Tải bản đầy đủ (.doc) (68 trang)

Lễ hội trò ngô ở làng giàng, huyện hữu lũng (lạng sơn)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.18 MB, 68 trang )

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Lễ hội Trò Ngô ở làng Giàng, huyện
Hữu Lũng (Lạng Sơn) ” tác giả khóa luận đã nhận được sự giúp đỡ của các
thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, các thầy cô trong tổ Phương pháp và đặc
biệt là sự hướng dẫn trực tiếp, tận tình của PGS.TS.GVCC. Đỗ Huy Quang.
Tác giả khóa luận xin bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành
nhất tới các thầy cô giáo đã giúp tác giả hoàn thành khóa luận này
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các cô, chú cán bộ đang công tác
tại Phòng Văn Hóa huyện Hữu Lũng đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả
khóa luận thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận
Hoàng Thị Xanh

1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận này
là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi đưới sự hướng dẫn tận tình của
PGS.TS. GVCC. Đỗ Huy Quang.
Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các
tác giả khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận
Hoàng Thị Xanh

2



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..........................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu........................................................................................1
3. Mục đích nghiên cứu....................................................................................2
4. Nhiệm vụ.......................................................................................................2
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................3
6. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................3
7. Đóng góp của khóa luận...............................................................................3
8. Bố cục của khóa luận....................................................................................3
Chương I. Lễ hôi một hoạt động văn hóa mang đậm tính nhân văn4
1.1.Khái niệm lễ hội..........................................................................................4
1.1.1. Lễ..................................................................................................5
1.1.2. Hội................................................................................................6
1.2. Vai trò của lễ hội trong đời sống người dân..............................................7
1.2.1 . Lễ hội góp phần giữ gìn nhân cách con người.............................7
1.2.2. Lễ hội đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người...........................8
1.2.3. Lễ hội góp phần giáo dục truyền thống........................................8
1.2.4. Lễ hội hướng con người trở về với cội nguồn .............................9
Chương II. Lễ hội Trò Ngô làng Giàng xã Yên Thịnh, huyện Hữu Lũng,
tỉnh Lạng Sơn.................................................................................................10
2.1. Khái quát về xã Yên Thịnh.......................................................................10
2.1.1. Khái quát về vị trí địa lý..............................................................10
2.1.2. Dân cư.........................................................................................11
2.1.3. Văn hóa xã hội ............................................................................12
2.2. Hoạt động lễ hội tại làng Giàng xã Yên Thịnh.........................................15
2.3. Nguồn gốc lễ hội Trò Ngô........................................................................17
2.4. Nội dung diễn trình lễ hội Trò Ngô làng Giàng, xã Yên Thịnh...............19
2.4.1. Chuẩn bi lễ hội..............................................................................19


3


2.4.2. Nghi lễ trong lễ hội........................................................................22
2.4.3. Các trò diễn trong lễ hội................................................................27
2.4.3.1. Trò Nhảy Dậm ( múa gươm ).....................................................27
2.4.3.2. Trò Tiến Cống............................................................................31
2.4.3.3.Trò Kén rể hay trò diễn Sĩ – Nông – Công – Thương ................32
2.4.3.4. Trò tái hiện sấm chớp mưa.........................................................39
2.4.3.5. Trò tái hiện nghề trồng lúa nước................................................39
2.4.3.6. Trò tái hiện nghề trồng dâu nuôi tằm.........................................39
Chương III. Giá trị của lễ hội và việc bảo tồn phát huy lễ hội Trò Ngô....41
3.1. Các giá trị của lễ hội.................................................................................42
3.1.1. Giá trị tinh thần.............................................................................41
3.1.2. Giá trị xã hội..................................................................................42
3.1.3. Giá trị văn hóa...............................................................................44
3.1.4. Giá trị lịch sử.................................................................................45
3.2. Bảo tồn và phát huy lễ hội................................................................47
3.2.1. Thực trạng.....................................................................................47
3.2.2. Việc bảo tồn và phát huy...............................................................49
KẾT LUẬN....................................................................................................52
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................56

4


5



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lạng sơn là một tỉnh miền núi, biên giới phía đông bắc của Tổ quốc.
Trải qua các thời kì lịch sử, Lạng Sơn là nơi diễn ra các sự kiện chính trị,
quân sự, kinh tế, văn hóa giữa nước ta với nước bạn Trung Quốc. Những năm
gần đây, cùng với sự đổi mới của đất nước lễ hội có dịp khôi phục và phát
triển. Bên cạnh những yếu tố tích cực, việc khôi phục các di tích lịch sử văn
hóa, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, công tác bảo tồn lễ hội cũng
không tránh khỏi những hạn chế cần khắc phục. Là một thành tố văn hóa phi
vật thể, lễ hội Trò Ngô ở làng Giàng xã Yên Thịnh huyện Hữu Lũng tỉnh
Lạng Sơn có nhiều nét độc đáo cần được tìm hiểu, nghiên cứu và bảo tồn.
Khác với các lễ hội của dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn, lễ hội Trò Ngô là loại
hình lễ hội mang đề tài lịch sử và nông nghiệp của dân tộc Việt vùng trung du
đồng bằng Bắc Bộ còn lưu lại ở một tỉnh miền núi. Nghiên cứu đề tài này
nhằm :
- Thấy rõ quá trình giao lưu văn hóa giữa các vùng miền, giữa dân tộc
Việt với các dân tộc Tày, Nùng, Dao và sự đa dang trong thống nhất văn hóa
các dân tộc Việt Nam.
- Đáp ứng nguyện vọng nhân dân xã Yên Thịnh huyện Hữu Lũng tỉnh
Lạng Sơn muốn khôi phục lại một lễ hội dân gian truyền thống đặc sắc của
vùng.
2. Lịch sử nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu
của các nhà nghiên cứu về lễ hội Trò Ngô ở làng Giàng xã Yên Thịnh huyện
Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn. Năm 1991, trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật Lạng
Sơn giới thiệu “Lễ hội Xuân đình làng Giàng”; Năm 1998, Viện âm nhạc Việt
Nam phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin Lạng Sơn dựng băng hình tư liệu
“Trò Ngô”; Năm 1999, “Trò Ngô và phong tục người Kinh ở nông thôn”
được đăng tải trong cuốn Địa chí Lạng Sơn; Cũng trong năm 1999 trong cuốn
“Mũi tên thần” đã giới thiệu “Hội xuân làng Giàng”


1


Về tên gọi “Trò Ngô” theo đa số ý kiến cho rằng: “Trò Ngô” là trò tái
hiện lại trận đánh của quân dân làng Giàng chống bọn phong kiến phương
Bắc trước đây. Nhân dân đã lấy tiêu điểm của một trò diễn để đặt tên lễ hội.
Ngoài tên gọi lễ hội Trò Ngô, lễ hội này còn có một tên gọi khác là lễ
hội “Dài” có ý nghĩa là dài về thời gian, vì hai năm lễ hội này mới được tổ
chức một lần và quy mô hơn lễ hội khác của làng Giàng.
3. Mục đích nghiên cứu
- Giúp các thế hệ ngày nay hiểu về cội nguồn của mình, giúp các nhà
quản lý xã hội, quản lý văn hóa am hiểu về một dân tộc, một cộng đồng khu
vực và có những hoạch định chính sách để kế thừa và phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống trong sự nghiệp phát triển đất nước.
- Nghiên cứu lễ hội còn góp phần thực hiện nghị quyết Trung ương V
khóa VIII của ban chấp hành Trung ương Đảng về “Xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
4. Nhiệm vụ
- Sưu tầm hệ thống tư liệu về lễ hội Trò Ngô ở làng Giàng, trên cơ sở
đó xem xét các giá trị văn hóa truyền thống, chọn lọc bảo tồn bản sắc văn hóa
dân tộc, loại bỏ các yếu tố không lành mạnh làm mai một bản sắc văn hóa dân
tộc.
- Sưu tầm, khảo cứu, khôi phục những nội dung của lễ hội, duy trì lễ
hội theo định kì hàng năm. Cùng với việc khôi phục có thể loại bỏ được các
yếu tố lai căng do cuộc sống hiện đại mang lại, đưa các hoạt động văn hóa
văn nghệ, trò chơi, trò diễn mang tính thể thao mang không khí vui tươi lành
mạnh vào trong lễ hội.
- Tương lai, có thể xây dựng lễ hội Trò Ngô thành lễ hội “tâm điểm”
cho các vùng phụ cận gồm các xã Yên Bình, Yên Sơn, Yên Vượng, Hữu

Liên...và gắn liền với phát triển du lịch văn hóa, du lịch sinh thái.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là phần lễ và phần hội của lễ hội Trò Ngô ở
làng Giàng xã Yên Thịnh huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn.
- Phạm vi nghiên cứu: không gian lễ hội Trò Ngô ở làng Giàng xã Yên
Thịnh huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn từ nguồn gốc đến ngày nay.
2


6. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài lễ hội “Trò Ngô làng Giàng” xã Yên Thịnh huyện
Hữu Lũng, phương pháp nghiên cứu trong khóa luận gồm:
- Điền dã thực địa.
- Tham khảo các tư liệu của các bài viết đăng trên sách báo, tạp chí,
băng hình của các nhà nghiên cứu đi trước.
- Điều tra, phỏng vấn, quan sát, tổng hợp, phân tích chắt lọc những
thông tin đáng tin cậy liên quan đến nội dung của lễ hội.
7. Đóng góp của khóa luận
Căn cứ vào kết quả khảo sát thực địa cũng như nội dung đã trình bày,
khóa luận tốt nghiệp với đề tài lễ hội Trò Ngô ở làng Giàng xã Yên Thịnh
huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn sẽ bổ sung thêm nguồn tư liệu về lễ hội “Trò
Ngô”, đóng góp cho lĩnh vực nghiên cứu văn hóa dân gian ở Việt Nam thêm
phong phú, đồng thời cung cấp thêm một loại hình lễ hội mới ở Lạng Sơn.
8. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục và ảnh tư liệu,
khóa luận được sắp xếp như sau:
Chương I: Lễ hôi hoạt động văn hóa mang đậm tính nhân văn
Chương II: Lễ hội Trò Ngô làng Giàng xã Yên Thịnh, huyện Hữu Lũng, tỉnh
Lạng Sơn
Chương III: Giá trị của lễ hội và việc bảo tồn phát huy lễ hội Trò Ngô


CHƯƠNG I
LỄ HỘI MỘT HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA
MANG ĐẬM TÍNH NHÂN VĂN
1.1. Khái niệm lễ hội
Là một quốc gia có truyền thống lâu đời việt nam đất đất nước có tới
hơn 500 lễ hội – theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, diễn
ra khắp bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, trải dài trên khắp đất nước. Mỗi lễ hội

3


lại mang trong nó một đặc điểm, ý nghĩa, giá trị riêng góp phần làm phong
phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc.
Xét về cội nguồn, lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa làng xã. Bởi
mỗi lễ hội đều bắt đầu từ làng xã. Mỗi hội làng có phong tục tập quán, nghi lễ
tổ chức và truyền thống riêng. Nói cách khác tính đa dạng là bản chất của lễ
hội. Lễ hội còn là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng được hình thành, biến đổi
và phát triển. Vì vậy, nó tích hợp nhiều tầng văn hóa. Mỗi lớp văn hóa gắn
liền với một biểu tượng mang một ý nghĩa nhất định, nên lễ hội mang tính đa
nghĩa, đa biểu tượng tạo nên sự đa dạng của lễ hội ngày nay. Ngôn ngữ của lễ
hội là ngôn ngữ biểu tượng, vượt lên ý nghĩa cụ thể đó là sự thăng hoa từ cuộc
sống hiện thực. Đó là sản phẩm của văn hóa tinh thần do nhân dân sáng tạo
ra, là một biểu hiện của nền văn hóa. Chính vì vậy, lễ hội không chỉ là một
hiện tượng văn hóa mà còn là một hiện tượng xã hội.
Lễ hội là một hình thức diễn xướng nguyên hợp và tổ hợp giữa “Lễ”
và “Hội”, giữa các hình thức nghệ thuật khác nhau như ca, vũ, hội họa giữa
vui chơi giải trí với đấu sức thi tài, giữa tính thiêng liêng của thần linh với
trần tục của người đời. Ở nước ta, lễ hội của người việt xuất hiện từ rất sớm.
Vào thời kì nền văn hóa Đông Sơn ( từ khoảng 6, 7 thế kỉ Trước công nguyên

đến đầu công nguyên), lễ hội của người Việt đã rất phong phú, thể hiện bản
sắc văn hoá độc đáo của cả dân tộc. Tuy nhiên trải qua nhiều thế kỉ thăng trầm
cho đến nay tên gọi đích thực của lễ hội vẫn chưa được các nhà nghiên cứu
định danh một cách thống nhất. Người này gọi là “lễ hội”, người kia gọi là
“hội lễ”, người khác lại gọi là “hội hè”, “hội làng”.
Có thể nói “ Lễ hội là một dạng văn hóa do con người sáng tạo ra nhằm
thỏa mãn các nhu cầu về tâm linh, tín ngưỡng, vui chơi giải trí được hình
thành qua một quá trình lâu dài do tác động của văn hóa và lịch sử”.

4


Lễ hội là cách gọi dân gian và cũng là cách gọi của các nhà văn hóa, dù
hiểu và gọi theo cách nào thì thuật ngữ này cũng biểu hiện hai mặt nội dung
chính đó là phần “Lễ” và “Hội”.
1.1.1. Lễ
Trong lễ hội, phần “Lễ” là những nghi thức bắt buộc mang tính chất
trang nghiêm trọng thể khi mở đầu ngày hội.
Theo Từ điển Việt Nam thì “Lễ” là những “ Nghi thức tiến hành nhằm
đánh dấu hay kỉ niệm một sự việc, sự kiện nào đó có ý nghĩa lịch sử”. Lễ còn
là nơi thể hiện các phép tắc, các nghi thức ứng sử của người với người, của
người với tự nhiên và xã hội. Các nghi thức của “Lễ” biểu hiện sự cầu mong,
phù hộ độ trì của thần linh giúp con người tìm các giải pháp tâm lý. Lễ hội là
dịp để con người tìm đến một thế giới khác, thế giới tâm linh, thế giới của
niềm tin để hi vọng một cuộc sống an bình, thịnh vượng. Có thể nói, lễ là
phần đạo - phần tâm linh của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh và
đảm bảo nề nếp cho “hội” được hoàn thiện hơn.
Phần nghi lễ của ngày hội thường mang tính giáo dục và tưởng niện sâu
sắc. Đây là phần không thể thiếu trong bất kì lễ hội nào. Dù là hội lớn hay hội
nhỏ cũng phải có phần nghi lễ với những quy định rất chặt chẽ, nghiêm túc và

thể hiện một cách rất công phu, đầy niềm tin sâu sắc. Phần nghi lễ này có rất
nhiều loại hình khác nhau tùy thuộc vào nội dung lễ hội và tôn giáo, tín
ngưỡng, kỉ niệm sự kiện lịch sử hay tưởng niệm danh nhân văn hóa, anh hùng
dân tộc... Yếu tố nghi lễ trong lễ hội rất quan trọng, nó tạo nên giá trị tâm linh
thiêng liêng, tính thẩm mĩ, hình thành một tâm thức chung cho cộng đồng
tham dự lễ hội.
Một hội lễ quy củ thường có bảy lễ: Lễ rước nước, Lễ mộc dục, Lễ tế
gia quan, Lễ rước kiệu, Đại tế, Lễ túc trực, Lễ hèm.
Phần lễ có ý nghĩa quan trọng và linh thiêng, chứa đựng những giá trị
văn hóa truyền thống, giá trị thẩm mĩ và triết học sâu sắc cho cộng đồng.

5


Không những thế nó mang trọn ý nghĩa hấp dẫn, thú vị đối với du khách. Đây
được xem là hạt nhân của lễ hội.
1.1.2. Hội
Hội là thành phần sinh hoạt văn hóa dân gian cộng đồng của làng, xã
hay lớn hơn là liên làng, xã, tổng và cộng đồng của toàn vùng hay cả nước.
Đó là một hoạt động dân dã, phóng khoáng, sôi nổi diễn ra trên sân
đình, gò bãi để dân làng cùng bình đẳng vui chơi với vô số trò hấp dẫn do
người chơi tự nguyện tham gia, trước sự cổ vũ của cộng đồng. Nói đến hội là
nói đến cảnh sôi động, náo nhiệt, hối hả của diễn trường, sự phong phú của
các trò chơi.
Có thể kể ra đây một số trò chơi thường gặp: đấu vật, đánh đu, kéo co,
thổi cơm thi, cờ người...
Hội là để vui chơi, chơi cho thật thoải mái vì một năm mới có một lần.
Nó không bị giàng buộc bởi nghi lễ, tôn giáo, đẳng cấp và tuổi tác. Sau những
ngày tháng lao động vất vả, dân làng chờ đón ngày hội như chờ đón ngày vui
cộng đồng. Họ đến với hội trong tinh thần cộng cảm, sảng khoái, tự nguyện.

Được vui chơi, giải trí, gặp gỡ bạn bè...giúp con người cân bằng trạng thái
tâm lý, vơi bớt những lo toan, bức xúc, căng thẳng thường ngày và cảm thấy
lạc quan tin tưởng vào cuộc sống hơn.
Tóm lại, “Lễ” và “Hội” là hai yếu tố chính tạo nên hội làng. sự đậm
nhạt giữa chúng là tùy thuộc vào đặc điểm ở từng nơi và tính chất của từng
loại hội. Lễ và hội là một thể thống nhất, tồn tại song song với nhau trong
hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của con người. Nếu nói “Lễ” là phần đạo thì
phần “Hội” chính là phần đời. Đạo đức là tâm linh mà người đời là cuộc sống
hiện thực.
1.2. Vai trò của lễ hội trong thời đại ngày nay
Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hóa có mặt ở
Việt Nam từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội. Từ xưa

6


đến nay đã có biết bao câu ca nói về lễ hội, nói lên vai trò của lễ hội trong đời
sống nhân dân:
“Dù ai đi đâu về đâu
Hội làng đã mở rủ nhau mà về”
Những năm gần đây, trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội
nhập quốc tế của nước ta, văn hóa truyền thống nói chung, trong đó có lễ hội
truyền thống đã được phục hồi và phát huy, làm phong phú hơn đời sống văn
hóa của Việt Nam.
1.2.1. Lễ hội góp phần giữ gìn nhân cách con người
Trong xã hội ngày xưa, ngày thường các mối quan hệ của cha ông bị
chế định của tập tục, bởi các quan niệm về đạo đức và dư luận xã hội. Vào các
ngày hội, các mối quan hệ trong xã hội được thể hiện rõ nhất. Dù là người
xem hay trực tiếp tham gia đều phải ứng xử theo đúng vị thế của mình cho
phải đạo. Tuy nhiên, trong ngày hội ở thời điểm mà ranh giới đó bị mờ đi thay

thế cho niềm cộng cảm của toàn thể dân làng. Nhưng chính vì mối cộng cảm
đó mà mọi người luôn phải biết cách giữ mình cho đúng vị thế. Rõ ràng, việc
giữ đúng vị thế và vai trò của mình là biểu hiện rõ nhất của việc giữ gìn nhân
cách.
Lễ hội còn là nơi nhắc nhở mọi người sống trật tự mực thước. điều đó
tưởng như phi lý vì trong hoạt động lễ hội mọi người đều được sống thái quá,
được phép vô trật tự hơn ngày thường. Những thái quá đó chính là nỗi mong
ước được sống hết mình, được sống với niềm khao khát mà ngày thường bị
chi phối, bị ràng buộc. chỉ trong lễ hội, dưới sự chứng giám của các đấng thần
linh thì họ mới giám thực hiện điều đó. Vì vậy, nhờ những thái quá đó, cuộc
sống con người được hoàn thiện hơn. Cũng chính vì thế mà lễ hội nhắc nhở
con người phải sống theo mực thước hàng ngày.
1.2.2. Lễ hội đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người

7


Với xã hội hiện đại, con người bị cuốn theo guồng quay của nền kinh tế
thị trường, đến một lúc nào đó con người có nhu cầu đi tìm sự bù đắp của
cộng đồng, thoát khoải cô đơn, áp lực sống trong xã hội hiện đại. Bởi bên
cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tư tưởng còn hiện hữu đời sống
tâm linh. Đó là đời sống của con người hướng về cái cao cả thiêng liêng chân thiện mỹ - cái mà con người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ, trong đó có
niềm tin tôn giáo tín ngưỡng. Như vậy, tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sống
tâm linh, tuy nhiên không phải tất cả đời sống tâm linh là tôn giáo tín ngưỡng.
Chính tôn giáo tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu
về đời sống tâm linh của con người, đó là “cuộc đời thứ hai”, đó là trạng thái
“thăng hoa” từ đời sống trần tục, hiện hữu. Họ đến với lễ hội, với mong muốn
trở về với cội nguồn dân tộc, muốn hòa mình vào thiên nhiên, muốn tìm đến
thần linh để tìm sự thanh thản trong tâm hồn, tìm đến với chân, thiện, mỹ.
1.2.3. Lễ hội góp phần giáo dục truyền thống

Trước sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông đại chúng và văn
hóa phương tây len lỏi vào từng gia đình Việt Nam, một vấn đề khá quan
trọng được đặt ra ở đây là làm sao vừa phát triển được kinh tế nhưng vẫn giữ
được bản sắc dân tộc. Lễ hội với nội dung và phương thức phong phú đã góp
phần lưu giữ bản sắc dân tộc, đã huy động mọi lứa tuổi tham gia, góp phần
làm nên thành công của lễ hội. Mỗi lần mở hội là một lần tưởng nhớ đến các
nhân vật có công với làng xã, đất nước theo đúng truyền thống “Uống nước
nhớ nguồn” mà cha ông ta đã để lại.
Trong tâm lý của nhân dân ta, sức mạnh mà dân tộc tích lũy được đã
tập chung vào các vị anh hùng dân tộc. Và trong văn hóa dân gian, hình tượng
nhân vật anh hùng được thần linh hóa đã sáng chói như ngọn đuốc truyền
thống chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Lịch sử càng tiến lên thì càng
xuất hiện thêm những vị anh hùng lịch sử, những danh nhân văn hóa, những
tổ sư bách nghệ và ngày càng xuất hiện thêm nhiều lễ hội để tôn thờ những vị

8


ấy. Cùng với thời gian thì nguồn nuôi dưỡng những truyền thống tốt đẹp ngày
càng phong phú, dồi dào hơn.
1.2.4. Lễ hội hướng con người trở về với cội nguồn
Tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về nguồn. Đó là nguồn cội tự
nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ.
Nguồn cội cộng đồng như dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn
hoá... Hơn thế nữa, hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt
Nam - “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”.
Ngày nay, trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, tin học hoá,
toàn cầu hóa, con người bừng tỉnh về tình trạng tách rời giữa bản thân mình
với tự nhiên, môi trường, với lịch sử xa xưa, với truyền thống văn hoá độc
đáo đang bị mai một. Chính trong môi trường tự nhiên và xã hội như vậy, hơn

bao giờ hết con người càng có nhu cầu hướng về, tìm lại cái nguồn cội tự
nhiên của mình, hoà mình vào với môi trường thiên nhiên; trở về, tìm lại và
khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hoá của mình trong cái
chung của văn hoá nhân loại. Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễ
hội cổ truyền là một biểu tượng, có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy. Đó cũng
chính là tính nhân bản bền vững và sâu sắc của lễ hội có thể đáp ứng nhu cầu
của con người ở mọi thời đại.

CHƯƠNG II
LỄ HỘI TRÒ NGÔ LÀNG GIÀNG XÃ YÊN THỊNH,
HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
2.1. Khái quát về xã Yên Thịnh
2.1.1. Khái quát về vị trí địa lý
Trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, xã Yên Thịnh huyện Hữu
Lũng tỉnh Lạng Sơn thuộc xã Đằng Yên tổng Thuốc Sơn châu Hữu Lũng tỉnh

9


Bắc Giang. Xã có 3 làng: Diễn Ngọc (Diễn), Dương Bình (Giàng), Mĩ Chùa
(Chùa). Sau cách mạng từ 1945 đến 1956 xã Yên Thịnh huyện Hữu Lũng vẫn
thuộc tỉnh Bắc Giang. Ngày 29/07/1956, nhân việc thành lập khu tự trị Việt
Bắc, theo quyết định của chính phủ, xã Yên Thịnh huyện Hữu Lũng được sáp
nhập vào đơn vị hành chính tỉnh Lạng Sơn.
Xã Yên Thịnh nằm ở phía Bắc của huyện, cách thị trấn mẹt trung tâm
huyện lỵ 21km về phía Tây Nam. Phía Đông giáp xã Yên Sơn, phía Nam giáp
xã Yên Vượng, phía Bắc giáp xã Hữu Liên, phía Tây giáp xã Hòa Bình và xã
Minh Tiến.
Với vị trí địa lý như trên, Yên Thịnh là một trong những xã của huyện
thuộc giải nối liền miền núi với trung du đồng bằng Bắc Bộ nước ta. Địa hình

thuộc vùng núi đá vôi với dãy Cai Kinh sừng sững chạy từ Đông Bắc xuống
Đông Nam, diện tích tự nhiên toàn xã là 5.580,58 ha. Đây là một trong những
xã giáp huyện Văn Quan, Chi Lăng tỉnh Lang Sơn và là địa bàn cơ động
ngược xuôi Hà Nội – Lạng Sơn với các tỉnh thành khác trong cả nước.
Toàn xã có 3 làng: làng Giàng, làng Diễn và làng Chùa. Trong làng Giàng
có 6 thôn: Cầu Gạo Trong, Cầu Gạo Ngoài, Xóm Làng, Đồng Áng, Xóm
Coong, Gò Mãn. Tất cả các làng trên đều tập trung trải dài ven các chân núi,
các gò
đất cao hoặc giữa thung lũng và được nối liền các trục đường liên thôn, liên
làng, liên xã, cho nên việc đi lại tương đối thuận tiện. Với cơ cấu làng xóm,
Yên Thịnh là một trong những địa phương còn giữ được nét quen thuộc làng
xóm cổ truyền của dân tộc Việt ở vùng trung du đồng bằng Bắc Bộ.
2.1.2. Dân cư
Người Việt ở Yên Thịnh không nhớ rõ nguồn gốc của mình từ đâu tới,
vào thời kì nào? Vì gia phả các dòng họ đã bị thất truyền do thiên tai, địch

10


họa và không có văn bản ghi chép lại. Do đó không có một căn cứ nào để xác
định khoảng thời gian chính xác.
Theo trí nhớ của các cụ cao tuổi các thế hệ gần đây truyền lại, cũng như
sự tồn tại của ngôi mộ cụ kỵ của các gia đình, thì các dòng họ đến đây cư trú
sớm nhất cách đây 8-10 đời, có thể cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII. Số
người đến đầu tiên là những người thuộc phe Thượng làng Giàng mà di hệ
ngày nay gồm 7 họ: Ngô Lý, Ngô Thái, Ngô Xuân, Ngô Hoan, Hoàng Tư, Họ
Bành, Họ Mè. Tiếp đến là 5 dòng họ thuộc phe hạ gồm: Phan Văn Hình, Lê
Văn Huỳnh, Ngô Văn Tờ, Dương Văn Minh, Hoàng Hùng (gọi theo tên gọi
Hương trưởng của dòng họ). Số dòng họ còn lại chủ yếu là dân nhập cư sau
này, họ có thể lựa chọn theo phe Thượng hoặc phe Hạ và không được tự ý

thành lập một phe riêng.
Ngoài ra, căn cứ vào vị trí xứ Lạng là nơi xung yếu miền biên thùy của tổ
quốc, qua các thời kì lịch sử, có thể đưa ra giả thiết, người Việt ở Yên Thịnh
là một bộ phận quan lại triều đình của một thời đại nào đó được triều đình
phong kiến cử lên trấn ải. Trường hợp này, có nhiều dòng họ từ các tỉnh
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đến Lạng Sơn từ khá lâu đời. Một lý do khác
có thể do chiến tranh, thiên tai, địch họa mà một nhóm người Việt ở vùng
trung du đồng bằng Bắc Bộ đến đây cư trú, và bằng chứng ở đây còn lưu lại là
cơ cấu làng xóm cổ truyền, phong tục tập quán, hương ước, tầng lớp am hiểu
chữ Hán Nôm có khá nhiều nhưng một số người đã mất cách đây vài năm.
Dân số Yên Thịnh tổng số hộ là: 604 hộ với 3.517 nhân khẩu gồm các
dân tộc: Việt (Kinh), Tày, Nùng, Dao được phân bố thành 3 làng: làng Diễn,
làng Chùa, làng Giàng. Trong đó dân tộc Việt có dân số đông nhất với 3.490
nhân khẩu, chiếm 99,2%; tiếp đó là dân tộc Tày 17 nhân khẩu, chiếm 0,48%;
dân tộc Nùng 9 nhân khẩu chiếm 0,26%; dân tộc Dao 1 nhân khẩu, chiếm
0,028%. Các dân tộc thiểu số có mặt ở đây là do quá trình nhập cư sau này.

11


2.1.3. Văn hóa xã hội
Gia đình ở Yên Thịnh thường từ 3 – 4 thế hệ gồm: Ông, bà, bố, mẹ, các
con và cháu. Khi lập gia đình, con trai trưởng ở với cha mẹ, con trai thứ được
tách thành một hộ riêng. Con dâu khi ăn cơm không được ngồi chung với bố
mẹ chồng, thường ngồi riêng với chồng con. Trường hợp được bố mẹ chồng
cho phép ngồi chung thì người con dâu ngồi vắt hai bàn chân trước ra phía
sau và ngồi cạnh nồi cơm. Khi ông bà mất, bố mẹ phải lo chôn cất chu đáo.
Đến lượt bố mẹ mất, người con trai trưởng phải lo tiền của, vật chất nhiều hơn
em. Con gái đi lấy chồng nộp 10kg thịt lợn, 5 chai rượu và cùng con rể chịu
tang một năm thờ cúng công cha mẹ sinh dưỡng.

Trong cuộc sống người đàn ông bao giờ cũng đóng vai trò trụ cột trong
gia đình, quán xuyến công việc đối nội đối ngoại, đàn bà nội trợ. Trong lao
động sản xuất, ranh giới phân công lao động giữa nam và nữ không rạch ròi
có thể gánh vác các công việc như nhau.
Quan hệ dòng họ: cố kết dòng họ khá chặt chẽ, có sự phân biệt ngôi thứ
trên, dưới, chi anh, chi em rõ ràng. Mỗi dòng họ đều có Hương trưởng, Bàn
nhì (đây là tên gọi người đứng đầu, thứ hai của một dòng họ) và các thành
viên thuộc các lứa tuổi khác nhau. Hương trưởng là người đại diện cho các
thành viên trong họ quán xuyến chỉ đạo công việc cưới xin, tang ma, lễ hội,
quan tâm đến quyền lợi thưởng phạt, thực hiện hương ước lệ làng quy định.
Con gái xuất giá tòng phu hàng năm phải đóng góp một số vật chất, tinh thần
cho dòng họ (không bắt buộc).
Tổ chức phe (giáp): làng Giàng tổ chức thành 2 phe: phe Thượng và
phe Hạ. Phe Thượng gồm 7 dòng họ đến trước và được ngồi chức lềnh cả
( người đứng đầu chỉ huy 12 dòng họ thuộc phe Thượng và phe Hạ). Phe Hạ
gồm 5 dòng họ đến sau ngồi chức Lềnh hai (người chỉ huy phó 12 dòng họ
thuộc phe Thượng và phe Hạ). Thư kí làng là người giúp việc Lềnh cả, Lềnh

12


hai chỉ huy 12 dòng họ. Ngoài ra các dòng họ thuộc dân ngụ cư không được
tự ý lập thành phe mà phải nhập phe Thượng hoặc phe Hạ. Để ngồi chức
Lềnh cả, Lềnh hai, các dòng họ ngụ cư đó phải cư trú 5 đời, đóng góp vật chất
cho làng tuân thủ hương ước làng đề ra.Trai đinh đến 19 tuổi phải nhập phe,
ưu tiên những người mồ côi cha mẹ, trai đinh có thể nhập phe sớm hơn một
năm.
Hương ước: Hương ước làng Giàng là một hương ước cổ gồm 3 phần:
quy định chung, thờ cúng, phong tục tập quán với tổng số 14 đề mục. Nội
dung của hương ước đề cập tới tổ chức dòng họ, trách nhiệm của các thành

viên trong cộng đồng với làng, bảo vệ di tích lịch sử, bảo vệ ao hồ nguồn
nước, an ninh trật tự trị an, quy định thờ cúng, phong tục tập quán và lich lễ
hội trong năm.
Nhà ở: Ở Yên Thịnh, khác với làng xóm ở vùng xuôi, nhà ở chủ yếu là
nhà sàn, chiếm 98% số nhà trong làng. Kiến trúc nhà được dựng hai mái dài,
hai mái ngắn, ba gian hoặc năm gian. Vật liệu làm nhà thường được làm bằng
các loại gỗ quý như đinh, lim, nghiến...mái nhà được lợp ngói âm dương hay
ngói vẩy cá. Tường và sàn có thể ghép bằng ván hoặc phên nứa.
Ngôi nhà được chia làm ba tầng sinh hoạt. Tầng giữa là nơi sinh hoạt
gia đình. Tầng trên là sàn gác. Tầng dưới được tính từ mặt đất đến tầng giữa
nơi sinh hoạt gia đình cao khoảng 2 mét. Tầng này thường để các dụng cụ lao
động như cày, bừa, quốc, xẻng, nơi nhốt gia súc, gia cầm...
Cầu thang nhà sàn được làm các bậc lẻ 5,7,9,11 theo quan niệm đây là những
con số dương biểu hiện cho sự sinh sôi phát triển
Khi dựng nhà, người làm nhà thường xem hướng xem tuổi, kiêng kỵ
gia đình mắc mớ việc tang và một năm gia chủ không được hai lần đặt nóc
nhà. Những năm gần đây, do vật liệu gỗ khan hiếm cùng với sự phát triển,
giao lưu kinh tế ở đây đã xuất hiện những ngôi nhà cấp bốn được dựng bằng

13


gạch ngói nung, chất liệu bằng xi măng. Về cách bố trí nội thất căn bản giống
như một số ngôi nhà ở miền xuôi.
Trang phục: Trước đây trang phục nam, nữ đều giống như người Việt ở
trung du đồng bằng Bắc Bộ. Phụ nữ mặc váy , áo dài tứ thân, đầu đội khăn
vuông. Nam giới mặc quần hai ống, màu nâu
Ngày nay, do công nghiệp may mặc phát triển, trang phục nữ cổ truyền đã
mất hẳn, thay thế vào đó là chất liệu vải, quần áo may sẵn theo công nghệ
hiện đại.

Việc cưới: Trước đây, việc cưới xin do sự áp đặt của cha mẹ ”cha mẹ
đặt đâu con ngồi đấy”. Ngày nay do công cuộc đổi mới của đất nước, cũng
như thực hiện cuộc vận động toàn dân xây dựng đời sống văn hóa, việc hôn
nhân đã có nhiều tiến bộ rõ rệt. Trai gái đến tuổi trưởng thành có thể tự tìm
hiểu, nếu thấy tâm đầu ý hợp mới xây dựng gia đình theo nguyên tắc gia đình
một vợ một chồng, bình đẳng hòa thuận và không được kết hôn với người
trong nội tộc
Việc tang: Trong gia đình khi có người tạ thế, con cháu anh em trong gia
đình dòng họ bàn bạc chăm lo việc chôn cất. Là gia đình nhập phe theo hương
ước, tang chủ sửa soạn mâm lễ: thủ lợn, chai rượu, bát gạo, đến thổ công làng
trình bẩm lý do nội dung yêu cầu và mời làng đến giúp mai táng người đã
khuất. Trường hợp những gia đình không nhập phe theo hương ước thì làng từ
chối không có trách nhiệm, gia chủ đó tự lo liệu chôn cất người chết.
Tóm lại: Về xã hội, làng Giàng ở Yên Thịnh vẫn còn mang dáng dấp cơ
cấu làng xóm cổ truyền của dân tộc việt, ở đó quan hệ gia đình, dòng họ (phe
– giáp) được thực hiện theo hương ước. Các quan hệ xã hội được giàng buộc
bằng sợi dây huyết thống, dòng họ bằng ý thức cộng đồng. Từ đó, nó tạo nen
sức mạnh cộng đồng trong việc tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống,
phòng chống thiên tai địch họa đồng thời còn có tác dụng trong việc bảo tồn

14


di sản văn hóa dân tộc. Tuy nhiên một số điều khoản trong hương ước cần
được điều chỉnh, bổ sung hợp lý, phù hợp với điều kiện hiện nay. Trong
những năm gần đây, việc xây dựng gia đình văn hóa, lành văn hóa, toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện quy chế dân chủ tại cơ sở thì
hương ước lại có một vai trò quan trọng trong sư nghiệp phát triển của vã hội.
2.2. Hoạt động lễ hội tại làng Giàng xã Yên Thịnh
So với nhiều địa phương khác trong tỉnh Lạng Sơn, làng Giàng xã Yên

Thịnh là nơi có nhiều lễ tiết trong năm, định kì theo năm hoặc hai năm tổ
chức một lần. Hiện nay có lễ tiết, lễ hội vẫn duy trì được còn một số lễ hội đã
mai một hoặc chỉ còn trong trí nhớ dân gian. Hệ thống nghi lễ - lễ hội đó là:
+ Tết Nguyên đám vào các ngày mùng 1, mùng 2, mùng 3. Mỗi nhà thịt
một con lợn từ 40-50 kg, làm một số loại bánh như bánh gio, bánh bồ kết
(một dạng bánh trôi), bánh rán, chè lam, bánh chưng... Cũng ngày mùng 1,
thầy độ cùng Lềnh cả, Lềnh hai, trai đinh và dân làng đem mâm quả oản, chè
cháo, bánh kẹo và hương đến chùa Sơn Lộc cúng đức phật, xin keo cầu mùa
người mùa màng, cai đám.
Ngày mùng 3 làng Giàng cắt cử một cụ thanh bạch, thông minh đến
nhà ông hương trưởng chứa trống làm lễ động thổ. Nội dung trấn trạch năm
phương đuổi tà khí, cầu cuộc sống bình an, mùa màng thắng lợi.
+ Lễ hội Trò Ngô: được tổ chức vào ngày 10/1 âm lịch, cách 2 năm tổ
chức 1 lần. Lễ hội nhằm diễn tả quá trình đánh giặc bảo vệ dân làng, có trò tái
hiện đánh giặc ngô, trò tiến cống của quân ngô và các trò diễn dân gian phản
ánh nghi lễ nông nghiệp.
+ Tết ngày 14/2 dâng lễ ở nghè, miếu. Cai đám hoặc nhà sư đọc văn
sám hối.
+ Tết mùng 3 tháng 3 âm lịch: ăn tết làm bánh gai, bánh ngải, bánh
dậm, bánh chưng giống người Tày – Nùng. Nếu vụ mùa năm trước bội thu thì

15


dân làng tổ chức hội phướn, nếu mất mùa thì không tổ chức. Hội phướn được
tổ chức từ ngày 5 – 10 tháng 3 (âm lịch).
Chuẩn bị hội có một thầy chùa, hai đạo tràng ở nhà cai đám làm khung
dán giấy cây phướn hình trụ (hình dáng như đèn lồng ngày xưa) dài khoảng
20 thước ( tương đương 10 m), bán kính 1,5m, khung phướn được dán bằng
giấy màu. Từ ngày 5 – 8 tháng 3 anh cai đám và anh hai oản cùng hai nữ

thanh niên (điều kiện tất cả phải thanh tịnh) lập đàn chay ở nhà cai đám. Mỗi
tối phải có 30 chiếc oản thỉnh phật, viết sớ. Từ ngày mùng 9, nam thanh nữ tú
rước cây phướn từ nhà cai đám ra vị trí lễ hội Trò Ngô ngày nay. Khi cây
phướn ra giữa cánh đồng, những mảnh giấy màu (do chủ định dán hờ) gặp gió
thổi tung bay, dân làng dự hội tranh nhau hứng lấy. Những mảnh giấy màu
đó, một số người đem úp trên nong tằm cầu mong cho con tằm sinh sôi nảy
nở hoặc cho đó là những điều may của nhà phật ban phát cho mỗi gia đình và
cá nhân trong cộng đồng. Kết thúc hội, Lềnh cả đứng trên bục đất cao vãi
những đồng tiền xu. 3 ngày sau cây mới được ngả xuống, thầy chùa làm lễ
khao làng.
+ Ngày 4/4: hội chùa Am Chỉ.
+ Ngày 5/5 tết khảo cây sai trái, giết sâu bọ.
+ Ngày 14/5 Lễ hạ điền, cúng thần nông, tổ tiên làm cỗ rồi thả trôi theo
dòng suối.
+ Ngày 14/7 Lễ thượng điền, xây cất xong, tạ ơn thần nông.
+ Ngày 14/8 cúng cơm mới.
+ Ngày 15/8 cúng tổ tiên.
+ Ngày 15/10 Tết bánh dày, kết thúc vụ mùa.
+ Ngày 8/11 hội kéo dây (hội cỗ dây), hội này thường tổ chức vào
những năm không tổ chức lễ hội Trò Ngô. Địa điển tổ chức tại cánh đồng làng
Giàng (nơi tổ chức lễ hội Trò Ngô).

16


+ Ngày 23 tháng chạp: lễ tiễn ông Công lên trời, 30 tháng chạp đón ông
công về và trồng nêu, tùy theo ngày tốt, xấu mà hạ cây nêu trước ngày 15
tháng giêng. Trồng nêu tất cả ở các nhà chùa, đền, miếu, đình, nghè...riêng
cây nêu ở nơi thờ cúng không được hạ xuống và cứ để thế, khi nào đổ mớ
thôi. Cũng trong dịp năm mới, ở các cửa nhà, cửa sổ đều cắm “nêu” bằng cây

trà dạ để trừ ma tà.
+ Tất cả những ngày 1, 15 âm lịch hàng tháng, các cửa chùa, nghè,
miếu... đều được mở để cúng lễ vật hương khói cho các thánh thần.
2.3. Nguồn gốc lễ hội Trò Ngô
Trò Ngô được ghi nhận sớm nhất trong cuốn “ kiến văn tiểu lục” của
Lê Qúy Đôn. Theo ông, trò Ngô ra đời ít nhất vào thế kỉ XIII, dưới triều đại
nhà Trần.
Vào những năm 70, việc nghiên cứu Trò Ngô được quan tâm, khởi đầ
là cuốn trò Ngô do ty văn hóa và thông tin Thanh Hóa xuất bản năm 1978 ghi:
những câu chuyện về cảnh “Ngô thì phát tán” có kể rằng, việc ấy sảy ra từ
những ngày Triệu Thị Trinh phất cò khởi nghĩa. Lúc đó, Bà Triệu đã đánh
quân Ngô! Có lễ mấy chữ thằng Ngô có từ lúc đấy. “Thằng Ngô” là hình
tượng tiêu biểu của bọn phong kiến phương bắc vốn thuộc các triều đại khác,
dân ta vẫn cứ gọi chúng là Ngô. Lê Lợi diệt giặc Minh, nhưng vẫn công bố
bản Bình Ngô đại cáo.
Năm 1980, trong cuốn tạp chí Ngôn ngữ, PGS. TS. Phan Đăng Nhật đã
tìm hiểu Nguồn gốc từ Ngô trong Bình Ngô đại cáo đã nêu ra ghi nhận bản
chất thằng Ngô với những đặc điểm sau:
1.

Bản chất số một của thằng Ngô là cướp nước được biểu hiện trong hình

ảnh “ giặc Ngô”, “giặc bên Ngô”.

17


2.

Đặc điểm thứ hai của thằng Ngô là cướp của, được biểu hiện trong hình


ảnh, được biểu hiện trong hình ảnh “Ngô để của”, “Ngô tìm vàng”, “hí hửng
như Ngô tìm vàng”.
3.

Bộ mặt “thằng Ngô răng trắng”, “ có đuôi trên đầu” là hình ảnh của âm

mưu đồng hóa. Thằng Ngô còn mang đặc điểm thứ ba là kẻ đi đồng hóa.
4.

Thừng Ngô là kẻ thực hiện âm mưu diệt chủng đối với người Việt

Nam.
Dựa theo cách phân loại bản chất Trò Ngô như trên, căn cứ vào nội
dung truyền thuyết của lễ hội, các trò: nhảy dậm, tiến cống thì Trò Ngô làng
Giàng mang bản chất số một của thằng Ngô là cướp nước được biểu hiện
trong hình ảnh “giặc Ngô”.
Còn tại sao có tên lễ hội Trò Ngô? Thì theo đa số ý kiến giải thích là
không biết, vì từ trước dân làng vẫn gọi như vậy. Ý kiến thiểu số cho rằng
“Trò Ngô” là trò tái hiện lại trận đánh của quân dân làng giàng chống bọn
phong kiến phương Bắc trước đây. Căn cứ vào quá trình xử lý thông tin, tư
liệu trên cơ sở khảo sát điều tra... có thể cho rằng do dân gian lấy tiêu điểm
nổi bật của một trò diễn để đặt tên cho lễ hội, vì vậy lễ hội làng Giàng mới có
tên như vậy.

2.4. Nội dung diễn trình lễ hội Trò Ngô làng Giàng, xã Yên Thịnh
2.4.1. Chuẩn bi lễ hội
Theo phong tục cứ hai năm một lần làng Giàng tổ chức hội Trò Ngô
vào ngày 10 tháng giêng âm lịch. Trước đây, để chuẩn bị cho lễ hội, cứ vào
ngày “giỗ hậu” tổ chức vào cuối tháng chạp âm lịch có một đôi vợ chồng

không có con và những gia đình có cha mẹ già, anh em vì bệnh tật ốn đau
chết chóc làm cỗ hậu mời làng đến ăn uống (gồm Lềnh cả, Lềnh hai, thư kí và

18


24 ông hương). Thứ nhất là trả công chôn cất những người đã khuất trong
dòng họ, thứ nhì là chuẩn bị cho lễ hội năm tới. Để tổ chức “giỗ hậu” một
trong các gia đình như trường hợp trên phải mổ con lợn to và nộp cho làng:
“trai bảy dảy xương sườn, gái chín dảy xương sườn”, số còn lại để cho gia
chủ, nế không đủ thì sang năm trả lại số thịt còn thiếu.
Sau khi ăn cỗ hậu xong, Lềnh cả, Lềnh hai, Thư kí họp 24 ông hương
(Hương trưởng – Bàn nhì của 12 dòng họ) thông báo năm nay tổ chức lễ hội
Trò Ngô. Nội dung cuộc họp này là xem xét bao nhiêu suất đinh trong làng và
phân bổ công việc như sau:
+ Số góp gianh để tu sửa chùa, đình, nghè, miếu.
+ Dọn dẹp quét tước trước chùa, đình, nghè, miếu.
+ Chuẩn bị cây que để đóng sàn xá táo, khung thành hội, đồn bà Dầu
( Đồn giặc) , cây bo để các cụ lão làng đục đẽo: quạ, hạc, cày, bừa, mã tấu,
khung cửi, bễ, cá, ống điếu, con lợn...căn cứ vào đòng họ, suất đinh ít thì cây
nhiều, suất đinh nhiều thì cấy ít.
+ Lựa chon trai đinh và một số lão làng cầm cờ cầm lọng, rước các mặt
ngai, tham gia vai diễn các trò trong hội. + Quy định ngày luyện tập các trò
diễn, ngày đóng sáo khung thành hội
+ Toàn bọ trai đinh đóng góp tiền và cỗ làng theo quy định, mỗi suất
đinh gồm 12 bát gạo, 1 cân thịt lợn, 1chai rượu ( trước đây), bây giờ chỉ còn 3
bát gạo, 1 cân thịt, 1 chai rượu. Tất cả phải đảm bảo gạo trắng thơm ngon hay
mâm sạch ( ngày nay, mỗi dòng họ chỉ chuẩn bị 2 mâm cỗ).
Riêng Lềnh cả, Lềnh hai và 3 Chứa phe, ngoài mâm cỗ như trai đinh có
thêm con gà luộc đầu cánh đặt theo kiểu phủ phục, bảo đảm ngon, tinh khiết,

gà đẹp, không bị tróc da.
Sau khi họp bàn bạc xong, Lềnh cả là người đứng đầu 12 họ, tổng chỉ
huy toàn bộ lễ hội. Một yêu cầu cơ bản là số trai đinh, lão làng tham dự các

19


việc của hội phải bảo đảm khỏe mạnh trong sạch, không tang chế, gia đình
không có người mang thai. Riêng phường chèo của lang phải tập từ trước đó
vài tháng gồm các tích chèo cổ để đóng góp nội dung trong đêm hội.
Bắt đầu vào ngày mùng 3 tháng giêng âm lịch, dân làng đã chuẩn bị
mọi việc vào hội. Trai đinh thì chọn cây đóng giáo dựng cờ, tám trai đinh
đóng vai tám tướng Kim Cương thì tập nhảy dậm (múa gươm) dưới sự chỉ
đạo của ông hát cái. Các dòng họ chuẩn bị hai mâm lễ gồm xôi, thịt lơn,1 chai
rượu trắng để lễ tế thần và cỗ để khao quân. Đội tế của làng gồm 8 cụ ông,
sửa soạn quần áo, đồ tế, bài văn tế khấn thần. Đại diện các lão làng của 12
dòng họ từ 46 tuổi trở lên tập chung ra địa điểm hội, đẽo cày, bừa, chim công,
quạ, cá, lợn, khung cửi dệt vải, chày, vồ, dựng cây đu... 12 dòng họ chuẩn bị
24 cây vầu dựng 24 lá cờ ( mỗi dòng họ có 2 lá cờ). Cột cờ cao 10m trên đỉnh
ngọn cờ đính một con quạ ( hay con bồ câu ). Dải cờ trắng rộng 35cm, dài
4,5m, cuối dải cờ có các nét hoa văn màu hình vuông, hình tam giác, hình trụ
và xẻ thành 3 tua ở đuôi.
Để diễn các trò trong hội, ngoài 8 trai đinh đóng vai 8 tướng kim cương,
làng còn cử ra 3 lão làng đóng vai con gái làng, mẹ làng, bố làng (trong dân
gian gọi là bà Dầu, ông Dầu). Trong vai mẹ làng, con gái làng phải do nam
giới đóng, vì hội làm lễ tế thần nên con gái không được tham gia. Toàn bộ các
trò diễn trong ngày hội từ công tác chuẩn bị đến công tác tổ chức điều hành
đều do nam giới đảm nhận. Để diễn trò kén rể, làng còn cử 4 trai đinh đóng
vai Sĩ, Nông, Công, Thương.
Lễ hội được diễn ra trên cánh đồng ruộng, nằm giữa trung tâm làng

Giàng được bao bọc bởi bốn phía núi non hùng vĩ. Ngày mùng tám, làng bắt
đầu đóng khung thành hội bằng tre, vầu, nứa. 24 cột cờ sẽ được bố trí xung
quanh khung thành hội, đan xen là các lá cờ ngũ hành. Khung thành hội được
dựng trên diện tích khoảng 500m2, có 3 cổng ra vào. Một cổng chính rộng 4m

20


×