Tải bản đầy đủ (.docx) (181 trang)

CHÍNH PHỦ QUỐC GIA VIỆT NAM (1949 - 1955)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (944.37 KB, 181 trang )

MỤC LỤC

1


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sau chiến tranh thế giới II, cục diện thế giới có những chuyển biến sâu
sắc. Phong trào giải phóng dân tộc lên cao ở các nước Á, Phi và khu vực Mỹ
La tinh. Chủ nghĩa xã hội ngày càng lan rộng trở thành một hệ thống thế giới.
Cuộc chiến tranh lạnh và sự đối đầu Đông Tây đã khiến cho tất cả các quốc
gia đều bị ảnh hưởng. Việt Nam với vị trí là giao điểm Đông – Tây, trên một
vị trí chiến lược quan trọng trên bản đồ chính trị thế giới cũng không nhằm
ngoài tác động chung đó.
Trong cục diện đó, ở Việt Nam và các quốc gia Đông Dương xuất hiện
hai lực lượng chính trị độc lập là Đảng cộng sản và các đĐảng phái dân tộc
chủ nghĩa. Họ tuy khác nhau về chủ trương, đường lối, về cách thức đấu tranh
nhưng tựu chung lại, họ đều là những người “dân tộc” đều có chung một
nguyện vọng là giành độc lập từ tay người Pháp, xây dựng một quốc gia giàu
mạnh ở Đông Nam Á.
Trải qua một quá trình chuẩn bị lâu dài, ngày 1/727/4/1949 chính phủ
Quốc gia Việt Nam chính thức được thành lập do Bảo Đại làm Qquốc trưởng,
Nguyễn Văn Xuân làm Tthủ tướng. Trong thời gian tồn tại từ năm 1949 đến
năm 1955, chính phủ này đã có những dấu ấn nhất định trong lịch sử Việt Nam
nói chung, tiến trình phát triển của cuộc chiến tranh Đông Dương nói riêng.
Tuy nhiên, có thể nhận thấy một khoảng trống trong các sách vở,trong
công trình nghiên cứu dù là chuyên sâu hay phổ thông khi tìm hiểu về cuộc
kháng chiến chống Pháp (cuộc chiến tranh Đông Dương) (cuộc kháng chiến
chống Pháp) từ năm 1945 –- 1954, c. Chúng ta viết rất nhiều về các chiến
dịch lịch sử, tình hình kinh tế xã hội ở căn cứ địa Việt Bắc của đồng bằng khu
IV (những khu vực do Việt Minh chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm


soát) nhưng lại thiếu hẳnchưa đề cập nhiều đến các bài viết về tình hình kinh
2


tế xã hội trong vùng tạm chiếm, về chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại
và những hoạt động của chính phủ này.
Hiện nay, tồn tai hai luồngnhiều quan điểm khác nhau chính khi đánh
giá về chính phủ chính phủ Quốc gia Việt Nam. Các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước có những cách nhìn nhận rất khác nhau về chính phủ này. : Các
học giả dưới thời Việt Nam cộng hòa và một số nhà nghiên cứu ở nước ngoài
có những đánh giá cao về chính phủ này. Thậm chí có ý kiến còn cho rằng:
chính phủ Quốc gia Việt Nam là thực thể duy nhất có cơ sở pháp lý để tồn tại.
Đồng thời, họ cũng đề cao vai trò của Bảo Đại và các thành viên chính phủ
trong việc xây dựng một quốc gia độc lập, thống nhất.
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu phía Việt Nam Dân chủ cộng hòa thì
cho rằng: chính phủ Quốc gia Việt Nam bản chất chỉ là chính phủ bù nhìn, tay
sai của Pháp. Nó là sự tập hợp của các đảng phái, phe nhóm chính trị phức
tạp, theo chân Pháp, phản bội lại lợi ích của dân tộc. Sự tồn tại của chính phủ
Quốc gia Việt Nam là một trở ngại, là lực cản trên con đường đấu tranh giành
độc lập.
Vậy nên nhìn nhận về Chính phủ Quốc gia Việt Nam như thế nào cho
đúng?
Bên cạnh đó, việc đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy lịch sử
ở trường phổ thông cũng đòi hỏi chúng ta phải có một cái nhìn toàn diện từ cả
hai phía. Việc nghiên cứu về chính phủ Quốc gia Việt Nam sẽ góp phần giúp
hiểu rõ hơn về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Từ đó, giúp giáo viên
có thêm tư liệu phục vụ cho quá trình giảng dạy.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Chính phủ Quốc
gia Việt Nam 1949 – 19541955” nhằm phục dựng, làm rõ quá trình ra đời,
hoạt động của chính phủ này cũng như mối quan hệ của nó với Pháp, và Mỹ

và các quốc gia khác. Từ đó, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn, góp
3


phần lý giải một cách khách quan, thấu đáo một số vấn đề còn nhiều tranh cãi
trong lịch sử dân tộc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về chính phủ qQuốc gia Việt Nam là một nội dung được
các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, với những quan
điểm, cách tiếp cận và mức độ rất khác nhau.
Thứ nhất, hoạt động của chính phủ Quốc gia Việt Nam được thể hiện
qua nNguồn tư liệu gốc. Đ đó là các biên bản, báo cáo, dụ của Bảo Đại và các
cơ quan của chính phủ được lưu trữ tại trung tâm lưu trữ quốc gia III. Đây là
nguồn tư liệu có giá trị nhất góp phần quan trọng vào việc phục dựng lại các
hoạt động của chính phủ quốc gia Việt Nam.
Thứ nhất hai là các công trình nghiên cứu của các học giả phía Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong cuốn “Đại cương Lịch sử Việt Nam tập II” do PGS Lê Mậu Hãn
chủ biên, Nxb Giáo dục, 2003. Chính phủ Quốc gia Việt Nam được đề cập rất
sơ lược dưới góc độ âm mưu và thủ đoạn của người Pháp trong việc “dùng
người Việt đánh người Việt”. Tác giả khẳng định chính phủ Quốc gia Việt Nam
đã “đi ngược lại nguyện vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam” [15;77].
Cuốn “Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay” do PGS.TS Trần Bá Đệ chủ
biên, Nxb Giáo dục 2013, đã đề cập nhiều hơn đến chính phủ Quốc gia Việt
Nam về quá trình thành lập, cơ cấu tổ chức, bộ máy chính quyền… Tác giả
cho rằng, việc thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam là do những chuyển
biến của tình hình trong nước và thế giới. Đó là do “Mỹ lo sợ ảnh hưởng của
chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, nên tìm cách ép Pháp nới rộng quyền cho Bảo
Đại” [10;88]. Còn nhân tố trong nước “đứng trước tình hình nội bộ mâu
thuẫn, các phe phái tranh nhau quyền lực, ngày 1/7/1949, Bảo Đại đứng ra


4


thành lập chính phủ, tự xưng là Quốc trưởng kiêm thủ tướng của chính phủ
Quốc gia Việt Nam” [10;89].
So với các công trình trước đó, cuốn Lịch sử Việt Nam tập 10, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013, Đinh Thu Cúc (chủ biên), các tác giả đã
nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện bối cảnh lịch sử của cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp từ năm 1945 – 1954, đồng thời cũng phục dựng
một cách khá toàn diện những hoạt động kinh tế, xã hội trong vùng tạm chiếm.
Trong đó, những hoạt động của chính phủ Quốc gia Việt Nam cũng được đề
cập đến ở những góc độ khác nhau.
Bên cạnh đó, So với các công trình trước đó, cuốn Lịch sử Việt Nam từ
1945 đến nay do PGS.TS Trần Bá Đệ chủ biên đã đề cập nhiều hơn đến chính
phủ Quốc gia Việt Nam về quá trình thành lập, cơ cấu tổ chức, bộ máy chính
quyền… Tác giả cho rằng, việc thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam là do
những chuyển biến của tình hình trong nước và thế giới. Đó là do “Mỹ lo sợ
ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, nên tìm cách ép Pháp nới rộng
quyền cho Bảo Đại” [10;88]. Còn nhân tố trong nước “đứng trước tình hình
nội bộ mâu thuẫn, các phe phái tranh nhau quyền lực, ngày 1/7/1949, Bảo
Đại đứng ra thành lập chính phủ, tự xưng là Quốc trưởng kiêm thủ tướng của
chính phủ Quốc gia Việt Nam” [10;89].
một số công trình nghiên cứu nhưCuốn “Lịch sử cuộc kháng chiến chống
Pháp” của nhà xuất bản Quân đội nhân dân, cuốn “Cuộc đấu tranh để củng cố
và bảo vệ chính quyền cách mạng và kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện
chống thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ 9/1945 – 7/1954”, Nxb Đại học Tổng
hợp 1973, “Ggiáo trình Lịch sử Việt Nam tập V”, Nxb Đại học Sư phạm,… nhìn
chung Chính phủ Quốc gia Việt Nam đều được nhìn nhậnđánh giá như sản phẩm
của sự điều chỉnh chiến lược của Pháp. Chính phủ này được coi là “chính phủ

bù nhìn là công cụ cho cuộc chiến tranh xâm lược”.
5


Trong cuốn Lịch sử Nam bộ kháng chiến, Tập 1 (1945 – 1954), - Nxb
Chính trị quốc gia – Sự thật, 2010, các tác giả đã trình bày một cách khái quát
cục diện chính trị trong nước và thế giới sau năm 1945. Đặc biệt là sự ra đời
của các chính phủ Nam kỳ tự trị ở miền Nam. Đây là cơ sở để sau này các
đảng phái và tổ chức chính trị tập hợp thành chính phủ Quốc gia Việt Nam
“Giải pháp Bảo Đại đã được Bollaert chuẩn bị từ cuối năm 1947. Tháng
12/1947, thương lượng với Bảo Đại ở vịnh Hạ Long, tiếp xúc Bảo Đại 5 lần
từ tháng 1/1948, sau đó dựng lên chính phủ trung ương lâm thời do tướng
Nguyễn Văn Xuân đứng đầu (ngày 17/5/1948). Chính phủ này được hội đồng
bộ trưởng Pháp công nhận. ngày 5/6/1948, tại vịnh Hạ Long có mặt Bảo Đại,
Bollaert, Nguyễn Văn Xuân đã kí một thỏa ước công nhận Việt Nam độc lập”
[17;423].
Trong cuốn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 – 1975, Nxb
chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội. Chính phủ Quốc gia Việt Nam được nhìn
nhận cùng với quá trình can thiệp của người Mỹ vào Việt Nam. Bảo Đại và
Chính phủ Quốc gia Việt Nam được xem như những con bài chính trị mà
Pháp và Mỹ đã sử dụng “Sự phát triển của tình hình cách mạng ở châu Âu và
châu Á làm cho chiến lược ngăn chặn ở châu Á của Mỹ có những điều chỉnh
mới. Sự điều chỉnh đó đã dần đưa Mỹ dính líu ngày càng sâu vào cuộc chiến
tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Đông Dương, kể từ năm 1949 trở đi. Mỹ
đã từng khuyên Pháp nên tìm một con bài chính trị. Tháng 1/1949, Bộ ngoại
giao Mỹ đã thúc ép Pháp thỏa thuận với Bảo Đại để thành lập chính phủ bù
nhìn” [45;112]. Bên cạnh đó, cuốn sách còn đề cập đến quá trình viện trợ của
Mỹ cho Pháp và chính phủ Quốc gia Việt Nam, để đến giai đoạn cuối Pháp
trở thành kẻ đánh thuê cho Mỹ trên chiến trường Đông Dương.
Các hoạt động của chính phủ Quốc gia Việt Nam trên lĩnh vực kinh tế

còn được phản ánh trong cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 – 2000, Nxb
6


Khoa học xã hội, 2000. Trong đó, tình hình kinh tế ở vùng tạm chiếm do
người Pháp và chính phủ Quốc gia Việt Nam kiểm soát đã được đề cập với
các số liệu thống kê và những mô tả, phân tích rất chi tiết và cụ thể.
Trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử và Tạp chí khoa học Trường Đại học
Sư phạm thành phố Hồ chí Minh có một số bài báo, công trình nghiên cứu
được thực hiện viết về giai đoạn này,. Ví như bài viết “Bảo Đại và bản thỏa
ước Elysée năm 1949” của tác giả Vũ Dương Ninh trên tạp chí Nghiên cứu
lịch sử số 2/2014. Tác giả đã đi sâu phân tích hai sự kiện quan trọng. Đó là
cuộc gặp giữa Cao ủy Bollaert và thủ tướng lâm thời chính phủ Quốc gia Việt
Nam – Nguyễn Văn Xuân. Sự kiện thứ hai là hiệp ước Elysée được kí kết
giữa Bảo Đại và tổng thống Pháp Vincent Auriol vào năm 1949. Tác giả đã
dựa vào các nguồn tư liệu của các học giả Việt Nam và phương Tây để đi đến
kết luận về sự “giới hạn” của “nền độc lập và thống nhất” mà người Pháp trao
cho Bảo Đại. Người Pháp đã sử dụng Bảo Đại như một con bài để chống lại
chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Trong bài “Giải pháp Bảo Đại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt
Nam 1945 – 1954” của tác giả Ngô Chơn Tuệ và Phan Văn Hoàng, đăng trên
tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Các tác giả đã
nêu lên bối cảnh lịch sử, con đường hình thành “giải pháp Bảo Đại” từ đó đi
đến kết luận “Giải pháp Bảo Đại hòng biến chiến tranh tái chiếm thuộc địa
thành cuộc nội chiến giữa một bên là những người Việt Nam yêu nước kháng
chiến đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh và bên kia là những người Quốc gia
do Bảo Đại cầm đầu” [38;40].
Nhìn chung, những giáo trình, tài liệu giảng dạy, các bài nghiên cứu
trên các tạp chí, Chính phủ Quốc gia Việt Nam chưa từng được coi như một
“thực thể”. Nó được gọi bằng những cái tên như “bù nhìn”, “phản động”,


7


“con rối chính trị”. Sự ra đời của nó hoàn toàn đơn thuần nằm trong chuỗi âm
mưu và thủ đoạn của Pháp.
Bên cạnh đó phải kể đến các công trình nghiên cứu phía Việt Nam cộng
hòa và các nhà nghiên cứu Lịch sử Việt Nam ở hải ngoại.
Cuốn “Lịch sử Việt Nam 1945 – 1995” của giáo sư Lê Xuân Khoa,
Nxb Tiên Rồng, 2004, c. Cuốn sách đã đề cập một cách khái quát nhưng hệ
thống về sự ra đời của chính phủ Quốc gia Việt Nam. Từ những biến chuyển
chính trị ở Việt Nam sau năm 1945, cuộc chiến tranh của người Pháp, những
thay đổi của tình hình thế giới, và sự vận động trong chính các đảng phái
chính trị để dẫn đến sự ra đời của chính phủ Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại
làm quốc trưởng.
Luật sư Hoàng Cơ Thụy, t nguyên Đại sứ Việt Nam cộng hòa tại Lào từ
năm 1969 – 1975. Ông còn là một chính-khách khá nổi tiếng trong miền Nam
vào thập niên 60. Sau cuộc đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm không
thành, ông được Tòa Đại sứ Hoa Kỳ đưa sang Paris (Pháp). Trong thời gian ở
Pháp, luật sư Hoàng Cơ Thụyông đã sưu tầm tài liệu để viết bộ sách “Việt Sử
Khảo Luận” gồm 6 cuốntập. Trong đó, với tư cách là “người trong cuộc” tác
giả đã cho người đọc thấy được chân dung các chính khách, những biến động
chính trị ở Việt Nam trong một thời gian dài từ sau năm 1945. Cuốn sách
cũng là một trong những công trình ghi lại một cách khá chi tiết về Chính phủ
Quốc gia Việt Nam và Quốc trưởng Bảo Đại.
Cuốn “A morden history of Vietnam” của Nguyễen Phút Tấn, tác
giảNxb Khai trí, Sài Gòn (2002), đã khôi phục một cách khá chân thực những
biến động chính trị trong lịch sử Việt Nam từ cả hai phía: Chính phủ Việt
Nam dân chủ cộng hòa đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh và cCác đảng phái
chính trị đối lập. Cuốn sách cũng đề cập đến sự thành lập của các cChính phủ

lâm thời của Nguyễn Văn Thinh, Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Xuân và những
8


hoạt động chính trị của Bảo Đại là cơ sở cho sự ra đời của chính phủ Quốc gia
Việt Nam. Sau khi trình bày một cách khái quát quá trình hoạt động của chính
phủ này, tác giả nhấận mạnh “rõ ràng chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo
Đại vẫn không có quyền độc lập về tài chính, quân đội. Những vấn đề quan
trọng vẫn phải do chính phủ Liên hiệp quyết định” [54;580].
Trong cuốn Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-dơ-ven đến Ních-xơn, Nxb
Thông tin lý luận, Hà Nội, tác giả Peter A. Puller đã nêu lên bối cảnh lịch sử
dẫn đến sự quan tâm của chính phủ Mỹ đến Việt Nam “Thứ nhất là Hiệp ước
Bắc Đại Tây Dương đã kết nạp Pháp, có thể tạo cho Wwashington khả năng
thúc ép Pháp thi hành sự mở rộng tự do trong chính sách thuộc địa của họ ở
Đông Dương nếu như không có sự phát triển quan trọng thứ hai là việc quân
đội Mao Trạch Đông tiến hành cuộc kháng chiến”[28;30]. Cuốn sách cũng đề
cập đến vai trò của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương “Mỹ cố gắng
thuyết phục một vài chính phủ châu Á đi đầu trong việc công nhận chính phủ
Quốc gia Việt Nam” [28;33].
Trong cuốn hồi kí Con rồng An Nam của Bảo Đại và Bảo Đại vị vua
cuối cùng của triều Nguyễn của Phan Thứ Lang, cuộc đời và quá trình hoạt
động của Bảo Đại từ sau năm 1945 cũng được đề cập khá chi tiết. Trong đó
có giai đoạn Bảo Đại về nước và thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam
“Ngày 19/12/1947 thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân cũng từ Sài Gòn sang
Hương Cảng gặp Bảo Đại xin được thành lập một chính phủ không phân biệt
Bắc – Trung – Nam. Bảo Đại chấp thuận và cho chiếu thư để Nguyễn Văn
Xuân làm thủ tướng và thành lập nội các, lấy lá cờ vàng ba sọc đỏ làm quốc
kỳ còn quốc ca là bài Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu Phước” [23;286].
Trong cuốn Hậu trường chính trị phía sau cuộc chiến Đông Dương,
Ttác giả Tường Hữu là, một nhà báo, kỳ cựu từng là cộng tác viên chuyên

9


theo dõi mảng thời sự quốc tế của Hãng tin AFP và Đài truyền hình Pháp
trong thập niên 1960 - 1970. Có Vì vậy, ông có điều kiện tiếp xúc nhiều
nguồn tư liệu phong phú từ sách báo nước ngoài. Ông, tác giả đã tập hợp, dịch
và biên soạn các tư liệu với sự thận trọng, khách quan để viết cuốn Hậu
trường chính trị phía sau cuộc chiến Đông Dương, Nxb Công an nhân dân,
2003 cần thiết. Cuốn sách đã đề cập đếnm các sự kiện chính trị xảy ra trong
thời kỳ Pháp, Mỹ nhảy vào can thiệp và gây ra cuộc chiến ở Việt Nam và
Đông Dương nói chung. Tập sách là sự tiếp nối, mở rộng cuốn "Những điều ít
được biết về cuộc chiến tranh Việt Nam 1945-1975". Những diễn biến chính
trị trong cuộc chiến tranh từ năm 1945 – 1954, những sự kiện lịch sử, nhân
vật quan trọng, cùng hoạt động của người Pháp và chính phủ Quốc gia Việt
Nam đã được đi sâu nghiên cứu ở những góc cạnh khác nhau.
Tóm lại, nghiên cứu về chính phủ Quốc gia Việt Nam là vấn đề thu hút
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu với nhiều quan điểm và góc độ tiếp
cận khác nhau. Mỗi người nghiên cứu đều đứng trên một lập trường chính trị
từ đó đưa ra những nhận định phán xét của riêng mình.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu đầy đủ và toàn diệnđánh giá về chính phủ
này vẫn còn nhiều khoảng trống, đặc biệt là về cần phải dựa trên những nguồn
tư liệu xác thực. Đó là những chính sách kinh tế, văn hóa xã hội mà chính phủ
Quốc gia Việt Nam đã thực hiện. Thông qua luận văn, tác giả muốn khắc phục
phần nào hạn chế đó, phục dựng quá trình ra đời và hoạt động của nó, từ đó
đưa ra một cái nhìn, một quan điểm khi nghiên cứu về chính phủ nàygóp phần
đánh giá về chính phủ Quốc gia Việt Nam.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Chính phủ quốc gia Việt Nam từ khi
chính thức thành lập cho đến khi chấm dứt hoạt đông (1949 – 1955).

* Phạm vi nghiên cứu
10


Về thời gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong thời gian từ
khi chính phủ Quốc gia Việt Nam ra đời năm 1949 đến khi nền Đệ nhất Cộng
hòa được thành lập năm 1955.
Về không gian: Giới hạn không gian của đề tài là ở các khu vực do
người Pháp và Chính phủ Quốc gia Việt Nam kiểm soát (vùng tạm chiếm).
Đề tài tập trung nghiên cứu một cách khái quát về chính phủ Quốc gia
Việt Nam trên tất cả các phương diện. Do hạn chế về nguồn tư liệu, năng lực
nghiên cứu nên nhiều nội dung trong quá trình hoạt động, về mối quan hệ
giữa chính phủ Quốc gia Việt Nam và người Pháp vẫn chưa được đi sâu giải
quyết một cách thấu đáo.
4. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ bản chất của - Phục
dựng lại quá trình ra đời, hoạt động và chuyển giao của chính phủ Quốc gia
Việt Nam từ 1949 – 1955, từ .đó đề tài
- Đđưa ra một cách nhìn nhận, đánh giá khi nghiên cứu về chính phủ
Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại.này. Trên cơ sở đó, g
- Góp phần giải thích một cách thấu đáo, toàn diện hơn về các sự kiện
lịch sử Việt Nam trong giai đoạn này.ừ năm 1945 – 1954.
* Nhiệm vụ của đề tài
- Tìm hiểu bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế tác động đến sự thành
lập Cchính phủ Qquốc gia Việt Nam.
- Tập hợp các nguồn tư liệu ở trong và ngoài nước, tài liệu lưu trữ nhằm
phục dựng lại một cách hệ thống quá trình hoạt động và sự chuyển giao từ
Cchính phủ quốc Quốc gia Việt Nam sang Cchính phủ Việt Nam cộng hòa.
- So sánh, đối chiếu các quan điểm khác nhau, giải thích vì sao lại có sự

trái ngược trong cách đánh giá. Trên cơ sở đó đưa ra những nhận định, đánh
giá khách quan, toàn diện về chính phủ này.
11


5. Đóng góp của đề tài
Đề tài có một số đóng góp cơ bản:
- Nghiên cứuPhục dựng lại một cách tương đối hệ thống và toàn diện
về chính phủ Quốc gia Việt Nam.
- Khắc phục một số quan điểm cực đoan, chủ quan, thiên lệch của cả
hai phía khi Đưa ra một số quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá về chính phủ
này cũng như các sự kiện trong lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954.
- Là nguồn tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu về
Bảo Đại, chính phủ Quốc gia Việt Nam cũng như Lịch sử Việt Nam giai đoạn
1945 – 1954.

6. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tư liệu
Để giải quyết nhiệm vụ, mục tiêu của đề tài đặt ra, luận văn đã khai
thác và sử dụng các nguồn tài liệu sau:
- Nguồn tư liệu để nghiên cứu đề tài là các tàitài liệu lưu trữ tại Trung
tâm lưu trữ Quốc gia.
- C, các sách, báo, chuyên khảo, giáo trình về Lịch sử Việt Nam trong
giai đoạn 1945 – 1954.
- Các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, các bài viết đăng trên
báo, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, tạp chí
Khoa học Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh,… và một số , giáo trình,
và nguồn tài liệu trên mạng internet có liên quan đến nội dung đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa dân tộc, coi đó là cơ sở để

đưa ra các quan điểm, cách nhìn nhận đánh giá. Bên cạnh đó, đề tài cũng sử

12


dụng phương pháp luận sử học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh coi đó là
cơ sở để đưa ra các quan điểm, cách nhìn nhận đánh giá.
để phục vụ quá trình nghiên cứu.
Để hoànọc thành luận văn, tác giả đã sử dụng hai phương pháp chính là
phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra đề tài còn sử dụng các
phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê, phân tích số liệu và điền dã khảo
sát thực tế.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung cấu trúc của
đề tài gồm 2 chương:
- Chương 1: Cơ sở thành lập chính phủ quốc gia Việt Nam
- Chương 2: Hoạt động của chính phủ Quốc gia Việt Nam (1949 -– 1955)
- Chương 3: Đánh giá về chính phủ Quốc gia Việt Nam

13


14


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ THÀNH LẬP CHÍNH PHỦ QUỐC GIA VIỆT NAM
1.1. Bối cảnh quốc tế
1.1.1. Sự ra đời của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa
Trước khi Thế chiến tranh thế giới II thứ hai bùng nổ, ở Trung Quốc

tồn tại cả 2 phe lực lượng chính trị đối lập là Đảng Cộng sản và Quốc dân
Đảng đã có những bất đồng sâu sắc, từng dẫn đến Nội chiến lần thứ nhất. Khi
phát xít Nhật xâm lược Trung Quốc, hai bên tạm gác những xung đột để cùng
hợp tác chống lại kẻ thù chung. Mặc , dù sự hợp tác rất hạn chếhợp tác nhưng,
mỗi bên đềun tìm cơ hội để tiêu diệt bên kia. Khi phát xítthời điểm quân Nhật
chuẩn bị thua trận, kẻ thù chung sắp bị tiêu diệt thì mâu thuẫn giữa Đảng
Cộng sản Trung Quốc và của cả hai phe Cộng sản vàTrung Hoa Quốc dân
Đảng lại trỗi dậy sắp biến mất, thì mâu thuẫn trong quá khứ bắt đầu xuất hiện
lại.
Kể từ khi Trung Hoa Quốc dân Đảng nắm chính phủ, quân Đồng Minh
minh luôn coi đây là đại diện hợp pháp duy nhất tại Trung Quốc. Chính phủ
Mỹ Vàovề giai đoạn cuối chiến tranh thế giớiThế chiến thứ hai, chính phủ
Mỹ ngày càng cũng lo ngại về sự phát triển mạnh lênlớn mạnh và ngày càng
mở rộng của lực lượngĐảng Cộng sản Trung Quốc. Chính, vì vậy, Mỹ đã tiến
hành viện trợ trực tiếp cho chính phủ Quốc dân đảng nhận được hỗ trợ trực
tiếp của Mỹ ngày càng nhiều hơn trong chiến tranh.
Ngày 15/8/1945, Nhật hoàng Hirohito phát biểutuyên bố chấm dứt
chiến tranh và tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Tổng tư lệnh tối
cao các lực lượng quân Đồng Minh minh tại Viễn Đông Mac Arthur ra chỉ
thị:, ngoài khu vực Đông Bắc Trung Quốc (bấy giờ do Liên Xô kiểm soát),
toàn bộ Trung Hoakhu vực từ vĩ tuyến 16 trở lên bao gồm: Trung Quốc đại
15


lục, Đài Loan và vùng Đông Dương thuộc Pháp từ vĩ độ 16 trở lên sẽ do quân
phía Quốc dân Đảng quân chịu trách nhiệm tiếp nhận việc đầu hàng và giải
giáp của quân đội Nhật.
Ngày 26/6/1946 chính phủ Quốc dân Đảng đã ra lệnh tấn công toàn
diện vào khu vực kiểm soát của Đảng cộng sản Trung Quốc.
Từ tháng 7/1946 đến tháng 6/1947 quân giải phóng nhân dân Trung

Quốc thực hiện đường lối phòng ngự tích cực, không giữ đất đai mà chủ yếu
nhằm tiêu diệt sinh lực đối phương và xây dựng lực lượng của mình. Q; qua
1một năm chiến đấu, quân giải phóng đã phát triển lực lượng của mình lên
đến 2 triệu người.
Từ tháng 6/1947 quân đội của Đảng Cộng sản Trung Quốc chuyển sang
phản công mở đầu bằng cuộc vượt sông Hoàng Hà phát triển khu giải phóng
Trung Nguyên, tiến vào các vùng kiểm soát của chính quyền Quốc dân Đảng.
Từ tháng 9/1948 – - 4/1949 quân đội của Đảng Cộng sản liên tiếp mở
ba chiến dịch Liêu Thẩm, Hoài Hải, Bình Tân khiến cho lực lượng Quốc dân
Đảng bị suy sụp hoàn toàn.
Ngày 21/4/1949, quân đội Đảng cộng sản vượt sông Trường Giang, giải
phóng Nam Kinh. N, ngày 23/4 đến đây chính quyền Quốc dân Đảng chính
thực thức bị sụp đổ. Đến cuối năm 1949, Tưởng Giới Thạch chạy ra Đài
Loan.
Ngày 1/10/1949 nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa được
thành lập, đứng đầu là chủ tịch Mao Trạch Đông.
Sự ra đời của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa đã khiến
Mỹ tỏ ra quan ngại đối với khu vực Đông Dương. Mỹ lo sợ ảnh hưởng của
chủ nghĩa cộng Cộng sản sẽ từ Trung Quốc và Triều Tiên nhanh chóng lan
rộng xuống Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Chính vì vậy, Mỹ tìm mọi
cách để can thiệp vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương.

16


Thêm vào đó, hàng loạt các sự kiện từ phe xã hội Chủ nghĩa khiến Mỹ
và các nước phương Tây lo ngại như: là sự ra đời của hàng loạt các nước xXã
hội chủ nghĩa Đông Âu, . Việc Stalin ra lệnh phong tỏa Berlin (1948), sau đó
nước Cộng hòa dân Dân chủ Đức được thành lập (10/1949),. Ngày 10/7/1949,
Liên Xô thử thành công bom nguyên tử (10/7/1949)… , phá thế độc quyền về

vũ khí nguyên tử của Mỹ.
Tình hình đó khiến Mỹ nhận thấy sự đe dọa củacho rằng chủ nghĩa
Ccộng sản đối vớiđang ngày càng bành trường, đe dọa thế giới tự do. Nước
Mỹ dấy lên một làn sóng muốn tiêu diệt chủ nghĩa cộng Cộng sản. Mỹ chủ
trươngvà các nước đồng minh phương Tây đã thành lập khối quân sự NATO,
tái vũ trang Tây Đức và Nhật Bản, dùng vũ lực đè bẹp Liên Xô và phe Xã xã
hội chủ nghĩa, ngăn chặn làn sóng của chủ nghĩa cộng sản đang lan tràn.
1.1.2. Ý đồ của Mỹ
1.1.2.1. Chiến lược toàn cầu của Mỹ sau chiến tranh thế giới II
KhiTrong cuộc Chiến tranh thế giới thứ II bắt đầu, ngày 14/8/1941
Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston S.
Churchill cùng nhau ra Tuyên bố chung Hiến chương Đại Tây Dương ngày
14/8/1941. Điều 3 của Hiến chương này khẳng định: Anh và Mỹ tôn trọng
quyền của tất cả mọi dân tộc được chọn hình thức chính quyền lãnh đạo họ.,
Anh và Mỹ cũng mong muốn tái lập lại nhìn thấy chủ quyền và các hình thức
nhà nước tự trị của các dân tộc trước kia bị người khác dùng vũ lực tước mất
được tái lập lạicủa các quốc gia thuộc địa kiểu cũ.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, một mặt Mỹ ủng hộ khái niệm quyền
dân tộc tự quyết, mặt khác cũng có quan hệ chặt chẽ với các đồng minh châu
Âu của mình, những nước đã cóMỹ đồng tình với những tuyên bố của các
nước đồng minh châu Âu về vấn đề thuộc địa đối với những thuộc địa cũ của
họ. Chiến tranh Lạnh đã làm phức tạp thêm vị trí của Mỹ, cũng như việc Mỹ

17


ủng hộ quá trình phi thực dân hóa. Điều này được bù lại bằng mối quan tâm
của Mỹ đối với sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản và những tham vọng chiến
lược của Liên Xô tại Châu Âu. Một số đồng minh NATO khẳng định rằng vai
trò quan trọng của hệ thống thuộc địa. Nó thuộc địa cung cấp cho họ sức

mạnh kinh tế và quân sự mà nếu không có nó thì liên minh phương Tây sẽ tan
rã. Gần như tất cả các đồng minh châu Âu của Mỹ đều tin rằng thuộc địa sẽ là
nơi kết nối giữa nguyên liệu và thị trường được bảo vệ đối với hàng hóa thành
phẩm, từ đó sẽ gắn kết các thuộc địa với châu Âu1.
Trong bối cảnh cuộc chiến tranh Lạnh bùng nổ, Mỹ đã có những thay
đổi trong chủ trương ủng hộ quá trình phi thực dân hóa. Mỹ quan tâm nhiều
hơn đến sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản và những tham vọng chiến lược
của Liên Xô tại Châu Âu. Muốn vậy Mỹ phải ủng hộ chủ trương của các nước
đồng minh châu Âu về vấn đề thuộc địa.
Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư cho Tổng thống Mỹ
Harry Truman kêu gọi sự ủng hộ của Mỹ với nền độc lập non trẻ của Việt
Nam, nhưng đã không được hồi đáp. Đây chính là khúc ngoặt đầu tiên dẫn tới
cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành tại Việt Nam trong giai đoạn sautrong mối
quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ.
Những năm 1946 - và 1947, Mỹ không ngăn cản Pháp mở rộng cuộc
chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhưng cũng không trực tiếp viện trợ cho các
lực lượng viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Đến năm 1947, khi Mỹ viện trợ
1 Decolonization of Asia and Africa, 1945-1960, Office of the Historian, Bureau of Public Affairs,

United States Department of State, trích:"While the United States generally supported the concept
of national self-determination, it also had strong ties to its European allies, who had imperial
claims on their former colonies. The Cold War only served to complicate the U.S. position, as U.S.
support for decolonization was offset by American concern over communist expansion and Soviet
strategic ambitions in Europe. Several of the NATO allies asserted that their colonial possessions
provided them with economic and military strength that would otherwise be lost to the alliance.
Nearly all of the United States' European allies believed that after their recovery from World War
II their colonies would finally provide the combination of raw materials and protected markets for
finished goods that would cement the colonies to Europe".

18



cho nước Pháp 3 tỷ đô la theo kế hoạch Marshall. N, nhờ đó Pháp mới có thể
tiếp tục chiến tranh ở Việt Nam.
Tại thời điểm này, Mỹ bắt đầu đã chú ý nhiều hơn đến "tính chất cộng
sản" của chính phủ kháng chiến Việt Minh. Nh, nhưng Mỹ đang bị cuốn hút
vào những vấn đề lớn hơn như: việc chiếm đóng và tái thiết Nhật Bản, sự phát
triển của Đảng cộng sản trong cuộc nội chiến Trung Quốc, sự phát triển mạnh
của phong trào đòi độc lập và giải phóng dân tộc ở các thuộc địa rộng lớn, bao
gồm cả khu vực Đông Nam Á, v.v... Điều này khiến cho Mỹ muốn Pháp giải
quyết nhanh cuộc chiến tranh Đông Dương, thậm chí bằng đàm phán, thương
lượng.
Để tồn tại như một siêu cường hàng đầu thế giới không phải chỉ có sức
mạnh quân sự, kinh tế và chính trị, mà còn cần phải có một chiến lược toàn
cầu phù hợp, một chính sách xâm nhập và bành trướng khôn khéo. Chiến lược
toàn cầu của Mỹ gồm có chiến lược chung (grand strategy), còn gọi là chiến
lược tổng quát, và chiến lược quân sự toàn cầu. Chiến lược chung bao gồm
những quan điểm, tư tưởng và phương hướng chỉ đạo chiến lược cho tất cả
các mặt chính trị, quân sự, kinh tế ngoại giao v.v... và thường được mang tên
là học thuyết hoặc chủ nghĩa. Kèm theo là một chiến lược quân sự toàn cầu.
Ra đời tTrong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, Liên Xô vừa chiến
thắng phát xít, uy tín quốc tế đang lên cao, tuy bị tàn phá nhiều, nhưng vẫn
đang nắm có ưu thế quân sự về vũ khí thông thường. Các nước xã Xã hội chủ
nghĩa lần lượt ra đời, được Liên Xô ủng hộ và bắt đầu hình thành một hệ
thống thế giới. Phong trào cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đang trên
đà phát triển. Phong trào giải phóng dân tộc lên cao. Trong lúc đó, các trung
tâm tư bản chủ yếu ở châu Âu và Nhật chưa được củng cố, phục hồi, tập hợp
lại. Bối cảnh lịch sử đó đặtkhiến chiến lược toàn cầu Mỹ xuất phát từ một thế
phòng ngự làtập trung vào mục tiêu là “ ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa
19



cộng Cộng sản”. Đó cũng là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong chiến lược
quân sự, các chính sách toàn cầu của Mỹ.
Sau khi trúng cử vào Nhà Trắng lần thứ hai, Tổng thống Mỹ Truman đề
ra học thuyết mang tên mình. Nội dung học thuyết Truman là phải bao vây và
ngăn chặn Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, đồng thời chống lại phong trào
giải phóng dân tộc do những người cộng sản lãnh đạo và ủng hộ những phong
trào dân tộc không theo chủ nghĩa cộng sản như các phong trào ở Nam Á,
Trung Đông, Đông Nam Á, Đông Bắc Á...
Tại Mỹ đầu thập niên 1950, các lực lượng chống cộng sản nắm quyền.
Chính phủ Mỹ khiến công chúng nghĩ rằng những người cộng sản là mối đe
dọa đối với an ninh quốc gia.
Sự cạnh tranh Trong bối cảnh chiến tranhchiến tranh Llạnh với, Liên
Xô là mối quan tâm lớn nhất trong về chính sách đối ngoại của Mỹ trong
những nămở những năm 1940 -

và 1950. C, chính phủ Truman và

Eisenhower ngày càng trở nên lo ngại rằng khi các cường quốc châu Âu bị
mất các thuộc địa của họ, các Đđảng Ccộng sản được Liên Xô ủng hộ sẽ đạt
đượclên nắm quyền lực trong quốc gia mới. Điều này có thể làm thay đổi cán
cân quyền lực quốc tế theo hướng có lợi cho Liên Xô và loại bỏ quyền truy
cập vào nguồn lực tài nguyên từ vị thế của Mỹ và các đồng minh của Mỹ. Do
vậy, Hoa KỳMỹ đã sử dụng các gói cứu trợchương trình viện trợ, hỗ trợ kỹ
thuật và đôi khi bằng tấn công quân sự để hỗ trợ ủng hộ các lực lượng thân
phương Tây tại các quốc gia thuộc địa.mới.
Giới chiến lược quân sự Mỹ phát hiệnnhận thấy lúc này hướng yếu nhất
trong chiến lược của Mỹ ở châu Á là Đông Nam Á, một khu vực rộng lớn tiếp
giáp với Trung Quốc ở phía Nnam. Bởi vì Đông Nam Á có tầm quan trọng về

chiến lược, nó kiểm soát cửa ngõ ra vào giữa hai biển Thái Bình Dương và
Ấn Độ Dương", Đô"Đông Nam Á có vị trí rất quan trọng đối với Mỹ"...

20


Quan điểmChủ trương ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản đã tạo ra một cơ
cấu chặt chẽ cho đường lối của Mỹ ở Đông Nam Á. Trong văn kiện NSC51,
nhan đề - Chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á do Bộ Ngoại giao Mỹ
trình lên Hội đồng an ninh quốc gia ngày 1/7/1949 đánh giá "ở Đông Dương,
chính sách của Pháp là đánh chiếm lại, v.v... nhưng Pháp không thể dùng
biện pháp quân sự để tiêu diệt Việt Minh, tình hình Đông Dương đang xấu đi
rất nhiều. Cộng sản chiếm vị trí khống chế trong phong trào dân tộc...". Sau
đó, Tổng thống Truman đã phê chuẩn (ngày 30/12/1949) một văn kiện của
Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ, trong đó nhấn mạnh "cần thiết phải ngăn
chặn sự bành trướng của cộng sản ở Đông Dương". Đông Nam Á trở thành
chiến trường quan trọng trong chiến lược của Mỹ ở châu Á. Chiến lược ngăn
chặn ở Đông Nam Á coi như chính thức bắt đầu từ đó và Đông Dương trở
thành trọng điểm của chiến lược Đông Nam Á của Mỹ.
Những năm 1948 –, 1949, triển khai học thuyết học thuyết Truman và
chiến lược quân sự toàn cầu ngăn chặn của Mỹ được thực hiện., Mỹ đặt trọng
tâm chiến lược là Tây Âu. Ở châu Âu, lúc này nước Pháp có vị trí rấtvai trò
quan trọng, thậm chí là then chốt trong việc hình thành liên minh đó. Do vậy,
Mỹ đã cố gắng tranh thủ Pháp để khai thác vai trò của Pháp. Năm 1947, Mỹ
viện trợ cho Pháp 3 tỉ đôla theo kế hoạch Marshall. Năm 1948, Tổng thống
Mỹ đã có sự phê chuẩn đặc biệt để trang bị cho 3 sư đoàn Pháp đóng ở Đức.
TNăm 1948, trong một văn kiện của Bộ Ngoại giao Mỹ (27/9/1948)
“tTổng kết tình hình Việt Nam và chính sách của Mỹ đối với Việt Nam”, đãcó
nêu rõ mục tiêu lâu dài của Mỹ là: thủ tiêu ở mức độ tối đa có thể được ảnh
hưởng của cộng sản ở Đông Dương., Mỹ muốn thấy Việt Nam và Đông

Dương có một nhà nước dân tộc chủ nghĩa tự trị thân Mỹ.
Thực tế từ năm 1947, Mỹ đã viện trợ cho Pháp theo kế hoạch Marshall
và Pháp đã dùng một phần viện trợ đó vào cuộc chiến tranh Đông Dương.
Báo chí Mỹ cho biết: năm 1947 Chính phủ Truman đã cho Pháp vay 160 triệu
21


đô la để mua xe cộ và một số thiết bị liên quan cho chiến trường Đông
Dương. Trong văn kiện NSC51 của Bộ Ngoại giao Mỹ gửi Hội đồng an ninh
quốc gia Mỹ (ngày 1/7/1949) có xác nhận, trong năm 1948 khoảng 100.000
quân Pháp với trang bị vũ khí của Mỹ ... đang đóng ở Đông Dương.
Mỹ tuyên bố ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á
trong đó có Việt Nam. N, nhưng với điều kiện lãnh đạo của những nhà nước
mới không phải là người cộng sản., Mỹ ủng hộ việc thành lập các nhà nước
phi cộng sản để ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc. Theo thuyết
Domino, Mỹ hỗ trợ những quốc gia đồng minh tại Đông Nam Á vì không hài
lòng với điều mà họ cho là "lực lượng cộng sản muốn thống trị Châu Á dưới
chiêu bài dân tộc"2. Mỹ thúc giục Pháp nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt
Nam, nhưng mặt khác họ không thể cắt viện trợ cho Pháp vì sẽ mất đi đồng
minh trước những mối lo lớn hơn tại vì sợ mất đi một đồng minh lớn ở Châu
Âu. Tóm lại, chính sách của Mỹ gồm 2 mặt không tương thích: một mặt hỗ
trợ người Pháp chiến thắng trong cuộc chiến chống Việt Minh dưới sự chỉ đạo
của Mỹ. M, mặt khác Mỹ dự kiến sau khi chiến thắng, người Pháp sẽ rút khỏi
Đông Dương3 “một cách cao cả”.

2 "Recognition by the United States of the three legally constituted governments of Vietnam, Laos' and Cambodia
appears desirable and in accordance with United States foreign policy for several reasons. Among them are:
encouragement to national aspirations under non-Communist leadership for peoples of colonial areas in Southeast
Asia; the establishment of stable non-Communist governments in areas adjacent to Communist China; support to a
friendly country which is also a signatory to the North Atlantic Treaty; and as a demonstration of displeasure with

Communist tactics which are obviously aimed at eventual domination of Asia, working under the guise of
indigenous nationalism."

3 "The U.S.-French ties in Europe (NATO, Marshall Plan, Mutual Defense Assistance Program) only marginally
strengthened U.S. urgings that France make concessions to Vietnamese nationalism. Any leverage from these
sources was severely limited by the broader considerations of U.S. policy for the containment of communism in
Europe and Asia. NATO and the Marshall Plan were of themselves judged to be essential to our European interests.
To threaten France with economic and military sanctions in Europe in order to have it alter its policy in Indochina
was, therefore, not plausible. Similarly, to reduce the level of military assistance to the French effort in Indochina
would have been counter-productive, since it would have led to a further deterioration in the French military
position there. In other words, there was a basic incompatibility in the two strands of U.S. policy: (1) Washington
wanted France to fight the anti-communist war and win, preferably with U.S. guidance and advice; and (2)
Washington expected the French, when battlefield victory was assured, to magnanimously withdraw from
Indochina."

22


Mỹ đã khuyên Pháp nên tìm một giải pháp chính trị , Ttháng 1/1949,
Bộ Ngoại Giao Mỹ thúc ép Pháp thoả thuận với Bảo Đại để lập Chính phủ
Quốc gia Việt Nam. Tiếp đến tháng 2/1949, Ngoại trưởng Akison lại hối
thúc và đến ngày 8/3/1949, Pháp đã ký Hiệp nghị Elysee Élysée với Bảo
Đại. Ngày 10/5/1949, Bộ Ngoại giao Mỹ điện cho lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn,
khẳng định Pháp, các cường quốc phương Tây khác và các nước không cộng
sản ở châu Á, hết sức cố gắng để đảm bảo thắng lợi tốt nhất cho giải pháp
Bảo Đại.
1.1.3. Khó khăn của Pháp và chủ trương thành lập chính phủ của
người Việt
Sau chiến tranh thế giới II, nước Pháp chịu thiệt hại nặng nề về kinh tế.
Sản xuất công nghiệp giảm gần 3 lần, nông nghiệp giảm 2 lần. Trong những

năm 1945 – - 1950, kinh tế Pháp phát triển rất chậm chạp, gặp rất nhiều khó
khăn. Năm 1948, Pháp nhận viện trợ kinh tế của Mỹ theo kế hoạch Mashall.
Về chính trị, tháng 1/1946, De Gaulle rút lui khỏi chính trường, mở đầu
cho những nội các chỉ tồn tại thời gian ngắn. Năm 1946, ba chính phủ: Félix
Gouin, Georges Bidault và Léon Blum nối tiếp nhau. Qua năm 1947, tình
hình chính trường Pháp không ổn định, các chính phủ dựng lên rồi lại đổ
xuống. Chính phủ Léon Blum chỉ tồn tại được một tháng, được thay bằng
chính phủ Ramadier (1/1947), rồi đến chính phủ của Robert Schuman
(11/1947).
Từ khi cuộc chiến tranh Pháp Việt bùng nổ, thực dân kháng chiến toàn
quốc bùng nổ, Pháp liên tục gặp phải những mâu thuẫn giữa việc tập trung và
phân tán binh lực. Ở Bắc Bộ, mặc dù đã tăng viện lên 11 tiểu đoàn Âu Phi từ
Pháp sang nhưng chúng thực dân Pháp cũng chỉ chiếm giữ được một số thành
phố, thị xã. Trên con đường giao thông chiến lược nối liền Hà Nội với Hải

23


Phòng, tuy địch đã sử dụng một lực lượng bảo vệ khá lớn nhưng vẫn không
ngăn được các hoạt động của Việt Minh.
Trong khi đó lực lượng bộ đội chủ lực của Việt Minh vâẫn được bảo
toàn và phát triển cả về số lượng và trìịnh độ tác chiến. Thế trận chiến tranh
nhân dân ngày càng được mở rộng. Như vậy, âm mưu đánh nhanh thắng nhanh
của Pháp bước đầu đã không thực hiện được. Cuộc chiến tranh ngày càng kéo
dài và mở rộng đã khiến thực dân Pháp lâm vào tình trạng khó khăn, quân số
thiếu hụt. Số quân từ Pháp sang không khắc phục được tình trạng phân tán, dàn
mỏng lực lượng trên các chiến trường. Một bộ phận binh lính Pháp tỏ ra chán
ghét chiến tranh. Phong trào phản chiến bắt đầu lên cao ở nước Pháp.
Sau một thời gian chuẩn bị, đến đầu tháng 9/1947 Pháp tiến hành kế
hoạch tấn công lớn trên chiến trường Bắc Bộ mà trọng tâm là khu Việt Bắc.

Bolaert tuyên bố: không có lí do gì để kéo dài chiến tranh, nhưng vẫn không
công nhận chính phủ Hồ Chí Minh.
Cuộc hành quân Léa nNăm 1947, Pháp tiến hành c uộc hành quân Léa
với mục đích tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não của cuộc kháng
chiếnViệt Minh, khóa chặt biên giới Việt Trung, xúc tiến việc thành lập chính
phủ của người Việt. Chủ trương này không thực hiện được. Pháp không đủ
lực để tiếp tục tấn công, đồng thời chịu áp lực của dư luận quốc tế đòi chấm
dứt chiến tranh và trao trả độc lập cho nhân dân Đông Dương.
Những khó khăn về kinh tế, chính trị của Pháp trong giai đoạn này đã
buộc Pháp phải xin viện trợ của Mỹ. Đồng thời, Pháp buộc phải tìm một giải
pháp chính trị phù hợp với lợi ích của Pháp và chiến lược "ngăn chặn chủ
nghĩa cộng sản" của khối các nước tư bản phương Tây trong đó có Pháp.
Người Pháp chấp nhận một lộ trình trao quyền tự quyết cho chính phủ bản xứ
với điều kiện người lãnh đạo mà Pháp đồng ý thỏa hiệp "không phải là cộng
sản" (hay nói cách khác, chính phủ này đảm bảo duy trì các lợi ích của Pháp
24


tại Đông Dương). Cũng có tài liệu ó quan điểm cho rằng khẩu hiệu "chống
cộng sản" của Pháp thực chất là để xây dựng một chính quyền bản xứ người
Việt làm đối trọng với Việt Minh để giảm sức ép về kinh tế - quân sự, cũng
như thuyết phục Mỹ viện trợ để Pháp có thể tiếp tục đứng chân tại Đông
Dương..
Ngày

1/6/1946, chính phủ Cộng hoà Nam Kỳ (République de

Cochinchine) được Pháp chính thức công nhận, đứng đầu là bác sĩ Nguyễn Văn
Thinh. Mục đích của Pháp muốn giữ lại thuộc địa Nam Kỳ. Pháp dự tính nếu
cần phải trao trả độc lập cho Việt Nam, sẽ chỉ có Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Sau khi

Nguyễn Văn Thinh từ chức, Lê Văn Hoạch lên thay. Đến tháng 10/1947, một
chính phủ Ttrung ương do Nguyễn Văn Xuân đứng đầu được thành lập.
Nguyễn Văn Xuân cho rằng tốt hơn hết làchủ trương thành lập một liên bang
Việt Nam với sự thoả thuận của những lãnh tụ sẵn có của ba kỳ: Hồ Chí Minh
ở Bắc Kỳ, Bảo Đại ở Trung Kỳ và Thủ tướng Chính phủ Nam Kỳ do Hội đồng
Nam Kỳ bầu ra.
Như thế những khó khăn của thực dân Pháp đã khiến Pháp phải chấp
nhận sự tồn tại của các chính phủ của người Việt như: chính phủ của Nguyễn
Văn Thinh, Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Xuân. Đồng thời chính người Pháp
cũng chủ trương thành lập cácsự ra đời của các chính phủ này để có thể duy
trì và kéo dài cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Có thể nói, đây chính
làNguyễn Văn Thinh, Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Xuân chỉ là bù nhìn, hoàn
toàn bị chi phối bởi Pháp. Nó là cơ sở để dẫn đến sự ra đời của chính phủ
Quốc gia Việt Nam trong giai đoạn sau. Đồng thời, thông qua những chính
phủ này, những mối quan hệ của Mỹ cũng dần được hình thành và xác lập.
1.2. Bối cảnh trong nước
1.2.1 Những biến đổi trên cục diện chiến trường

25


×