Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

KINH NGHIỆM ôn THI địa lý

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (230.08 KB, 26 trang )

Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

GROUP TÔI YÊU ĐỊA LÝ!
A.Kinh nghiệm học tập địa lý/
Cấu trúc hình xương cá
Để có thể nắm được những kiến thức cơ bản của môn Địa thì trước hết các bạn cần
nắm được một sơ đồ cấu trúc dạng xương cá. Chúng ta có ba phần chính là: Địa lí
tự nhiên và dân cư; Địa lí các ngành kinh tế và Địa lí vùng kinh tế. Trong mỗi phần
này lại chia ra từng bài, trong từng bài lại có từng ý lớn. Như vậy, sau khi đã có
được khung của toàn chương trình, các bạn đã có được một hình dung về những
nội dung cơ bản mà mình cần ôn tập để “đắp thịt” vào.
Một đặc điểm của bài thi môn Địa là các ý lớn, ý nhỏ được trình bày một cách rõ
ràng, mạch lạc theo các đề mục 1,2,3... hoặc a,b,c... Do đó, các bạn học sinh cần
nắm được ý chính trong mỗi phần, mỗi câu để từ đó triển khai ra. Ví dụ: đặc điểm
của đất nước có nhiều đồi núi có ba hay bốn đặc điểm nhỏ (ý lớn). Từ các ý này,
các bạn tiếp tục triển khai theo ý hiểu và đưa các dẫn chứng vào.
Trước khi làm bài thi, các bạn cần gạch sẵn ra giấy nháp những ý lớn này để tránh
bỏ sót trong quá trình làm bài. Các ý lớn cần đặt ở đầu đoạn để giúp cho bài viết
mạch lạc, dễ triển khai và thuận lợi cho người chấm. Đối với bài Địa lí (ngay cả
với Lịch sử và Văn) thì một câu trả lời tốt trước hết phải đủ ý.
Về mặt số liệu, các bạn không cần thiết phải nhớ tuyệt đối số liệu nhưng cần nhớ
chính xác một cách tương đối. Ví dụ, diện tích phần đất liền nước ta là 329.247
km2, nếu các bạn không nhớ được chính xác thì có thể nói diện tích đất liền nước
ta là hơn 329.000 km2 hay gần 330.000 km2. Tất nhiên, điều này không đồng
nghĩa với những sai lệch quá lớn không chấp nhận được.
Các bạn cũng không nhất thiết phải nhớ hết cả một dãy số liệu quá dài nhưng nhất
thiết phải nhớ được những số liệu cơ bản làm dẫn chứng cho bài viết. Ví dụ: dẫn
chứng về tốc độ gia tăng dân số nước ta thì cần nắm được những mốc quan trọng,
thường là đầu – cuối hoặc những năm có sự biến động lớn như tăng, giảm đột


ngột....
Sử dụng Atlat như thế nào?
Một trong những lợi thế quan trọng của học sinh thi tốt nghiệp so với thi đại học là
được mang Atlat Địa lí Việt Nam vào phòng thi. Thế nhưng, rất nhiều bạn chưa có
kỹ năng đọc bản đồ hoặc không biết sử dụng Atlat khiến cho trong nhiều trường
hợp có Atlat mà trở nên “vô dụng”.
Để có thể khai thác tốt Atlat thì trước hết các bạn cần nắm được nội dung của bản
đồ, xem trang này có những đối tượng Địa lí nào? Ngoài bản đồ chính có biểu đồ,
sơ đồ gì không? Nắm vững bảng ký hiệu nằm ở trang bìa. Xem trong bảng chú


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

thích: các nội dung mình cần tìm được kí hiệu như thế nào? Các màu sắc, các biểu
đồ trên bản đồ, các kí hiệu... nó có ý nghĩa gì trên bản đồ đó?
Thực ra, theo kinh nghiệm thì các bạn chỉ nên dùng Atlat như là một phương tiện
làm dẫn chứng. Điều quan trọng trước hết là các bạn phải nắm được kiến thức cơ
bản, hay dàn ý lớn từ đó lấy dẫn chứng ở Atlat vào bài viết. Đây cũng là một
phương pháp rất hữu ích để các bạn có thể học nhanh bài Địa lí (nhớ hình ảnh
nhanh hơn nhớ chữ viết).
Cụ thể, ví dụ khi học về vị trí Địa lí, phạm vi lãnh thổ các bạn có thể mở trang vị
trí Địa lí. Kết hợp những kiến thức trong sách giáo khoa với hình ảnh trên bản đồ
sẽ giúp các bạn nhớ bài tốt hơn và nắm được cốt lõi của vấn đề. Các bạn nhìn thấy
ngay trên bản đồ là nước ta tiếp giáp với những nước nào? Ở phía nào? có các quần
đảo nào....
Bên cạnh đó, các bạn cũng có thể sử dụng Atlat như một nguồn số liệu (thay vì
phải nhớ rất nhiều số liệu từ sách giáo khao). Ví dụ, số liệu về dân số Việt Nam
qua các năm hay tên của các đô thị, các trung tâm công nghiệp, các bãi biển du

lịch...

Nếu có từ “thể hiện cơ cấu” thì các bạn nên nghĩ tới biểu đồ tròn và biểu đồ miền
(dưới ba năm là biểu đồ tròn, trên ba năm là biểu đồ miền)
Làm sao để nhận dạng đúng biểu đồ


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

Các bài thực hành vẽ biểu đồ như biểu đồ cột, biểu đồ tròn, biểu đồ đường, biểu đồ
miền là dạng bài thực hành mà chúng ta rất dễ “kiếm” điểm nhưng điều quan trọng
nhất mà các bạn học sinh 12 gặp phải đó là “làm sao để nhận dạng đúng bản đồ”?
Một mẹo nhỏ cho các bạn là: trong yêu cầu vẽ biểu đồ (ý thứ nhất) thường đã có
gợi mở về dạng biểu đồ. Nếu có từ “thể hiện cơ cấu” thì các bạn nên nghĩ tới biểu
đồ tròn và biểu đồ miền (dưới ba năm là biểu đồ tròn, trên ba năm là biểu đồ miền).
Nếu có từ “diễn biến” hay “tốc độ tăng trưởng” thì các bạn nên nghĩ đến biểu đồ
đường.
Để có thể đạt điểm tuyệt đối trong bài thực hành vẽ biểu đồ, các bạn cần bảo đảm
đầy đủ các yếu tố như: tên đơn vị trên trục tung (nghìn người, nghìn ha...); bảng
chú thích; tên biểu đồ (Biểu đồ thể hiện....).
Nhật xét biểu đồ cần căn cứ vào biểu đồ đã vẽ, các số liệu đã tính toán. Cần nhận
xét chung (nhìn tổng quát, diễn biến của toàn bộ số liệu) trước khi nhận xét từng
đối tượng cụ thể. Trong quá trình nhận xét cần chỉ rõ xem đại lượng đó tăng hay
giảm? Các đại lượng đầu cuối. Đối với một giai đoạn nhiều năm có thể chia thành
từng giai đoạn để nhận xét. Chú ý các thời điểm có sự diễn biến đột ngột của đối
tượng. Giải thích cần vận dụng tổng hợp các nhân tố (tự nhiên, xã hội) để giải thích
cho vấn đề.
Để ôn tập và làm tốt bài thi tốt nghiệp môn Địa các em nên lưu ý các điểm sau.

I. Khi ôn tập
1. Không được học tủ, học lệch: cấu trúc đề thi môn Địa của Bộ Giáo dục ban hành
phủ toàn bộ chương trình, vì vậy khi ôn không nên bỏ bất cứ bài nào. Thà bỏ mươi
phút học còn hơn phải ôm hận vì “tủ lệch”.

2. Trong từng bài ôn tập, cần lưu ý mấy điểm sau:
- Bất kì bài học nào cũng nằm trong mối quan hệ với nhiều bài khác, vì vậy phải
nắm được bài đó nằm ở phần nào của chương trình (muốn nhanh chóng nhất, hãy
xem ở phần mục lục).
- Không nên ôn theo kiểu đọc lần lượt từ đầu đến cuối bài vì như vậy ghi nhớ
được rất ít. Nên xem bài có bao nhiêu mục lớn, từng mục lớn có những mục nhỏ
nào ( SGK Địa lí thể hiện rất rõ các tiêu mục này), trong các mục có những ý lớn
nào, ý lớn bao gồm những ý nhỏ nào. Ôn theo nguyên tắc từ tổng thể đến chi tiết,
từ khái quát đến cụ thể.


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

- Đánh dấu lại những ý, những câu, những từ, số liệu quan trọng. Lần sau xem lại,
không cần đọc hết bài, những chỗ đánh dấu này sẽ giúp các em nhanh chóng tái
hiện toàn bộ bài học.
- Ghi tóm tắt lại bài học. Có thể viết tắt, dùng kí hiệu. Mỗi câu, mỗi ý chỉ dùng
một vài từ “chốt” để phần ghi lại thật ngắn gọn, đỡ mất thời gian khi xem lại.
- Phần nào không hiểu thì ghi lại để trao đổi với bạn bè hoặc hỏi thầy cô giáo.
Không hiểu rất khó nhớ. Chỉ nhớ mà không hiểu nội dung lúc làm bài dễ bị vận
dụng sai.
3. Học bằng sơ đồ. Nên hệ thống hoá kiến thức bằng sơ đồ. Có những cách lập sơ
đồ khác nhau. Dễ làm và thích hợp với việc hệ thống kiến thức là vẽ sơ đồ cây thư

mục. Sơ đồ cho cả chương trình, cho từng phần nên dựa vào mục lục.
Đối với từng bài, trước hết dựa vào các đề mục của bài, sau đó phát triển các
nhánh ý chính, ý phụ. Vẽ sơ đồ để khi nhìn vào, các em sẽ nhanh chóng nắm được
các ý quan trọng nhất của nội dung bài.
4.Số liệu trong địa lí rất nhiều. Nếu không thể nhớ chính xác các số liệu thì có thể
nhớ gần đúng theo kiểu khoảng, gần bằng, lớn hơn….Đường bờ biển nước ta dài
3260 km, có thể viết hơn 3000 km cũng được chấp nhận. Nên dùng số liệu trong
Atlat để đỡ phải nhớ nhiều vì phần lớn số liệu sách giáo khoa có ở đây.

5. Ôn tập luôn gắn với Atlat địa lí Việt Nam. Đây là cuốn tài liệu quan trọng được
phép mang vào phòng thi tốt nghiệp. Biết sử dụng Át lát thì việc ôn tập trở nên rất
nhẹ nhàng. Khi sử dụng cuốn tài liệu này cần lưu ý:
- Cần nắm được cấu trúc của Atlat, việc xắp xếp các bản đồ như thế nào để khi học
bài có thể nhanh chóng tìm đến các trang có liên quan.
- Nhớ các kí hiệu càng nhiều càng tốt để khi học không phải giở đi giở lại mất thời
gian. Atlat phần lớn sử dụng các kí hiệu tượng hình, hiểu các tượng hình này sẽ dễ
nhớ hơn nhiều. Công nghiệp cơ khí kí hiệu bánh xe răng cưa, vật liệu xây dựng là
ba viên gạch, cây cao su kí hiệu một đoạn cây có rãnh nghiêng và bát hứng mủ, sân
bay kí hiệu máy bay, cảng kí hiệu là mỏ neo….


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

- Phần bản đồ chủ yếu cho thấy sự phân bố theo không gian của các đối tượng địa
lí. Chú ý tới nền màu bản đồ, các kí hiệu và các biểu đồ trong các tỉnh, vùng. Phần
biểu đồ ngoài bản đồ cho biết tình hình phát triển, sự thay đổi, quy mô, cơ cấu …
đối tượng.
- Tuỳ theo bài học mà sử dụng một hay nhiều bản đồ. Thông thường là phải dùng

nhiều trang trong đó có trang chủ đạo của nội dung bài.

II. Một số lỗi học sinh hay mắc khi làm bài và cách khắc phục
- Đọc không kĩ đề nên trả lời dễ lạc đề hoặc trả lời không đúng trọng tâm. Cần đọc
thật kĩ đề để xác định xem câu hỏi đó thuộc dạng nào ( trình bày, chứng minh, phân
tích, so sánh hay giải thích). Chú ý trả lời theo nguyên tắc “hỏi cái gì trả lời cái
đó”.
- Phân bố thời gian làm bài không hợp lí, một số câu thường được dành quá nhiều
thời gian làm quá kĩ, chi tiết nên không đủ thời gian làm các câu còn lại, phải làm
sơ sài, bỏ ý, bỏ câu, mất số điểm lớn. Đề thi tốt nghiệp có 4 câu, cần làm đều cả 4
câu, không thiên lệch câu nào. Từng câu đã quy định số điểm. Việc phân bổ thời
gian làm bài chủ yếu dựa vào số điểm này. - Không nháp dàn bài trước khi viết vào
bài làm nên rất dễ bị sót ý. Cần phác nhanh dàn bài cho từng câu. Vừa viết vừa rà
soát lại các ý. Viết theo dàn bài, bài viết sẽ mạch lạc và dễ phát hiện các ý thiếu để
bổ sung.
- Không biết cách trình bày cũng dễ bị mất điểm. Trình bày sơ sài theo kiểu dàn
bài cho dù đúng ý cũng không được điểm tối đa, chỉ thường đạt khoảng 50 đến
75% số điểm của ý. Trình bày dài dòng quá vừa mất thời gian làm bài vừa không
làm nổi bật ý trọng tâm. Các ý khác nhau viết lẫn lộn thường chỉ được điểm của
một ý. Đáp án môn Địa thường rất rõ ràng, chi tiết theo từng ý. Nên trình bày rõ
từng câu bằng các mục 1, 2… hoặc a,b…. Trong từng ý nên thông báo ngay ý các
em định trình bày ở dòng đầu tiên, sau đó mới triển khai ra.
- Đối với phần biểu đồ, học sinh mắc lỗi nhiều nhất là không xác định được đúng
kiểu biểu đồ cần vẽ và vì thế mất rất nhiều điểm. Hai yếu tố để xác định kiểu biểu
đồ là yêu cầu của đề và bảng số liệu. Những học sinh xác định sai kiểu vẽ phần lớn
là do chỉ chú ý tới bảng số liệu mà không đọc kĩ yêu cầu của đề. Vì vậy quan trọng


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>

Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

nhất là xem đề yêu cầu như thế nào, thể hiện cơ cấu, so sánh hay thay đổi, phát
triển…Theo yêu cầu đó có thể bao nhiêu cách vẽ, sau đó kết hợp bảng số liệu mới
quyết định chính xác kiểu vẽ thích hợp nhất. Những lỗi thông thường khác cần
tránh là thiếu tên biểu đồ, thiếu chú giải, không điền những số liệu cần vào biểu đồ,
chia khoảng cách thời gian sai, không ghi đơn vị tính. Các lỗi này sẽ làm mất điểm
thành phần. Khi vẽ cũng cần tính toán kích cỡ biểu đồ vừa phải, trực quan, đẹp. Vẽ
to quá mất thời gian, nhỏ quá khó nhìn. Không cần cầu kì quá đối với với các kí
hiệu. Trừ đường tròn, tất cả phần còn lại của biểu đồ không được vẽ bằng bút chì
mà phải vẽ bẳng bút cùng màu với chữ viết.
- Phần nhận xét và giải thích bảng số liệu và biểu đồ nhiều học sinh làm rất lộn xộn
và không thể hiện được các ý cần nhận xét, giải thích. Cần đọc kỹ câu hỏi để làm
rõ đề yêu cầu gì, mức độ ra sao. Không xác định rõ yêu cầu chính của đề dễ bị lạc
đề. Bảng số liệu thường có các tiêu chí hàng dọc, hàng ngang, dựa vào đây đưa ra
các ý cần nhận xét căn bản. Bao quát toàn bộ số liệu, chú ý tới các giá trị lớn nhất,
nhỏ nhất, trung bình, những đột biến. Cần thiết thì chế biến, xử lý số liệu. Có thể
xắp xếp ghép nhóm lại số liệu theo thời kì, độ lớn, vùng…Đưa ra các ý nhận xét
theo nguyên tắc từ khái quát đến cụ thể. Đưa ra bất cứ nhận xét gì đều phải có số
liệu dẫn chứng nhưng không lắt nhắt, chi tiết quá sẽ làm cho ý nhận xét bị xé vụn.
Phần giải thích (nếu đề yêu cầu) lỗi nhiều nhất là nhận xét một đằng, giải thích một
nẻo. Chỉ cần giải thích những vấn đề đã nhận xét.Tuỳ từng đề mà có thể nhận xét
đến đâu giải thích đến đấy hoặc nhận xét xong mới giải thích sau.
- Với các câu hỏi gắn với Atlat, đề thường ra là “ Dựa vào Atlat Địalí Việt Nam và
kiến thức đã học…”, làm bài học sinh thường chỉ sử dụng một trong hai cơ sở trên
là không đủ, sẽ bị sót một số ý. Thiếu sót thứ hai là học sinh chỉ sử dụng một trang
Atlat. Kể cả câu hỏi đơn giản nhất cũng cần thận trọng vì rất ít nội dung Địa lí chỉ
nằm ở một trang. Nếu làm theo những góp ý trên, tất nhiên cùng với cách ôn tập có
kế hoạch, anh tin là các em
sẽ thành công.

Bí quyết làm bài tốt phần kĩ năng đề thi môn địa lí
(GD&TĐ) - Phần kĩ năng trong các đề thi môn Địa lí chủ yếu là: Vẽ và nhận
xét biểu đồ; nhận xét bảng số liệu, thống kê; sử dụng Atlat địa lí Việt Nam để
làm bài.
Để giúp các em học sinh thuận lợi nhất trong quá trình làm bài thi đối với phần
kiến thức kĩ năng của các đề thi môn Địa lí, tôi xin được trao đổi những “bí quyết”
để học tốt và làm tốt phần kĩ năng bài thi môn Địa lí như sau:


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

1. Kĩ năng lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất để vẽ.
Để thể hiện tốt biểu đồ, cần phải có kỹ năng lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất; kỹ
năng tính toán, xử lý số liệu (ví dụ, tính giá trị cơ cấu (%), tính tỉ lệ về chỉ số phát
triển, tính bán kính hình tròn...); kỹ năng vẽ biểu đồ (chính xác, đúng, đẹp...); kỹ
năng nhận xét, phân tích biểu đồ; kỹ năng sử dụng các dụng cụ vẽ kỹ thuật (máy
tính cá nhân, bút, thước...)
Cách lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất: Câu hỏi trong các đề thi về phần kĩ năng
biểu đồ thường có 3 phần:
a. Căn cứ vào lời dẫn (đặt vấn đề).
Trong câu hỏi thường có 3 dạng sau:
- Dạng lời dẫn có chỉ định. Ví dụ: “Từ bảng số liệu, hãy vẽ biểu đồ hình tròn thể
hiện cơ cấu sử dụng … năm...”. Như vậy, ta có thể xác định ngay được biểu đồ cần
thể hiện.
- Dạng lời dẫn kín. Ví dụ: “Cho bảng số liệu sau... Hãy vẽ biểu đồ thích hợp
nhất.... thể hiện…. & cho nhận xét)”. Như vậy, bảng số liệu không đưa ra một gợi
ý nào, muốn xác định được biểu đồ cần vẽ, ta chuyển xuống nghiên cứu các thành
phần sau của câu hỏi. Với dạng bài tập có lời dẫn kín thì bao giờ ở phần cuối

“trong câu kết” cũng gợi ý cho chúng ta nên vẽ biểu đồ gì.
- Dạng lời dẫn mở. Ví dụ: “Cho bảng số liệu... Hãy vẽ biểu đồ sản lượng công
nghiệp nước ta phân theo các vùng kinh tế năm...)”. Như vậy, trong câu hỏi đã có
gợi ý ngầm là vẽ một loại biểu đồ nhất định. Với dạng ”lời dẫn mở“ cần chú ý vào
một số từ gợi mở trong câu hỏi. Ví dụ:
+ Khi vẽ biểu đồ đường biểu diễn: Thường có những từ gợi mở đi kèm như “tăng
trưởng”,
“biến động”, “phát triển”, “qua các năm từ... đến...”. Ví dụ: Tốc độ tăng dân số
của nước ta qua các năm...; Tình hình biến động về sản lượng lương thực...; Tốc độ
phát triển của nền kinh tế.... v.v.
+ Khi vẽ biểu đồ hình cột: Thường có các từ gợi mở như: ”Khối lượng”, “Sản
lượng”,
“Diện tích” từ năm... đến năm...”, hay “Qua các thời kỳ...”. Ví dụ: Khối lượng
hàng hoá vận chuyển...; Sản lượng lương thực của …; Diện tích trồng cây công
nghiệp...
+ Khi vẽ biểu đồ cơ cấu: Thường có các từ gợi mở “Cơ cấu”, “Phân theo”,
“Trong đó”,
“Bao gồm”, “Chia ra”, “Chia theo...”. Ví dụ: Giá trị ngành sản lượng công
nghiệp phân theo...; Hàng hoá vận chuyển theo loại đường...; Cơ cấu tổng giá trị
xuất - nhập khẩu...
b. Căn cứ vào trong bảng số liệu thống kê:


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

Việc nghiên cứu đặc điểm của bảng số liệu để chọn vẽ biểu đồ thích hợp, cần lưu
ý:
- Nếu bảng số liệu đưa ra dãy số liệu: Tỉ lệ (%), hay giá trị tuyệt đối phát triển theo

một chuỗi thời gian (có ít nhất là từ 4 thời điểm trở lên). Nên chọn vẽ biểu đồ
đường biểu diễn.
- Nếu có dãy số liệu tuyệt đối về qui mô, khối lượng của một (hay nhiều) đối tượng
biến động theo một số thời điểm (hay theo các thời kỳ). Nên chọn biểu đồ hình cột
đơn.
- Trong trường hợp có 2 đối tượng với 2 đại lượng khác nhau, nhưng có mối quan
hệ hữu cơ. Ví dụ: diện tích (ha), năng suất (tạ/ha) của một vùng nào đó theo chuỗi
thời gian. Chọn biểu đồ kết hợp.
- Nếu bảng số liệu có từ 3 đối tượng trở lên với các đại lượng khác nhau (tấn, mét,
ha...) diễn biến theo thời gian. Chọn biểu đồ chỉ số.
- Trong trường hợp bảng số liệu trình bày theo dạng phân ra từng thành phần. Ví
dụ: tổng số, chia ra: nông - lâm – ngư; công nghiệp – xây dựng; dịch vụ. Với bảng
số liệu này ta chọn biểu đồ cơ cấu, có thể là hình tròn; cột chồng; hay biểu đồ
miền. Cần lưu ý:
+ Nếu vẽ biểu đồ hình tròn: Điều kiện là số liệu các thành phần khi tính toán phải
bằng 100% tổng.
+ Nếu vẽ biểu đồ cột chồng: Khi một tổng thể có quá nhiều thành phần, nếu vẽ
biểu đồ hình
tròn thì các góc cạnh hình quạt sẽ quá hẹp, trường hợp này nên chuyển sang vẽ
biểu đồ cột chồng (theo đại lượng tương đối (%) cho dễ thể hiện.
+ Nếu vẽ biểu đồ miền: Khi trên bảng số liệu, các đối tượng trải qua từ 4 thời điểm
trở lên
(trường hợp này không nên vẽ hình tròn).
c. Căn cứ vào lời kết của câu hỏi.
Có nhiều trường hợp, nội dung lời kết của câu hỏi chính là gợi ý cho vẽ một loại
biểu đồ cụ thể nào đó. Ví dụ: “Cho bảng số liệu sau… Anh (chị) hãy vẽ biểu đồ
thích hợp... Nhận xét về sự chuyển dịch cơ cấu… và giải thích nguyên nhân của sự
chuyển dịch đó”. Như vậy, trong lời kết của câu hỏi đã ngầm cho ta biết nên chọn
loại biểu đồ (thuộc nhóm biểu đồ cơ cấu) là thích hợp.
2. Kĩ năng nhận xét và phân tích biểu đồ.

a. Khi phân tích biểu đồ:
Dựa vào số liệu trong bảng thống kê và biểu đồ đã vẽ. Nhận xét phải có số liệu để
dẫn chứng, không nhận xét chung chung. Giải thích nguyên nhân, phải dựa vào
kiến thức của các bài đã học.
v Lưu ý khi nhận xét, phân tích biểu đồ:


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

- Đọc kỹ câu hỏi để nắm yêu cầu và phạm vi cần nhận xét, phân tích. Cần tìm ra
mối liên hệ (hay tính qui luật nào đó) giữa các số liệu. Không được bỏ sót các dữ
kiện cần phục vụ cho nhận xét, phân tích.
- Trước tiên cần nhận xét, phân tích các số liệu có tầm khái quát chung, sau đó
phân tích các số liệu thành phần; Tìm mối quan hệ so sánh giữa các con số theo
hàng ngang; Tìm mối quan hệ so sánh các con số theo hàng dọc; Tìm giá trị nhỏ
nhất (thấp nhất), lớn nhất & trung bình (đặc biệt chú ý đến những số liệu hoặc hình
nét đường, cột…trên biểu đồ thể hiện sự đột biến tăng hay giảm).
- Cần có kỹ năng tính tỉ lệ (%), hoặc tính ra số lần tăng (hay giảm) để chứng minh
cụ thể ý kiến nhận xét, phân tích.
v Phần nhận xét, phân tích biểu đồ, thường có 2 nhóm ý:
- Những ý nhận xét về diễn biến và mối quan hệ giữa các số liệu: dựa vào biểu đồ
đã vẽ & bảng số liệu đã cho để nhận xét.
- Giải thích nguyên nhân của các diễn biến (hoặc mối quan hệ) đó: dựa vào những
kiến thức đã học để giải thích nguyên nhân.
b. Sử dụng ngôn ngữ trong lời nhận xét, phân tích biểu đồ.
- Trong các loại biểu đồ cơ cấu: số liệu đã được qui thành các tỉ lệ (%). Khi nhận
xét phải dùng từ“tỷ trọng” trong cơ cấu để so sánh nhận xét. Ví dụ, nhận xét biểu
đồ cơ cấu giá trị các ngành kinh tế ta qua một số năm. Không được ghi: ”Giá trị

của ngành nông – lâm - ngư có xu hướng tăng hay giảm”. Mà phải ghi: “Tỉ trọng
giá trị của ngành nông – lâm - ngư có xu hướng tăng hay giảm”.
- Khi nhận xét về trạng thái phát triển của các đối tượng trên biểu đồ. Cần sử dụng
những từ ngữ phù hợp. Ví dụ:
- Về trạng thái tăng: Ta dùng những từ nhận xét theo từng cấp độ như: “Tăng”;
“Tăng mạnh”; “Tăng nhanh”; “Tăng đột biến”; “Tăng liên tục”,… Kèm theo với
các từ đó, bao giờ cũng phải có số liệu dẫn chứng cụ thể tăng bao nhiêu (triệu tấn,
tỉ đồng, triệu người; Hay tăng bao nhiêu (%), bao nhiêu lần?).v.v.
- Về trạng thái giảm: Cần dùng những từ sau: “Giảm”; “Giảm ít”; “Giảm mạnh”;
“Giảm nhanh”; “Giảm chậm”; “Giảm đột biến” Kèm theo cũng là những con số
dẫn chứng cụ thể. (triệu tấn; tỉ đồng, triệu dân; Hay giảm bao nhiêu (%); Giảm bao
nhiêu lần?).v.v.
- Về nhận xét tổng quát: Cần dùng các từ diễn đạt sự phát triển như:”Phát triển
nhanh”; “Phát triển chậm”; ”Phát triển ổn định”; “Phát triển không ổn định”; ”Phát
triển đều”; ”Có sự chệnh lệch giữa các vùng”.v.v.
- Những từ ngữ thể hiện phải: Ngắn, gọn, rõ ràng, có cấp độ; Lập luận phải hợp lý
sát với yêu cầu...
c. Một số gợi ý khi lựa chọn và vẽ các biểu đồ.
v Đối với các biểu đồ: Hình cột; Đường biểu diễn (đồ thị); Biểu đồ kết hợp (cột
và đường); Biểu đồ miền. Chú ý:


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

- Trục giá trị (Y) thường là trục đứng:
+ Phải có mốc giá trị cao hơn giá trị cao nhất trong chuỗi số liệu.
+ Phải có mũi tên chỉ chiều tăng lên của giá trị. Phải ghi danh số ở đầu cột hay
dọc theo cột (ví dụ: tấn, triệu, % ,..).

+ Phải ghi rõ gốc tọa độ, có trường hợp ta có thể chọn gốc tọa độ khác (0), nếu
có chiều âm (-) thì phải ghi rõ.
- Trục định loại (X) thường là trục ngang:
+ Phải ghi rõ danh số (ví dụ: năm, nhóm tuổi.v.v.).
+ Trường hợp trục ngang (X) thể hiện các mốc thời gian (năm). Đối với các biểu
đồ đường biểu diễn, miền, kết hợp đường và cột, phải chia các mốc trên trục ngang
(X) tương ứng với các mốc thời gian.
+ Riêng đối với các biểu đồ hình cột, điều này không có tính chất bắt buộc,
nhưng vẫn có thể chia khoảng cách đúng với bảng số liệu để ta dễ dàng quan sát
được cả hai mặt qui mô và động thái phát triển.
+ Phải ghi các số liệu lên đầu cột (đối với các biểu đồ cột đơn).
+ Trong trường hợp của biểu đồ cột đơn, nếu có sự chênh lệch quá lớn về giá trị
của một vài cột (lớn nhất) và các cột còn lại. Ta có thể dùng thủ pháp là vẽ trục (Y)
gián đoạn ở chỗ trên giá trị cao nhất của các cột còn lại. Như vậy, các cột có giá trị
lớn nhất sẽ được vẽ thành cột gián đoạn, như vậy biểu đồ vừa đảm bảo tính khoa
học và thẩm mĩ.
- Biểu đồ phải có phần chú giải và tên biểu đồ. Nên thiết kế ký hiệu chú giải trước
khi vẽ các biểu đồ thể hiện các đối tượng khác nhau. Tên biểu đồ có thể ghi ở trên,
hoặc dưới biểu đồ
v Đối với biểu đồ hình tròn: Cần chú ý:
- Thiết kế chú giải trước khi vẽ các hình quạt thể hiện các phần của đối tượng. Trật
tự vẽ các hình quạt phải theo đúng trật tự được trình bày ở bảng chú giải.
- Nếu vẽ từ 2 biểu đồ trở lên: Phải thống nhất qui tắc vẽ, vẽ hình quạt thứ nhất lấy
từ tia 12 giờ (như mặt đồng hồ), rồi vẽ tiếp cho hình quạt thứ 2, 3... thuận chiều
kim đồng hồ. Trường hợp vẽ biểu đồ cặp hai nửa hình tròn thì trật tự vẽ có khác đi
một chút. Đối với nửa hình tròn trên ta vẽ hình quạt thứ nhất bắt đầu từ tia 9 giờ,
rồi vẽ tiếp cho thành phần thứ 2, 3 ... thuận chiều kim đồng hồ; đối với nửa hình
tròn dưới ta cũng vẽ hình quạt thứ nhất từ tia 9 giờ và vẽ cho thành phần còn lại
nhưng ngược chiều kim đồng hồ
- Nếu bảng số liệu cho là cơ cấu (%): thì vẽ các biểu đồ có kích thước bằng nhau

(vì không có cơ sở để vẽ các biểu đồ có kích thước lớn, nhỏ khác nhau).
- Nếu bảng số liệu thể hiện là giá trị tuyệt đối: thì phải vẽ các biểu đồ có kích
thước khác nhau một cách tương ứng. Yêu cầu phải tính được bán kính cho mỗi
vòng tròn.
- Biểu đồ phải có: phần chú giải, tên biểu đồ (ở trên hoặc ở dưới biểu đồ đã vẽ).


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

3. Kĩ năng phân tích bảng số liệu, thống kê.
a. Các điểm cần lưu ý khi làm bài tập phân tích bảng số liệu, nhận xét, giải thích:
- Đọc kĩ yêu cầu của đề bài, không bỏ sót các dữ kiện.
- Phân tích các số liệu ở tầm khái quát cao trước khi đi vào các chi tiết, xử
lí số
liệu ở nhiều
khía cạnh: tính cơ cấu, tính tốc độ, độ tăng giảm...
- Tìm mối quan hệ giữa các số liệu: nguyên nhân, hậu quả, giải pháp....
- Đặt ra các câu hỏi để giải đáp trong khi phân tích, tổng hợp các dữ kiện
theo yêu
cầu của đề bài địa lí. Trường hợp thường thấy là yêu cầu của đề bài là dựa vào
bảng số liệu để phân tích hiện trạng của một ngành hay một vùng nào đó. Khi đó
học sinh phải biết huy động cả các kiến thức đã học trong sách giáo khoa để làm
sáng tỏ bảng số liệu, trả lời các câu hỏi đại thể như: Do đâu mà có sự phát triển
như vậy, điều này diễn ra chủ yếu ở đâu, hiện tượng này có nguyên nhân và hậu
quả như thế nào...
- Không được bỏ sót các dữ kiện. Bởi vì: Các dữ kiện khi được đưa ra
đều có chọn lọc, có ý đồ trước đều gắn liền với nội dung của bài học trong giáo
trình. Nếu bỏ sót các dữ kiện, sẽ dẫn đến các cách cắt nghĩa sai, sót. Nếu bảng

số liệu cho trước là các số liệu tuyệt đối (ví dụ: triệu tấn, tỉ mét, tỉ kw/h ...), thì
nên tính toán ra một đại lượng tương đối (%), như vậy bảng số liệu đã được
khái quát hoá ở một mức độ nhất định, từ đó ta có thể dễ dàng nhận biết
những thay đổi (tăng, giảm, những đột biến,…) của chuỗi số liệu cả theo hàng
ngang và hàng dọc. Nhưng khi phân tích phải sử dụng linh hoạt cả chỉ tiêu
tuyệt đối và tương đối (%).
b. Cách phân tích bảng số liệu:
Nên phân tích từ các số liệu có tầm khái quát cao đến các số liệu chi tiết.
Phân tích từ các số liệu phản ánh đặc tính chung của một tập hợp số liệu trước, rồi
phân tích các số liệu chi tiết về một thuộc tính nào đó, một bộ phận nào đó của tập
hợp các đối tượng, hiện tượng địa lý được trình bày trong bảng. Ví dụ: Bảng số
liệu thể hiện tình hình phát triển kinh tế của một ngành, hay khu vực kinh tế của
một lãnh thổ. Trước hết, ta phân tích số liệu trung bình của toàn ngành đó hay của
các khu vực kinh tế của cả nước; Tìm các giá trị cực đại, cực tiểu; Nhận xét về tính
chất biến động của chuỗi số liệu; Gộp nhóm các đối tượng cần xét theo những cách
nhất định; ví dụ gộp các đối tượng khảo sát theo các nhóm chỉ tiêu (cao, trung
bình, thấp...).
Phân tích mối quan hệ giữa các số liệu.
- Phân tích số liệu theo cột dọc và theo hàng ngang. Các số liệu theo cột thường là
thể hiện cơ cấu thành phần; còn các số liệu theo hàng ngang thường thể hiện qua


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

chuỗi thời gian (năm, thời kỳ,…). Khi phân tích, ta tìm các quan hệ so sánh giữa
các số liệu theo cột và theo hàng.
+ Phân tích các số liệu theo cột là để biết mối quan hệ giữa các ngành, hay khu
vực kinh tế nào đó; vị trí của ngành hay khu vực KTế trong nền KTế chung của cả

nước; tình hình tăng/giảm của chúng theo thời gian.
+ Phân tích các số liệu theo hàng ngang là để biết sự thay đổi của một thành phần
nào đó theo chuỗi thời gian (tăng/giảm, tốc độ tăng/giảm,…)
- Lưu ý, nếu bảng số liệu cho trước là các số liệu tuyệt đối, thì cần tính toán ra một
đại lượng tương đối (ví dụ, bảng số liệu cho trước là các chỉ tiêu về diện tích, sản
lượng hay số dân), thì cần phải tính thêm năng suất (tạ/ha), bình quân lương thực
theo đầu người (kg/người), tốc độ tăng giảm về diện tích, số dân. Mục đích là để
biết ngành nào chiếm ưu thế và sự thay đổi vị trí ở những thời điểm sau cả về cơ
cấu và giá trị tuyệt đối…
Trong khi phân tích, tổng hợp các dữ kiện địa lí, cần đặt ra các câu hỏi để giải
đáp?
- Các câu hỏi đặt ra đòi hỏi học sinh phải biết huy động cả các kiến thức đã học
trong sách giáo khoa để làm sáng tỏ bảng số liệu. Các câu hỏi có thể là: Do đâu mà
có sự phát triển như vậy? Điều này diễn ra ở đâu? Hiện tượng này có nguyên nhân
và hậu quả như thế nào? Trong tương lai nó sẽ phát triển như thế nào?.v.v.
- Như vậy, cách phân tích bảng số liệu thường rất đa dạng, tuỳ theo yêu cầu của
từng loại bài tập cụ thể, mà ta vận dụng các cách phân tích khác nhau, nhưng nên
tuân thủ theo những qui tắc chung đã trình bày thì bài làm mới hoàn chỉnh theo yêu
cầu.
3. Kĩ năng sử dụng Atlat địa lí để làm bài.
Atlát địa lí Việt Nam là một cuốn sách giáo khoa thứ hai đối với học sinh trong khi
họcđịa lí. Trong quá trình khai thác Atlát, học sinh không chỉ dựa trên các kiến
thức có thể khai thác trực tiếp từ các bản đồ, mà cần bổ sung bằng các kiến thức rút
ra từ sách giáo khoa hay các tài liệu giáo khoa khác để có thể cập nhật kiến thức,
và phân tích sâu hơn, tổng hợp tốt hơn. Để sử dụng Atlát trả lời các câu hỏi trong
quá trình làm bài, HS lưu ý các vấn đề sau:
a. Nắm chắc các ký hiệu:
Học sinh cần nắm các ký hiệu chung, tự nhiên, nông nghiệp, công nghiệp, lâm
ngư nghiệp...ở trang bìa đầu của Atlát.
b. Học sinh nắm vững các ước hiệu của bản đồ chuyên ngành:

Ví dụ:
- Nắm vững các ước hiệu tên từng loại mỏ, trữ lượng các loại mỏ khi sử dụng
bản đồ khoáng sản.
- Biết sử dụng màu sắc (ước hiệu) vùng khí hậu để nêu ra các đặc điểm khí hậu
của từng vùng khi xem xét bản đồ khí hậu.


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

- Nắm vững ước hiệu mật độ dân số khi tìm hiểu phân bố dân cư ở nước ta trên
bản đồ “Dân cư và dân tộc”.
- Ước hiệu các bãi tôm, bãi cá khi sử dụng bản đồ lâm ngư nghiệp...
c. Biết khai thác biểu đồ từng ngành:
- Biểu đồ giá trị tổng sản lượng các ngành hoặc biểu đồ diện tích của các ngành
trồng trọt: Thông thường mỗi bản đồ ngành kinh tế đều có từ 1 đến 2 biểu đồ thể
hiện sự tăng, giảm về giá trị tổng sản lượng, về diện tích (đối với các ngành nông
lâm nghiệp) của các ngành kinh tế, HS biết cách khai thác các biểu đồ trong các
bài có liên quan.
- Biết cách sử dụng các biểu đồ hình tròn để tìm giá trị sản lượng từng ngành ở
những địa phương tiêu biểu như:
- Giá trị sản lượng lâm nghiệp ở các địa phương (tỷ đồng) trang 15 Atlát.
- Giá trị sản lượng công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm (triệu đồng)
trang 17 Atlát.
d. Biết rõ câu hỏi như thế nào, có thể dùng Atlát:
- Tất cả các câu hỏi đều có yêu cầu trình bày về phân bố sản xuất, hoặc có yêu cầu
nói rõ ngành đó ở đâu, vì sao ở đó? Trình bày về các trung tâm kinh tế... đều có thể
dùng bản đồ của Atlát để trả lời.
- Tất cả các câu hỏi có yêu cầu trình bày tình hình phát triển sản xuất, hoặc quá

trình phát triển của ngành này hay ngành khác, đều có thể tìm thấy các số liệu ở
các biểu đồ của Atlát, thay cho việc phải nhớ các số liệu trong sách giáo khoa.
e. Biết sử dụng đủ Atlát cho một câu hỏi:
Trên cơ sở nội dung của câu hỏi, cần xem phải trả lời 1 vấn đề hay nhiều vấn
đề, từ đó xác định những trang bản đồ Atlát cần thiết.
Phần kĩ năng trong các đề thi môn Địa lí chủ yếu là: Vẽ và nhận xét biểu đồ; nhận
xét bảng số liệu, thống kê; sử dụng Atlat địa lí Việt Nam để làm bài. Để giúp các
em học sinh thuận lợi nhất trong quá trình làm bài thi đối với phần kiến thức kĩ
năng của các đề thi môn Địa lí, tôi xin được trao đổi những “bí quyết” để học tốt
và làm tốt phần kĩ năng bài thi môn Địa lí như sau:

1.Kĩ năng lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất để vẽ. Để thể hiện tốt biểu đồ, cần
phải có kỹ năng lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất; kỹ năng tính toán, xử lý số
liệu (ví dụ, tính giá trị cơ cấu (%), tính tỉ lệ về chỉ số phát triển, tính bán kính
hình tròn...); kỹ năng vẽ biểu đồ (chính xác, đúng, đẹp...); kỹ năng nhận xét,


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
1.

Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

phân tích biểu đồ; kỹ năng sử dụng các dụng cụ vẽ kỹ thuật (máy tính cá
nhân, bút, thước...)
Cách lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất: Câu hỏi trong các đề thi về phần kĩ
năng biểu đồ thường có 3 phần:
a. Căn cứ vào lời dẫn (đặt vấn đề). Trong câu hỏi thường có 3 dạng sau:
- Dạng lời dẫn có chỉ định. Ví dụ: “Từ bảng số liệu, hãy vẽ biểu đồ hình tròn
thể hiện cơ cấu sử dụng … năm...”. Như vậy, ta có thể xác định ngay được

biểu đồ cần thể hiện.
- Dạng lời dẫn kín. Ví dụ: “Cho bảng số liệu sau... Hãy vẽ biểu đồ thích hợp
nhất.... thể hiện…. & cho nhận xét)”. Như vậy, bảng số liệu không đưa ra
một gợi ý nào, muốn xác định được biểu đồ cần vẽ, ta chuyển xuống nghiên
cứu các thành phần sau của câu hỏi. Với dạng bài tập có lời dẫn kín thì bao
giờ ở phần cuối “trong câu kết” cũng gợi ý cho chúng ta nên vẽ biểu đồ gì.
- Dạng lời dẫn mở. Ví dụ: “Cho bảng số liệu... Hãy vẽ biểu đồ sản lượng
công nghiệp nước ta phân theo các vùng kinh tế năm...)”. Như vậy, trong câu
hỏi đã có gợi ý ngầm là vẽ một loại biểu đồ nhất định. Với dạng ”lời dẫn
mở“ cần chú ý vào một số từ gợi mở trong câu hỏi.
Ví dụ: + Khi vẽ biểu đồ đường biểu diễn: Thường có những từ gợi mở đi
kèm như “tăng trưởng”, “biến động”, “phát triển”, “qua các năm từ... đến...”.
Ví dụ: Tốc độ tăng dân số của nước ta qua các năm...; Tình hình biến động
về sản lượng lương thực...; Tốc độ phát triển của nền kinh tế.... v.v. + Khi vẽ
biểu đồ hình cột: Thường có các từ gợi mở như: ”Khối lượng”, “Sản lượng”,
“Diện tích” từ năm... đến năm...”, hay “Qua các thời kỳ...”. Ví dụ: Khối
lượng hàng hoá vận chuyển...; Sản lượng lương thực của …; Diện tích trồng
cây công nghiệp...
+ Khi vẽ biểu đồ cơ cấu: Thường có các từ gợi mở “Cơ cấu”, “Phân theo”,
“Trong đó”, “Bao gồm”, “Chia ra”, “Chia theo...”.
Ví dụ: Giá trị ngành sản lượng công nghiệp phân theo...; Hàng hoá vận
chuyển theo loại đường...; Cơ cấu tổng giá trị xuất - nhập khẩu...
b. Căn cứ vào trong bảng số liệu thống kê: Việc nghiên cứu đặc điểm của
bảng số liệu để chọn vẽ biểu đồ thích hợp, cần lưu ý:
- Nếu bảng số liệu đưa ra dãy số liệu: Tỉ lệ (%), hay giá trị tuyệt đối phát
triển theo một chuỗi thời gian (có ít nhất là từ 4 thời điểm trở lên). Nên chọn
vẽ biểu đồ đường biểu diễn.


Group Tôi yêu Địa Lý!

/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

- Nếu có dãy số liệu tuyệt đối về qui mô, khối lượng của một (hay nhiều) đối
tượng biến động theo một số thời điểm (hay theo các thời kỳ). Nên chọn
biểu đồ hình cột đơn.
- Trong trường hợp có 2 đối tượng với 2 đại lượng khác nhau, nhưng có mối
quan hệ hữu cơ. Ví dụ: diện tích (ha), năng suất (tạ/ha) của một vùng nào đó
theo chuỗi thời gian. Chọn biểu đồ kết hợp.
- Nếu bảng số liệu có từ 3 đối tượng trở lên với các đại lượng khác nhau
(tấn, mét, ha...) diễn biến theo thời gian. Chọn biểu đồ chỉ số.
- Trong trường hợp bảng số liệu trình bày theo dạng phân ra từng thành
phần. Ví dụ: tổng số, chia ra: nông - lâm – ngư; công nghiệp – xây dựng;
dịch vụ. Với bảng số liệu này ta chọn biểu đồ cơ cấu, có thể là hình tròn; cột
chồng; hay biểu đồ miền.
Cần lưu ý:
+ Nếu vẽ biểu đồ hình tròn: Điều kiện là số liệu các thành phần khi tính toán
phải bằng 100% tổng.
+ Nếu vẽ biểu đồ cột chồng: Khi một tổng thể có quá nhiều thành phần, nếu
vẽ biểu đồ hình tròn thì các góc cạnh hình quạt sẽ quá hẹp, trường hợp này
nên chuyển sang vẽ biểu đồ cột chồng (theo đại lượng tương đối (%) cho dễ
thể hiện. + Nếu vẽ biểu đồ miền: Khi trên bảng số liệu, các đối tượng trải
qua từ 4 thời điểm trở lên (trường hợp này không nên vẽ hình tròn).
c. Căn cứ vào lời kết của câu hỏi. Có nhiều trường hợp, nội dung lời kết của
câu hỏi chính là gợi ý cho vẽ một loại biểu đồ cụ thể nào đó. Ví dụ: “Cho
bảng số liệu sau… Anh (chị) hãy vẽ biểu đồ thích hợp... Nhận xét về sự
chuyển dịch cơ cấu… và giải thích nguyên nhân của sự chuyển dịch đó”.
Như vậy, trong lời kết của câu hỏi đã ngầm cho ta biết nên chọn loại biểu đồ
(thuộc nhóm biểu đồ cơ cấu) là thích hợp.
2. Kĩ năng nhận xét và phân tích biểu đồ.

a.

Khi phân tích biểu đồ:
- Dựa vào số liệu trong bảng thống kê và biểu đồ đã vẽ. Nhận xét phải có
số liệu để dẫn chứng, không nhận xét chung chung. Giải thích nguyên
nhân, phải dựa vào kiến thức của các bài đã học. v Lưu ý khi nhận xét,
phân tích biểu đồ:


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

- Đọc kỹ câu hỏi để nắm yêu cầu và phạm vi cần nhận xét, phân tích.
Cần tìm ra mối liên hệ (hay tính qui luật nào đó) giữa các số liệu. Không
được bỏ sót các dữ kiện cần phục vụ cho nhận xét, phân tích.
- Trước tiên cần nhận xét, phân tích các số liệu có tầm khái quát chung,
sau đó phân tích các số liệu thành phần; Tìm mối quan hệ so sánh giữa
các con số theo hàng ngang; Tìm mối quan hệ so sánh các con số theo
hàng dọc; Tìm giá trị nhỏ nhất (thấp nhất), lớn nhất & trung bình (đặc
biệt chú ý đến những số liệu hoặc hình nét đường, cột…trên biểu đồ thể
hiện sự đột biến tăng hay giảm).
- Cần có kỹ năng tính tỉ lệ (%), hoặc tính ra số lần tăng (hay giảm) để
chứng minh cụ thể ý kiến nhận xét, phân tích. v Phần nhận xét, phân tích
biểu đồ, thường có 2 nhóm ý:
- Những ý nhận xét về diễn biến và mối quan hệ giữa các số liệu: dựa
vào biểu đồ đã vẽ & bảng số liệu đã cho để nhận xét.
- Giải thích nguyên nhân của các diễn biến (hoặc mối quan hệ) đó: dựa
vào những kiến thức đã học để giải thích nguyên nhân.
b. Sử dụng ngôn ngữ trong lời nhận xét, phân tích biểu đồ.

- Trong các loại biểu đồ cơ cấu: số liệu đã được qui thành các tỉ lệ (%).
Khi nhận xét phải dùng từ “tỷ trọng” trong cơ cấu để so sánh nhận xét.
Ví dụ, nhận xét biểu đồ cơ cấu giá trị các ngành kinh tế ta qua một số
năm. Không được ghi: ”Giá trị của ngành nông – lâm - ngư có xu hướng
tăng hay giảm”. Mà phải ghi: “Tỉ trọng giá trị của ngành nông – lâm ngư có xu hướng tăng hay giảm”.
- Khi nhận xét về trạng thái phát triển của các đối tượng trên biểu đồ.
Cần sử dụng những từ ngữ phù hợp.
Ví dụ: - Về trạng thái tăng: Ta dùng những từ nhận xét theo từng cấp độ
như: “Tăng”; “Tăng mạnh”; “Tăng nhanh”; “Tăng đột biến”; “Tăng liên
tục”,… Kèm theo với các từ đó, bao giờ cũng phải có số liệu dẫn chứng
cụ thể tăng bao nhiêu (triệu tấn, tỉ đồng, triệu người; Hay tăng bao nhiêu
(%), bao nhiêu lần?).v.v. - Về trạng thái giảm: Cần dùng những từ sau:
“Giảm”; “Giảm ít”; “Giảm mạnh”; “Giảm nhanh”; “Giảm chậm”; “Giảm
đột biến” Kèm theo cũng là những con số dẫn chứng cụ thể. (triệu tấn; tỉ
đồng, triệu dân; Hay giảm bao nhiêu (%); Giảm bao nhiêu lần?).v.v.


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

- Về nhận xét tổng quát: Cần dùng các từ diễn đạt sự phát triển
như:”Phát triển nhanh”; “Phát triển chậm”; ”Phát triển ổn định”; “Phát
triển không ổn định”; ”Phát triển đều”; ”Có sự chệnh lệch giữa các
vùng”.v.v.
- Những từ ngữ thể hiện phải: Ngắn, gọn, rõ ràng, có cấp độ; Lập luận
phải hợp lý sát với yêu cầu...
b.

Một số gợi ý khi lựa chọn và vẽ các biểu đồ. v Đối với các biểu đồ: Hình

cột; Đường biểu diễn (đồ thị); Biểu đồ kết hợp (cột và đường); Biểu đồ
miền.
Chú ý:
- Trục giá trị (Y) thường là trục đứng:
+ Phải có mốc giá trị cao hơn giá trị cao nhất trong chuỗi số liệu.
+ Phải có mũi tên chỉ chiều tăng lên của giá trị. Phải ghi danh số ở đầu
cột hay dọc theo cột (ví dụ: tấn, triệu, % ,..).
+ Phải ghi rõ gốc tọa độ, có trường hợp ta có thể chọn gốc tọa độ khác
(0), nếu có chiều âm (-) thì phải ghi rõ. - -Trục định loại (X) thường là trục ngang:
+ Phải ghi rõ danh số (ví dụ: năm, nhóm tuổi.v.v.). + Trường hợp trục
ngang (X) thể hiện các mốc thời gian (năm). Đối với các biểu đồ đường
biểu diễn, miền, kết hợp đường và cột, phải chia các mốc trên trục ngang
(X) tương ứng với các mốc thời gian.
+ Riêng đối với các biểu đồ hình cột, điều này không có tính chất bắt
buộc, nhưng vẫn có thể chia khoảng cách đúng với bảng số liệu để ta dễ
dàng quan sát được cả hai mặt qui mô và động thái phát triển.
+ Phải ghi các số liệu lên đầu cột (đối với các biểu đồ cột đơn).
+ Trong trường hợp của biểu đồ cột đơn, nếu có sự chênh lệch quá lớn
về giá trị của một vài cột (lớn nhất) và các cột còn lại. Ta có thể dùng thủ
pháp là vẽ trục (Y) gián đoạn ở chỗ trên giá trị cao nhất của các cột còn
lại. Như vậy, các cột có giá trị lớn nhất sẽ được vẽ thành cột gián đoạn,
như vậy biểu đồ vừa đảm bảo tính khoa học và thẩm mĩ.


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

- Biểu đồ phải có phần chú giải và tên biểu đồ. Nên thiết kế ký hiệu chú
giải trước khi vẽ các biểu đồ thể hiện các đối tượng khác nhau. Tên biểu

đồ có thể ghi ở trên, hoặc dưới biểu đồ v
Đối với biểu đồ hình tròn: Cần chú ý:
- Thiết kế chú giải trước khi vẽ các hình quạt thể hiện các phần của đối
tượng. Trật tự vẽ các hình quạt phải theo đúng trật tự được trình bày ở
bảng chú giải.
- Nếu vẽ từ 2 biểu đồ trở lên: Phải thống nhất qui tắc vẽ, vẽ hình quạt
thứ nhất lấy từ tia 12 giờ (như mặt đồng hồ), rồi vẽ tiếp cho hình quạt
thứ 2, 3... thuận chiều kim đồng hồ. Trường hợp vẽ biểu đồ cặp hai nửa
hình tròn thì trật tự vẽ có khác đi một chút. Đối với nửa hình tròn trên ta
vẽ hình quạt thứ nhất bắt đầu từ tia 9 giờ, rồi vẽ tiếp cho thành phần thứ
2, 3 ... thuận chiều kim đồng hồ; đối với nửa hình tròn dưới ta cũng vẽ
hình quạt thứ nhất từ tia 9 giờ và vẽ cho thành phần còn lại nhưng ngược
chiều kim đồng hồ
- Nếu bảng số liệu cho là cơ cấu (%): thì vẽ các biểu đồ có kích thước bằng nhau
(vì không có cơ sở để vẽ các biểu đồ có kích thước lớn, nhỏ khác nhau).
- Nếu bảng số liệu thể hiện là giá trị tuyệt đối: thì phải vẽ các biểu đồ có
kích thước khác nhau một cách tương ứng. Yêu cầu phải tính được bán
kính cho mỗi vòng tròn. - Biểu đồ phải có: phần chú giải, tên biểu đồ (ở
trên hoặc ở dưới biểu đồ đã vẽ).
3. Kĩ năng phân tích bảng số liệu, thống kê.
a. Các điểm cần lưu ý khi làm bài tập phân tích bảng số liệu, nhận xét,
giải thích:
- Đọc kĩ yêu cầu của đề bài, không bỏ sót các dữ kiện. - Phân tích các số
liệu ở tầm khái quát cao trước khi đi vào các chi tiết, xử lí số liệu ở nhiều
khía cạnh: tính cơ cấu, tính tốc độ, độ tăng giảm...
- Tìm mối quan hệ giữa các số liệu: nguyên nhân, hậu quả, giải pháp....
- Đặt ra các câu hỏi để giải đáp trong khi phân tích, tổng hợp các dữ kiện
theo yêu cầu của đề bài địa lí. Trường hợp thường thấy là yêu cầu của đề
bài là dựa vào bảng số liệu để phân tích hiện trạng của một ngành hay
một vùng nào đó. Khi đó học sinh phải biết huy động cả các kiến thức đã

học trong sách giáo khoa để làm sáng tỏ bảng số liệu, trả lời các câu hỏi


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

đại thể như: Do đâu mà có sự phát triển như vậy, điều này diễn ra chủ
yếu ở đâu, hiện tượng này có nguyên nhân và hậu quả như thế nào...
- Không được bỏ sót các dữ kiện. Bởi vì: Các dữ kiện khi được đưa ra
đều có chọn lọc, có ý đồ trước đều gắn liền với nội dung của bài học
trong giáo trình. Nếu bỏ sót các dữ kiện, sẽ dẫn đến các cách cắt nghĩa
sai, sót. Nếu bảng số liệu cho trước là các số liệu tuyệt đối (ví dụ: triệu
tấn, tỉ mét, tỉ kw/h ...), thì nên tính toán ra một đại lượng tương đối (%),
như vậy bảng số liệu đã được khái quát hoá ở một mức độ nhất định, từ
đó ta có thể dễ dàng nhận biết những thay đổi (tăng, giảm, những đột
biến,…) của chuỗi số liệu cả theo hàng ngang và hàng dọc. Nhưng khi
phân tích phải sử dụng linh hoạt cả chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối (%).
b. Cách phân tích bảng số liệu: Nên phân tích từ các số liệu có tầm khái
quát cao đến các số liệu chi tiết. Phân tích từ các số liệu phản ánh đặc
tính chung của một tập hợp số liệu trước, rồi phân tích các số liệu chi tiết
về một thuộc tính nào đó, một bộ phận nào đó của tập hợp các đối tượng,
hiện tượng địa lý được trình bày trong bảng. Ví dụ: Bảng số liệu thể hiện
tình hình phát triển kinh tế của một ngành, hay khu vực kinh tế của một
lãnh thổ. Trước hết, ta phân tích số liệu trung bình của toàn ngành đó
hay của các khu vực kinh tế của cả nước; Tìm các giá trị cực đại, cực
tiểu; Nhận xét về tính chất biến động của chuỗi số liệu; Gộp nhóm các
đối tượng cần xét theo những cách nhất định; ví dụ gộp các đối tượng
khảo sát theo các nhóm chỉ tiêu (cao, trung bình, thấp...). Phân tích mối
quan hệ giữa các số liệu.

- Phân tích số liệu theo cột dọc và theo hàng ngang. Các số liệu theo cột
thường là thể hiện cơ cấu thành phần; còn các số liệu theo hàng ngang
thường thể hiện qua chuỗi thời gian (năm, thời kỳ,…). Khi phân tích, ta
tìm các quan hệ so sánh giữa các số liệu theo cột và theo hàng. + Phân
tích các số liệu theo cột là để biết mối quan hệ giữa các ngành, hay khu
vực kinh tế nào đó; vị trí của ngành hay khu vực KTế trong nền KTế
chung của cả nước; tình hình tăng/giảm của chúng theo thời gian.
+ Phân tích các số liệu theo hàng ngang là để biết sự thay đổi của một
thành phần nào đó theo chuỗi thời gian (tăng/giảm, tốc độ tăng/giảm,…)


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

- Lưu ý, nếu bảng số liệu cho trước là các số liệu tuyệt đối, thì cần tính
toán ra một đại lượng tương đối (ví dụ, bảng số liệu cho trước là các chỉ
tiêu về diện tích, sản lượng hay số dân), thì cần phải tính thêm năng suất
(tạ/ha), bình quân lương thực theo đầu người (kg/người), tốc độ tăng
giảm về diện tích, số dân. Mục đích là để biết ngành nào chiếm ưu thế và
sự thay đổi vị trí ở những thời điểm sau cả về cơ cấu và giá trị tuyệt
đối…
Trong khi phân tích, tổng hợp các dữ kiện địa lí, cần đặt ra các câu hỏi
để giải đáp?
- Các câu hỏi đặt ra đòi hỏi học sinh phải biết huy động cả các kiến thức
đã học trong sách giáo khoa để làm sáng tỏ bảng số liệu. Các câu hỏi có
thể là: Do đâu mà có sự phát triển như vậy? Điều này diễn ra ở đâu?
Hiện tượng này có nguyên nhân và hậu quả như thế nào? Trong tương lai
nó sẽ phát triển như thế nào?.v.v.
- Như vậy, cách phân tích bảng số liệu thường rất đa dạng, tuỳ theo yêu

cầu của từng loại bài tập cụ thể, mà ta vận dụng các cách phân tích khác
nhau, nhưng nên tuân thủ theo những qui tắc chung đã trình bày thì bài
làm mới hoàn chỉnh theo yêu cầu.
3. Kĩ năng sử dụng Atlat địa lí để làm bài. Atlát địa lí Việt Nam là một
cuốn sách giáo khoa thứ hai đối với học sinh trong khi họcđịa lí. Trong
quá trình khai thác Atlát, học sinh không chỉ dựa trên các kiến thức có
thể khai thác trực tiếp từ các bản đồ, mà cần bổ sung bằng các kiến thức
rút ra từ sách giáo khoa hay các tài liệu giáo khoa khác để có thể cập
nhật kiến thức, và phân tích sâu hơn, tổng hợp tốt hơn. Để sử dụng Atlát
trả lời các câu hỏi trong quá trình làm bài, HS lưu ý các vấn đề sau: a.
Nắm chắc các ký hiệu: Học sinh cần nắm các ký hiệu chung, tự nhiên,
nông nghiệp, công nghiệp, lâm ngư nghiệp...ở trang bìa đầu của Atlát.
b. Học sinh nắm vững các ước hiệu của bản đồ chuyên ngành: Ví dụ: Nắm vững các ước hiệu tên từng loại mỏ, trữ lượng các loại mỏ khi sử
dụng bản đồ khoáng sản.
- Biết sử dụng màu sắc (ước hiệu) vùng khí hậu để nêu ra các đặc điểm
khí hậu của từng vùng khi xem xét bản đồ khí hậu.
- Nắm vững ước hiệu mật độ dân số khi tìm hiểu phân bố dân cư ở nước
ta trên bản đồ “Dân cư và dân tộc”.
- Ước hiệu các bãi tôm, bãi cá khi sử dụng bản đồ lâm ngư nghiệp...


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

c. Biết khai thác biểu đồ từng ngành:
- Biểu đồ giá trị tổng sản lượng các ngành hoặc biểu đồ diện tích của các ngành
trồng trọt: Thông thường mỗi bản đồ ngành kinh tế đều có từ 1 đến 2 biểu đồ thể
hiện sự tăng, giảm về giá trị tổng sản lượng, về diện tích (đối với các ngành nông
lâm nghiệp) của các ngành kinh tế, HS biết cách khai thác các biểu đồ trong các

bài có liên quan. - Biết cách sử dụng các biểu đồ hình tròn để tìm giá trị sản lượng
từng ngành ở những địa phương tiêu biểu như: - Giá trị sản lượng lâm nghiệp ở các
địa phương (tỷ đồng) trang 15 Atlát. - Giá trị sản lượng công nghiệp nhẹ và công
nghiệp thực phẩm (triệu đồng) trang 17 Atlát. d. Biết rõ câu hỏi như thế nào, có thể
dùng Atlát: - Tất cả các câu hỏi đều có yêu cầu trình bày về phân bố sản xuất, hoặc
có yêu cầu nói rõ ngành đó ở đâu, vì sao ở đó? Trình bày về các trung tâm kinh tế...
đều có thể dùng bản đồ của Atlát để trả lời. - Tất cả các câu hỏi có yêu cầu trình
bày tình hình phát triển sản xuất, hoặc quá trình phát triển của ngành này hay
ngành khác, đều có thể tìm thấy các số liệu ở các biểu đồ của Atlát, thay cho việc
phải nhớ các số liệu trong sách giáo khoa. e. Biết sử dụng đủ Atlát cho một câu
hỏi: Trên cơ sở nội dung của câu hỏi, cần xem phải trả lời 1 vấn đề hay nhiều vấn
đề, từ đó xác định những trang bản đồ Atlát cần thiết.

B. Kinh nghiệm học tập Lịch sử/
PHƯƠNG PHÁP HỌC VÀ LÀM BÀI MÔN LỊCH SỬ
Thứ nhất, học sinh phải có cái nhìn tổng thể về lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới
trong chương trình ôn thi đại học. Khi học, yêu cầu đầu tiên là các em phải có
phương pháp phân kì lịch sử, phải vẽ được bức tranh lịch sử gồm nhiều giai đoạn
với tên gọi và những đặc điểm riêng của từng giai đoạn. Tiếp đó, với mỗi giai
đoạn, các em lại đi sâu nắm những nội dung và sự kiện chính, có ý nghĩa quan
trọng. Nếu không làm tốt được điều này ngay từ lúc bắt đầu học thì học sinh dễ rơi
vào “mê cung” những sự kiện, nội dung chồng chéo mà không định vị được vị trí
từng nội dung, từng sự kiện nằm trong giai đoạn nào của lịch sử Việt Nam.
* Ví dụ, theo tôi, tổng quan Lịch sử Việt Nam từ 1919-2000 có thể được phân kì
thành 5 giai đoạn lớn:
- Giai đoạn 1919-1930: thời kì vận động thành lập Đảng.
- Giai đoạn 1930-1945: đấu tranh giành chính quyền.
- Gian đoạn 1945-1954: bảo vệ chính quyền và tiến hành kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược.
- Giai đoạn 1954-1975: Cách mạng XHCN miền Bắc và cách mạng dân tộc dân



Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

chủ nhân dân ở miền Nam.
- Giai đoạn 1975 đến năm 2000.
* Ở cấp độ thứ hai, trong từng giai đoạn, chúng ta lại phải xác định các nội dung
chính. Ví dụ: trong giai đoạn 1919-1930 không được quên các nội dung sau:
- Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ II của thực dân Pháp
- Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam
- Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản gắn liền với vai trò của Nguyễn
Ái Quốc.
- Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng.
* Ở cấp độ thứ 3, khi triển khai nội dung về phong trào yêu nước của giai cấp vô
sản gắn với vai trò của Nguyễn Ái Quốc, cần nắm các nội dung sau:
- Hoàn cảnh tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc.
- Quá trình đi tìm đường (1911-1920).
- Quá trình chuẩn bị về chính trị tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng (19211929).
Nếu nắm vấn đề theo “cây” sơ đồ như trên sẽ rất dễ hiểu, dễ học, dễ nhớ. Nhưng
trên thực tế, rất nhiều học sinh lại học theo hướng “từ dưới lên”, tức là học từ các
sự kiện và từng giai đoạn cụ thể mà không có cái nhìn tổng thể và móc xích chúng
lại với nhau.
Các sự kiện lịch sử thường có liên quan logic với nhau, sự kiện này là nguyên nhân
dẫn đến sự kiện kia. Nếu chúng ta hiểu quy luật này thì học Lịch sử rất dễ.
Thứ hai, lịch sử là một dòng chảy với những sự kiện liên tục, diễn ra theo trình tự
thời gian. Các sự kiện lịch sử thường có liên quan logic với nhau, sự kiện này là
nguyên nhân dẫn đến sự kiện kia. Nếu chúng ta hiểu quy luật này thì học Lịch sử
rất dễ. Còn nếu học kiểu nhảy cóc, học vẹt, thiếu sự liên kết thì rất khó nhớ.

* Ví dụ: Tại sao có sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam? Là do công cuộc khai
thác thuộc địa của thực dân Pháp làm xuất hiện các giai cấp trong xã hội Việt Nam.
Không chịu được ách áp bức bóc lột, các giai cấp lần lượt đứng lên chống lại thực
dân Pháp. Xuất hiện phong trào đấu tranh yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư
sản nhưng phong trào này nhanh chóng thất bại. Tiếp đó, ngọn cở đấu tranh thuộc
về giai cấp vô sản. Và sau khi giai cấp vô sản xác định được sứ mệnh của mình rồi
thì có nhu cầu xuất hiện một tổ chức chính trị của giai cấp vô sản. Từ đó dẫn đến
sự ra đời của nhiều tổ chức khác nhau như: Đông dương Cộng sản Đảng, An Nam
Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn và cuối cùng là hội nghị hợp
nhất các tổ chức cộng sản ấy để thành lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930.
Thứ ba, với mỗi nội dung học, học sinh phải nắm được những sự kiện chính và trả
lời được các câu hỏi: diễn ra ở đâu, thời gian nào, diễn ra làm sao và ý nghĩa của sự
kiện như thế nào?
* Ví dụ: đề thi hỏi về chiến dịch Biên giới năm 1950, các em phải bám sát và trả


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

lời được các câu hỏi: âm mưu thủ đoạn của địch là gì? chủ trương kế hoạch của ta?
diễn biến, kết quả và ý nghĩa?
Thứ tư, rất nhiều người nghĩ học Lịch sử chỉ đơn thuần là học thuộc, đó là một
quan niệm sai lầm. Học thuộc nhưng phải trên cơ sở quan trọng là phải hiểu, phải
xâu chuỗi được các sự kiện thành một câu chuyện lịch sử, có trình tự, có nguyên
nhân – kết quả thoả đáng, có giá trị và ý nghĩa trong tiến trình lịch sử nói riêng và
trong cuộc sống nói chung, khi ấy bạn sẽ thấy câu chuyện lịch sử ấy rất hấp dẫn.
Thứ năm, học sinh phải vẽ được sơ đồ của từng giai đoạn lịch sử, sau đó mới triển
khai các nội dung chi tiết. Học Sử phải chú ý phương pháp đồng đại: trình bày một
sự kiện nhưng đặt nó trong bối cảnh trong nước và quốc tế như thế nào? Các nội

dung học phải được hệ thống thành các ý chi tiết, làm được điều này, sẽ giúp học
sinh ăn điểm khi làm bài thi.
* Ví dụ: đề thi hỏi về vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự thành lập Đảng? Học
sinh cần xây dựng được đề cương sau: hoàn cảnh trong nước và thế giới; quá trình
tìm đường; quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức…
Thứ sáu, khi ôn thi Lịch sử cần phải viết ra giấy. Với mỗi nội dung ôn tập cần được
chi tiết hoá theo kiểu sơ đồ như đã nói ở trên, xem có bao nhiêu ý, có bao nhiêu sự
kiện quan trọng cần nắm. Nếu học sinh hiểu bài, viết ra được các ý và nhớ các sự
kiện theo trình tự, logic, móc xích thì sẽ không bao giờ quên bài. Tránh học theo
kiểu chỉ ôm sách đọc lơ mơ, gây cảm giác mệt mỏi, chán nản, kém hứng thú.
Khi tìm đọc sách tham khảo phải chú ý xem nguồn gốc của sách vì hiện có nhiều
sách có nội dung rất xa với kiến thức trong sách giáo khoa, chưa kể những cuốn
sách Lịch sử viết chất lượng không tốt. Học sinh chỉ nên dùng sách tham khảo với
các kiến thức nâng cao trên cơ sở đã nắm vững được kiến thức cơ bản trong sách
giáo khoa. Nếu không thì việc đọc sách tham khảo cũng không có hiệu quả, chỉ
làm phân tâm và rối trí thêm.
Học xong, các em phải kiểm tra tính hệ thống của toàn bộ nội dung đã học bằng
cách viết ra theo hệ thống cây thư mục, xem thử bức tranh lịch sử có đoạn nào bị
“khuyết” không, nếu có tức là còn nội dung mà mình nắm chưa vững, cần bổ sung
vào.
Điều đặc biệt cần ghi nhớ là tất cả những nội dung đã được đưa vào sách giáo khoa
đều quan trọng như nhau, các em cần phải nắm chắc. Bỏ bất kì một nội dung nào
cũng đều làm kiến thức của các em bị thiếu hụt, dẫn đến nhận thức vấn đề không
chắc. Hiện nay, ngay cả nhiều giáo viên khi dạy cho học sinh cũng vô tình khuyến
khích các em học “tủ” khi cho rằng: nội dung nào thi năm ngoái rồi thì năm nay sẽ
không ra đề nữa, điều đó là không nên.
* Ví dụ: không học nội dung về xây dựng CNXH ở miền Bắc thì làm sao hiểu là
miền Bắc đã hậu thuẫn vững chắc, là nhân tố quan trọng cho chiến thắng của cách
mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ?



Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

Khi tìm đọc sách tham khảo phải chú ý xem nguồn gốc của sách vì hiện có nhiều
sách có nội dung rất xa với kiến thức trong sách giáo khoa, chưa kể những cuốn
sách Lịch sử viết chất lượng không tốt.
Thứ bảy, về cách làm bài:
- Nguyên tắc đầu tiên là phải đọc thật kĩ đề bài, gạch chân những cụm từ quan
trọng trong đề để xác định xem hỏi gì. Đây là nguyên tắc quan trọng số một, vì nếu
định hướng này sai ngay từ đầu thì phần làm bài cũng sẽ sai.
- Tiếp theo là lập dàn ý cho câu trả lời. Đề cương phần trả lời càng chi tiết thì kết
quả đem lại càng cao. Ngoài ra, động tác này cũng giúp học sinh khi trả lời không
bị sót ý.
- Chọn câu dễ làm trước, tuy nhiên phải tập trung cho những câu nhiều điểm. Bởi
nếu bạn có tập trung viết rất tốt một câu, mà câu ấy lại được ít điểm, mà bỏ qua các
câu khác thì số điểm của bạn cũng chỉ được tối đa theo “barem” chấm của câu ấy.
- Cân đối thời gian làm bài, phân phối đều thời gian cho các câu. Điều này có thể
thực hiện rất đơn giản bằng cách lấy thời gian làm bài chia cho số điểm để ra thời
gian tối đa bạn có thể dành cho một câu.
- Khi làm bài đi thẳng vào vấn đề, tránh trường hợp trình bày lan man, dài dòng.
Hỏi gì trả lời đúng nội dung ấy.
* Ví dụ: đề thi hỏi về ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng CSVN, bạn không
cần trình bày hoàn cảnh ra đi tìm đường cứu nước, vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối
với sự thành lập Đảng… Vì bạn có mất thời gian trình bày rất hay nhưng cũng
không được điểm với nội dung mà đề thi không yêu cầu.
- Khi làm xong nên kiểm tra lại bài thi một lần cuối để chắc rằng các sự kiện, các
con số được nêu trong bài là chính xác. Cần tuyệt đối chú ý, những gì không chắc
chắn thì không nên đưa vào nội dung bài thi, đặc biệt là những con số, thời gian…

Thứ tám, một số lỗi rất hay mắc trong các bài thi đại học môn Lịch sử:
- Xác định nội dung trả lời không đúng, hỏi một đằng trả lời một nẻo vì bị sai ngay
từ khâu xác định đề thi hỏi về vấn đề gì.
* Ví dụ: đề thi hỏi về quá trình chuẩn bị chính trị, tư tưởng và tổ chức của Nguyễn
Ái Quốc cho sự ra đời của Đảng CSVN. Nhiều thí sinh lại trình bày lan man về quá
trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc. Các em nên trả lời đi thẳng vào
vấn đề theo cách sau: “sau khi tìm được chân lí cứu nước đúng đắn, Nguyễn Ái
Quốc đã tiến hành một cuộc đấu tranh kiên trì, bền bỉ để truyền bá chủ nghĩa Mác
Lê nin, tích cực chuẩn bị những điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự
ra đời của Đảng, quá trình đó thể hiện qua những sự kiện như sau….”.
- Trả lời sót ý do vội làm bài ngay, không vạch ra dàn ý chi tiết. Lỗi này rất phổ
biến nên dẫn đến tình trạng nhiều bạn làm xong câu 2 rồi mới viết thêm phần bổ
sung ý của 1.
- Cách trình bày không rõ ràng, viết lan man, chung chung, bài thi dài hai, ba trang


Group Tôi yêu Địa Lý!
/>
Hoàng Anh Ngọc-HVHCQG

nhưng không nêu được ý chính.
- Năm tháng và sự kiện nhớ không chính xác nên viết “bừa” vì nhiều thí sinh nghĩ
rằng: viết nhiều còn hơn là thiếu.
- Đầu voi đuôi chuột, nghĩa là câu thì trả lời dài lê thê, câu thì không còn thời gian
nên trả lời rất ngắn, cụt ý.
Thứ chín, trong số các lỗi mắc phải khi học Sử, lỗi phổ biến và “nặng” nhất của
học sinh là không phân kì được các giai đoạn lịch sử, tức là không vẽ được bức
tranh toàn cảnh về lịch sử Việt Nam theo các giai đoạn. Đó là do các thầy cô đã
không dạy các em phương pháp học đúng, mà vô tình làm cho môn Sử trở nên
nặng nề, kém hấp dẫn.

Theo kinh nghiệm chấm bài nhiều năm, những bài thi Lịch sử đạt điểm 9 hoặc 9,5
đều có những đặc điểm chung như sau: thí sinh nắm bài rất chắc, nội dung trình
bày đầy đủ, cách trình bày rõ ràng và đặc biệt biết phân tích nâng cao. Nhiều em
biết phối hợp phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp đồng đại để
trả lời nên bài làm rất rõ nét và sâu sắc.
* Ví dụ: đề thi đề nghị trình bày nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước của dân tộc. Bài làm trình bày đủ bốn nguyên nhân sau: có
đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, truyền thống đấu tranh kiên cường của
nhân dân, có hậu phương vững chắc, vận dụng tốt các mối quan hệ quốc tế. Ngoài
ra, nâng lên một bước, thí sinh đó còn trình bày và phân tích được rằng: trong số
bốn nguyên nhân trên thì sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nguyên nhân quyết
định vì có đường lối đúng thì mới phát huy được các nhân tố khác.
Bài viết này của PGS.TS TRẦN QUANG LIỆU, khá hay và đầy đủ mình chỉ lưu ý
thêm vài cách của mình cũng rất hiệu quả.
1. Đọc sách giáo khoa ít nhất hai lần, đọc từ từ trong một tuần đến một tháng, các
bạn thường lười đọc nên hậu quả không biết mình sẽ học những vấn đề gì, trong
sách có nội dung gì? Cách này giúp các bạn có cái nhìn khái quát đầu tiên và nhớ
sơ lược lịch sử.
2. Học bài bằng ba cách sau: Đọc thật lớn như đang giảng bài điều này giúp kết
hợp các giác quan mắt, tai, miệng. Vẽ sơ đồ như thầy Liệu dạy và nhẩm thầm, sau
khi thuộc sẽ vẽ sơ đồ cho đến khi nào hoàn chỉnh không thiếu sót, sau đó viết lại
thành bài hoàn chỉnh một lần nữa mà không cần nhìn tài liệu.
3. Trước khi học bài 3 thì phải ôn lại bài 1,2, và cứ như thế học bài mười phải ôn
lại tất cả các bài trước đó. Sau khi học về là phải lấy bài ra đọc và học ngay vì khi
đấy não dễ tiếp thu và lưu giữ trong noron, khi ôn nhiều lần các dây thần kinh hình
thành đường liên kết tạm thời nên khi cần nhớ sẽ dễ truy xuất thông tin.
4. Nên có giấy A4 vẽ sơ đồ đóng tập lại, sau khi học bài nên tìm các bạn cùng thi
khối c thảo luận bàn bạc các vấn đề vừa học (học nhóm), xem phim tài liệu lịch sử
và đọc sách tham khảo. Đặc biệt nên học các đoạn hay trong những văn kiện lịch



×