Tải bản đầy đủ (.docx) (33 trang)

tiểu luận tiêu hóa thức ăn ở người

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (971.34 KB, 33 trang )

PHẦN I: MỞ ĐẦU
I.

Đặt vấn đề

Cơ thể con người thuộc nhóm các sinh vật dị dưỡng, không thể tự tạo ra những hợp
chất cao năng lượng từ các nguyên liệu vô cơ mà phải thu nhận các chất giàu năng
lượng có sẵn để duy trì và tăng trưởng. Ăn uống đóng vai trò không thể thiếu trong
cuộc sống của con người. Dinh dưỡng là yếu tố quyết định sức khỏe và tuổi thọ.
Hệ tiêu hóa là hệ thống các cơ quan của động vật đa bào với nhiệm vụ ăn,tiêu
hóa thức ăn để tách lấy năng lượng và dinh dưỡng, và đẩy các chất thải còn lại ra
ngoài. Thức ăn được vào đường tiêu hóa và trải qua sự tiêu hoá, là quá trình phân hủy
những phân tử lớn thức ăn thành những phân tử nhỏ hơn. Tuy nhiên những phân tử
dinh dưỡng nhỏ phải rời khỏi hệ tiêu hóa và đi vào cơ thể ngay trước khi chúng có thể
được sử dụng. Điều này được hoàn thành bằng quá trình thứ hai được gọi là sự hấp thu,
khi các phân tử thức ăn đi qua các màng huyết tương của ruột non vào máu.
Quá trình tiêu hóa xảy ra trong đường tiêu hóa hoặc ống tiêu hoá, trải dài từ
miệng đến hậu môn. Hệ tiêu hóa được chia thành từng phần, với mỗi phần thích nghi
với từng chức năng riêng.
Giai đoạn đầu tiên của quá trình tiêu hóa là sự thu nhận thức ăn (ingestion).
Giai đoạn thứ hai là sự tiêu hóa (digestion). Ðó là quá trình phá vỡ thức ăn thành
những phân tử nhỏ đủ cho cơ thể hấp thu. Khối vật liệu hữu cơ trong thức ăn có thể có
protein, lipid, carbohydrat, acid nhân. Mặc dù những đại phân tử này là những nguyên
liệu thích hợp nhưng động vật không thể trực tiếp sử dụng chúng vì hai lý do. Một là
các đại phân tử quá lớn không thể đi qua màng để vào bên trong tế bào. Hai là các đại
phân tử cấu trúc nên một động vật không giống với các đại phân tử trong thức ăn. Tuy
nhiên trong việc xây dựng các đại phân tử cho chính bản thân, tất cả các động vật đều
sử dụng các đơn phân giống nhau. Vì vậy, sự tiêu hóa sẽ cắt các đại phân tử thành các
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 1




đơn phân mà động vật có thể sử dụng chúng để tạo ra các phân tử riêng cho mình.
Carbohydrat được cắt thành các đường đơn, lipid được tiêu hóa thành glycerol và acid
béo, protein bị thủy phân thành các acid amin và acid nhân bị cắt thành các nucleotid.
Ðộng vật phải tiêu hóa thức ăn trong một số ngăn đã được chuyên hóa để các
enzim thủy phân có thể tác kích vào các đại phân tử thức ăn mà không gây nguy hiểm
cho các tế bào.
Hai giai đoạn cuối cùng của quá trình tiêu hóa xảy ra sau khi thức ăn đã
được tiêu hóa. Giai đoạn thứ ba là sự hấp thu (absorption), các tế bào động vật thu
nhận các phân tử nhỏ nhu acid amin, đường đơn, acid béo... từ các ngăn tiêu hóa. Sau
cùng, sự thải bả (elimination) xảy ra, các vật liệu không tiêu hóa được đưa ra khỏi các
ngăn tiêu hóa.
Để hiểu rõ hơn về quá trình tiêu hóa thức ăn ở con người, tôi chọn nội dung “ Tìm
hiểu quá trình tiêu hóa thức ăn ở người” làm đề tài bài tiểu luận học phần sinh học cơ
thể động vật.
II. Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ quá trình tiêu hóa thức ăn ở người.
- Làm quen dần với phương pháp nghiên cứu đề tài bằng lý thuyết, biết cách
đọc và xử lý số liệu....Tạo tiền đề cho việc nghiên cứu các đề tài sâu hơn.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: con người
Phạm vi nghiên cứu: chỉ nghiên cứu sự tiêu hóa
IV. Phương pháp thực hiện đề tài:
Sưu tầm, phân tích, tổng hợp tài liệu từ nhiều nguồn như giáo trình, bài giảng,
tạp chí khoa học, đời sống, internet,… các tài liệu, tranh ảnh sưu tập được chúng tôi
đã tiến hành so sánh, đối chiếu để đảm bảo tính chính xác.
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 2



NỘI DUNG
I.

KHÁI QUÁT HỆ TIÊU HÓA
Người là động vật ăn tạp, tiêu thụ cả loại thức ăn là thịt động vật và thực vật, hệ
thống tiêu hóa ở người có cấu tạo chuyên hóa thích nghi với nhiều loại thức ăn khác
nhau. Nó bao gồm một ống dài gọi là ống tiêu hóa cùng với các các cơ qun có liên
quan như gan và tụy.

Sơ đồ hệ tiêu hóa của người
Nguồn: />
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 3


1. Cấu tạo chung: Hệ tiêu hóa gồm hệ thống ống tiêu hóa và các tuyến tiêu hóa
- Hệ thống ống tiêu hóa gồm: khoang miệng→ hầu→ thực quản → dạ dày → ruột
non → ruột già tạo thành ống tiêu hóa và các cơ quan có liên quan như gan và tụy.
- Các tuyến tiêu hóa gồm: tuyến nước bọt, tuyến gan, tuyến tụy và nhiều tuyến
nhỏ nằm trong thành dạ dày và ruột non.
2. Chức năng:
Biến đổi cơ học và hóa học thức ăn từ dạng phức tạp thành những chất có thể
tiêu hóa được. Hấp thụ những chất dinh dưỡng đã được chế biến và thải chất cặn bã ra
khỏi cơ thể.
Tiêu hóa cơ học là biến đổi thức ăn thành những phần nhỏ hơn nhưng không làm
thay đổi cấu trúc hóa học của nó (philip)
Tiêu hóa hóa học xảy ra khi các phân tử thwucs ăn lớn không hòa tan, dưới tác

dụng của các men tiêu hóa biến đổi thành những phân tử hỏ, hòa tan, có thể hấp thu
được, tức là có thể đi xuyên qua thành ống tiêu hóa vào cơ thể
II. HỆ THỐNG ỐNG TIÊU HÓA:
I.1. KHOANG MIỆNG: Khoang miệng được chia làm hai phần : tiền đình miệng
và ổ miệng chính thức.
Hình 33 : Thiết đồ cắt đứng dọc qua đầu và cổ
I.1.1. Tiền đình miệng: Là một khoang hình móng ngựa.
- Giới hạn ở phía trước và phía bên là môi và má
- Giới hạn ở phía sau cung răng lợi.
Tiền đình miệng thông với bên ngoài bởi lỗ miệng , thông với ổ miệng chính
thức khi há miệng và khi ngậm miệng thì thông qua kẽ răng và qua hai lỗ bên nằm sau
phía răng hàm cuối cùng
I.1.2.Ổ miệng chính thức:
* Giới hạn :
- Phía trên là vòm miệng được cấu tạo bởi khẩu cái cứng và một phần khẩu cái
mềm
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 4


- Phía dưới là nền miệng có lưỡi
- Phia trước bên là cung răng lợi.
- Phía sau thông với hầu
a. Răng:
* Cấu tạo chung của một răng: Gồm có ba phần:
- Thân răng(vành răng): Là phần ở phía trên lợi
- Chân răng: là phần nằm trong huyệt răng
- Cổ răng:là chỗ thắt ở giữa có lợi bao quanh
Trên thiết đồ cắt đứng dọc qua một răng: răng gồm có ba lớp:

+ Lớp trong cùng là tủy răng có mạch máu và thần kinh
+ Lớp giữa là ngà răng: Là một chất rắn,màu vàng
+ Lớp ngoài cùng: Ở vành răng được bao bọc bởi một tổ chức rắn hơn ngà
răng,trong, bóng gọi là men răng. Ở chân răng được phủ bởi một chất chắc màu vàng
đục gọi là cement còn gọi là xương răng
Mô răng bao gồm mô cứng (men, ngà) và mô mềm (tuỷ).

Men răng
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 5


-

Là một mô calci hoá cao độ.

Thành phần gồm (tính theo khối lượng) :
95% vô cơ (calci, Phospho, Magnésium, CO3, Na, F, Ca-P).
1% hữu cơ (Protein và Lipid) và 4% là nước.
-

Men răng được hình thành và định hình từ trước khi răng mọc.

-

Sau khi răng mọc (trong khoảng từ 2 đến 3 năm) trong đời sống men răng

diễn ra quá trình trưởng thành, chủ yếu là quá trình hình thành các phức chất do trao
đổi chất với môi trường nước miếng làm cho các tinh thể (Hydroxyapatit và

Fluoroapatit) là những đơn vị cấu tạo nên các trụ men, có sự thay đổi so với men răng
hình thành khi chưa mọc hay mọc.
-

Phản ứng của men răng trong đời sống của răng mang đậm những đặc trưng

của một vật liệu calci hoá cao độ.
Ngà răng
-

Cũng là một mô calci hoá cao độ nhưng ít hơn men răng.

-

Thành phần gồm 70% chất vô cơ, 20% chất hữu cơ và 10% là nước.

-

Trong ngà có nhiều ống nhỏ chứa các đuôi nguyên sinh chất của các tạo ngà

bào, ống ngà có đường kính khoảng từ 5µm đến 10 µm (1 µm = 10-6m, 1 nm = 10-9 m)
-

Trên 1mm2 cắt ngang qua ngà răng có khoảng từ 20.000 đến 50.000 ống ngà,

ngà răng như vậy là một mô tương tự đối xốp và đàn hồi.
Tủy răng
-

Là một mô liên kết đặc biệt giàu mạch máu và thần kinh.


-

Có một loại tế bào đặc biệt là các tạo ngà bào xếp thành một hàng ở sát vách

tủy.
-

Các tạo ngà bào liên tục tạo ra ngà bào (ngà thứ phát) làm cho hốc tủy ngày

càng hẹp lại.

Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 6


-

Tủy có 2 nhiệm vụ : tạo ngà và tiếp nhận cảm giác nhờ các dây thần kinh với

các đầu tận cùng ở sát vách tủy hoặc chui vào các ống ngà.
Cảm giác của răng qua hệ thống tủy là rất đặc biệt vì:
-

Không đặc hiệu về vị trí.

-

Không đặc hiệu về nguyên nhân gây ra cảm giác.


-

Do ở trong buồng kín và do cấu trúc của hệ thống của mạch máu, tủy răng

vừa dễ bị viêm vừa dễ bị hoại tử vì phản ứng viêm đó.
-

Khi viêm gây đau nhức dữ dội.

* Số lượng và công thức răng: Ở người có hai loại:
- Trẻ em là răng sữa: + Số lượng: 20 chiếc
Lúc sinh ra trẻ em mọc răng (khoảng tháng thứ 6 – 7 sau khi sinh) đến lúc thay răng
(răng sữa) ở lứa tuổi 7 -8, mỗi nửa hàm trên và dưới có 5 răng theo công thức: i 2/2 c
1/1 p 0/0 m 2/2(Răng cửa: 2/2 ; Răng nanh: 1/1; Răng hàm bé: 2/2)
- Ở người lớn là răng vĩnh viễn: + Số lượng:32 chiếc
Đến khi trưởng thành, mỗi nửa hàm trên và hàm dưới có 8 răng theo công thức:
i 2/2 c 1/1 p 2/2 m 3/3 = 32 răng(Răng cửa: 2/2 ; Răng nanh: 1/1
;Răng hàm bé: 2/2 ;Răng hàm lớn: 3/3)( Bài giảng)
b. Lợi
Vòng quanh các cổ răng là lợi viền ở mặt lưỡi, mặt má hoặc mặt môi của răng,
lợi kẽ là phần lợi nằm ở kẽ giữa hai răng. Lợi viền và lợi kẽ không dính chặt vào cổ
răng ngay từ đường viền lợi mà chỉ dính vào cổ răng dưới đường viền lợi 0,5 đến 2 mm
tùy người, cấu trúc trên tạo nên túi lợi, nơi có chức năng chứa và tiết dịch lợi, bổ sung
kháng thể với nước bọt tạo nên môi trường dịch sinh lý trong miệng (BS Nguyễn Cao
Thắng: sơ lược giải phẫu trong miệng liên quan đến vệ sinh răng miệng:
/>Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 7



c. Lưỡi
Đặc điểm của lưỡi:
- Lưỡi được cấu tạo bởi một khối cơ vân, có vai trò quan trọng trong việc nhào trộn
thức ăn, nói và nếm thức ăn.
- Trên mặt lưỡi và hai bên lưỡi có các gai lưỡi có tác dụng thu nhận các kích thích
về đau đớn và nóng lạnh. Xen kẽ giữa các gai lưỡi có các nụ vị giác có chức năng thu
nhận các kích thích về vị giác. Lưỡi giúp lựa chọn thức ăn, kích thích tiết nước bọt,
tham gia phản xạ nuốt.
I.1.3 Tuyến nước bọt
Ở người, trong 24 giờ, nước bọt tiết ra khoảng 1500ml. Nước bọt hòa tan một vài
loại thức ăn và chất nhày Mucin tác động như một chất bôi trơn khối thức ăn giúp dễ
nuốt. Nước bọt của người có các enzim amylase (còn gọi bằng tên gọi khác là ptyalin)
tác dụng lên tinh bột có trong thức ăn làm tinh bột biến đổi thành maltose. Nước bọt là
một dịch trong, màu trắng đục và nhầy; pH = 7; có 98% nước còn lại là chất vô cơ và
hữu cơ. Ngoài ra, trong nước bọt còn có enzym lyzozym có tác dụng ăn mòn màng tế
bào vi khuẩn. Nó cũng có chứa các tác nhân kháng khuẩn (ion thiocyanate) giúp tiêu
diệt các vi khuẩn có hại xâm nhập theo đường miệng.
Tuyến nước bọt là nơi nước bọt được tiết ra. Trong khoang miệng có 3 đôi tuyến
nước bọt lớn nằm ở mang tai, dưới hàm và dưới lưỡi. Ngoài ra còn các tuyến nhỏ nằm
rải rác trong khoang miệng. Đôi tuyến mang tai tiết nước bọt loãng và nhiều enzim.
Đôi tuyến dưới lưỡi tiết nước bọt đăc và nhiều chất nhày. Đôi tuyến dưới hàm tiết chất
nhày và enzim với lượng ngang nhau.

Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 8


Nguồn: bài giảng Sinh học cơ thể động vật


II. Hầu (họng)

Nguồn: bài giảng Sinh học cơ thể động vật
II.1 Cấu tạo đại thể của hầu :
Là ngã tư của đường tiêu hóa và đường hô hấp. Hầu gồm ba phần:
- Phần trên là tỵ hầu(hầu mũi). Tỵ hầu thông với hốc mũi bởi hai lỗ mũi sau và
thông với hòm nhĩ qua hai lỗ vòi nhĩ.
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 9


- Phần giữa là khẩu hầu(hầu miệng). Khẩu hầu thông với ổ miệng qua eo họng
- Phần dưới là thanh hầu (hầu thanh quản). Thanh hầu mở trực tiếp vào thực quản
ngang mức đốt cổ 6 ; 7 và thanh hầu cũng thông với thanh quản qua lỗ vào thanh quản.
Như vậy, có 7 lỗ thông với hầu : hai lỗ vòi nhĩ, hai lỗ mũi sau, một lỗ eo họng,
một lỗ thực quản, một lỗ thanh quản. Khi nuốt chỉ có một lỗ mở thông hầu với thực
quản, còn lỗ mũi sau, lỗ vòi nhĩ được màn hầu nâng lên khi cơ nâng màn hầu co (mỗi
bên có 3 cơ); lỗ thanh quản được đóng bởi sụn nắp thanh quản.
II.2 Cấu tạo vi thể của thành hầu:
Gồm 3 lớp:
* Lớp trong cùng là lớp niêm mạc: Trong lớp này có một tổ chức bạch huyết rất
phát triển tạo thành các tuyến hạnh nhân bao quanh hầu
* Lớp giữa là lớp cơ: Được cấu tạo bởi cơ vân gồm có:
- Cơ nâng hầu: Có 3 cơ. Khi co có tác dụng nâng hầu lên cho động tác nuốt
- Cơ khít hầu: có 3 cơ chông lên nhau như ngói lợp, khi co nó đón và đẩy thức ăn
xuống dưới
* Lớp ngoài cùng là tổ chức liên kết
III- THỰC QUẢN:

III.1 Vị trí và giới hạn:
- Thực quản là một ống thông hầu với dạ dày ,
- Giới hạn: + Phía trên ở ngang mức đốt cổ VI và VII .
+ Phía dưới ở ngang mức đốt ngực thứ XI.
- Nó nằm ở phía trước cột sống và nằm trên đường giữa của thân người
III.2 Cấu tạo đại thể:
- Thực quản là một ống dài khoảng 25-30 cm được chia làm 3 đoạn : đoạn cổ , đoạn
bụng và đoạn ngực.
+ Đoạn cổ thông với hầu
+ Đoạn ngực dài nhất
+ Đoạn bụng ngắn nhất (khoảng 1cm) thông với dạ dày
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 10


- Dọc theo thực quản có 3 chỗ thắt:
+ Chỗ thắt trên là nơi hầu đổ vào thực quản
+ Chỗ thắt giữa là nơi thực quản đi qua gần nơi chia đôi của khí quản
+ Chỗ thắt dưới là nơi thực quản đổ vào dạ dầy.
III.3 Cấu tạo vi thể của thành thực quản:
Thành của thực quản dày khoảng 4 mm, gồm 4 lớp:
- Trong cùng là lớp niêm mạc: Được cấu tạo bởi biểu mô dẹt nhiều tầng và tổ
chức liên kết xơ
- Lớp dưới niêm mạc có các tuyến của lớp niêm mạc
- Lớp cơ gồm hai lớp: Ở trong là cơ vòng và lớp ngoài chạy dọc
+ Đoạn trên của thực quản là cơ vân( vì có một số bó cơ ở hầu chạy vào đoạn
này)
+ Đoạn ngực thì cơ vân dần dần chuyển sang cơ trơn
+ Đoạn bụng thì hoàn toàn là cơ trơn.

- Lớp ngoài cùng là lớp thanh mạc:không có ở đoạn cổ và đoạn ngực mà chỉ có ở
đoạn bụng
IV- DẠ DÀY.
Hình 34 : Vị trí của dạ dày
IV.1. Vị trí:
- Dạ dày là chỗ phình lớn nhất của ống tiêu hoá, có dung tích 3 đến 3,5 lít ở người
lớn, hình giống như một cái tù và.
- Dạ dày nằm chủ yếu trong vùng thượng vị bên trái của mặt phẳng giữa
* Liên quan:
- Phía trên sát với cơ hoành
- Bên phải đi tới gan
- Bên trái giáp với tỳ.
- Bên dưới giáp với tụy

Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 11


Tuy vậy vị trí của dạ dày không phải lúc nào cũng cố định mà nó có thể thay đổi
theo tư thế của cơ thể.Khi thực hiện những bài tập TDTT như ưỡn thân , hãm vòng
treo, chuối tay... thì dạ dày di chuyển đáng kể so với vị trí bình thường.
IV.2. Cấu tạo đại thể của dạ dày
- Dạ dày có 2 mặt: Mặt trước và mặt sau, có 2 bờ là bờ conglớn và bờ cong nhỏ.
- Dạ dày gồm bốn phần:
+ Tâm vị: Là nơi thức ăn đổ vào dạ dày
+ Môn vị: Là nơi thức ăn đổ vào tá tràng
+ Thân vị: Nối giữa tâm vị và môn vị
+ Đáy vị: Là một phần dạ dày nằm bên trái nơi thực quản đổ vào dạ dày và nằm
cao hơn đường thẳng kẻ ngang qua đó

Hình 35 : Cơ của dạ dày
IV.3. Cấu tạo vi thể của dạ dày: Thành của dạ dày được cấu tạo bởi 5 lớp:
* Lớp trong cùng là lớp niêm mạc: Bề mặt lớp này có nhiều nếp chạy dọc theo thân
dạ dày nhờ đó thức ăn có thể di chuyển được dễ dàng
- Trong lớp niêm mạc của thân vị và đáy vị có các tuyến tiết ra dịch vị gồm hai
loại tế bào:Tế bào chính tiết ra men của dịch vị và tế bào viền tiết ra acit clohydric.
* Lớp dưới niêm mạc khá phát triển: Ở đây có đám rối thần kinh dưới niêm mạc
* Lớp cơ gồm ba lớp: Trong cùng là là cơ chéo, giữa là cơ vòng, ngoài là cơ dọc
* Lớp dưới thanh mạc: Có đám rối thần kinh dưới thanh mạc;
* Lớp thanh mạc ở ngoài cùng: Là một phần của lá tạng phúc mạc.
IV.4. Mạch máu và thần kinh của dạ dày:
a. Mạch máu: Các mạch máu và mạch bạch huyết lớn đến dạ dày chủ yếu tập
trung ở hai bờ cong lớn và bé của dạ dày. Gồm có: Động mạch vị phải và động mạch
vị trái. Từ các động mạch cho ra các mao mạch
b. Thần kinh: Chỉ đạo sự hoạt động của dạ dày là dây thần kinh phế vị( dây X). Ở
dạ dày có các nhánh tận của dây X là:
- Nhánh vị trước tham gia cấu tạo nên đám rối thần kinh dạ dày trước
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 12


- Nhánh vị sau tham gia cấu tạo nên đám rối thần kinh dạ dày sau
Từ hai đám rối thần kinh trước và sau hình thành nên các đám rối thần kinh
khác, trong đó có hai đám rối thần kinh là đám rối dưới niêm mạc và đám rối dưới
thanh mạc.

Hình 36 : Lớp niêm mạc của dạ dày
IV.5. Chức năng tiêu hóa của dạ dày:
Trong quá trình tiêu hóa, dạ dày đảm nhận các chức năng chính sau:

- Tiếp tục nghiền bóp thức ăn.
- Phân phối thức ăn cho ruột từng khối nhỏ trong thời gian từ 2 - 4 giờ sau khi ăn.
- Kích thích tiết mật và dịch tụy.
- Tiêu hóa hóa học thức ăn.
- Tiêu diệt phần lớn vi trùng trong thức ăn. (nhờ axit).
V- RUỘT NON (TIỂU TRÀNG):
V.1 Cấu tạo đại thể: Ruột non là một ống dài khoảng 6,5m,có nhiều nếp gấp khúc
màu trắng như sữa, được chia làm 3 đoạn: Tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng .
V.1.1 Tá tràng:
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 13


- Là đoạn nối với dạ dày, dài khoảng 25-30cm,uốn cong hình chữ U bao quanh
phần đầu tuỵ. Tá tràng gồm có: Khúc ngang trên, khúc xuống, khúc ngang dưới và
khúc lên.
- Tá tràng là đoạn ngắn nhất nhưng quan trọng nhất vì có ống tiết của hai ống tiêu
hoá lớn là gan và tuỵ đổ vào.
V.1.2 Hỗng tràng: Phía trên nối tiếp với tá tràng chiếm 2/5 ruột non( trừ đoạn tá
tràng). Ống hỗng tràng lớn hơn hồi tràng, thành cũng dầy hơn. có nhiều mạch máu
hơn. Trên cơ thể sống có màu đỏ
V.1.3 Hồi tràng: Là đoạn nối hỗng tràng với ruột già chiếm 3/5 ruột non.Ống hồi
tràng nhỏ, thành mỏng.ít mạch máu hơn nên màu hơi nhạt
Đoạn cuối cùng của hồi tràng có cơ thắt hồi manh tràng tạo thành van có tác
dụng ngăn không cho các chất cặn bã từ ruột già lên ruột non
Toàn bộ hỗng tràng và hồi tràng được treo vào một màng rất rõ rệt gọi là mạc
treo tràng. Trong mạc treo tràng có thần kinh và mạch máu để chỉ huy sự vận động của
ruột
Hình 37 : Tá tràng

V.2. Cấu tạo vi thể của thành ruột non: Gồm bốn lớp:
V.2.1 Lớp niêm mạc: Lớp niêm mạc của ruột non có những đặc điểm cấu trúc rất
đặc biệt để phù hợp với chức năng hấp thụ thức ăn của nó:
* Trên bề mặt lớp niêm mạc có những nếp vòng (van ruột), ở đó có các nhung mao
(lông ruột), ở ruột có khoảng 4 triệu lông ruột có tác dụng tăng diện tích tiếp xúc của
ruột để hấp thụ thức ăn được nhanh chóng
- Mỗi lông ruột cao khoảng một mm, được cấu tạo bởi một lớp tế bào biểu mô
hình trụ. Bên trong mỗi lông ruột có mạch máu, mạch bạch huyết và thần kinh
- Ở tá tràng và hỗng tràng có nhiều nhung mao còn ở hồi tràng thì ít hơn
* Ở giữa các gốc nhung mao là khe ruột có lỗ mở của các tuyến tiết dịch tiêu hóa
và dịch nhầy

Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 14


* Trong lớp niêm mạc của ruột non có những đám tổ chức limphô nằm rải rác khắp
ruột non. Riêng ở hồi tràng có các đám tổ chức limphô lớn hơn (gọi là mảng Payer)
V.2.2 Lớp dưới niêm mạc: Rất phát triển, ở đây có các tuyến tiết dịch tiêu hóa và
dịch nhầy
V.2.3 Lớp cơ: Là cơ trơn gồm 2 lớp:cơ vòng ở trong và cơ dọc ở ngoài
Ở đoạn cuối cùng của hồi tràng cơ khá dày gọi là cơ thắt hồi manh tràng
V.2.4 Lớp thanh mạc: do mô liên kết tạo nên
VI- RUỘT GIÀ (ĐẠI TRÀNG)
Hình 38 : Đại tràng
VI. 1 Cấu tạo đại thể của ruột già: Là một đoạn ruột dài khoảng 1,5-2m, màu xám tạo
thành một cái khung bao ở phía ngoài ruột non, chia làm ba đoạn : Manh trang, kết
tràng, trực tràng.
IV.1.1. Manh tràng:

- Là đoạn ngắn nhất và to nhất của đại tràng, dài khoảng 6cm, rộng khoảng 7cm
nằm ở hố chậu phải
- Phía trên nối với hồi tràng, ở đây có van hồi manh tràng.Van có hình như một cái
phễu có tác dụng làm cho thức ăn chỉ đi theo một chiều từ ruột non xuống manh tràng
mà không đi theo chiều ngược lại
- Phía dưới manh tràng có một đoạn ruột nhỏ bị teo đi gọi là ruột thừa
IV.1.2. Kết tràng: Gồm có:
* Kết tràng lên
* Kết tràng ngang
* Kết tràng xuống
* Kết tràng sigma
IV.1.3. Trực tràng: Là đoạn ruột thẳng dài từ 15 - 20 cm thông với hậu môn
/>16h32 ngày 25/12/
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 15


B. QUÁ TRÌNH TIÊU HÓA
I. QUÁ TRÌNH TIÊU HÓA TRONG KHOANG MIỆNG
Ăn là những bước đầu tiên xảy ra trong khoang miệng.
1.1. Tiêu hóa cơ học: Tiêu hóa cơ học chủ yếu do răng đảm nhiệm. Răng cắt, xé và
nghiền thức ăn thành những mẫu nhỏ. Sự có mặt của thức ăn kích thích phản xạ thần
kinh làm tuyến nước bọt tiết ra nước bọt qua ống dẫn vào miệng. Nước bọt cũng có thể
được giải phóng trước khi thức ăn vào miệng, diễn ra bởi sự liên hệ đã học được giữa
việc ăn và thời gian trong ngày, mùi thức ăn hoặc các kích thích khác.
1.2. Tiêu hóa hóa học: Tiêu hóa hóa học ở miệng do enzym của nước bọt thực hiện.
Nước bọt bắt đầu tiêu hóa hóa học trong khi vẫn bảo vệ miệng.
Các thành phần có trong nước bọt:
Nước: giúp hoà tan các chất có trong thức ăn. Do đó đẩy nhanh sự cảm nhận vị giác

của các gai vị giác trên lưỡi
Amylase trong nước (còn gọi ptyalin): bọt thủy phân tinh bột và glycogen thành
polysachatid nhỏ hơn và thành đường đôi maltose. Amilaza hoạt động trong pH = 6.0
~ 7.4. Ngay cả khi vào dạ dày amilaza vẫn hoạt động trước khi axit ngấm vào khối
thức ăn ức chế amilaza
Mucin, một glycoprotein trơn nhầy trong nước bọt bảo vệ lớp lót khoảng miệng
khỏi bị xây xước. Mucin bôi trơn thức ăn khi nuốt. Các thành phần khác của nước bọt
kể cả chất đệm ngăn cản sâu răng bằng cách trung hòa axit và những chất diệt khuẩn và
chống lại vi khuẩn vào miệng với thức ăn.
Lyzozim: là 1 enzim phá huỷ thành tế bào của vi khuẩn. Lyzozim giúp cho khoang
miệng luôn sach và tránh nguy cơ nhiễm trùng.
Lưỡi giúp quá trình tiêu hóa bằng cách đánh giá các chất ăn vào và sau đó giúp
cử động nuốt. Khi thức ăn tới khoang miệng, lưỡi giữ vai trò quyết định trong việc
phân biệt thức ăn nào nên được xử lý thêm nữa. Sau khi thức ăn đã được chấp nhận thì
hoạt động nhai bắt đầu, các chuyển động của lưỡi nhào trộn thức ăn, nặn thức ăn thành

Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 16


viên tạo thành viên thức ăn. Khi nuốt lưỡi đẩy viên thức ăn ra sau khoang miệng vào
hầu để thực hiện phản xạ nuốt.
1.3 Quá trình nuốt thức ăn
Khi nuốt nắp thanh quản ngăn thức ăn vào khí quản bằng cách phủ thanh môn, các
dây thanh và lỗ giữa chúng . Được chỉ dẫn bằng các cử động của thanh quản, cơ chế
nuốt hướng mỗi viên thức ăn vào cửa của thực quản. Nếu phản xạ nuốt kém, thức ăn
hoặc đồ uống có thể đến khí quản gây nghẽn khí quản.
Thực quản cấu tạo từ cả cơ vân và cơ trơn. Cơ vân ở phần đỉnh của thực quản và
chủ động trong khi nuốt. Ở toàn bộ phần còn lại của thực quản là cơ trơn hoạt động

theo nhu động. Chu kì co đều đặn đẩy viên thức ăn xuống dạ dày. Cùng các phần khác
của hệ tiêu hóa, hình thái thực quản cũng phù hợp với hoạt động của nó.

II. QUÁ TRÌNH TIÊU HÓA Ở DẠ DÀY

Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 17


2.1. Sự tiêu hóa cơ học:
Khi thức ăn tới phần cuối thực quản, chúng sẽ kích thích làn cho tâm vị mở theo



cơ chế của phản xạ ruột. Thức ăn dồn vào dạ dày làm trung hòa bớt axit của dịch vị là
nguyên nhân làm tâm vị đóng lại. Chu kỳ mở tâm vị tiếp theo chỉ xảy ra khi độ pH của
dịch vị trở lại bình thường. Điều đó ngăn cản sự trào ngược trở lại của thức ăn.
Sau khi ăn khoảng 10 -20 phút, bắt đầu có các cử động nhu động theo chiều từ trên
xuống dưới với tần số 20 nhịp/ phút. Độ axit của dịch vị càng tăng, co bóp càng mạnh.
Co bóp này làm cho thức ăn ngấm đều dịch vị gọi là nhũ trấp và chuyển xuống dần hạ
vị. Ở thành hạ vị thức ăn được nghiền nát, nhào trộn với dịch vị để biến thành một dịch
lỏng gọi là vị trấp rồi được chuyển qua môn vị xuống ruột tá.
2.2. Sự tiêu hóa hóa học:
Quá trình tiêu hóa trong dạ dày chịu tác dụng của dịch vị. Dịch vị là một chất dịch
trong suốt, không màu, không mùi, vị rất chua (độ pH 1,5 - 3). Mỗi ngày dạ dày tiết
1500ml dịch vị. Thành phần của dịch vị gồm nước, chất khoáng và chất hữu cơ, trong
đó quan trọng hơn cả là HCl, pepsin và prezua.
HCl phá vỡ chất nền ngoại bào liên kết các tế bào với nhau trong thịt và trong rau.
Nồng độ axit HCl cao đến nỗi pH dịch vị khoảng bằng 2, đủ để hòa tan những đinh sắt.

Do đó nó giết chết phần lớn vi khuẩn, làm biến tính gây dãn xoắn protein trong thức
ăn, bằng cách tăng khả năng tiếp cận của các enzyme với các liên kết peptid.
Các liên kết sẽ bị thủy phân bởi thành phần thứ hai của dịch vị là enzym protease
hoặc pepsin. Pepsin hoạt động tốt trong môi trường axit mạnh. Bằng cách phá hủy các
liên kết peptid, pepsin tách protein thành các polypeptid nhỏ hơn (những đoạn peptid
ngắn).
Kết quả của quá trình tiêu hóa trong dạ dày là thức ăn được biến đổi thành vị trấp.
Thức ăn mới chỉ bắt đầu bị tiêu hóa hoặc chưa bị tiêu hóa. Tinh bột chín biến đổi một
phần (40 - 50%) thành đextrin và maltose. Protit được hòa tan và một phần được phân
hủy thành peptin và polypeptit.

Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 18


Dịch vị không phân hủy các tế bào của dạ dày vì chúng vẫn bất hoạt cho đến khi
chúng được giải phóng vào xoang dạ dày. Các tế bào đỉnh của thành dạ dày tiết ion
hydro và ion clo để tạo thành axit chlohydric. Trong khi đó các tế bào chính giải phóng
pepsin dưới dạng pepsinogen bất hoạt


Bằng cơ chế này mà cả axit chlohydric và pepsin được tạo ra trong xoang dạ dày
chứ không phải trong tế bào vì vậy mà tế bào không bị phân hủy. Mặt khác, niêm mạc
dạ dày tiết chất nhầy bảo vệ cho thành dày dưới tác dụng của axit chlohydric và pepsin

Cơ thắt ở chỗ dạ dày mở vào ruột non giúp điều chỉnh sự đi qua của nhũ trấp vào
ruột non, chỉ cho phép chảy xuống từng đợt. Hỗn hợp axid, enzime và đặc biệt thức ăn
được tiêu hóa đặc trưng rời dạ dày 2-6 giờ sau khi ăn.
III. QUÁ TRÌNH TIÊU HÓA Ở RUỘT NON

Ở tá tràng, nhũ trấp từ dạ dày trộn với dịch tiêu hóa từ tụy, gan, túi mật cũng như từ
tế bào tuyến của chính thành ruột. Hooc môn được giải phóng từ dạ dày và tá tràng
điều hòa việc tiết dịch tiêu hóa vào ống tiêu hóa.
1. Dịch tụy: [4]

Dịch tụy do tụy ngoại tiết tiết ra. Tụy là một tuyến pha. Tụy nội tiết gồm các tế bào
tập hợp thàng đảo Langerhans tiết insulin điều hòa lượng đường trong máu. Phần ngoại
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 19


tiết gồm rất nhiều nang, trong mỗi nang có hai loại tế bào: tế bào nang và tế bào trung
tâm. Dịch tụy do tụy ngoại tiết tiết ra đổ qua một ống vào ruột tá. Dịch tụy giàu kiềm
bicarbonate trung hòa axit của nhũ trấp và tác động như một chất đệm. - Sau đây là
thành phần của dịch tuỵ và tác dụng của chúng
+ Trypsin: được tiết ra dưới dạng không hoạt động là trypsinogen. Sau khi được
enzim enterokinaza trong dịch ruột hoạt hoá, và đặc biệt là trypsin được hoạt hoá từ
trước, trở thành trypsin hoạt động. Trypsin hoạt động tối ưu tại pH = 8, nó cắt các kiên
kết peptit của axit amin có tính kiềm.
+ Chymotrypsin: cũng được tiết ra dưới dạng không hoạt động
là chymotrypsinogen, sau đó được hoạt hoá bởi trypsin, hoạt động tối ưu trong pH =
8. Chymotrypsin cắt liên kết peptit của các axit amin có nhân thơm.
+ Cacboxylpolypeptidaza: tiết dưới dạng không hoạt
động procacboxypolypeptidaza. Được hoạt hoá bởi trypsin, hoạt động tối ưu trong
pH = 8, nó cắt dần các axit amin ở đầu chuỗi polypeptit giải phóng các axit amin tự do.
+ Lipaza: hoạt động tối ưu trong pH = 6.8, cắt đứt các liên kết este giữa glyxerol
với axit béo của lipit đã nhũ tương hoá.
+ Photpholipaza: cắt đứt liên kết este giữa glyxerol với gốc phôtphat trong phân tử
phôtpholipit.

+ Cholesterol esteraza: cắt liên kết este của các chất béo thuộc nhóm steroid, giải
phóng sterol và các axit béo.
+ Amylaza: hoạt động tối ưu trong pH = 7.1, thủy phân tinh bột sống và chín giải
phóng đường mantozơ. Chú ý rằng amylaza của dịch tuỵ có hoạt tính mạnh hơn
amylaza trong nước bọt.
+ Mantaza: phân giải mantozơ thành glucozơ.
+ 1 số ion khoáng như Na+, K+, Ca2+, HCO3-, … nhưng quan trọng nhất
là NaHCO3, nó trung hoà độ axit của khối thức ăn từ dạ dày đẩy xuống và tạo pH
thích hợp cho enzim hoạt động.
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 20


- Với các thành phần như trên, dịch tuỵ phân giải hầu hết các chất dinh dưỡng trong
thức ăn. Nếu dịch tuỵ tiết ra bị giảm, sẽ gây rối loạn tiêu hoá và hấp thu của cơ thể. Khi
tuỵ bị tổn thương hoặc khi một ống tuỵ bị tắc nghẽn, các enzim tiêu hoá sẽ nhanh
chóng tiêu hoá tuyến tuỵ trong vòng vài giờ. Đó là bệnh viêm tuỵ cấp dẫn đến shock,
có thể dẫn đến suy tuỵ hoặc tử vong.
- Cơ chế tiết NaHCO3: cũng tương tự như cơ chế tiết HCl của dịch vị. Diễn ra
theo các bước:
+ CO2 từ máu khuếch tán vào tế bào. Enzim CA (nhắc đến ở phần cơ chế tiết
HCl) sẽ kết hợp CO2 với nước tạo thành H2CO3, lập tức bị điện ly tạo thành H+ và
HCO3-. HCO3- được vận chuyển tích cực ra ống tuỵ
+ H+ từ tế bào được vận chuyển tích cực vào máu qua bơm H+/Na+. Na+ từ máu
được bơm vào tế bào, sau đó khuếch tán ra ống tuỵ.
+ Sự vận chuyển Na+ và HCO3- dẫn đến một gradient nồng độ. Do đó nước được
kéo vào ống tuỵ tạo thành dịch tuỵ. (hệ tiếu hóa ở người
/>2. Mật: [4]
Mật là một chất dịch hơi kiềm, quánh, màu vàng hoặc lục, vị đắng, được gan bài tiết

liên tục (mỗi ngày từ 500 - 1000ml) và tích lại trong túi mật rồi chuyển từng đợt sang
ruột tá. Thành phần của mật trong túi mật gồm: nước 89%, muối mật 6%, sắc tố mật
2,5%, cholesterol 0,4% và muối vô cơ 0,8 %.
Dịch mật do gan tiết ra nhưng được dự trữ ở túi mật. Dịch mật ở gan sẽ được túi
mật làm đăc hơn 4 - 10 lần. Thành phần của dịch mật gồm chủ yếu là muối mật, ngoài
ra còn có bilirubin, lecitin, cholesterol… và khoảng 94% được tái hấp thu ở hồi
tràng. Bilirubin 1 phần được liên kết với hệ vi sinh vật ở ruột, chuyển thành stecobilin
là nguyên nhân dẫn đến màu vàng của phân. Dịch mật có pH vào khoảng 7 ~ 7.6 nên
có vai trò trung hoà axit dịch vị.
Dịch mật có vai trò quan trọng đối với sự tiêu hoá lipit. Nó nhũ tương hoá tất cả
lipit có trong thức ăn để tạo điều kiện cho lipaza hoạt động. Muối mật làm giảm sức
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 21


căng bề mặt của hạt mỡ, các cử động lắc lư của ruột sẽ làm vỡ hạt mỡ thành các hạt rất
nhỏ để enzim có thể tác động lên bề mặt. Quá trình này gọi là nhũ tương hoá mỡ.
Ngoài vai trò trong tiêu hoá lipit, dịch mật còn giúp cho sự hấp thụ các vitamin A,
D, E, K. Vì thế nếu tổn thương ở gan sẽ làm giảm tiết dịch mật, kéo theo lượng lipit và
vitamin trong phân tăng, đặc biệt là vitamin K, sẽ theo phân ra ngoài. Tình trạng kéo
dài gây máu khó đông là triệu chứng thiếu vitamin K.
Dịch mật còn làm tăng tiết dịch tuỵ, tăng nhu động ruột, ức chế hoạt động của vi
khuẩn, ngăn chặn lên men, thối rữa các chất ở ruột.
Kích thích dây thần kinh X sẽ gây tăng tiết dịch mật. Secretin và CCK là các
hoocmon gây tăng tiết dịch mật.
Gan không chỉ có chức năng tiết mật, nó còn có hức năng khử độc khi chúng xâm
nhập vao cơ thể và giúp cân bằng sử dụng dưỡng chất.

Chức năng gan

Hoạt động
Ý nghĩa đối với cơ thể
Tiết mật
Nhũ tương hóa
Tiết ra các ion carbonat
Trung hòa axit trong dạ dày
Biến đổi cac đơn chât từ dạng này
Tạo các đơn chất cần thiết có
sang dạng khác
trong thức ăn
Dự trữ vitamin và muối khoáng
Đề phòng khi thiếu hụt
Biến đổi glucose thành glicogen
Làm giảm lượng đường trong
mau khi quá cao
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 22


Biến đổi glicogen thành glucose

Làm tăng lượng đường trong mau
khi quá thấp
Tạo ra lipoprotein
Vận chuyển mỡ đến các tế bào
mỡ
Tạo ra protein huyết tương
Giữu nước lại trong máu
Phân giải rượu,chất độc hại, thuốc

Bảo vệ tế bào và cơ thể chống lại
uống, các hoocmone thừa
các chất độc hại
Tạo các cục máu
Chống mất máu ở các vết thương
Tạo các colesterol
Cung cấp thành phần cấu tạo
màng tế bào
Phân hủy hồng cầu già
Duy trì máu tốt cho việc vận
chuyển oxi
Muối mật có 4 tác dụng chính:
- Biến đổi những chất axit stearic, cholesterol, vitamin hòa tan trong đầu thành
axit choleic hòa tan trong nước
- Làm giảm sức căng bề mặt của mỡ nhũ tương, làm cho các hạt mỡ ổn định ở
kích thước nhỏ, làm tăng diện tiếp xúc đối với men lipaza.
- Làm hạt hóa lipaza trong ruột và làm tăng khả năng tiêu hóa mỡ của lipaza.
- Kích thích tế bào gan tái sản xuất mật.
3. Dịch ruột:
Dịch ruột do hai tuyến bài tiết là tuyến Brunner và tuyến Lieberkuhn nằm dưới lớp
niêm mạc ruột tiết ra. Dịch ruột không màu, pH từ 7 - 8,5. Thành phần gồm men
erepsin, amylaza, mantaza, lactaza, saccharaza, lipaza, esthatza, nucleaza, photphataza,
enterokinaza, chất muxin và các ion vô cơ.
Kết quả của sự tiêu hóa ở ruột non là các protein biến thành polypeptit. Các
polypeptit sau đó biến thành các axit amin. Các chất gluxit biến thành monosaccharit,
glucoza, levuloza, galactoza.
Các chất mỡ biến thành một hỗn hợp các kiềm pyriamindin, purin, axit
photphoric và đường pentoza.

Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người


Trang 23


III. QUÁ TRÌNH HẤP THU
1. Hấp thu ở ruột non
Phần lớn sự hấp thụ thức ăn xảy ra ở ruột non. Khả năng hấp thụ mạnh của ruột non
là nhờ cấu tạo của các lông ruột trong thành ruột. Phụ thuộc vào chất dinh dưỡng, vận
chuyển qua tế bào biểu mô có thể thụ động hoặc tích cực.
Khuyếch tán qua màng:
Đường fructose đi từ xoang ruột non vào tế bào biểu mô ruột một cách dễ dàng theo
gradien nồng độ. Các chất hòa tan trong mỡ và trong các dung môi của mỡ qua màng
theo lối khuyếch tán thụ động. Các chất hòa tan trong nước không qua được theo lối
khuyếch tán, nhưng màng tế bào có những lỗ thông rất nhỏ, cho qua chất nước và nước
kéo theo các chất hòa tan.
Vận chuyển tích cực: Các dưỡng chất khác kể cá amino acid, các lipit bé, các
vitamin và phần lớn phân tử glucose được bơm ngược gradien nồng độ bởi tế bào biểu
mô nhung mao. Vận chuyển tích cực này cho phép hấp thụ rât nhiều dưỡng chất.
Mặc dù nhiều chất dinh dưỡng rời ruột vào máu, một số sản phẩm tiêu hóa
mỡ(triglyceride) đi theo con đường khác. Sau khi được hấp thujbowir tế bao biểu mô,
axit bào và monoglyceride(axit béo đơn giản kết hợp với glucerol) được tái tổ hợp
thành triglyceride trong những tế bào này. Những chất béo này sau đó được bao bọc
Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 24


bởi phospholipid, cholesterol và protein tạo thành những hạt mờ tan trong nước được
gọi là chylomicron( hạt nhũ trấp). Những hạt này quá lớn để có thể qua màng mao
mạch. Vì thế cúng vận chuyển vào một mạch nhũ trấp, một mạch năm trong lõi mỗi

nhung mao. Mạch nhũ trấp là một phần của hệ bạch huyết, là một mạng mạch chức đầy
dịch màu áng. Bắt đầu từ mạch nhũ trấp bạch huyết chứa hạt nhũ trấp đi vào mạch
lownscaur hệ bạch huyết và cuối cùng vào tĩnh mạch lớn đi vào máu về tim.
Ngược với mạch nhũ trấp, các mao mạch và tĩnh mạch mang máu giàu dưỡng chất
từ tất cả các nhung mao hội tụ về tĩnh mạch cửa gan, một mạch máu đỏ trực tiếp vào
gan. Từ gan máu tuần hoàn về timvaf sau đó đến mô và các cơ quan. Điều này cho
phép gan điều tiết sự phân phối dưỡng chất dến các phần còn lại của cơ thể và gan
cũng loại bỏ chât độc trước khi máu tuần hoàn rộng rãi.

Tìm hiểu quá trình tiêu hóa ở người

Trang 25


×