đối đồng đều
8. Những đóng góp mới của đề tài.
- Phát hiện thực trạng GDTC và những nguyên nhân cơ bản hạn chế
chất lượng giảng dạy của nhà trường.
- Đề xuất đượcmột số biện pháp nâng cao chất lượng GDTC nội khóa
của nhà trường.
9.Kế hoạch nghiên cứu.
9.1
.Thời gian nghiên cứu.
- Giai đoạn 1:1/2014 -8/2014 xây dựng đề cương,thu thập tìm tài liệu
có liên quan,đánh giá thực trạng GDTC.
- Giai đoạn 2:9/2014 – 5/2014 nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các
biện pháp.
9.2.Địa điểm nghiên cứu.
- Trường THPT Gia Lộc- Hải Dương.
14
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1.1.Vai trò của GDTC đối với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ.
GDTC Là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được của nền giáo
dục XHCN. Bởi vì thế hệ trẻ là thế hệ tương lai của đất nước, lực lượng có ý
nghĩa quyết định đến sự phát triển của một quốc gia, là niềm hi vọng của toàn
nhân loại. Học sinh THPT, họ là những thanh niên trẻ mang trong mình đầy
hoài bão, nhiều đam mê, khát khao và tràn đầy nhựa sống chuẩn bị những
hành trang để bước vào đời, trở thành lực lượng lao động chính và quan trọng
của đất nước. Họ không chỉ là nguồn nhân lực chủ yếu có đạo đức, có tri thức,
mà còn là nhân tố chính, quyết định cho một xã hội phát triển.
GDTC là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống giáo dục quốc
dân. GD nói chung và GDTC nói riêng đã góp phần to lớn trong việc đào tạo
những thế hệ trẻ có tri thức, nhân cánh, đạo đức cung cấp một nguồn lao động
dồi dào cho đất nước. GDTC có vai trò giáo dục học sinh hình thành nên
những thói quen tốt, loại bỏ những thói hư tật xấu góp tạo cho đất nước có
một thế hệ trẻ khỏe mạnh và cân đối về mặt hình thái; giàu ý chí, nghị lực biết
vượt nên khó khăn để đạt được những mục tiêu đã đề ra.
Thế hệ trẻ là tương lai của đất nước chính là các em đang ngồi trên ghế
nhà trường đang được hưởng chế độ giáo dục XHCN để trở thành con người
mang đầy đủ phẩm chất trí tuệ và thể chất để học tập, để xây dựng và bảo vệ
tổ quốc. GDTC là một bộ phận quan trọng của nền GD Việt Nam, g giáo dục
góp phần giáo dục toàn diện trong nhà trường các cấp như:
-
Thúc đẩy học sinh trong nhà trường phát triển về mặt hình thưc cân đối, và
-
tăng cường sức khỏe.
Góp phần giáo dục các phẩm chất đạo đức, ý chí, tinh thần, tư duy, nhân cánh
hình thành cho học sinh khả năng cố gắng để vượt qua những khó khăn.Mang
15
lại cuộc sống văn minh, lành mạnh, vui vẻ có ý nghĩa tạo nên lối sống hành vi
và các thói quen văn minh như: Tôn trọng kỉ luật, có trách nhiệm với bản than
và xã hội, tôn trọng trật tự xã hội,giữ gìn vệ sinh chung.
Trong sự phát triển kinh tế, xã hội hiện đại hóa gắn liền với nền khoa
học công nghệ tiên tiến và quá trình hội nhập quốc tế, nhu cầu lao động của
xã hội rất cao và đa dạng, người lao động phải có kiến thức, kĩ năng, nghiệp
vụ tinh thông, có tư duy năng động sáng tạo, có khả năng thích ứng với hoàn
cảnh mới tất cả điều đó có được đều nhờ quá trình giáo dục.
Nâng cao thể chất và sức khỏe cho học sinh là một trong những mục
tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước, của ngành GD và ĐT nước ta từ trước
đến nay. Do vậy để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc
học, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, nhất thiết là
phải coi trọng công tác GDTC trong trường học.
GDTC là môn học chính khóa thuộc chương trình giáo dục phổ thông,
nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua
các bài tập và trò chơi vận động. Hoạt động TT trong nhà trường là hoạt động
tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khóa, phù hợp
với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe, nhằm tạo điều kiện cho người học
thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao.
GDTC góp phần hình thành nhân cách cho người lao động tương lai.
Nó cũng là phương tiện cơ bản để nâng cao chất lượng đời sống học đường,
giúp các em giải tỏa những căng thẳng trong việc học tập các môn khác. Qua
các hoạt động TDTT, các em gần gũi nhau hơn, giúp đỡ lẫn nhau trong học
tập, tạo nên sự đoàn kết tập thể và những cộng hưởng tích cực trong Nhà
trường và xã hội. Thực hiện tốt công tác GDTC trong trường học, đồng nghĩa
với việc gieo những mầm giống tốt cho tương lai của Đất nước, sẽ tạo cho
Đất nước một lớp người lao động trong tương lai có tri thức, có năng lực, có
16
đủ sức khỏe, có phẩm chất nhân cách tốt, để phát triển sự nghiệp công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước.
GDTC là một bộ phận chủ yếu của văn hóa thể chất. GDTC là một hiện
tượng của đời sống xã hội. Nó tồn tại và phát triển theo quy luật phát triển của
xã hội, GDTC khi nó thống nhất với các mặt giáo dục tiến bộ khác. Trong
những điều kiện xã hội tuận lợi, GDTC có ý nghĩa là một trong những nhân tố
góp phần vào mục tiêu phát triển con người toàn diện.
1.2.GDTC trường học trong mối quan tâm của Đảng và Nhà nước.
Bác Hồ, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam và một nhà tư tưởng lớn nhà văn hóa, sinh thời Bác rất quan tâm đến hoạt động TDTT. Tư tưởng bao
trùm của Bác Hồ trong việc xây dựng nên nền TDTT mới của nước ta là sự
khẳng định có tính chất cách mạng của công tác TDTT, là nhu cầu khách
quan của một xã hội phát triển, là nghĩa vụ của mọi người dân yêu nước. Mục
tiêu cao đẹp của TDTT là bảo vệ, tăng cường thể chất của nhân dân, góp phần
cải tạo nòi giống, làm cho dân cường, nước thịnh. Những ý tưởng này xuyên
suốt trong các văn kiện của Đảng. Ngay sau khi nước nhà vừa độc lập, ngày
30/1/1946, Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh số l4 thiết lập tại bộ thanh niên một Nha
Thể Dục Trung ương, ngày 27/3/1946 Hồ Chủ Tịch ra lời kêu gọi người dân
tập thể dục, người chỉ rõ: ''Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống
mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công.Mỗi người dân yếu ớt là
làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi người dân khỏe mạnh tức là làm cho
cả nước khỏe mạnh vậy nên tập thể dục và coi đó là bổn phận của mỗi người
dân yêu nước'' [21].
Thấm nhuần tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh, trong chiến lược phát
triển TDTT của nước nhà, Đảng ta luôn quan tâm đến mục tiêu giáo dục toàn
diện cho thế hệ trẻ.Trong đó trí dục, đức dục, GDTC được coi là những vấn
đề quan trọng nhằm giáo dục hình thành nhân cách cho người học, những
17
người lao động trong tương lại, phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể
chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức và lối sống. Quan điểm
xây dựng và phát triển TDTT một cách toàn diện, được thể hiện rõ trong văn
kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII: “ Phát triển phong trào TDTT sâu
rộng trong cả nước trước hết là thanh niên, thiếu niên, tạo bước chuyển biến
tích cực về chất lượng và hiệu quả GDTC trong trường học, từng bước hình
thành lực lượng thể thao chuyên nghiệp” [4]
Tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Đảng ta
khởi xướng đổi mới trong mọi lĩnh vực của cách mạng của Đảng ta, luôn
được sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng. Trong báo cáo chính trị của ban chấp
hành trung ương Đảng tại đại hội Đảng lần thứ VI có nêu: ''Mở rộng và nâng
cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện
thân thể thành thói quen hằng ngày của đông đảo nhân dân, trước hết là của
thế hệ trẻ. Nâng cao chất lượng GDTC trường học các cấp”.[9]
Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng
Chính phủ quyết định ban hành tháng 12 năm 2010 có nêu một trong năm giải
pháp quan trọng để thực hiện được mục tiêu là giải pháp: “Đào tạo nguồn
nhân lực, đội ngũ cán bộ giỏi, chuyên gia và giáo viên cho Giáo dục thể chất
và Thể thao nhà trường; đổi mới chương trình, phương pháp học đường theo
hướng kết hợp với thể thao giải trí, chú trọng đào tạo nhân lực cho TDTT
vùng đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực phát
triển thể thao thành tích cao, chú trọng dạy văn hoá và giáo dục đạo đức cho
vận động viên” [16]
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 cũng
xác định trách nhiệm của Nhà nước, xã hội trong việc phát triển nền TDTT
của đất nước “ quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong nhà
trường”[7].
18
Ngày 07/03/1995, Chính phủ có chỉ thị số 133/TT về công tác TDTT
giai đoạn mới, có ghi: “Bộ GD và ĐTđặc biệt coi trọng việc GDTC trong
trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khóa, ngoại khóa, có quy buộc
các nhà trường, nhất là các trường Đại học phải có sân bãi, phòng tập có định
biên hợp lí. Bộ GD và ĐT bổ nhiệm một thứ trưởng chuyên trách về công tác
GDTC trường học”[3]
Luật Thể dục, Thể thao được Quốc hội khoá 11 thông qua tại kỳ họp
thứ 10, ngày 29/11/2006, quy định: “Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo phối
hợp với Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục Thể thao xây dựng chương
trình giáo dục thể chất, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên thể dục thể
thao; hướng dẫn nội dung hoạt động thể thao ngoại khoá trong nhà trường…”;
“Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm đảm
bảo chỉ tiêu biên chế giáo viên, giảng viên thể dục thể thao cho các trường
công lập thuộc địa phương…” [13]
Nắm bắt được tầm quan trọng của TDTT, Đảng và Nhà nước ta thường
xuyên quan tâm, định hướng phát triển sự nghiệp TDTT nói chung và GDTC
nói riêng. Quyết định 57/2002/QĐ-TTg ngày 26/4/2002 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành TDTT đến năn 2010 có ghi:
“Thường xuyên nâng cao chất lượng chuyên môn của giáo viên thể dục thể
thao các cấp, đến năm 2010 đảm bảo 80% nhu cầu giáo viên thể dục thể thao
cho các trường, các cấp học, củng cố, nâng cấp, mở rộng, phát triển các
trường Thể dục Thể thao. Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường
học. Đến năm 2010 có 95% các trường học ở thành phố, thị xã, khu công
nghiệp đảm bảo đầy đủ các tiết học Thể dục Thể thao, có 70% - 80% học sinh
và 90 % sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo quy định…”[15]
Chỉ thị số 17 của Ban chấp hành TW Đảng về phát triển thể dục thể
thao đến năm 2010 đã chỉ rõ: “ Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao ở trường
19
học. Tiến tới bảo đảm mỗi trường học đều có giáo viên thể dục chuyên trách
và lớp học thể dục đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng giáo
dục thể chất; xem đây là một tiêu chí công nhận trường chuẩn quốc gia” [1]
Đẩy mạnh công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học, bảo đảm
yêu cầu phát triển toàn diện, góp phần nâng cao thể trạng, tầm vóc người Việt
Nam, làm nền tảng cho phát triển thể thao thành tích cao và xây dựng lối sống
lành mạnh trong tầng lớp thanh, thiếu niên.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao
trong trường học; đổi mới nội dung, giáo trình, chương trình giáo dục thể chất
phù hợp với thể chất học sinh, sinh viên Việt Nam và tăng cường tổ chức các
hoạt động ngoại khoá với các tiêu chí đánh giá cụ thể, linh hoạt.
Đảng, Bác Hồ, Nhà nước ta đa quan tâm đến việc phát triển sự nghiệp
TTTD nói chung và GDTC nói riêng khẳng định rõ ở các quan điểm, đường
lối phát triển TDTT các nghị quyết, và các chỉ thị về công tác TDTT.Các
quan điểm, đường lối đó là những định hướng chỉ đạo sự nghiệp phát triển sự
nghiệp TDTT của đất nước, góp phần quan trọng giữ gìn và nâng cao sức
khỏe, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, phục vụ tích cực công cuộc
xây dựng xã hội mới vì dân giàu nước mạnh.GDTT và TDTT trường học là
một bộ phận quan trọng có đầy đủ các điều kiện để thực hiện mục tiêu giáo
dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân
tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN.
1.3. Xu thế đổi mới GDTC trường học trong giai đoạn hiện nay.
Ngày nay, cuộc cánh mạng khoa học kỹ thuật công nghệ trên thế giới
đã và đang có bước chuyển biến vĩ đại, đó là thời đại của cuộc cách mạng đại
công nghiệp, thời đại nhân văn, thời đại của giáo dục đao tạo.Trước những
chuyển biến lớn lao về đời sống xà hội và sự phát triển như vũ bão của khoa
học công nghệ, tất cả những thay đổi đó đòi hỏi người làm việc trong nền sản
20
xuất hiện đại phải có năng lực cả về thể chất lẫn tinh thần ngày càng hoàn
thiện hơn.Để đáp ứng những yêu cầu của đất nước trong tình hình mới.Sự
nghiệp TDTT cần được phát triển đúng hướng theo quan điểm “Phát triển
TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế, xã hội
của Đảng và Nhà nước, nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người.Công
tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, giáo dục nhân cách đạo
đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của
nhân dân, nâng cao chất lượng lao động xây dựng sức chiến đấu của lực
lượng vũ trang” [7]
Đảng và chính phủ rất coi trọng công tác TDTT và coi đó là một công
tác cách mạng.TDTT có ý nghĩa và vai trò to lớn trong xây dựng con người
phát triển toàn diện, xây dựng đời sống mới, góp phần thiết thực thực hiện tốt
các nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của đất
nước.Từ tư tưởng chỉ đạo đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công
tác TDTT trong từng giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam.
Chỉ thị 112/CT của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) yêu
cầu các cấp các ngành thực hiện tốt các nhiệm vụ “ Nâng cao chất lượng
GDTC cho học sinh các trường học, duy trì và phát triển phong trào TDTT
trong các lực lượng vũ trang, trong công nhân viên chức và nhân dân”[2]
Bước sang thời kì đổi mới, khi đất nước được hoàn toàn thống nhất.
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã mở đầu cho công cuộc đổi
mới toàn diện đất nước về TDTT. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề
cập đến các vấn đề mở rộng, nâng cao chất lượng trong các lĩnh vực TDTT
quần chúng, TT thành tích cao, GDTC trong trường học và phát triển lực
lượng vận động viên trẻ. Nghị quyết ghi rõ “ Mở rộng và nâng cao chất lượng
phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thân thể thành
thói quen hàng ngày của đông đảo nhân dân ta, trước hết là thé hệ trẻ, nâng
cao chất lượng GDTC trong các trường học” [9]
21
GDTC còn là nội dung bắt buộc đã được khẳng định trong hiến pháp
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hiến pháp năm 1992 đã ghi rõ
“Việc dạy và học TDTT trong trường học là bắt buộc”[6]
Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII năm 1996 đã
khẳng định “GD – ĐT cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành
quốc sách hàng đầu” [8]
Để khẳng định vai trò tất yếu của TDTT đối với toàn xã hội, cũng như
nhằm thúc đẩy nhanh, mạnh hơn nữa phong trào TDTT quần chúng và GDTC
học đường.Đảng ta luôn có những chỉ thị, nghị quyết kịp thời đề ra chủ
trương, đường lối, đẩy mạnh tiến trình phát triển theo từng giai đoạn cách
mạng tương ứng với những yêu cầu tình hình và nhiệm vụ cụ thể của đât
nước.Đảng ta đã ban hành những chỉ thị những nghị quyết để chỉ đạo công tác
TDTT và GDTC.
Tại hội nghị GDTC trong nhà trường phổ thông toàn quốc tại Hải
Phòng tháng 8/1986, nguyên phó Thủ tướng Nguyễn Khánh cũng đã nói “
Ước vọng của chúng ta là mỗi thanh niên Việt Nam cả nam lẫn nữ đều có cơ
thể cường tráng cùng với tâm hồn trong sang về trí tuệ phát triển” [19]
Vì vậy chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã
hội. Đó chính là mục tiêu cơ bản, quan trọng của chế độ xã hội của nước ta
hiện nay.
Để thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết của trung ương Đảng về công
tác GDTC và TDTT trường học. Bộ GD và ĐT đưa ra các mục tiêu cụ thể:
Tạo bước phát triển mới về phong trào TDTT quần chúng trong lực lượng
thanh, thiếu niên học sinh, đạt 60% các trường học các cấp thực hiện GDTC nề
nếp và 15% số trường có hoạt động TDTT ngoại khóa thường xuyên.
Hoàn thiện củng cố hệ thống tổ chức GDTC và thể thao trường học
nhằm phát hiện, bồi dưỡng ban đầu và hướng nghiệp cho học sinh năng khiếu.
22
Tăng cường tổ chức quản lý Nhà nước về TDTT ở các cấp giáo dục mở
rộng các tổ chức và xã hội về TDTT, đưa công tác kế hoạch hòa vào nề nếp.
Hoàn thành quy hoạch về cơ sở vật chất TDTT của ngành giáo dục đào
tạo trên phạm vi toàn quốc, xúc tiến xây dựng một số công trìnhTDTT trọng
điểm ở các khu vực trường.
Đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo đào tạo giáo viên TDTT
nhằm tăng cường về số lượng những thành tựu khoa học GDTC và y học thể
thao nhằm phát triển và nâng cao chất lượng GDTC và thể thao học đường.
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng đắc lực cho chiến lược đào tạo con người
phát triển toàn diện, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ văn minh. Với quan điểm TDTT là công tác cách mạng,
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác TDTT nói chung và GDTC
nói riêng. Thấm nhuần quan điểm của Đảng đối với TDTT –GDTC hai ngành
giáo dục đào tạo và TDTT đã phối hợp, chỉ đạo nội dung công tác GDTC
trong tình hình mới, phục vụ đắc lực mục tiêu đào tạo con người.
1.4. Các hình thức GDTC trong nhà trường.
1.4.1.GDTC nội khóa.
GDTC là môn học bắt buộc trong hệ thống giáo dục quốc dân, nó có
vai trò to lớn trong giáo dục và giáo dưỡng. Giáo dục thể chất trường học ở
nước ta là một bộ phận quan trọng cấu thành nên giáo dục thể chất toàn dân,
là nơi giao nhau của 2 lĩnh vực giáo dục và giáo dục thể chất. Học đường là
địa bàn chiến lược, học sinh là đối tượng chiến lược của giáo dục thể chất.
Học đường cũng là môi trường thuận lợi và giàu tiềm năng để phát hiện và
bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước. Thể thao trường học không chỉ là
phương tiện nâng cao sức khoẻ, phát triển thể chất mà còn góp phần rèn luyện
nhân cách đạo đức, ý chí, kỹ luật và lối sống lành mạnh cho thế hệ học sinh ở
ViệtNam.
23
Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao
trong trường học là: Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong
thể chất và thể thao của học sinh, phát triển các tố chất thể lực, phát triển năng
lực tâm lý, tạo ý thức tập luyện TDTT thường xuyên, giáo dục được đức tính
cơ bản và lòng nhân đạo cho học sinh.
Bản thân giờ học TDTT có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt đối với việc
quản lý và giáo dục con người trong xã hội. Việc học tập các bài tập thể dục,
các kỹ thuật động tác là điều kiện cần thiết để con người phát triển cơ thể một
cách hài hoà, bảo vệ và củng cố sức khoẻ, hình thành năng lực chung và
chuyên môn.
GDTC nội khóa trong nhà trường trước hết có vai trò to lớn trong việc
tăng cường sức khỏe, nâng cao dân chí, lối sống văn minh, đạo đức, trí tuệ,
nhân cách, thẩm mỹ cho học sinh; bên cạnh đó GDTC nội khóa trong nhà
trường là bộ phận chính trong việc phát triển toàn diện thế hệ trẻ, cung cấp
cho Đất nước một nguồn nhân lực cường tráng về sức khỏe, có tri thức phục
vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiêp hóa và hiện đại hóa đất nước.
GDTC nội khóa có mối quan hệ mật thiết với các môn học khác, là tiền
đề để phát triển các môn học khác. Là môi trường giúp học sinh trau dồi sức
khỏe, thoải mái về tinh thần sau những tiết học mệt mỏi, căng thẳng của các
môn học khác; giúp học sinh lấy lại tinh thần, sức khỏe tốt để tiếp tục học tập
các môn học khác.
Theo chương trình môn học Thể dục ở trong nhà trường GDTC nội
khóa có số tiết là 70 tiết/năm. Hình thức GDTC trong nhà trường bao gồm các
quy định như sau: Một tuần giảng dạy 2 tiết GDTC nội khóa, các tiết học
không được dạy liên tiếp trong một buổi học, phải dạy chéo buổi.
Dựa trên những quy định ban hành của Bộ GD và ĐT về hình thức
GDTC nội khóa trong nhà trường, các trường học sẽ sắp xếp, tổ chức môn
24
học theo một thời khóa biểu. Là hình thức cơ bản nhất của giáo dục thể chất
được tiến hành trong kế hoạch học tập của nhà trường. Vì việc đào tạo cơ bản
về thể chất, thể thao cho học sinh là nhiệm vụ cần thiết, nên trước hết phải có
nội dung thích hợp để phát triển các tố chất thể lực và phối hợp vận động cho
học sinh. Đồng thời, giúp các em có trình độ nhất định để tiếp thu được các
kỹ thuật động tác TDTT.
1.4.2.Hoạt động TDTT trường học.
Là nhu cầu của học sinh, có mục đích và nhiệm vụ là góp phần phát
triển năng lực thể chất một cách toàn diện, đồng thời góp phần nâng cao thành
tích thể thao của học sinh. Giờ học ngoại khoá nhằm củng cố và hoàn thiện
các bài học chính khoá và được tiến hành vào giờ tự học của học sinh, hay
dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT, hướng dẫn viên.
Hoạt động ngoại khoá với chức năng là động viên lôi kéo nhiều người
tham gia tập luyện các môn thể thao yêu thích, góp phần nâng cao sức khoẻ
phục vụ học tập và sinh hoạt. Tác dụng của giáo dục thể chất và các hình thức
sử dụng TDTT có chủ đích áp dụng trong các trường học là toàn diện, là
phương tiện để hợp lý hoá chế độ hoạt động, nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và
nâng cao năng lực hoạt động, học tập của học sinh sinh.
Hoạt động ngoại khóa trong trường học theo hình thức không bắt buộc
và dựa trên nguyên tắc tự nguyện, học các môn thể thao theo nhu cầu và sở
thích của học sinh.Các trường học đều có hình thức ngoại khóa nhằm nâng
cao khả năng tích cực, tự giác của học sinh.
Các hình thức hoạt động ngoại khóa cho học sinh theo sở thích và năng
lực của học sinh bao gồm hình thức hoạt động theo các đội tuyển thể thao của
trường, hình thức hoạt động theo các câu lạc bộ, hình thức hoạt động theo
nhóm học sinh và tự tập luyện.
25
1.5. Khái quát về trường THPT Gia Lộc-Hải Dương.
1.5.1.Đặc điểm về điều kiện tự nhiên xã hội và kinh tế của tỉnh Hải Dương.
1.5.1.1. Điều kiện tự nhiện và xã hội:
* Đặc điểm tự nhiên:
- Vị trí địa lí: Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là
thành phố Hải Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía đông, cách thành
phố Hải Phòng 45 km về phía tây, phía tây bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía bắc giáp
tỉnh Bắc Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía đông giáp thành phố
Hải Phòng, phía nam giáp tỉnh Thái Bình và phía tây giáp tỉnh Hưng Yên.Trung
tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương hiện là đô thị loại 2.
- Tài nguyên đất. Hải Dương có diện tích tự nhiên 1.662 km 2 , được
chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi ở phía Bắc
tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên, gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã
thuộc huyện Kinh Môn, là vùng đồi núi thấp phù hợp với việc trồng cây ăn
quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm
89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ thích
hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm.
-Tài nguyên rừng: Diện tích rừng tỉnh Hải Dương có 9.140 ha, trong đó
rừng tự nhiên có 2.384 ha, rừng trồng có 6.756 ha.
- Tài nguyên khoáng sản: Đá vôi ở huyện Kinh Môn, trữ lượng 200
triệu tấn, chất lượng tốt, CaCO3 đạt 90 – 97% cung cấp đủ nguyên liệu cho
sản xuất sứ. Xi măng sản lượng 4 – 5 triệu tấn. Cao lanh ở Kinh Môn, Chí
Linh trữ lượng 40 vạn tấn, tỷ lệ Fe 2O3: 0,8 – 1,7 %, Al2O3 17 – 19% cung cấp
đủ nguyên liệu cho sản xuất sứ trong tỉnh và một số tỉnh khác. Sét chịu lửa ở
huyện Chí Linh, trữ lượng 8 triệu tấn, chất lượng tốt, tỷ lệ Al 2O3 từ 23,5 –
28%, Fe2O3 từ 1,2 – 1,9 % cung cấp nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa trong