MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU.......................................................................................................1
B. PHẦN NỘI DUNG....................................................................................................2
CHƯƠNG I: VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT..............................................................................................2
1.1 Văn hóa là gì?.......................................................................................................................................2
1.2 Mỹ học là gì?........................................................................................................................................6
1.3 Mỹ thuật là gì?....................................................................................................................................8
CHƯƠNG II: MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
....................................................................................................................................................................... 9
2.1 Một số tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu...................................................................................................9
2.1.2 Tác phẩm “Thiếu nữ bên hoa huệ” ........................................................................................12
2.1.3 Tác phẩm “ Em Thúy”..................................................................................................................14
2.1.5 Tác phẩm: “Giặc đốt làng tôi”.....................................................................................................19
2.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và mỹ thuật qua tác phẩm mỹ thuật Việt Nam........................................20
C. KẾT LUẬN.............................................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................23
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Nghệ thuật hội họa là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, là sự phản ánh thế
giới khách quan, tự nhiên và các quan hệ đa dạng của đời sống. Sự sáng tạo nghệ
thuật tạo nên các giá trị nghệ thuật có sức tác động vào tư tưởng, tình cảm của mỗi cá
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
1
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
thể. Nghệ thuật hội họa cũng như khoa học, triết học đều phản ánh hiện thực khách
quan. Nhưng khoa học, triết học phản ánh hiện thực bằng khái niệm, còn nghệ thuật
hội họa phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật. Có thể nói, hội họa sử dụng
những phương tiện truyền cảm đặc trưng để xây dựng hình tượng nghệ thuật trên một
mặt phẳng, nhưng không phải vì thế mà hội họa không phản ánh được những hình
khối của thế giới hiện thực mà trái lại trong các tác phẩm hội họa chúng ta vẫn thấy
được “ Những cái không thấy được”, những hình khối cuồn cuộn, những chiều sâu
thăm thẳm trong thế giới nội tâm một cách có hình, có sắc, đồng thời thấy được cả
những đặc trưng bên ngoài của sự vật và hiện tượng tạo nên sức mạnh to lớn của ngôn
ngữ hội họa, gây được những xúc cảm thẩm mỹ làm rung động lòng người. Đều đó
làm cho nghệ thuật chân chính có sức truyền cảm to lớn, tác động vào tình cảm, tư
tưởng và ý chí của mỗi con người. Trên cơ sở phát huy bản sắc riêng của nền nghệ
thuật Việt Nam, các tác phẩm hội họa Việt Nam hiện đại đã xây dựng thành công hình
tượng người phụ nữ Việt Nam điển hình mang cái chung trong cái riêng, cái trừu
tượng trong cái cụ thể, có tính chất điển hình về nhân vật và khung cảnh trong một
giai đoạn lịch sử của đất nước, mang đậm tính dân tộc được thể hiện bằng hình tượng
nghệ thuật hội họa qua bàn tay tài hoa và sự nghiền ngẫm, chiêm nghiệm cuộc sống
của các họa sĩ.
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT
1.1 Văn hóa là gì?
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
2
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa
bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng,
giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v.v... Cả hai
khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách
nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là
Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác
nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn hóa được đề cập đến
trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học (theo cách gọi của Mỹ
hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu), dân gian học, địa văn hóa học,
văn hóa học, xã hội học,...và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa
cũng khác nhau. Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi
ngay cả cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều. Một trong những
cách đó phân loại các định nghĩa về văn hóa thành những dạng chủ yếu sau đây [6]:
•
Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus"
mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng
đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn
con người". Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588-1679): "Lao động dành
cho đất gọi là sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh thần".
•
Các định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn hóa bao hàm,
chẳng hạn nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) đã định
nghĩa văn hóa như sau: văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học
là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp,
phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với
tư cách là một thành viên của xã hội.
•
Các định nghĩa lịch sử: nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
3
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa. Một trong những định nghĩa đó là
của Edward Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ: văn hóa
chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã
hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm
được bảo tồn theo truyền thống.
•
Các định nghĩa chuẩn mực: nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị, chẳng hạn
William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã hội học người Mỹ coi văn hóa là các giá
trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư
xử,...) .
•
Các định nghĩa tâm lý học: nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trường,
quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người. Một trong những
cách định nghĩa như vậy của William Graham Sumner (1840 - 1910), viện sỹ Mỹ,
giáo sư Đại học Yale và Albert Galloway Keller, học trò và cộng sự của ông là: Tổng
thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn
hóa, hay văn minh...Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp
những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa. [10]
•
Các định nghĩa cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của văn hóa, ví
dụ Ralph Linton (1893 - 1953), nhà nhân loại học người Mỹ định nghĩa: Văn hóa suy
cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội; b. Văn
hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã
hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa.
•
Các định nghĩa nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của nó, ví
dụ định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã hội học người
Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard: Với nghĩa rộng
nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý
thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
4
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
ứng xử của nhau.
•
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên
được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức
và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài
văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền
thống và đức tin.
Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển
trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào
việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và
phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là
trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình
thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và
tinh thần mà do con người tạo ra.
- Khái niệm về văn hóa: Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng việt,văn hóa
được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức,lối sống. Theo nghĩa chuyên biệt để
chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng,thì văn hóa bao
gồm tất cả,từ những sản phẩm tinh vi,hiện đại,cho đến tín ngưỡng,phong tục,lối
sống... + Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam
- Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa –
Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do
con người sáng tạo ra trong lịch sử".
+Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và
Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa:
-Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. -văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
5
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự
tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội.
-Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống
tinh thần (nói tổng quát);
-Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát);
-Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh;
-Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa,
được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví
dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn
+Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và Nhà
xuất bản Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: Văn hóa – vô sở
bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo
của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó
có văn hóa.
+Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm
cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa
con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
+Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: Văn hóa
bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia.
Như vậy, có thể thấy rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người
sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên.
1.2 Mỹ học là gì?
Mỹ học là khoa học của cái Đẹp. Cái định nghĩa truyền thống này thoạt nghe có
vẻ đơn giản, thực tế nó bao hàm hai định đề: cái đẹp hiện hữu và bản chất nó thích
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
6
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
hợp ứng xử với khoa học như thế nào.
Người ta không chứng minh mặt trời cũng như kết quả của từ lực mà chỉ quan
sát. Tất cả các khoa học thực tiển đều có chức năng tìm hiểu đối tượng, và sự hiện
hữu được bố trí theo kinh nghiệm; nhưng càng xa cách chất liệu thô kệch, sự hiện hữu
của nó lại càng sáng tỏ.
Mỹ học là một môn học của xã hội sinh hoạt loài người, nó là thứ sinh hoạt vật
chất và là cơ sở của sinh hoạt văn hóa tinh thần mà phát sinh. Cội nguồn của nó có thể
từ xã hội nô lệ cổ đại; những nhà tư tưởng cổ đại đối với vấn đề nghệ thuật và mỹ đều
tìm kiếm ở trong triết học, đối với việc nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm nghệ
thuật thực tiển, tức là sự manh nha và khơi nguồn của tư tưởng mỹ học.
Quan điểm m học của C.Mác- Ph. Ăngghen- V.I.Lênin: Dưới ánh sáng của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác- Ăngghen, và sau này
Lênin, đã giải quyết một loạt những vấn đề chủ yếu của mỹ học. Cống hiến của MácĂngghen là:
- Nguồn gốc của nghệ thuật: Cảm xúc thẩm mĩ, cái đẹp, nghệ thuật, nảy sinh do
thực tiễn của con người- thực tiễn lao động sản xuất.
- Bản chất xã hội của nghệ thuật: Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội do cơ
sở kinh tế sinh ra và bị cơ sở kinh tế quyết định. Ðến lượt mình, nghệ thuật tác động
trở lại cơ sở kinh tế.
- Bản chất nhận thức nghệ thuật: Bất kỳ một nhận thức nào về hiện thực cũng là
một sự phản ánh hiện thực vào đầu óc con người. Nghệ thuật là một trong những biện
pháp phản ánh hiện thực. Nghệ thuật là một hình thức nhận thức có ý nghĩa to lớn.
Kế thừa di sản mỹ học và lý luận nghệ thuật của C.Mác và Ph.Ăngghen, tư tưởng
của giai cấp vô sản đã được định hình một cách hoàn chỉnh, ở Lênin. Những đóng góp
trực tiếp của Lênin là:
- Nguyên lý tính đảng trong nghệ thuật. Ðây cống hiến vĩ đại nhất của Lênin vào
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
7
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
kho tàng lý luận Mácxít. Nguyên tắc cơ bản là: nghệ thuật là một bộ phận trong sự
nghiệp của giai cấp vô sản, do giai cấp vô sản lãnh đạo, và giai cấp vô sản phải lãnh
đạo nghệ thuật theo đặc trưng của nó để hướng nghệ thuật phục vụ mình.
- Vấn đề kế thừa và sáng tạo của nghệû thuật: Nghệû thuật kế thừa những gì tốt
đẹp của quá khứ. Nhưng kế thừa không phải là sự bắt chước mà là kế thừa có phê
phán, đồng thời kế thừa không phải là cứu cánh của nghệû thuật mới, mà là bàn đạp
sáng tạo ra nghệ thuật mới.
Tóm lại: Sự cống hiến vĩ đại của Lênin không chỉ là ở chỗ trong điều kiện mới,
Người đã làm phong phú, đào sâu và phát triển thêm những vấn đề cơ bản của mỹ học
Mácxít và đặt cơ sở triết học, khoa học và mỹ học cho đường lối của đảng Mácxít, mà
còn là ở chỗ, bằng hoạt động thực tiễn của mình, Người đã làm nên những mẫu mực
về việc phân tích một cách cụ thể lịch sử, duy vật biện chứng một số hiện tượng nghệ
thuật cụ thể.
1.3 Mỹ thuật là gì?
Mỹ thuật hiểu nôm na là "nghệ thuật của cái đẹp" ("mỹ", theo tiếng Hán-Việt,
nghĩa là "đẹp"). Đây là từ dùng để chỉ các loại nghệ thuật tạo hình chủ yếu là hội
hoạ,đồ hoạ, điêu khắc
Theo cách nhìn khác, từ "mỹ thuật" (đẹp + nghệ thuật) chỉ cái đẹp do con người
hoặc thiên nhiên tạo ra mà mắt người nhìn thấy được. Vì lý do này người ta còn dùng
từ "nghệ thuật thị giác" để nói về mỹ thuật. Ví dụ: vẻ đẹp của một bức tranh, giá trị
mỹ thuật của một công trình kiến trúc.
Trên thế giới, và ở cả Việt Nam, những người hoạt động trong ngành thường chỉ
thừa nhận khái niệm mỹ thuật theo nghĩa hàn lâm và có sự phân biệt rõ rệt giữa mỹ
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
8
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
thuật với thủ công mỹ nghệ và mỹ thuật ứng dụng. và đơn giản hơn:mỹ thuật là những
đường nét được con người tự quy ước với nhau theo cảm nhận được sử dụng để biểu
lộ thế giới thực tại gián tiếp qua 1 chất liệu nào đó theo một cách riêng của mỗi người
cho là đẹp
CHƯƠNG II: MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT
QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
2.1 Một số tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu
Lịch sử nghệ thuật đã chứng minh: ”Tác phẩm nghệ thuật có chỗ đững trong
dòng chảy thời gian là những tác phẩm nghệ thuật phản ánh được hơi thở nồng nàn
của cuộc sống,nghệ thuật không phải là bản sao của cuộc sống mà nó là sự sáng tạo,
tất cả các tác phẩm nghệ thuật thể hiện cuộc sống một cách điển hình, chắc lọc, và
sáng tạo”.Nghệ thuật được gắn bó với trái tim và tình cảm của con người một cách
máu thịt.Tác phẩm”Tát nước đồng chiêm” (sơn mài) của Trần Văn Cẩn là một ví dụ:
2.1.1 Tác phẩm”Tát nước đồng chiêm” (sơn mài)
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
9
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
Tát nước đồng chiêm
Trần Văn Cẩn (1910- 1994) là một trong những họa sĩ hàng đầu đã mang đến
cho nền mỹ thuật Việt Nan hiện đại một phong cách sáng tạo nghệ thuật rất riêng và
giàu bản sắc dân tộc. Ông là thành viên của “bộ tứ danh họa” lẫy lừng thời ấy: Nhất
Trí (Nguyễn Gia Trí), nhì Vân (Tô Ngọc Vân), tam Lân (Nguyễn Tường Lân), tứ Cẩn
(Trần Văn Cẩn). Được đào tạo bài bản, có lớp lang trong một ngôi trường danh tiếng:
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, bên cạnh đó Trần Văn Cẩn còn được nuôi
dưỡng bởi một nguồn mạch văn hóa mỹ thuật vốn đã nhiều tầng, nhiều vỉa của các
dân tộc. Đó là điều kiện tiên quyết để ông tự ghi tên mình vào lịch sử nghệ thuật nước
nhà với tư cách là người nghệ sĩ chân chính.
Tốt nghiệp thủ khoa Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khoá VII (1931 1936) với bức sơn mài Tiễn anh khoá đi thi hương, nhưng phải đến các tác phẩm như:
“Em Thúy” - sơn dầu; “Chợ Tết” - lụa, “Gội đầu” - khắc gỗ, Hai cô gái trước bình
phong - lụa, Trần Văn Cẩn mới thực sự nổi danh. “Em Thúy” là một bức tranh sơn
dầu được Trần Văn Cẩn sáng tác năm 1944. Có thể nói đó là đỉnh cao nghệ thuật Trần
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
10
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
Văn Cẩn và cũng là một trong những đỉnh cao của nền hội hoạ Việt Nam cho đến bây
giờ. Với lối biểu hiện chân thực, nhẹ nhàng, không khoa trương, cường điệu. Trần
Văn Cẩn đã níu kéo và lưu giữ người xem bằng vẻ đẹp thơ ngây, trong trắng.
Hội hoạ Trần Văn Cẩn vừa hiện đại mới mẻ, giàu liên tưởng lại vừa phát huy
được tính dân tộc và đậm đà sắc vị dân gian. Đó là kết quả một cuộc kiếm tìm lâu dài,
đúng đắn, sáng tạo và sâu sắc trong hành trình nghệ thuật vô cùng gian nan mà cũng
không kém phần hứng khởi của ông. Trong khi quan niệm phương Đông còn cho
rằng: phụ nữ gắn liền với phận liễu yếu đào tơ, thân hình mảnh dẻ, Trần Văn Cẩn
không thế, ông nhìn ra vẻ đẹp khỏe mạnh, ngồn ngộn sức sống phồn thực của người
con gái Việt Nam lao động đang làm công việc “tẩy trần” sau một ngày cực nhọc.
Đấy là một cái nhìn mới mẻ của Trần Văn Cẩn. Mái tóc cô gái cũng rất khỏe, xanh,
dày, và thẳng.
Là một người hiểu biết hội hoạ thấu đáo, nghiêm túc trong lao động nghệ thuật
cũng như trong cuộc sống, dù có bận bịu tới đâu Trần Văn Cẩn vẫn dành một khoảng
lặng cho nghệ thuật thăng hoa. Và sau 9 năm kháng chiến vô cùng gian khó mà hào
hùng, Trần Văn Cẩn ra mắt công chúng thủ đô bằng hai tác phẩm lụa: “Con đọc bầm
nghe” (1954) và “Lò đúc lưỡi cày” (1955), đã cho thấy một Trần Văn Cẩn khác: mạnh
mẽ, đầy cá tính, toát lên niềm vui cuộc sống.
“Mùa thu đan len” - sơn dầu và “Tát nước đồng chiêm” - sơn mài là hai tác
phẩm xuất sắc của Trần Văn Cẩn. Tát nước đồng chiêm thể hiện một quang cảnh rộng
lớn: quang cảnh những người nông dân đang lao động trên chính thửa ruộng của
mình. Ông vẽ người lao động mà không thấy vẻ lam lũ, nhọc nhăn, ngược lại, toát lên
một vẻ đẹp đầm ấm. Tát nước đồng chiêm biểu hiện một vẻ đẹp chân thật, chất phác
không kém phần duyên dáng lãng mạn của người nông dân Việt Nam. Và có lẽ Trần
Văn Cẩn còn một trong những danh hoạ vẽ nông dân thành công nhất: bố cục chắc
vững, các mảng đầy vơi đan xen tài tình, từ dáng điệu được nghiên cứu một cách công
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
11
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
phu, rất xao động, nhuần nhuyên sắc độ đậm nhạt mềm mại, dễ chịu hợp lý. Trong
niềm đam mê, hứng khởi Trần Văn Cẩn đã vẽ nên một nét mềm lơi lả. Cả một không
gian tươi sáng nhộn nhịp như hoà quyện vào như những cô gái quê uyển chuyển trong
động tác tát nước gàu dai, những cúi ngửa tự nhiên, bay bướm, những khóm tre lay
động những cánh cò dập dờn, những thửa ruộng chạy xa tít phía chân trời chói loà...
Ta nghe có cả âm thanh của tiếng nước đổ. Về mặt nào đó, Tát nước đồng chiêm mãi
là bài học hàn lâm cho nền mỹ thuật Việt Nam.
Tác giả đã diễn tả một cảnh sinh hoạt quen thuộc ở vùng nông thôn Viêt Nam
nhưng bằng cách thể hiện độc đáo của mình ông đã cho thấy một vùng nông thôn mới
và những người dân được làm chủ ruộng đồng toàn bức tranh toát lên một không khí
tươi vui rộn ràng, mạnh mẽ phơi phới trên từng khuôn mặt.
Giờ đây công cuộc đổi mới sâu sắc, toàn diện, những nhân tố mới, những kết quả
bước đầu quan trọng. Quần chúng tin rằng nghệ sĩ và nghệ thuật sẽ đi cùng chiều,
muốn vậy trước hết nghệ sĩ phải có con mắt tinh đời và phải nhìn thấy những cái mới
mẻ. Nhưng không đơn giản chút nào khi nhận thức cái mới và cái đẹp trong xã hội,
nhất là con người ngày nay càng ngày càng năng động. Xét ở góc độ thẩm mĩ, cái đẹp
dường như là cái cốt lõi của nhân bản, gốc rễ của chất người, bởi vì con người sáng
tạo ra thế giới và sáng tạo mình theo quy luật của cái đẹp. Có thể nói nghệ thuật phản
ánh cuộc sống.
2.1.2 Tác phẩm “Thiếu nữ bên hoa huệ”
Là tác phẩm với chất liệu sơn dầu của họa sĩ Tô Ngọc Vân được sáng tác năm
1943. Nhân vật trong tranh là một thiếu nữ mặc áo dài trắng ngồi nghiêng đầu vuốt
tóc một cách duyên dáng bên lọ hoa huệ tây trắng (thường gọi là hoa loa kèn). Tạo
hình của nhân vật như khối tượng, cả dáng người tạo thành hình vòng cung như ôm
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
12
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
lấy những bông hoa trắng, trông tĩnh mà động. Thiếu nữ với trang phục, khuôn mặt,
bàn tay được diễn tả bằng những khối được giản lược, trong không gian chan hòa ánh
sáng. Tuy theo kỹ thuật tạo hình và chất liệu phương Tây nhưng bức tranh vẫn mang
sắc thái Việt Nam qua việc đơn giản hóa khối và màu sắc trong sử lý tác phẩm.
Bức tranh “Thiếu nữ bên hoa huệ”
Tác phẩm này được coi là bức tranh tiêu biểu nhất của danh họa Tô Ngọc Vân và
là một kiệt tác tiêu biểu cho mỹ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Bức tranh cũng
đánh dấu bước chuyển có tính chất bước ngoặc của mỹ thuật Việt Nam trong giao lưu,
tiếp bước với văn hóa phương Tây.
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
13
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
2.1.3 Tác phẩm “ Em Thúy”
Trở về với nền mỹ thuật Việt Nam, sự hài hòa trong cái đẹp thể hiện thật rõ
qua tác phẩm “Em Thúy”, đó là sự hài hòa cả về cái bên trong và cái bên ngoài:
Em Thúy
“Em Thúy” Bức danh hoạ nổi tiếng này đã có mặt 60 năm, ra mắt lần đầu tiên
vào năm 194. Tác giả của em Thuý là cụ Trần Văn Cẩn (1910 – 1994), một hoạ sĩ của
Việt Nam đầu thế kỉ thứ 20. Bác ấy là một họa sĩ đại thụ trong bộ tứ danh hoạ hàng
đầu của nền Mỹ Thuật cận đại Việt Nam luôn đấy. Cụ cũng là họa sĩ được vinh dự
chỉnh sửa quốc huy của nước Việt Nam ta.
Xem tranh ta cảm nhận đc vẻ đẹp ngây thơ, thánh thiện được diễn tả bằng
những yếu tố màu sắc và bố cục. Tác giả đã cân nhắc khi đặt những mảng màu từ tóc
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
14
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
đến ghế, rồi cả vòng tay tạo nên sự hài hòa, cân đối tạo nên bố cục tranh. Ánh sáng
làm nổi bật gương mặt tròn, bầu bĩnh với đôi mắt to, đen láy. Tác giả đã rất khéo khi
sử dụng màu trắng lướt nhẹ lên mặt và cổ nhưng không phải là phủ hết khiến ta cảm
nhận được sự mềm mại, mịn màng của làn da. Toàn bộ bức trannh được thể hiện bằng
sự hòa sắc nhẹ nhàng và ấm áp tạo nên phong cách cá nhân của họa sĩ, xử lí màu sắc
nhịp điệu làm bức tranh đẹp toàn vẹn.
2.1.4 Tác phẩm “Em bé cho chim ăn”
EM BÉ CHO CHIM ĂN
Tác phẩm “Em bé cho chim ăn” của Nguyễn Phan Chánh, ông sinh ngày 21
tháng 7 năm 1892, là một danh họa trong nghệ thuật tranh lụa. Ông là người đầu tiên
mang vinh quang về cho tranh lụa Việt nam.
Xuất thân từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương do người Pháp đào tạo,
nhưng Nguyễn Phan Chánh lại thành công và thành danh ở lĩnh vực tranh lụa, một
loại hình nghệ thuật mang đậm chất Á Đông, từ chất liệu cho đến cách tạo hình. Ông
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
15
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
chỉ tiếp nhận các kỹ thuật hội họa phương Tây: hình họa, đường nét, màu sắc, bố cục,
cách xử lý ánh sáng, luật xa gần… qua các giáo sư Victor Tardieu và Joseph
Inguimberty như một phương tiện kỹ thuật mang tính phổ quát. Trên nền tảng đó, ông
tạo dựng cho mình một phong cách hội họa bác học theo tinh thần của thời đại mới
mà vẫn bám sâu gốc rễ văn hóa vào nguồn mạch văn hóa mỹ thuật truyền thống đã
phát triển rực rỡ hàng ngàn năm của dân tộc.
Sinh ra và lớn lên từ một làng quê nghèo của huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh, thuở bé
Nguyễn Phan Chánh học chữ Nho ở quê nhà. Năm 1922, sau khi tốt nghiệp, Nguyễn
Phan Chánh ở lại Huế dạy học. Và… một thôi thúc lạ đời đã đưa Nguyễn Phan Chánh
đến với hội họa. Ông ra Hà Nội thi đỗ vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương
khóa I (1925 – 1930) cùng với Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu, Mai Trung Thứ,
Công Văn Trung, Lê Văn Đệ… Và từ đấy, chúng ta có Nguyễn Phan Chánh – họa sỹ.
Những năm cuối của trường, Nguyễn Phan Chánh miệt mài tìm tòi, nghiên cứu,
thể nghiệm chất liệu lụa và đã tiến một bước dài trong việc cách tân nền hội họa Việt
Nam với một loạt tác phẩm có giá trị ra đời: “Bữa cơm”, “Em bé cho chim ăn”, “Lên
đồng”, “Những người hát rong’… Đặc biệt, bức tranh “Chơi ô ăn quan”, trên cái nền
lụa trắng ngà chỉ có hai màu nâu, đen, Nguyễn Phan Chánh làm người xem ngỡ ngàng
khi vẽ những em bé chơi trò mà không nghịch ngợm, chăm chú và điềm tĩnh, ngây
thơ mà tư lự… đã gây tiếng vang lớn trong cuộc triển lãm đấu xảo Paris năm 1931.
Từ đó Nguyễn Phan Chánh chuyên sáng tác và nổi tiếng về tranh lụa, dùng lụa để
phản ánh hiện thực đã khẳng định được phong cách cùng khuynh hướng nghệ thuật
hiện thực dân tộc.
Khác với tranh sơn dầu hay sơn mài, bột màu… nghệ sỹ có thể mặc sức thả bút
theo dòng xúc cảm đang tuôn trào, nghệ sỹ khi vẽ tranh lụa phải lắng lòng để chuyển
tải cảm xúc. Do đó cảm hứng sáng tạo thường diễn ra chậm. Từ những đặc tính của
lụa: cách diễn hình và sắc mơ màng, thơ mộng… đòi hỏi nghệ sỹ ngoài đức tính kiên
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
16
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
nhẫn, cần cù còn phải có một thái độ nghiêm cẩn, tỷ mỷ, cầu kỳ trong từng nét vẽ, tạo
loang mới có thể làm nên một bức tranh lụa đẹp lung linh, mờ ảo, mỏng manh, thanh
thoát. Nguyễn Phan Chánh là bậc thầy về lĩnh vực này. Tranh ông nền nã với những
gam màu nâu đen, vàng đất, xám nhẹ thấm đẫm chất lụa đã làm nên một phong cách
nghệ thuật Nguyễn Phan Chánh trữ tình, độc đáo.
Tài năng Nguyễn Phan Chánh thể hiện ngay trong cách nhìn. Ông nhìn bằng
tâm tưởng, thấy được những điều mắt ta không thấy, hoặc thờ ơ bỏ qua: vẻ đẹp đời
thường. Đó là những cảnh: Rửa rau cầu ao, Em bé chơi chim, Hai thiếu nữ đội nón
thúng quai thao, Thiếu nữ chải tóc, Hái rau muống, Rửa khoai, Tối cho con bú, Đêm
trăng lu, Kỳ lưng, Tắm ao… Với bố cục thông thoáng và sự gia công tinh tế của
phương Đông hợp hòa cùng sự chính xác, khoa học phương Tây, giữa diễn tả và gợi
tả. Nguyễn Phan Chánh đã tẩm tâm hồn chúng ta trong hồn quê dân dã. Tranh ông
mang lại sắc thái êm ả, thanh thản, bình dị, trữ tình. Về tranh lụa Nguyễn Phan Chánh,
nhà văn Ba Lan Z.Kwecinska nhận xét: Xem tranh, chúng ta có cảm giác như nghệ sỹ
đang tâm sự những câu chuyện của đời mình. Ông như muốn chia sẻ những khát
vọng, hoài bão và tình yêu cuộc sống, con người. Mỗi bức tranh như một bài thơ.
Tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh thật êm dịu, mát mẻ. Phải có một nghị lực phi
thường, một sức sống mạnh mẽ, họa sỹ mới giữ được sự bình thản, êm đềm ở một đất
nước luôn có chiến tranh.
Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh rất mê nghe tiếng họa mi hót ví von, thường làm
nhiều thơ về chim họa mi. Ông có riêng một cuốn sổ' ghi những tiếng hót họa mi, coi
họa mi là bạn tri âm. Ông kể chuyện các cụ thời trước hay đi đấu chim họa mi. So với
các loài chim khác thì giọng chim họa mi người người ai cũng thích"...
Bố cục rất sắc sảo, chặt chẽ. Người coi bức tranh chú ý ngay con chim nhảy lên
trên chuồng để ăn con cào cào mà em bé đang giơ tay cho ăn. Phần vẽ con chim thì ít
thôi còn để phần già để vẽ chuồng. Mặc dầu có khuất một bên nhưng trông qua là
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
17
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
người ta biết con chim họa mi ở trong chuồng. Cô bé cho chim ăn, áo trắng quần
thâm, tuy là ở về đằng trước nhưng rõ ràng khi xem bức tranh này, trước hết người ta
sẽ để ý đến con chim nhảy trong chuồng, sau mới đến cô bé. Đó là vì cô kém linh
động hơn, hơn nữa, người ta biết cô cũng như trăm vạn cô gái khác thôi, huống chi cô
lại quay mặt vào trong. Cô này ngồi chắc, thoải mái vững vàng, nhất là tay bên trái để
ra đằng sau để trụ mình cho vững vàng vì tay bên phải giơ tay lên cho chim ăn. Đùi
bên phải của cô co lại, giảm bớt phần nào sự ngượng nghịu của cánh tay bên mặt đang
cho chim ăn, đường cong của quần cũng làm dịu đi nét thẳng của chuồng chim cũng
như của cánh cửa sau cô, làm dịu được hình tròn tròn của đầu cô. Nét thẳng ấy như
thể chạy thẳng đến bên cánh tay bên trái, làm cho cô có dáng điệu ngồi thoải mái
vững chắc, không gây ấn tượng người ngửa ra trước hay ngã ra sau. Hai bên quần có
ló một gót chân ra để phân biệt ống quần của cô dài đến đó. ống quần bên trái duỗi ra
rất thoải mái.
Màu sắc của tranh cũng rất đơn giản, chỉ có mầu lạnh và mầu nóng. Mầu lạnh
như áo quần, còn màu nóng như chuồng chim. Trên đầu cô chít một khăn nhiễu nâu
lẫn vào tóc đen. Mầu tường và mầu đất nóng lạnh lẫn lộn nhau. Câu chữ Hán của họa
sĩ đề bên tường cũng điều chỉnh được khuôn đầu, khuôn vai và khuôn bàn tay duỗi ra
dưới đất. Mầu đỏ của khuôn dấu cũng có ích vì mầu đỏ tươi của khuôn dấu làm giảm
mầu lạnh của tranh, khiến cho bức tranh tươi tắn thêm .
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
18
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
2.1.5 Tác phẩm: “Giặc đốt làng tôi”
GIẶC ĐỐT LÀNG TÔI
Danh họa Nguyễn Sáng (01/8/1923 – 16/12/1988) kết hợp tư duy và thủ pháp
của hội họa hiện đại Tây phương vào nghệ thuật dân gian Việt Nam để tạo ra những
cách tân lớn trong tranh sơn dầu và sơn mài.
Nguyễn Sáng, quê ở làng Điều Hòa, Chợ Gạo, Tiền Giang. Tốt nghiệp mỹ thuật
Gia Định và mỹ thuật Đông Dương Hà Nội, Nguyễn Sáng dành trọn cuộc đời cho
hoạt động cách mạng và sáng tác hội họa. Các nhà phê bình mỹ thuật từng đánh giá
Nguyễn Sáng là bậc thầy về sơn mài và tranh chân dung. Nguyễn Sáng là một tài
năng già dặn, càng vẽ càng đẹp. Ông chỉ có hai bàn tay trắng nhưng đã để lại cho
cuộc đời những bức tranh vô giá.
Nhắc tới họa sĩ Nguyễn Sáng, giới yêu hội họa thường tôn vinh tài năng của ông
qua các tác phẩm sơn mài. Tiêu biểu như các bức tranh: Giặc đốt làng tôi, Thánh
gióng, Thiếu nữ và hoa sen, Thổi sáo, Kết nạp Đảng ở Điện Biên. Tranh sơn mài của
Nguyễn Sáng mang vẻ đẹp vừa gân guốc vừa lung linh của con người và sự vật. Đối
với tranh chân dung về các nghệ sĩ và bạn bè của ông, Nguyễn Sáng thể hiện được
thần thái và tính cách của nhân vật qua những đường nét chấm phá. Các nhà phê bình
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
19
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
hội họa đánh giá cao các tranh chân dung của Nguyễn Sáng vẽ về nhà văn Nguyễn
Tuân, Tô Hoài, họa sĩ Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm. Chân dung các nhân vật
qua nét vẽ của Nguyễn Sáng
Tác phẩm Giặc đốt làng tôi (khổ 127 x 87cm, sơn dầu) vào cuối năm 1953 ở
Tuyên Quang, mà sau này nổi tiếng. vừa giản dị, gần gũi với đời thường vừa mang vẻ
đẹp thanh thoát của tính cách nghệ sĩ.
"Giặc đốt làng tôi” là một trong những tác phẩm nổi tiếng của hoạ sĩ Nguyễn
Sáng, kết quả của một quá trình suy nghĩ và cảm xúc nhiều năm về cuộc chiến tranh
chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là sau chuyến đi thực tế Tây
Bắc vào những năm 1953-1954 của tác giả Chủ đề bức tranh vừa mô tả cuộc kháng
chiến trường kỳ của quân và dân Việt Nam, vừa tố cáo tội ác của giặc Pháp. Tranh
“Giặc đốt làng tôi” đạt tới khả năng khái quát hiện thực cao cùng một lối diễn đạt
ngôn ngữ hình sắc xuất sắc cho nên đã chiếm được cảm tình của người xem ngay lần
trưng bày đầu tiên. Tác phẩm có bút pháp sắc, đanh, lối biểu hiện tả thực, cấu trúc
người vững chắc, sinh động góp phần làm nên thành công của hội họa hiện thực Cách
mạng Việt Nam.
2.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và mỹ thuật qua tác phẩm mỹ thuật Việt
Nam
Diễn trình của mỹ thuật song hành trong dòng chảy văn hóa. Thành tựu của mỹ
thuật cũng là thành tựu của văn hóa, phản ánh đặc điểm, tính chất của mỗi giai đoạn
lịch sử của văn hóa.
“Em Thuý” của hoạ sĩ Cẩn được vẽ bằng tranh sơn dầu thể hiện hình ảnh một bé
gái ngồi trên chiếc ghế mây với đôi mắt to tròn đầy tinh anh, thần thái trong trẻo, vô
ưu đã cho người xem một cảm giác nhẹ nhàng, khoan khoái nhưng cũng đầy tin
tưởng.
Bức tranh “Em Thúy” không chỉ được các nhà nghiên cứu mỹ thuật đánh giá
cao, mà ngay cả các nhà lịch sử, văn hóa cũng dành nhiều thời gian nghiên cứu và đưa
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
20
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
ra những giá trị riêng nữa đó:
- Giá trị lịch sử: Đây là tác phẩm xuất sắc, đánh dấu một giai đoạn lịch sử của
mỹ thuật Việt Nam cận đại nửa đầu thế kỷ XX
- Giá trị thẩm mỹ: Tác phẩm dùng cách tạo hình, bố cục của Châu Âu để thể hiện
một tâm hồn phương Đông. Với chất liệu sơn dầu, đây tác phẩm tiêu biểu cho thể loại
tranh chân dung Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX.
- Giá trị văn hóa: Là sự giao thoa giữa văn hóa phương Đông và phương Tây,
đưa nét đẹp của hội họa Việt Nam đến gần hơn với bạn bè Quốc tế.
“Thiếu nữ bên hoa huệ” của danh họa Tô Ngọc Vân ra đời trong bối cảnh
văn hóa Việt Nam bước vào cuộc giao lưu văn hóa phương Tây. Sự giao lưu, tiếp biến
đó đã làm biến đổi nền văn hóa Việt Nam trên mọi phương diện, đặc biệt trong lĩnh
vực mỹ thuật.
Việc Pháp mở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1925 để đào tạo
họa sĩ đã làm cho mỹ thuật Việt Nam sang một trang sử mới. Mỹ thuật được xây dựng
trên cơ sở tạo hình phương Tây, theo tư duy duy lý, khoa học của định luật xa gần và
giải phẫu. Các chất liệu mới được du nhập, trong đó có sơn dầu, đã mở rộng khả năng
diễn tả, phản ánh hiện thực một cách vô cùng phong phú. Mỹ thuật có xu hướng dân
chủ hóa, gần với đời sống. Tâm hồn, cốt cách của người Việt vẫn được chuyển tải và
thể hiện đậm nét trong các tác phẩm của các nghệ sĩ Việt Nam từ họa sĩ Lê Huy Miến,
người Việt Nam đầu tiên học vẽ tại Pháp, đến thế hệ đầu đàn học Trường Cao đẳng
Mỹ thuật Đông Dương như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn
Phan Chánh, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái,
Dương Bích Liên… Các bức tranh của họ rất khác tranh Pháp mà rất Việt Nam trong
bố cục, màu sắc, đường nét. Nổi tiếng trong số đó phải kể đến các bức tranh tiêu biểu
như “Em Thúy” (Trần Văn Cẩn), “Chơi ô ăn quan” (Nguyễn Phan Chánh), “Gióng”
(Nguyễn Tư Nghiêm), “Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ0” (Nguyễn Sáng)…
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
21
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
Bức tranh “Thiếu nữ bên hoa huệ” của họa sĩ Tô Ngọc Vân là một minh chứng
thể hiện rất rõ sự giao lưu tiếp biến văn hóa thể hiện trong lĩnh vực mỹ thuật. Chất
liệu sơn dầu vẽ trên toan, hình họa và giải phẫu của nhân vật theo kỹ thuật tạo hình
phương Tây. Nhân vật là con người cụ thể của một khoảng khắc của đời sống, mặc áo
dài (một kết quả giao lưu tiếp biến văn hóa), trong khung cảnh thơ mộng của đời sống
thị dân. Thiếu nữ được vẽ với kỹ thuật hình họa vững vàng. Mặc dù được vẽ theo lối
hiện thực, nhưng không tỉa tót, đi sâu vào chi tiết như lối vẽ phương Tây. Khối được
đơn giản hóa, đôi chỗ chỉ gợi để diễn tả khối, giản lược tối đa độ chuyển đậm nhạt.
Đôi chỗ họa sĩ buông vài nét bút rất chắt lọc, tạo độ nhấn. Nhìn chung toàn bộ tác
phẩm được giản lược về màu, khối và hình mà vẫn diễn tả được ánh sáng và không
gian. Phải chăng đó cái riêng, cái độc đáo của Tô Ngọc Vân trong kiệt tác “Thiếu nữ
bên hoa huệ”.
C. KẾT LUẬN
Như vậy cái đẹp là một hiện tượng thẩm mỹ vô cùng đa dạng và phức tạp.Cái
đẹp là cái phổ biến, là sự mời gọi hạnh phúc. Cái đẹp như một thước đo, là chuẩn mực
trong đời sông con người.Không phải ngẫu nhiên mà chân-thiện-mỹ đi liền với
nhau.Cái đẹp trong nghệ thuật mang tính chất phổ quát, sống động và cô đặc, tác
phẩm nghệ thuật là thước đo tinh thần của người nghệ sĩ.
Người sáng tạo ra cái đẹp sao cho phù hợp với quan niệm thị hiếu, lý tưởng thẩm
mỹ của mình.Nghệ thuật có nguyên tắc sáng tạo điển hình hóa các hiện tượng của cái
đẹp, của đời sống xã hội khi được đưa vào tác phẩm đã trải qua sự lựa chọn, qua bàn
tay và sáng tạo, sự chọn lọc và lăng kính tâm hồn của người nghệ sĩ.Mà cái đẹp trở
nên đẹp hơn, quả thật như câu nói: “Cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp của mọi cái
đẹp”.
Dòng chảy mỹ thuật không phải lúc nào cũng thuận dòng. Mỹ thuật Đông Sơn
phát triển với đỉnh cao rực rỡ với nghệ thuật trang trí với đạt đến tuyệt mỹ, nhưng lụi
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
22
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
tàn và bị gián đoạn trong thời gian ngàn năm Bắc thuộc. Giai đoạn tiếp nối sau khi
dân tộc đã bước vào giai đoạn tự chủ thì nghệ thuật trang trí cách điệu với các mô-típ
hình học không được tiếp nối. Chỉ còn vang vọng trên cạp váy Mường (Từ Chi) và
mãi mãi khiến chúng ta ngưỡng mộ di sản của cha ông được phát lộ từ trong lòng đất.
Tôn giáo, tín ngưỡng có vai trò bệ đỡ cho các thành tựu mỹ thuật. Với nền mỹ
thuật Đông Sơn, tín ngưỡng phồn thực được biểu hiện đầy đủ và toàn diện nhất trên
trống đồng; Phật giáo là nguồn cảm hứng to lớn để người nghệ sĩ đã sáng tạo ra
những kiệt tác điêu khắc tuyệt mỹ, cũng như Ấn độ giáo đối với nghệ thuật kiến trúc
và điêu khắc Chăm, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng với mỹ thuật đình làng…
Nhìn chung, mỹ thuật Việt Nam vẫn là nét chủ đạo của di sản mỹ thuật truyền
thống. Những người nghệ nhân – nghệ sĩ dân gian vô danh nhưng đã sáng tạo ra một
khối lượng di sản văn hóa đặc sắc, thể hiện tài trí, thẩm mỹ của người Việt qua tác
phẩm hội hoạ, điêu khắc…
Việt Nam có quá trình giao lưu, tiếp biến với văn hóa Trung Hoa, một nền văn
hóa lớn có sự phát triển mạnh mẽ của hội họa, có lý luận tạo hình với Lục pháp luận
từ thế kỷ thứ VI sớm nhất trên thế giới, có danh họa nổi tiếng thế giới nhưng hội họa
Việt Nam truyền thống hầu như không có giao lưu, tiếp biến với hội họa Trung Hoa
và hội họa truyền thống Việt Nam không có thành tựu như điêu khắc và kiến trúc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tp. Hồ Chí Minh,
2001,
2. Nguyễn Phi Hoanh (1970): Lược sử mỹ thuật Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội.
3. Trịnh Quang Vũ (2009): Lược sử mỹ thuật Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa,
Hà Nội.
4. />5. />GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
23
SVTH: HỒ VŨ THỤY
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA – MỸ HỌC – MỸ THUẬT QUA TÁC PHẨM MỸ THUẬT VIỆT NAM
articleid=19173&sitepageid=540#sthash.8s7Pl9Hr.dpbs
6. />7.
/>
8. />%C3%AAn_hoa_hu%E1%BB%87
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN TRI NGUYÊN
24
SVTH: HỒ VŨ THỤY