TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
-------------------------------
LÊ THỊ THÚY
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
TRẺ MẪU GIÁO BÉ THÔNG QUA CÁC
CÂU CHUYỆN CỔ TÍCH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
Người hướng dẫn khoa học
Th.S TRẦN THANH TÙNG
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này tôi gặp không ít khó khăn nhưng
nhờ sự cố gắng của bản thân và đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô
giáo cùng với sự động viên, cổ vũ của bạn bè, người thân đã giúp tôi hoàn
thành đề tài này.
Qua đây cho tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa
Giáo dục Tiểu học, các cô thư viện tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu đề tài
này. Đặc biệt, cho tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Trần Thanh
Tùng, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu đề tài. Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ban giám hiệu cùng toàn thể giáo viên
mẫu giáo trường mầm non Kim Chung – Đông Anh – Hà Nội đã tận tình cộng
tác và tạo điều kiện cho tôi có thể hoàn thành đề tài. Tôi xin gửi lời cảm ơn
tới sự giúp đỡ của đoàn thực tập trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 tại trường
mầm non Kim Chung.
Mặc dù, tôi đã cố gắng hết sức song đây là lần đâu tiên tôi thực hiện
ngiên cứu một đề tài khoa học nên chắc chắn không thiếu khỏi những thiếu
sót, rất mong các quý thầy cô cùng toàn thể các bạn nhận xét, đóng góp ý kiến
để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Kính chúc thầy cô sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Lê Thị Thuý
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của mình. Các số liệu
thu thập trong khóa luận là trung thực, rõ ràng, chưa từng được công bố trong
một chương trình nghiên cứu nào, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 4 tháng5 năm 2014
Sinh viên
Lê Thị Thuý
DANH MỤC VIẾT TẮT
GDMN
: Giáo dục Mầm non
GDĐĐ
: Giáo dục đạo đức
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................
1.Lý do chọn đề tài............................................................................................
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................
3. Đối tượng nghiên cứu....................................................................................
4. Khách thể nghiên cứu....................................................................................
5. Mức độ và phạm vi nghiên cứu.....................................................................
6. Giả thuyết khoa học.......................................................................................
7. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................
NỘI DUNG.......................................................................................................
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu..........................................
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu của đề tài.........................................................
1.2. Một số vấn đề giáo dục đạo đức............................................................
1.2.1. Khái niệm giáo dục ...........................................................................
1.2.2. Khái niệm đạo đức.............................................................................
1.2.3. Khái niệm giáo dục đạo đức..............................................................
1.3. Giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo............................................................
1.3.1. Khái niệm...........................................................................................
1.3.2. Ý nghĩa của giáo dục đạo đức đối với trẻ mẫu giáo..........................
1.3.3. Nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo.................................
1.3.4. Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo..................................
1.3.5. Nguyên tắc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo..............................
1.3.6. Phương pháp giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo...........................
1.3.7. Đánh giá kết quả giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo.....................
1.4. Giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo bé thông qua các câu chuyện cổ
tích...................................................................................................................
1.4.1. Đặc điểm tâm lý trẻ..........................................................................
1.4.2. Khái niệm truyện cổ tích..................................................................
1.4.3. Ý nghĩa giáo dục đạo đức cho trẻ qua các câu chuyện cổ tích
.........................................................................................................
1.4.4. Ý nghĩa của các câu chuyện cổ tích trong các hoạt động khác
.........................................................................................................
1.4.5. Các bước tiến hành giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua các
câu chuyện cổ tích...........................................................................
Chương 2: Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua các câu
chuyện cổ tích ...........................................................................
2.1. Vài nét về trường mầm non Kim Chung – Đông Anh - Hà Nội.............
2.1.1. Cơ sở vật chất..................................................................................
2.1.2. Về đội ngũ giáo viên........................................................................
2.2. Thực trạng về nhận thức của giáo viên tại cơ sở về vấn đề giáo dục
đạo đức cho trẻ thông qua các câu chuyện cổ tích...................................
2.2.1. Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của việc giáo dục đạo
đức cho trẻ mẫu giáo.......................................................................
2.2.2. Nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ, nội dung và phương
pháp giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo........................................
2.2.3. Tần suất sử dụng phương tiện các câu chuyện cổ tích vào việc
giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo tại cơ sở..................................
2.2.4. Khai thác ý nghĩa, nội dung giáo dục đạo đức của các câu
chuyện cổ tích..................................................................................
2.2.5. Phương pháp giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua các câu
chuyện cổ tích..................................................................................
2.2.6. Những khó khăn khi giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua các
câu chuyện cổ tích...........................................................................
2.2.7. Đánh giá kết quả tại nhóm lớp khi giáo dục đạo đức cho trẻ
thông qua các câu chuyện cổ tích....................................................
2.2.8. Nhận thức của giáo viên về tình hình giáo dục đạo đức cho
trẻ mẫu giáo bé thông qua các câu chuyện cổ tích tại cơ sở...........
2.2.9. Kinh nghiệm trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ 3 – 4 tuổi
thông qua các câu chuyện cổ tích....................................................
2.2.10. Đề xuất của giáo viên cơ sở giúp cho việc giáo dục đạo đức
cho trẻ mẫu giáo bé thông qua các câu chuyện cổ tích có hiệu
quả...................................................................................................
2.3. Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo bé thông qua các câu
chuyện cổ tích tại một số cơ sở trường mầm non Kim ChungĐông Anh - Hà Nội..................................................................................
2.3.1. Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua các câu
chuyện cổ tích trong các giờ hoạt động chung có mục đích
học tập văn học................................................................................
2.3.2. Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua các câu
chuyện cổ tích trong một số các giờ hoạt động khác......................
2.3.3. Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua các câu
chuyện cổ tích ở mọi lúc, mọi nơi....................................................
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao kết quả giáo dục đạo đức
cho trẻ mẫu giáo thông qua các câu chuyện cổ tích...............
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
“Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”. Trẻ em chính là tương lai của đất
nước vì vậy việc giáo dục bồi dưỡng những thế hệ măng non trở thành những
công dân tốt với đầy đủ nhân lực, trí lực góp phần xây dựng đất nước là
nhiệm vụ hàng đầu của ngành giáo dục và toàn thể xã hội.
Trong đó, giáo dục mầm non được coi là bậc học đầu tiên và quan trọng
trong sự nghiệp giáo dục đào tạo con người mới. Để tạo nên những lớp người
tài cho xã hội thì không chỉ giáo dục trẻ ở một nội dung nào đó, mà cần phải
giáo dục trẻ một cách toàn diện. Giáo dục đạo đức giữ vai trò là tiền đề, là cái
gốc cho sự phát triển toàn diện của trẻ.
Từ xưa đến nay vai trò của đạo đức đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều
triết gia, nhiều học giả quan tâm và khẳng định: “Đạo đức như gốc của cây,
ngọn nguồn của cuộc sống, sức mạnh của con người. Sức có mạnh mới gánh
được nặng và đi được xa” (Hồ Chí Minh).
K.Đ.U-SinxKi cũng khẳng định: “Tất cả những ai muốn trở thành công
dân có ích, trước hết phải học cách làm người”. Học cách làm người ở đây
chính là tu dưỡng phẩm chất đạo đức của mình, bởi như A-rit-xtôt đã từng
nói: “Thiên nhiên đã trao vào vòng tay con người một vũ khí đó là sức mạnh
trí tuệ và đạo đức, nhưng con người có thể sử dụng vũ khí đó theo những
hướng ngược lại. Vì thế con người thiếu những nguyên tắc đạo đức sẽ là một
con người bất lương và hoang dã, thấp hèn trong những bản năng”.
Những triết lí sâu sắc trên đã khẳng định vai trò của đạo đức và giáo dục
đạo đức đối với quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách con người. Vì
vậy giáo dục đạo đức cho mọi người là việc làm có tầm quan trọng và rất cần
1
thiết. Vì đạo đức không tự có, đạo đức chỉ được hình thành qua con đường
giáo dục và tự giáo dục. Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”.
Cổ nhân xưa cũng đã dạy:
“Tre non dễ uốn, tre già nổ đốt”.
“Bé chẳng vin, cả gẫy cành”
Câu nói ấy của người đời đã khẳng định ý nghĩa to lớn của việc giáo dục
đạo đức cho con người ngay từ thủa còn thơ, đặc biệt là lứa tuổi mẫu giáo bé.
Ai cũng biết đứa trẻ mới sinh ra chưa có nhân cách phải trải qua một quá trình
nhất định, đặc biệt là tuổi lên ba khi đứa trẻ tách mình ra khỏi những người
xung quanh để nhận ra bản thân như một con người khác đó là dấu hiệu để
nhận biết nhân cách của đứa trẻ. Vì vậy việc giáo dục đạo đức cho trẻ lứa
tuổi này là vô cùng quan trọng đó là giai đoạn đặt nền móng cho sự hình
thành và phát triển nhân cách toàn diện của trẻ sau này, phải coi đây là một
vấn đề trung tâm. Giáo dục đạo đức cho trẻ diễn ra qua nhiều con đường,
nhiều hoạt động, nhiều phương tiện, song có một phương tiện không thể thiếu
đó chính là những tác phẩm văn học đặc biệt là những câu chuyện cổ tích.
Đối với trẻ truyện cổ tích là thế giới đầy cảm xúc, là món ăn tinh thần
quý giá. Các chuyện cổ tích đem lại cho trẻ sự thích thú, dễ chịu, khuyến
khích trí tưởng tượng, bắt chước và học theo các nhân vật trong truyện đặc
biệt là lứa tuổi mẫu giáo bé. Đến với truyện cổ tích chính là cơ hội cho trẻ
nuôi dưỡng, tìm tòi lẽ sống, làm phong phú thêm tình cảm, đem đến niềm vui
giúp con người sống tốt hơn, nhân ái hơn. Nội dung của các câu chuyện cổ
tích mang nội dung ý nghĩa giáo dục đạo đức sâu sắc cho trẻ. Do đó thông qua
2
các tác phẩm văn học đặc biệt là các câu chuyện cổ tích đã trở thành một
phương tiên giáo dục đạo đức không thể thiếu cho trẻ mầm non.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Nhận thấy rõ ý nghĩa của các câu chuyện cổ tích đối với việc giáo dục
đạo đức cho trẻ, tại các cơ sở mầm non, các câu chuyện cổ tích đã được sử
dụng như một phương tiện hữu hiệu góp phần giáo dục đạo đức cho trẻ. Các
câu chuyện cổ tích luôn được phối hợp trong nhiều hoạt động khác nhau.
Hầu hết các giáo viên cơ sở đều nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của
các câu chuyện cổ tích đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ. Dựa trên nội
dung của các câu chuyện cổ tích giáo viên đã chuyển tải nội dung giáo dục
đạo đức đến trẻ. Tuy nhiên, việc giáo dục còn áp đặt, gò bó, thụ động, nội
dung giáo dục còn rất chung chung và giáo điều.
Bản thân tôi là một sinh viên học chuyên ngành giáo dục mầm non, tôi
đã nhận thức được vai trò giáo dục đạo đức của các câu chuyện cổ tích nhưng
tôi vẫn còn lúng túng và gặp nhiều khó khăn trong quá trình khai thác và
chuyển tải nội dung giáo dục đạo đức từ các câu chuyện cổ tích đến trẻ. Chính
vì những lý do trên nên tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu, mong muốn góp
phần khắc phục được những hạn chế trên và bản thân tích lũy được những
kinh nghiệm trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên lý luận và khảo sát thực trạng cũng như nguyên nhân
dẫn đến thực trạng, chúng tôi đề xuất một số biện pháp nâng cao kết quả giáo
dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo bé thông qua các câu chuyện cổ tích.
3
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số vấn đề về cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo bé
thông qua các câu chuyện cổ tích.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao kết quả giáo dục
đạo đức cho trẻ mẫu giáo bé thông qua các câu chuyện cổ tích.
3. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo bé thông qua các câu
chuyện cổ tích tại trường mầm non Kim Chung- Đông Anh- Hà Nội
4. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo bé tại trường mầm non
Kim Chung - Đông Anh - Hà Nội
5. Mức độ và phạm vi nghiên cứu
a. Mức độ nghiên cứu
Đề tài chủ yếu nghiên cứu về thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu
giáo bé thông qua các câu chuyện cổ tích.
b. Phạm vi nghiên cứu
Trường mầm non Kim Chung- Đông Anh- Hà Nội (khu Hậu, khu Nhuế,
khu Bầu).
6. Giả thuyết khoa học
Vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua các câu chuyện cổ tích đã
được các giáo viên tại khu vực quan tâm và chú trọng. Giáo dục đạo đức được
tiến hành trong tất cả các nội dung giáo dục nhưng kết quả đạt được chưa cao
do nhiều nguyên nhân khác nhau. Chính vì vậy, tôi đưa ra một số đề xuất về
biện pháp nhằm góp phần nâng cao kết quả giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo
bé thông qua các câu chuyện cổ tích.
4
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đọc sách
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của hoạt động
- Phương pháp thống kê toán học
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo là đề tài được nhiều người quan tâm.
Một số công trình nghiên cứu khoa học về đề tài này đã thành công như:
- Đào Thị My, “Văn học thiếu nhi với giáo dục đạo đức cho trẻ mầm
non”, ĐHSPHN, 2000.
- Nguyễn Văn Tuân, “Sự hình thành các giá trị đạo đức ở trẻ mẫu giáo 56 tuổi”, ĐHSPHN, 1997.
- Trương Hà Thục Trinh, “Thực trạng giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học tại trường mầm non
Ninh Hòa”.
Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về “Thực trạng giáo dục
đạo đức cho trẻ mẫu giáo bé thông qua các câu chuyện cổ tích”.
1.2. Một số vấn đề về giáo dục đạo đức
1.2.1. Khái niệm giáo dục [1]
+ Hiểu theo nghĩa rộng: Giáo dục là một hoạt động có mục đích, có tổ
chức, có kế hoạch giữa nhà giáo dục và người được giáo dục, nhằm hình
thành ở người được giáo dục một cách tự giác, tích cực, độc lập, những quan
điểm, niềm tin, định hướng giá trị lí tưởng xã hội chủ nghĩa, những động cơ,
thái độ, kĩ năng, kĩ xảo, thói quen đối xử trong các quan hệ chính trị, đạo đức,
pháp luật…thuộc các lĩnh vực đời sống xã hội.
+ Hiểu theo nghĩa hẹp: Giáo dục là bộ phận của quá trình sư phạm toàn
vẹn, chức năng của giáo dục là xây dựng ý thức, tình cảm, hành vi đạo đức
đúng đắn cho người được giáo dục.
6
1.2.2. Khái niệm đạo đức [11]
+ Dưới góc độ xã hội: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt
được phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu chuẩn mực điều
chỉnh( chi phối) hành vi của con người trong các mối quan hệ xã hội, đạo đức
phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp sự tồn tại xã hội. Do đó, đạo đức biến đổi
theo sự biến đổi của tồn tại xã hội.
Đạo đức là phương thức điều chỉnh hành vi của con người. Nếu pháp luật
điều chỉnh hành vi của con người bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước thì
đạo đức điều chỉnh hành vi của con người bằng sức mạnh của dư luận xã hội.
+ Dưới góc độ cá nhân: Đạo đức chính là phẩm chất, nhân cách của con
người phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi thói quen và cách ứng xử của
họ trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội; giữa bản thân
họ với người khác, với chính bản thân mình.
1.2.3. Khái niệm giáo dục đạo đức [2]
+ Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức từ
nhiều phía với những hình thức khác nhau nhằm hình thành cho con người
những hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội.
+ Giáo dục đạo đức là một bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của
giáo dục nhân cách con người mới. Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài
được diễn ra ngay từ khi còn thơ bé cho đến khi trưởng thành, thậm chí
suốt cuộc đời.
1.3. Giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo
1.3.1. Khái niệm [2]
Giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo: Là quá trình tác động có mục đích,
có kế hoạch nhằm trang bị cho trẻ những hiểu biết sơ đẳng về những yêu cầu
7
của chuẩn mực hành vi đạo đức trong các mối quan hệ ứng xử hàng ngày.
Trên cơ sở đó hình thành cho trẻ những phẩm chất đạo đức, những nét tính
cách của con người Việt Nam mới.
1.3.2. Ý nghĩa của giáo dục đạo đức đối với trẻ mẫu giáo[11]
Một đứa trẻ không phải sinh ra đã có đạo đức, có nhân cách mà đạo đức
và nhân cách là kết quả của quá trình giáo dục và tự giáo dục. Bàn về vấn đề
này, Hồ Chủ Tịch khẳng định:
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài được diễn ra ngay từ khi còn
thơ bé cho đến khi trưởng thành, thậm chí suốt cuộc đời. Vì thế, việc giáo dục
đạo đức cần phải bắt đầu ngay từ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo và phải coi đây là một
vấn đề trung tâm.
Đối với trẻ mầm non, dưới tác động giáo dục của người lớn, bằng những
kinh nghiệm trực tiếp ngay từ những năm đầu tiên của cuộc đời, đứa trẻ đã có
thể nắm được những khái niệm, những biểu tượng đạo đức sơ đẳng, như thế
nào là tốt, thế nào là xấu, là ngoan, hư, cái gì được phép làm và cái gì không
được phép làm. Trẻ bắt đầu có những hành vi phù hợp với những khái niệm
đó và dần dần trẻ biết đánh giá về những điều ấy. Nhờ đó mà những biểu
tượng, khái niệm đạo đức, hành vi đạo đức được hình thành nhanh chóng ở trẻ
và những ấn tượng đầu tiên đó thường để lại dấu ấn suốt đời. Bởi vậy nếu
ngay từ tuổi mầm non chúng ta chú trọng giáo dục cho trẻ những khái niệm,
hành vi đạo đức đúng đắn sẽ đặt cơ sở, nền tảng cho bộ mặt đạo đức mai sau
của trẻ, đồng thời tạo cho trẻ một động lực quan trọng giúp trẻ phát triển và
hành động đúng hướng trong quá trình trưởng thành. Mặt khác, ở giai đoạn
8
tuổi mẫu giáo đặc biệt là tuổi lên ba ở trẻ bắt đầu hình thành ý thức và tự ý
thức, cái tôi xuất hiện, trẻ bắt đầu biết phân biệt mình với người khác, có nhu
cầu lớn muốn học hỏi và trở thành người lớn. Đồng thời, lứa tuổi này tính
hình tượng và tính dễ cảm xúc chi phối mạnh hoạt động tâm lí của trẻ, khiến
cho trẻ dễ đồng cảm với những người xung quanh, nhất là những người nghèo
khổ. Đây là thời điểm hoàng kim để giáo dục lòng nhân ái và những phẩm
chất đạo đức cho trẻ. Đó cũng là thời điểm thuận lợi để xây dựng nền tảng
đạo đức cho mỗi người. Do vậy cần phải giáo dục đạo đức cho trẻ dù là
những khái niệm sơ đẳng nhất, nhưng chính xác và phản ánh được đạo đức
của xã hội, mang bản sắc dân tộc Việt Nam. Đồng thời, người lớn cần phải
uốn nắn những nhận thức, hành vi thái độ lệch chuẩn của trẻ ngay từ bé, tránh
để những lệch lạc ấy trở thành thói quen khó sửa, khó uốn. Như cổ nhân
xưa đã dạy:
“Tre non dễ uốn, tre già nổ đốt”
“Bé chẳng vin, cả gẫy cành”
Hơn nữa đối với trẻ mầm non, giáo dục đạo đức còn ảnh hưởng tới việc
giáo dục toàn diện về thể chất, lao động, trí tuệ và thẩm mĩ cho trẻ:
+ Đối với trí dục: Giáo dục đạo đức là tiền đề cần thiết để mở rộng hiểu
biết về quan hệ đạo đức (giữa cá nhân với nhau, cá nhân với tập thể). Hình
thành, phát triển khả năng nhận xét, đánh giá các thái độ, hành vi đạo đức của
bản thân, của người khác.
+ Đối với giáo dục thẩm mĩ: Trình độ phát triển đạo đức có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến giáo dục thẩm mĩ. Những xúc cảm, tình cảm đạo đức tích cực ,
những hành vi văn minh là cơ sở của giáo dục thẩm mĩ. Chẳng hạn trẻ thích
sạch sẽ, gọn gàng trong sinh hoạt cá nhân, tập thể, thích làm được nhiều việc
9
tốt giúp đỡ cô giáo, cha mẹ, bạn bè…Đó chính là giúp trẻ biết hướng tới cái
đẹp, thích cái đẹp và có mong muốn được tạo ra cái đẹp.
+ Đối với giáo dục thể chất và lao động: Việc giáo dục đạo đức cho trẻ
có những thói quen hành vi sạch sẽ, văn minh, thích làm những công việc vừa
sức như tự xúc ăn, làm đỡ công việc giúp đỡ cô giáo, cha mẹ, bạn bè…lấy
thìa, bát đĩa, đồ chơi…Chính là góp phần phát triển thể lực và giáo dục thói
quen lao động cho trẻ.
1.3.3. Nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo [2]
- Hình thành những tình cảm đạo đức có vị trí quan trọng đầu tiên đối
với trẻ. Bởi lẽ, ở lứa tuổi này mọi hành động của trẻ đều bị chi phối bởi tình
cảm. Khi trẻ yêu mến ai thì trẻ luôn nghe theo lời người đó và sẵn sàng làm
mọi việc để người đó vui lòng và yêu quý trẻ. Mặt khác, tình cảm đạo đức là
cơ sở, động lực thúc đẩy trẻ có những hành vi, việc làm tốt.
- Hình thành các kĩ xảo và thói quen hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo có
tầm quan trọng hàng đầu trong quá trình đức dục. Đặc điểm đặc trưng của trẻ
mẫu giáo là khả năng bắt chước. Khi bắt chước hành vi của người khác, nhiều
trẻ chưa hiểu được nội dung đạo đức hành vi của mình, do vậy dễ dẫn đến
hành vi sai. Bởi vậy, cần hình thành ở trẻ những thói quen hành vi khác nhau
trong quan hệ ứng xử với người lớn, bạn bè, nơi công cộng, với chính bản
thân mình,…
- Nhiệm vụ cơ bản thứ ba là hình thành ở trẻ những biểu tượng về chuẩn
mực hành vi đạo đức và động cơ đạo đức đúng đắn. Trên cơ sở có tình cảm
đạo đức đúng đắn, đứa trẻ tích cực, tự giác thực hiện những hành vi phù hợp
với các yêu cầu của chuẩn mực hành vi đạo đức, dần dần nhận ra được các yêu
cầu của chuẩn mực hành vi (thế nào là ngoan, thế nào là hư, là xấu…).
10
- Các nhiệm vụ giáo dục tình cảm đạo đức, hình thành kĩ xảo và thói
quen hành vi đạo đức được thực hiện thống nhất trong quá trình giáo dục đạo
đức cho trẻ mẫu giáo.
1.3.4. Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo [2]
* Giáo dục lòng nhân ái và những nhân tố sơ đẳng của lòng yêu quê
hương đất nước
+ Giáo dục tình yêu gia đình:
. Trẻ biết kính trọng, vâng lời, lễ phép, yêu quý ông bà, cha mẹ,
anh chị…
. Trẻ biết giúp đỡ ông bà, cha mẹ, anh chị…, tự nguyện làm những việc
tốt cho người thân vui lòng.
. Trẻ biết vâng, dạ, biết cảm ơn khi người lớn cho quà hay giúp đỡ, biết
xin lỗi khi mình có lỗi.
. Biết quan tâm đến ông bà, cha mẹ…khi ốm đau, không quấy rầy la hét
ồn ào khi mọi người đang bận việc.
+ Giáo dục tình yêu và thái độ quan tâm đến mọi người xung quanh:
. Đối với bạn cùng tuổi: Trẻ thân ái, đoàn kết với bạn bè; sẵn sàng
nhường đồ chơi hay quà bánh cho bạn; giúp đỡ, nhường nhịn bạn trong khi
chơi và trong học tập; thông cảm, chia sẻ với bạn khi bạn có chuyện buồn;
không trêu chọc, gây gổ với bạn…
. Đối với em bé hơn mình: Biết chơi hòa thuận và bày cho em bé chơi
cùng; biết nhường nhịn, dỗ dành em bé…
. Đối với người tàn tật hay những người gặp hoàn cảnh khó khăn: Biết
yêu thương, tôn trọng, thông cảm với những người tàn tật hay những người
gặp hoàn cảnh khó khăn; không trêu chọc hay nhại tật của họ, biết giúp đỡ họ
phù hợp với khả năng của bản thân.
11
. Quan tâm đến người lao động: Biết yêu thương, tôn trọng, lễ phép với
mọi người lao động như bác sĩ, chú công nhân, cô cấp dưỡng…
+ Giáo dục tình cảm với trường, lớp, với thầy cô giáo:
. Trẻ yêu ngôi trường của mình, thích được đến trường, yêu quý và thoải
mái khi tới lớp.
. Trẻ yêu thương, kính trọng, lễ phép, biết ơn và nghe lời thầy cô giáo.
+ Giáo dục tình yêu quê hương đất nước, Bác Hồ:
. Trẻ yêu quý, kính trọng Bác Hồ; biết lá cờ Tổ quốc
. Biết quan tâm đến những ngày lễ lớn, những sự kiện quan trọng, những
truyền thuyết lịch sử trong nước hoặc ở địa phương, biết những biến đổi tích
cực trong đời sống địa phương.
+ Giáo dục tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, có ý thức bảo
vệ thiên nhiên
. Đối với thế giới đồ vật: Có thái độ nâng niu, giữ gìn, không làm bẩn
đồ dùng đồ chơi, biết thu dọn, cất đồ dùng đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp
sau khi chơi.
. Đối với vật nuôi: Trẻ thương yêu, chăm sóc, không đánh mắng chúng.
. Đối với cây trồng: Trẻ nâng niu, chăm sóc cây cối trong vườn; không
hái hoa bẻ cành; trẻ yêu thích ngắm cảnh thiên nhiên đẹp…
* Giáo dục những hành vi, thói quen đạo đức đúng đắn
+ Thói quen văn minh trong giao tiếp với những người xung quanh như:
Chào hỏi lễ phép khi gặp người lớn, biết cảm ơn khi được người khác giúp
đỡ, biết xin lỗi khi làm phiền người khác; đoàn kết với bạn bè; nhường nhịn
giúp đỡ em nhỏ; biết chia sẻ tình cảm với mọi người xung quanh.
+ Thói quen vệ sinh trong sinh hoạt: Có hành vi văn hóa vệ sinh (giữ mặt
mũi, chân tay sạch sẽ; ăn uống gọn gàng; đi ngủ đúng giờ…), có tư thế đi,
12
đứng thoải mái, nói năng rõ ràng dứt khoát; có ý thức tự lực trong sinh hoạt
hàng ngày…
+ Thói quen bảo vệ, giữ gìn đồ dùng, đồ chơi, thói quen gọn gàng,
ngăn nắp,…
+ Thói quen văn minh nơi công cộng: không vứt rác bừa bãi , không vẽ
bẩn lên tường, không bẻ cành, ngắt hoa nơi công cộng, không cười nói ồn ào
làm ảnh hưởng đến người khác…
+ Trên cơ sở những thói quen, cần hình thành ở trẻ những đức tính
cần thiết:
. Tính tự lập: Thích tự giác làm những việc trẻ tự làm được, không nhõng
nhẽo, không ỷ lại vào người lớn.
. Tính mạnh dạn: Mạnh dạn khi giao tiếp với mọi người, khi đến chỗ xa
lạ, khi uống thuốc, khi hát múa, không nhút nhát, e dè…
. Tính ngăn nắp: Ăn mặc gọn gàng, sắp xếp đồ chơi ngăn nắp sau khi
chơi, không bày bừa, vứt đồ chơi lung tung.
. Tính kỉ luật: Biết nghe lời, biết tôn trọng những quy tắc sinh hoạt
chung, biết tự kiềm chế…
* Giáo dục ý thức đạo đức
Giáo dục ý thức đạo đức là việc giúp trẻ hiểu được tính đúng đắn của các
chuẩn mực hành vi đạo đức mà người lớn yêu cầu trẻ phải thực hiện. Chẳng
hạn, cô giải thích cho trẻ hiểu người con ngoan là người biết vâng lời ông bà,
cha mẹ, cô giáo…người bạn tốt là người biết nhường nhịn đồ chơi cho bạn,
biết giúp đỡ bạn khi cần thiết,… Như vậy, việc hình thành những biểu tượng
về các chuẩn mực hành vi đạo đức như thế nào là tốt, thế nào là xấu, thế nào
là ngoan, thế nào là hư,…cần dựa trên những hình ảnh, hành vi cụ thể để trẻ
dễ hiểu, dễ nhớ, dễ bắt chước. Đồng thời, người lớn cần phải mở rộng, nâng
dần yêu cầu về chuẩn mực hành vi đạo đức trong quá trình rèn luyện thói
quen đạo đức cho trẻ. Trên cơ sở đó nâng cao khả năng đánh giá và tự đánh
giá thái độ, hành vi đạo đức của người khác và của bản thân.
13
1.3.5. Nguyên tắc giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo [2]
- Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích của giáo dục
- Nguyên tắc giáo dục trong hoạt động và giao tiếp
- Nguyên tắc tôn trọng nhân cách trẻ kết hợp với yêu cầu cao dần đối với trẻ.
- Nguyên tắc thống nhất sự tác động đến tình cảm ý thức và hành vi
- Nguyên tắc đối xử cá biệt
1.3.6. Phương pháp giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo [2]
- Phương pháp dùng tình cảm
Đối với trẻ nhỏ, trong việc giáo dục đạo đức dùng mệnh lệnh hay lí lẽ sẽ
không có tác dụng tích cực, trẻ giai đoạn này có sự phát triển mãnh liệt của
những xúc cảm, tình cảm, trẻ có nhu cầu được yêu thương và cũng dễ yêu
thương lại mọi người. Vì vậy, những tác động giáo dục đến trẻ trước hết là
bằng con đường tình cảm.
Phương pháp dùng tình cảm trong giáo dục đạo đức cần được hiểu theo
hai chiều: Chiều thứ nhất là bằng tình yêu thương của mình người lớn hết
lòng dạy dỗ bảo ban trẻ, chiều ngược lại là tạo ra những tình huống để trẻ có
cơ hội đáp lại tình cảm của người lớn bằng những hành vi đạo đức tốt đẹp.
Đây là phương pháp chủ đạo xuyên suốt quá trình hình thành hệ thống thái độ
và hành vi ứng xử có đạo đức cho trẻ. Vì ngay trong bản thân phương pháp
này đã chứa đựng cả một nội dung sâu sắc của GDĐĐ đó là lòng nhân ái.
- Phương pháp dùng nghệ thuật
Những tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo ra chủ yếu theo quy luật của
tình cảm. Đặc điểm của các tác phẩm nghệ thuật là giàu hình tượng, sinh
động, dễ gợi cảm, được con người cảm thụ một cách trực tiếp. Vì vậy mà
nghệ thuật rất gần với tuổi thơ. Những bài thơ, câu chuyện, điệu hát bằng sức
truyền cảm mãnh liệt của mình đã để lại những dấu ấn đẹp đẽ, sâu đậm trong
tâm hồn tuổi thơ. Nghệ thuật sáng tạo theo quy luật của tình cảm nên nghệ
thuật chứa trong đó những nội dung giáo dục đạo đức sâu sắc. Phải kể đến
14
những tác phẩm nghệ thuật gần gũi với trẻ thơ như tác phẩm văn học, tác
phẩm âm nhạc, tác phẩm tạo hình… Tại trường mầm non, hàng tuần trẻ luôn
được tiếp xúc với các tác phẩm nghệ thuật. Đây là điều kiện tốt để giáo dục
đạo đức cho trẻ. Thông qua việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học,
thông qua hoạt động tạo hình và hoạt động âm nhạc trẻ lĩnh hội được những
tình cảm, thói quen, hành vi đạo đức đúng đắn. Do vậy, phương pháp dùng
nghệ thuật là phương pháp giáo dục đạo đức cho trẻ một cách nhẹ nhàng mà
đạt hiệu quả rất cao.
- Phương pháp dùng trò chơi
Chơi đối trẻ nhất là trẻ mẫu giáo thường gây nhiều hứng thú và say mê
nhất. Trò chơi tác động mạnh vào đời sống tình cảm của trẻ. Chơi là người
bạn đồng hành của trẻ thơ, chơi là cuộc sống của trẻ, không chơi trẻ không thể
phát triển được. Khi tham gia vào trò chơi trẻ học được cách nhường nhịn,
giúp đỡ, hỗ trợ, hợp tác với nhau một cách tích cực, trẻ được trải nghiệm
những thái độ đạo đức và tập dượt được những hành vi ứng xử đối với mọi
người xung quanh.
- Phương pháp luyện tập
Đây là những phương pháp chủ đạo để thực hiện các nhiệm vụ của công
tác giáo dục đạo đức, nhằm biến những khái niệm đạo đức thành những hành
vi, thói quen đạo đức. Chỉ trong hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ với
mọi người trẻ mới lĩnh hội được qui tắc hành vi trong cuộc sống, mới tập
hành động theo các tiêu chuẩn đạo đức, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo, thói
quen đạo đức, trên cơ sở đó trẻ tích lũy được những kinh nghiệm thực tế
phong phú cho bản thân, nhờ vậy mà có những thái độ, những hành vi đúng
đắn trong cuộc sống hàng ngày như lễ phép, tôn trọng người lớn, đoàn kết với
bạn bè, nhường nhịn, giúp đỡ bạn bè, em nhỏ, giữ gìn đồ dùng đồ chơi…
15
- Phương pháp nêu gương, giải thích
Phương pháp nêu gương và giải thích rất thường xuyên được sử dụng
trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ. Trong đó, giải thích là phương pháp giáo
viên dùng lời nói giúp trẻ hiểu được ý nghĩa hoặc lý do của một hành vi đạo
đức, qui tắc đạo đức, phân biệt được điều tốt, điều xấu nhằm hướng trẻ vào
thực hiện một cách tự giác những yêu cầu đạo đức. Còn nêu gương là dùng
những tấm gương tốt, điển hình về những hành vi, phẩm chất đạo đức để giáo
dục trẻ noi theo.
- Phương pháp đánh giá
Nhóm phương pháp đánh giá gồm có phương pháp khen ngợi và chê
trách. Trong đó, khen ngợi là phương pháp tác động đến trẻ nhằm xác nhận,
đánh giá biểu dương những tiến bộ mà trẻ đã đạt được. Ngược lại, chê trách là
một hình thức đánh giá hành vi giúp trẻ tránh được những hành động xấu.
Dùng phương pháp chê trách nhằm gây cho trẻ phạm sai lầm một cảm xúc hối
hận, từ đó giúp trẻ ngăn ngừa được những hành động xấu.
- Phương pháp thống nhất tác động giáo dục
Trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ nhỏ, khi mà mọi nét tính cách đang
ở thời điểm ban đầu của sự hình thành nhân cách thì những tác động cần tập
trung về một hướng. Những tác động không chỉ thống nhất trong trường Mầm
non mà phải thống nhất tư tưởng và hành động giáo dục giữa trường Mầm
non với gia đình, giữa cô giáo với cha mẹ trẻ. Đây là một đảm bảo bằng vàng
cho việc hun đúc nên một tính cách đạo đức ở trẻ, không những ở giai đoạn
đầu tiên mới được hình thành mà ở cả những bước phát triển sau này.
1.3.7. Đánh giá kết quả giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo
Kết quả giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo đó là: Bước đầu hình thành
lòng nhân ái, yêu thương, tôn trọng mọi người thân trong gia đình, nhà trường
16
và xã hội. Tiếp thu những quy tắc văn hóa và lễ phép đơn giản nhất bước đầu
hình thành những đức tính tốt. Và kết quả quan trọng hơn đó là mức độ tự
giác trong mọi hoạt động của trẻ.
1.4. Giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo bé thông qua các câu
chuyện cổ tích
1.4.1. Đặc điểm tâm lý trẻ [6]
Trẻ lên ba là một mốc thay đổi quan trọng trong cuộc đời, nó được coi là
thời kì hoàng kim để hình thành và phát triển những yếu tố nhân cách đầu
tiên. Thời kì này trẻ có cái nhìn về thế giới rộng mở hơn. Bởi vậy, đứa trẻ đã
tự tách mình ra khỏi người khác và biết mình là một cá nhân độc lập, trẻ tự
hình thành ý thức và tự ý thức về bản thân và người khác. Trẻ bắt đầu hiểu
được sự phức tạp của thế giới xung quanh và nhận ra sự khác nhau giữa thực
và giả, từ đó giúp trẻ xây dựng nhữnng khái niệm và biểu tượng đa dạng,
phong phú về thế giới xung quanh.
Từ những đặc điểm tâm lý trên, ta có thể nhận thấy lứa tuổi này là thời
điểm tuyệt vời để giáo dục và phát triển đạo đức nhân cách cho đứa trẻ.
Những câu chuyện cổ tích luôn luôn thu hút lôi cuốn trẻ thơ, với những nhân
vật huyền thoại, mơ mộng, thần tiên…. Những yếu tố ấy giúp trẻ đi vào thế
giới cổ tích như ngôi nhà tâm hồn của mình, một thế giới biết đâu là xấu, là
tốt, là thiện, là ác… đặc biệt ở trẻ lên ba, trẻ thích học hỏi và mong
muốn,tưởng tượng để trở thành những nhân vật trong truyện… thỏa mãn nhu
cầu được trở thành người lớn của trẻ.
1.4.2. Khái niệm truyện cổ tích [6]
Truyện cổ tích là một thể loại tự sự dân gian tiêu biểu, có vị trí đặc biệt
quan trọng trong mỗi nền văn học, nó xuất hiện trong xã hội có đấu tranh giai
cấp, hướng tới phản ánh hiện thực cuộc sống đó. Khác với nhiều thể loại,
truyện cổ tích tiếp cận hiện thực đấu tranh giai cấp đó từ góc độ đạo đức. Cho
17
nên, cảm hứng trung tâm của truyện cổ tích chính là vấn đề Thiện - Ác
trong cuộc đời.
1.4.3. Ý nghĩa giáo dục đạo đức cho trẻ qua các câu chuyện cổ tích
Truyện cổ tích đáp ứng nhiều nhu cầu tinh thần và là món ăn không thể
thiếu của trẻ. Lứa tuổi mẫu giáo là một giai đoạn phát triển phức tạp và có vị
trí đặc biệt quan trọng trong đời sống con người. Cùng với sự hoàn thiện dần
về thể chất, lứa tuổi mẫu giáo có những đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt, tư
duy hình tượng chiếm ưu thế, giàu cảm xúc, thích tìm tòi khám phá, ham hiểu
biết đặc biệt là lứa tuổi lên ba. Nhân cách của trẻ đang phát triển và chịu sự
chi phối tác động của nhiều yếu tố, các em dễ bắt chước. Việc để lại nhứng ấn
tượng, biểu tượng đầu tiên về cái đẹp vào tâm trí trẻ có ý nghĩa quyết định
hình thành những cảm xúc thẩm mỹ, lòng nhân ái của trẻ sau này. Bởi vậy,
truyện cổ tích là một phương tiện giáo dục hiệu quả hiệu quả đối với trẻ thơ.
Mỗi câu chuyện là một bài học sống động về phẩm chất đạo đức, biết xử lý
tinh khôn để sống đẹp với đời, biết ứng xử tốt với người xung quanh, cảm
nhận nhạy bén những tình cảm thiêng nhất trong tình cảm của con người như:
tình yêu thương, lòng hiếu thảo, sự kính trọng, lòng biết ơn, biết đùm bọc,
chia sẻ… với người thân, bạn bè, hàng xóm…
Ví dụ những câu chuyện: Ba cô gái, Tít chu nói về lòng hiếu thảo của
con cái với cha mẹ, cháu với ông bà. Thánh gióng nội dung giáo dục tình cảm
thiêng liêng với quê hương đất nước, lòng biết ơn với những người có công
với đất nước. Thạch Sanh nói về sự đói nghèo và bỏ rơi, giữa thiện và ác,
người tốt và kẻ xấu, cái giá phải trả khi làm điều ác cũng như truyện nàng
bạch tuyết và 7 chú lùn; những thế lực độc ác như truyện cô bé quàng khăn
đỏ; hay câu chuyện Tấm Cám nói về sự ganh ghét giữa anh em ruột, cái thiện
và sự nhân ái được bao bọc và cái ác phải trả giá.. đó là những câu chuyện có
nội dung giáo dục cao. Truyện cổ tích nói đến sự ác độc trong cuộc sống, các
18