Tải bản đầy đủ (.docx) (44 trang)

“DẠY học THEO dự án TRONG môn vật lý THCS ”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (259.15 KB, 44 trang )

Phần I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
-Như chúng ta thấy, giáo dục truyền thống vẫn là một phương pháp đang
được dạy và học trong thời đại ngày nay. Việc học tập của học sinh không thể
là thụ động tiếp thu bài giảng của giáo viên mà phải là sự tham gia tích cực vào
hoạt động học tập để tạo một tâm thế có thể tham gia vào các hoạt động sản
xuất và xã hội sau này.
-Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, ta thấy rằng giáo dục hiện đại đang đứng
trước yêu cầu và thách thức lớn lao của xã hội. Việc làm sao để có thể cải tạo
phương pháp truyền thống trở thành một phương pháp mới hiệu quả có tác dụng
tốt trong quá trình dạy học đã và đang được rất nhiều nhà giáo dục quan tâm.
Để làm được điều này chúng ta cần phải đổi mới toàn diện các nhiệm vụ dạy
học: nội dung, phương tiện, phương pháp…
-Một phương pháp có thể làm được điều đó, có thể nói đến là dạy học
theo dự án. Đây là phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, chính vì vậy nó sẽ
làm cho học sinh tham gia tích cực vào bài học, làm thay đổi vai trò của giáo
viên và học sinh. Giáo viên giờ đây chỉ là người hướng dẫn giúp cho học sinh
tự tìm ra tri thức cho mình. Chính vì vậy, tôi quyết định nghiên cứu phương
pháp dạy học này. Đặc biệt, vận dụng nó thế nào vào dạy học các kiến thức vật
lý trong chương trình THCS đó chính là nội dung của đề tài: “DẠY HỌC
THEO DỰ ÁN TRONG MÔN VẬT LÝ THCS ” .
2. Mục đích nghiên cứu
-Đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay theo hướng phát huy tính tích
cực của học sinh, lấy người học làm trung tâm
-Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án vào chương trình vật lý
THCS .
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
-Quá trình dạy học vật lý ở trường THCS : cách thức tổ chức, nội dung,
kiến thức…
Trang 1




3.2. Phạm vi
- Hoạt động dạy và học vật lý của giáo viên và học sinh ở trường THCS
Hùng Vương
4. Giả thuyết khoa học
-Nếu vận dụng mô hình dạy học dự án một cách thích hợp vào dạy học
trường THCS thì sẽ nâng cao hiệu quả dạy học vật lý cho học sinh trong nhà
trường . Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lý thuyết về khái niệm dự án và phương pháp dạy học theo dự
án
- Ứng dụng nó vào trong dạy học vật lý.
- Nghiên cứu về thực trạng sử dụng phương pháp dạy học theo dự án
trong dạy học vật lý ở trường THCS.
- Nghiên cứu xây dựng các quy trình vận dụng phương pháp dạy học theo
dự án vào dạy học vật lý.
- Thiết kế phương án dạy học theo phương pháp dạy học dự án.
- Thực nghiệm sư phạm đối với phương án đã xây dựng cho phương pháp
này.
6.Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận:
+ Các tài liệu, công trình liên quan đến đề tài nghiên cứu.
+ Tìm hiểu về phương pháp dạy học dự án này bằng lý thuyết từ đó rút ra
những phương pháp chung để nghiên cứu
-Thực nghiêm sư phạm: Thực hiện các bài dạy đã thiết kế, so sánh với lớp đối
chứng để rút ra những cần thiết, chỉnh lý thiết kế đề xuất hướng áp dụng vào
thực tiễn, mở rộng kết quả nghiên cứu.

Trang 2



Phần II: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
-Khi bàn về phương pháp giáo dục, J.Piaget (1896-1980) một nhà tâm lý
học người Pháp nổi tiếng đã nói: “Trẻ em được phú cho tính hoạt động thực sự
và giáo dục không thể thành công nếu không sử dụng và không thực sự kéo dài
tính hoạt động đó” . Như vậy, hoạt động là yếu tố không thể thiếu cho sự phát
triển của trẻ trong quá trình giáo dục và giáo dưỡng.
-Thuyết hoạt động cũng đề cập: để cho HS phát triển toàn diện thì phải
cho chúng hoạt động. Chúng ta nhận thấy rằng để cho HS có thể hoạt động học
tập tự lực, sáng tạo thì cần phải tổ chức, định hướng, tạo điều kiện cho HS tự
giải quyết các vấn đề, tự lực suy nghĩ, đề xuất các phương án, và đưa ra kiến
thức mới,…Dạy học theo dự án là phương pháp đáp ứng được điều này. Có thể
nói, việc ứng dụng phương pháp này đã được thực hiện khá phổ biến trên thế
giới. Nhưng ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu trong những năm gần đây, phương
pháp này đã được bộ Giáo dục và Đào tạo kết hợp với công ty Intel Việt Nam
triển khai thí điểm tại nhiều trường học trên cả nước theo chương trình Dạy học
cho tương lai của Intel (Intel Teach to the Future).
-Trong những năm gần đây, các giảng viên ở các trường ĐHSP Thành
Phố Hồ Chí Minh, ĐHSP Hà Nội đã giảng cho sinh viên về mô hình dạy học dự
án và tổ chức thực hiện dạy học dự án cho đối tượng sinh viên, thu hút được sự
tham gia tích cực, khơi dậy lòng say mê, hứng thú của người học.
-Ở trường phổ thông các cấp, trong những năm gần đây thì GV cũng
được tập huấn và triển khai thí điểm ở một vài trường. Tuy nhiên, dạy học
truyền thống vẫn giữ một “ thế mạnh” trong trường phổ thông. Bên cạnh đó,
cũng có một vài trường áp dụng dạy học theo dự án vào chương trình học của
mình.
-Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác
đã vận dụng quan điểm của dạy học dự án vào tổ chức dạy học ở một số trường
tại Thành Phố Hồ Chí Minh và Hà Nội…bước đầu đã thu được nhiều thành

công trong việc đổi mới PPDH, phát huy tính tích cực, tự chủ của người học, lôi
cuốn người học vào thực hiện dự án học tập một cách tự giác. Những công trình
Trang 3


nghiên cứu liên quan tới dạy học theo dự án ở Việt Nam như: “Project-Based
Learning (PBL) và việc ứng dụng vào dạy học môn Vật lý ở trường phổ thông
Việt Nam trong tương lai” của tác giả Hồ Thanh Liêm.
-Như vậy, chúng ta hãy tin tưởng rằng, PP DHTDA sẽ tiếp tục phát huy
một cách hiệu quả nhất trong tương lai.

Trang 4


Phần III: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I - CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Sự cần thiết đổi mới phương pháp dạy học
-Xã hội ngày càng phát triển, càng đặt ra yêu cầu cao đối với con người.
Vì vậy, cùng với tiến bộ của thời đại, con người phải có những khả năng mới:
học tập, giải quyết vấn đề, trao đổi, làm việc theo tổ, làm công dân, làm lãnh
đạo... Phương pháp dạy học truyền thống chưa thể trang bị cho chúng ta những
khả năng này. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới PPDH. Sau đây là một số
nguyên nhân dẫn đến đổi mới PPDH:
+ Hiện nay, trong bối cảnh quốc tế và đất nước ta có nhiều thay đổi: sự
phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ, sự toàn cầu hóa mạnh mẽ…nếu
biết tận dụng cơ hội, tiếp cận công nghệ vào những mục đích phát triển của
quốc gia thì chúng ta nhất định thắng lợi. Do đó, bên cạnh việc học tập, kế thừa
thành quả khoa học của nhân loại, chúng ta cần đi trước đón đầu, cần phải đổi
mới tư duy, đổi mới phương pháp làm việc, học tập.
+Nhu cầu học tập của người dân ngày càng nhiều, trình độ dân trí ngày

càng cao, mô hình xã hội học tập đang hình thành và phát triển. Sự phát triển
của khoa học công nghệ đã mở ra khả năng và điều kiện thuận lợi cho việc sử
dụng phương tiện CNTT vào quá trình dạy học. Việc sử dụng những thành quả
của khoa học công nghệ sẽ làm thay đổi hiệu quả của quá trình dạy học, hiệu
quả của việc sử dụng phương pháp dạy học.
+ Sự bùng nổ thông tin khiến vòng đời của SGK và giáo trình đã phải rút
ngắn, nếu không sẽ bị coi là lạc hậu và phản tác dụng. Chính vì vậy, ta thấy
SGK trong những năm gần đây bị thay đổi liên tục. Trong bể kiến thức bao la,
người học phải tùy chọn cho riêng mình những tri thức cần thiết và hữu ích, vì
thế họ rất cần được giúp đỡ. Trong học tập, họ cần phương pháp tìm kiếm thông
tin hơn là thông tin; muốn học phương pháp tìm kiếm chân lí hơn là chân lí. Và
do vậy, người thầy trong thời đại hiện nay đã có một vị trí mới, cao hơn, khó
khăn bội phần, là luôn làm mới mình và ở bên cạnh người học, hiểu theo cả
Trang 5


nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Giúp người học chiếm lĩnh, giúp người học tự đào
tạo.
-Có thể nói rằng, việc đổi mới PPDH không có nghĩa là phủ nhận sạch
trơn PPDH truyền thống và cho nó vào dĩ vảng mà chính là sự kết hợp mang
tính kế thừa cho PPDH mới mang lại hiệu quả cao hơn cho người học. Đổi mới
phương pháp là một vấn đề tất yếu của thời đại. Do đó, định hướng đổi mới
phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa
VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 - 1996), được thể chế
hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999). Luật Giáo dục, điều
24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho

học sinh".
Vậy, dạy học lấy học sinh làm trung tâm là dạy học như thế nào?
-Người học không thụ động nghe thầy giảng và truyền đạt kiến thức mà
học tích cực bằng hành động của chính mình, nghĩa là người học tự tìm ra “cái
chưa biết”, “cái cần khám phá”, tự mình tìm ra kiến thức. Người học không
phải được đặt trước những kiến thức có sẵn của SGK hay bài giảng áp đặt của
thầy giáo mà là những tình huống cụ thể, thực tế trong cuộc sống. Từ việc xuất
hiện những mâu thuẫn trong nhận thức, người học có nhu cầu, hứng thú giải
quyết những vấn đề trong các tình huống. Tự đặt mình vào tình huống của cuộc
sống, người học quan sát, suy nghĩ, tra cứu, thí nghiệm, đặt giả thuyết, phân
tích, phán đoán, giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, những kiến thức mà người học
khám phá, tìm hiểu được có thể mắc những sai sót, không hoàn thiện. Lúc này,
lớp học sẽ là nơi để người học được hoàn thiện về những mảng kiến thức đó
cho hoàn thiện, chính xác hơn.
1.2. Định hướng đổi mới PPDH vật lý trong trường THCS

Trang 6


-Hoà vào nhu cầu chung của sự phát tiến bộ xã hội, đáp ứng yêu cầu của
một con người mới, Vật lý học cũng có những đổi mới trong dạy học về các
mặt:
+ Xác định mục tiêu bài học;
+Tổ chức hoạt động học tập;
+Sử dụng thiết bị dạy học;
+Đánh giá kết quả học tập của HS;
+ Soạn giáo án (lập kế hoạch bài học)
-Để làm được điều này, chúng ta cũng vạch ra những định hướng để đổi
mới PPDH Vật lý, vì bộ môn Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm. Nên nếu
không có sự trải nghiệm nhất định trong thực tế thì sự lĩnh hội kiến thức không

thể sâu sắc và bền chặt được. Ông bà ta xưa có câu "Trăm nghe không bằng một
thấy, trăm thấy không bằng một làm", do đó để hiểu biết thế giới vật lí chúng ta
phải quan sát hiện tượng. Như vậy, trong sự đổi mới phương pháp dạy học vật lí
phải hướng tới việc tạo điều kiện cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức thông
qua hoạt động thực nghiệm và cao hơn nữa, cho học sinh tập dượt giải quyết
một số vấn đề vật lí trong thực tế. Do đó để phát huy vai trò của HS, có những
định hướng đổi mới như sau:
+ Sử dụng các PPDH truyền thống theo tinh thần phát huy tính tích cực, chủ
động và sáng tạo của học sinh.
+Chuyển từ phương pháp nặng về sự diễn giảng của GV sang phương pháp
nặng về tổ chức cho HS hoạt động để tự lực chiếm lĩnh kiến thức và kĩ năng
+Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hoà với học tập hợp
tác.
+ Coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học
+ Coi trọng việc rèn luyện kĩ năng ngang tầm với việc truyền thụ kiến
+ Tăng cường làm thí nghiệm vật lí trong dạy học.
+ĐDổi mới cách soạn giáo án, tăng cường sử dụng giáo án điện tử và các
ứng dụng CNTT.
1.3. Phương pháp dạy học tích cực
Trang 7


-Với định hướng vào người học, các nhà nghiên cứu giáo dục - dạy học
đã nghiên cứu và đưa ra nhiều PPDH tích cực. Vậy ta hiểu thế nào về PPDH
tích cực?
-Như chúng ta đã biết, mỗi một phương pháp giảng dạy dù cổ điển hay
hiện đại đều hướng đến mục đích cuối cùng là làm cho HS của mình tiếp thu
kiến thức. Khó có thể nói là phương pháp nào hay hơn mà ta chỉ có thể nói rằng
mỗi phương pháp có một ưu điểm riêng, vận dụng nó thế nào chính là vai trò
của người thầy trong quá trình dạy học.

-Phương pháp giảng dạy được gọi là tích cực nếu hội tụ được các yếu tố sau:
+ Thể hiện rõ vai trò của nguồn thông tin và các nguồn lực sẵn có
+ Thể hiện rõ được động cơ học tập của người học khi bắt đầu môn học
+Thể hiện rõ được bản chất và mức độ kiến thức cần huy động
+Thể hiện rõ được vai trò của người học, người dạy, vai trò của các mối
tương tác trong quá trình học
+ Thể hiện được kết quả mong đợi của người học
-Do đó, phương pháp dạy học tích cực được hiểu là một thuật ngữ rút
gọn, được dùng để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Ở đây, “tích cực” được
dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động (nghĩa tích cực không tiêu cực). Phương
pháp dạy học tích cực hướng phát huy tính vai trò của người học. Do đó, GV
phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
1.4. Một số phương pháp dạy học tích cực
- Dạy học dựa trên vấn đề (Problem based learning): là phương pháp học
tập mà chủ yếu là hướng dẫn học sinh cách học, cách hợp tác với các thành viên
khác trong nhóm để tìm ra giải pháp cho một vấn đề có thực trong cuộc sống và
đồng thời liên quan đến chương trình học. Những vấn đề này được sử dụng để
khơi dậy trí tò mò và khởi xướng nhu cầu học tập, rèn luyện cho học sinh khả
năng tư duy nghiêm túc, kĩ năng phân tích chuyên sâu cũng như các kĩ năng tìm
kiếm và sử dụng các nguồn tư liệu hỗ trợ.

Trang 8


- Dạy học theo nhóm (Group-based learning): là phương pháp dạy học
hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẽ băn khoăn, kinh nghiệm của bản
thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới làm cho bài học trở thành quá trình
học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp thu thụ động từ giáo viên. Sự
thành công của bài học sẽ phụ thuộc chủ yếu vào sự tham gia nhiệt tình của các

thành viên trong nhóm.
- Dạy học dự án (Project based learning): được thực hiện trong những
điều kiện xác định và có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau,
có thể cần sự tham gia của giáo viên nhiều môn học. Hình thức nảy phù hợp với
yêu cầu học sinh huy động kiến thức tổng hợp hoặc chuyên sâu về một lĩnh vực
để phân tích, tổng kết, đưa ra các kết quả triển khai thực hiện một công việc.
Hình thức làm chủ yếu là làm bài theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm
có thể được giới thiệu được như các bài viết, bài thuyết trình…
-Hiện nay, còn có nhiều PPDH tích cực khác nữa: PPDH kiến tạo,
phương pháp vấn đáp, phương pháp đóng vai, …nhưng vận dụng hợp lý và phù
hợp thế nào quá trình dạy học hướng đến mục tiêu chung của công cuộc giáo
dục là một vấn đề mà các nhà giáo dục phải biết tiếp thu và chọn lọc cho từng
đối tượng và cho từng cấp học,…để phát huy tối đa tiềm lực của những phương
pháp đó
II. Dạy học dự án (Project Based Learning)
a.Khái niệm dạy học theo dự án
-Trong từ điển Tiếng Việt (của tác giả Hoàng Phê), dự án là một danh từ,
nghĩa là bản dự thảo về một văn kiện về luật pháp hay về một kế hoạch cụ thể
nào đó.
-Trong tiếng Anh thuật ngữ “dự án” là “project”, có nguồn gốc từ tiếng
Latinh là “proicere” có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế.
-Trong thực tiễn sản xuất, kinh tế, xã hội, khái niệm dự án được sử dụng
phổ biến, và được đặc bởi tính không lặp lại của các điều kiện thực hiện dự án.

Trang 9


-Woodward (nhà sư phạm Mỹ) đã coi các dự án như “Các bài tập tổng hợp –
Những kĩ năng, kĩ thuật học được khi làm việc độc lập được ứng dụng trong
hoàn cảnh cụ thể”.

-Có thể nói, khái niệm dự án được hiểu là một dự định, một kế hoạch, trong
đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện tài chính, vật chất, nhân
lực và cần được thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra. Dự án được thực hiện
trong những điều kiện xác định và có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố
khác nhau.
Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học theo dự án của
các tác giả:
+ Cách học dựa trên dự án (PBL) là một mô hình học tập khác với mô hình
học tập truyền thống với nội dung bài giảng ngắn, tách biệt và lấy giáo viên làm
trung tâm. Cách hoạt động học tập dựa trên dự án được thực hiện một cách cẩn
thận, mang tính lâu dài, liên quan đến nhiều giá trị học thuật, lấy học sinh làm
trung tâm và hòa nhập với những vấn đề và thực tiễn của thế giới thực tại Học
theo dự án là một mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Cách học này
phát triển kiến thức và kỹ năng của học sinh thông qua một nhiệm vụ mở rộng,
đòi hỏi học sinh phải nghiên cứu và thể hiện kết quả học tập của mình thông
qua cả sản phẩm lẫn phương thức thực hiện.
+Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện
một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực
hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả. Hình thức làm việc
chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới
thiệu được (Viện nghiên cứu sư phạm)
+ Theo dự án bồi dưỡng giáo viên phổ thông “Dạy học cho tương lai –
Teaching For Future” do Intel tổ chức thì: Dạy học theo dự án là một mô hình
dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Nó giúp phát triển kiến thức và các kĩ năng
liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích học sinh tìm
tòi, hiện thực hóa những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra sản
phẩm của chính mình. Chương trình dạy học theo dự án được xây dựng dựa
Trang 10



trên những câu hỏi định hướng quan trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư
duy bậc cao trong những bối cảnh thực tế. Bài học thiết kế theo dự án chứa
đựng nhiều kĩ thuật dạy học khác nhau, có thể lôi cuốn được mọi đối tượng học
sinh không phụ thuộc vào cách học của họ. Thông thường học sinh sẽ được làm
việc với chuyên gia và những thành viên trong cộng đồng để giải quyết vấn đề,
hiểu nội dung sâu hơn. Các phương tiện kĩ thuật cũng được sử dụng để hỗ trợ
việc học. Trong quá trình thực hiện dự án có thể vận dụng nhiều các đánh giá
khác nhau để giúp HS tạo ra những sản phẩm có chất lượng (Chương trình giáo
dục của Intel tại VN)
+ Là một kiểu dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm. Quá trình
giảng dạy luôn định hướng vào các khái niệm cơ bản của môn học nhưng gắn
liền với thực tế. Theo phương pháp này, người học phải tự mình giải quyết các
vấn đề và các nhiệm vụ có liên quan khác để có được kiến thức, khả năng giải
quyết vấn đề và cho ra những kết quả thực tế.
Một số quan điểm của các giáo viên, độc giả quan tâm đến vấn đề dạy
học dự án:
+ Dạy học theo dự án là phương pháp dạy học lấy hoạt động của học sinh
làm trung tâm, học sinh tiếp thu những kiến thức thông qua tình huống thực tế
mà cái chính là người thực hiện theo sự hướng dẫn của giáo viên
+Dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học lấy hoạt động của học
sinh làm trung tâm, hướng học sinh đến việc tiếp thu kiến thức và kĩ năng thông
qua việc đóng một hay nhiều vai trò để giải quyết vấn đề (gọi là dự án) mô
phỏng những hoạt động có thật của xã hội chúng ta. Những hoạt động này giúp
học sinh thấy kiến thức cần học có ý nghĩa hơn.
+ Dạy học theo dự án là dạy học có sử dụng các phương pháp tích cực và
ứng dụng CNTT vào bài giảng, có tính chủ động Dạy học theo dự án là giáo
viên hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu và trình bày lại bằng sản phẩm! Dạy học
dự án là một phương pháp dạy học khá mới ở Việt Nam. Là một phương pháp
dạy học hiện đại và cách dạy học này sẽ phát huy rất nhiều điểm mạnh của học


Trang 11


sinh, hình thành cho học sinh những kỹ năng mà chúng ta hay gọi là kỹ năng
của thế kỷ 21 hay kỹ năng mềm
+ Là một kiểu dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm. Quá trình
giảng dạy luôn định hướng vào các khái niệm cơ bản của môn học nhưng gắn
liền với thực tế. Theo phương pháp này, người học phải tự mình giải quyết các
vấn đề và các nhiệm vụ có liên quan khác để có được kiến thức, khả năng giải
quyết vấn đề và cho ra những kết quả thực tế
+Đây là phương pháp dạy học kết hợp có hiệu quả việc sử dụng máy tính
với các chương trình dạy học hiện có, giúp các giáo viên phát huy khả năng
sáng tạo của mình và phát triển trí tưởng tượng của học sinh ra ngoài phạm vi
học đường, học tập kết hợp với thực hành.
Ta có thể hiểu dạy học theo dự án như sau:
-Dạy học theo dự án (Project based learning) được hiểu như là một phương
pháp hay một hình thức dạy học, trong đó người học giữ vai trò trung tâm thực
hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành,
có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Nhiệm vụ này được người học thực
hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, Làm việc nhóm là hình
thức cơ bản của dạy học dự án, có ứng dụng CNTT, dưới dự hướng dẫn, hỗ trợ,
cộng tác của giáo viên .
b.Lịch sử nghiên cứu phương pháp dạy học dự án
-Như chúng ta thấy, hai từ “Dự án” thường được sử dụng phổ biến trong
những lĩnh vực kinh tế - chính trị: trong sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa
học cũng như trong quản lý xã hội. Qua thời gian, khái niệm “dự án” đã dần dần
đi vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển
giáo dục mà còn được sử dụng như một phương pháp hay hình thức dạy học.
Khái niệm “Dự án” được sử dụng trong các trường dạy kiến trúc - xây dựng ở
Ý từ cuối thế kỷ XVI.

-Học tập bằng các dự án không còn là duy nhất đối với ngành kiến trúc.
Đến cuối thế kỉ XVIII chuyên ngành cơ khí đã được thành lập và được coi là
một bộ phận của các trường đại học công nghiệp và kĩ thuật mới. Sự lan truyền
Trang 12


từ châu Âu sang châu Mĩ và từ ngành kiến trúc đến ngành cơ khí có ảnh hưởng
quan trọng đến việc sử dụng và trang bị cơ sở lí luận cho các phương pháp dạy
học theo dự án.
-Có thể nói, bắt nguồn từ châu Âu vào thế kỉ XVI đến đầu thế kỷ XX, các
nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sơ lý luận cho phương pháp dự án (The
Project Method) và coi đó là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện
quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm, nhằm khắc phục nhược điểm
của dạy học truyền thống.
-Ban đầu, phương pháp dự án được áp dụng chủ yếu đến môn học thực
hành mang tính chất kĩ thuật. Sau đó, được vận dụng vào các môn xã hội rồi tất
cả các môn. Hiện nay, được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và đại
học trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển.
c. Bản chất
-Học sinh lĩnh hội kiến thức và kĩ năng thông qua quá trình giải quyết
một bài tập tình huống gắn với thực tiễn – dự án. Kết thúc dự án sẽ cho ra sản
phẩm.
d. Mục tiêu dạy học theo dự án
*Về kiến thức
-Hướng tới các vấn đề thực tiễn, gắn kết nội dung bài học với thực tế.
*Về kĩ năng
- Phát triển cho học sinh kĩ năng:
+ Phát hiện và giải quyết vấn đề
+ Tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá…) từ các nguồn
thông tin, tư liệu thu thập được.

- Rèn luyện nhiều kĩ năng:
+ Tổ chức kiến thức
+ Kĩ năng sống
+ Kĩ năng làm việc nhóm
+ Kĩ năng giao tiếp

Trang 13


- Cho phép HS làm việc “một cách độc lập” để hình thành kiến thức và
cho ra những kết quả thực tế.
- Nâng cao kĩ năng sử dụng CNTT vào quá trình học tập và tạo ra sản
phẩm.
* Về thái độ
- Giúp cho học sinh cảm thấy yêu thích môn học hơn
- Nhận thấy những giá trị của hoạt đông nhóm, chấp nhận những quan điểm
khác nhau, phát triển tư duy phê phán, không ngừng nỗ lực học tập.
e .Đặc điểm dạy học dự án
-Trong các tài liệu về dạy học dự án có rất nhiều đặc điểm được đưa ra. Các nhà
sư phạm Mỹ đầu thế kỷ XX khi xác lập cơ sở lý thuyết cho phương pháp dạy
học này đã nêu ra ba đặc điểm cốt lõi của dạy học theo dự án: định hướng HS,
định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm. Có thể cụ thể hoá các đặc điểm
của DHDA như sau:
+ Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống
của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống. Nhiệm
vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của
người học.
+Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học
tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội. Trong những trường hợp lý
tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực.

+ Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội
dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra, hứng thú
của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án.
+ Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh
vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
+ Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp
giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dung lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn,
thực hành. Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng
như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.
Trang 14


+ Tính tự lực cao của người học: Trong DHDA, người học cần tham gia
tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi
và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. Giáo viên chủ yếu
đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp
với kinh nghiệm, khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ. Cộng tác
làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự
cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm.
DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các
thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác
tham gia trong dự án. Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội.
Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo
ra. Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà
trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của
hoạt động thực tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố,
giới thiệu.
g. Phân loại dạy học dự án
-Dạy học theo dự án có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác
nhau. Sau đây là một số cách phân loại dạy học theo dự án:

* Phân loại theo chuyên môn
- Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học.
- Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau.
- Dự án ngoài chuyên môn: là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các
môn học
* Phân loại theo sự tham gia của người học:
-Dự án cho nhóm học sinh, dự án cá nhân. Dự án dành cho nhóm học sinh là
hình thức dự án dạy học chủ yếu. Trong trường phổ thông còn có dự án toàn
trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học.
*Phân loại theo sự tham gia của giáo viên:
-Một giáo viên tham gia dự án hoặc dưới sự cộng tác hướng dẫn của nhiều
giáo viên tham gia dự án. 30B
Trang 15


* Phân loại theo quỹ thời gian:
- Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học.
- Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”),
nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học.
- Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần
(hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”).
Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông .
* Phân loại theo nhiệm vụ
-Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo
các dạng sau:
+ Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng.
+ Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện
tượng, quá trình.
+ Dự án thực hành: có thể gọi là dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm là
việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động

thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu
diễn, sáng tác.
+ Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên.
-Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau. Trong từng lĩnh vực
chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng.
h. Ưu, nhược điểm
* Ưu điểm
-Dựa vào sự so sánh với dạy học truyền thống thì mô hình này cũng thể
hiện những ưu điểm. Có thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của dạy học
theo dự án: Giúp HS hình thành và phát các kĩ năng cần thiết trong thời đại
ngày nay như kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc
nhóm…
- Giúp HS chuyển:
+ Từ nghiên cứu lí thuyết sang vận dụng lí thuyết vào hoạt động thực
tiễn.
Trang 16


+ Từ hình thức học tập thụ động sang hình thức học tập chủ động có định
hướng.
+ Từ hình thức thụ đông ghi nhớ, lặp lại sang khám phá, tích hợp và trình
bày
+ Từ kiến thức đơn thuần về sự kiện, thuật ngữ, nội dung sang hiểu rõ
quá trình.
+ Từ phụ thuộc vào giáo viên sang chủ động tổ chức
- Là hình thức dạy học phù hợp với mục tiêu giáo dục theo quan điểm
của UNESCO: học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự hoàn
thiện.
- Là hoạt đông học tập không chỉ giới hạn trong một bộ môn mà liên
quan đến nhiều bộ môn khác nhau, do đó, tạo nên mối liên hệ liên môn.

* Nhược điểm
- Không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính trừu
tượng, hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản
- Đòi hỏi nhiều thời gian. Vì vậy nó không thay thế cho phương pháp
thuyết trình và luyện tập, mà là hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các
PPDH truyền thống.
- Đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp.
i. Những quan điểm của dạy học theo dự án
-Quan điểm DH là những định hướng tổng thể cho các hoạt động DH,
trong đó, có sự kết hợp giữa các nguyên tắc DH làm nền tảng, những cơ sở lí
thuyết của lí luận DH, những điều kiện DH và tổ chức cũng như các định hướng
về vai trò của GV và HS trong quá trình DH.
Ba quan điểm của DHDA là:
- Quan điểm DH hướng vào người học: HS là trung tâm của quá trình dạy
học. HS tự mình tìm ra kiến thức, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, tự
kiểm tra đánh giá và điều chỉnh hoạt động nhận thức.
- Quan điểm DH định hướng hành động: Dạy học định hướng hành động
dựa trên lí thuyết hành động nhận thức, lí thuyết hoạt động. Cơ sở của lí thuyết
Trang 17


là trong quá trình nhận thức cần có sự kết hợp giữa tư duy và hành động, lí
thuyết và thực tiễn. Quan điểm dạy học này cũng dựa trên lí thuyết kiến tạo,
thông qua hành động tự lực, HS tự lĩnh hội và kiến tạo tri thức. Việc tổ chức
quá trình DH được chi phối bởi những sản phẩm hành động đã được thỏa thuận
giữa GV và HS.
- Quan điểm DH tích hợp: Tích hợp (integration) có ý nghĩa là sự hợp
nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp. Tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên kết với
nhau và liên hệ mật thiết với nhau là tính liên kết và tính toàn vẹn. Trong lí luận
dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống ở

những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau
hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất.
-Như vậy, cũng như các PPDH tích cực khác, dạy học dự án thực chất là
một quá trình:
+Biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục. HS tự lực nghiên cứu, tự tìm
ra kiến thức bằng hành động của chính mình, tức là cá nhân hóa việc học.
+ HS cộng tác với các HS khác trong nhóm, trong lớp làm cho kiến thức
mà cá nhân tự tìm ra mang tính xã hội, khách quan hơn, tức là xã hội hóa việc
học.
+ GV là người hướng dẫn, tổ chức quá trình cá nhân hóa việc học và xã
hội hóa việc học.
f. Một số quy trình dạy học dự án
-Hiện nay, có rất nhiều tác giả đã và đang nghiên cứu về PP DHTDA.
Mỗi tác giả lại thuộc những lĩnh vực khác nhau, do đó khi nghiên cứu về PP
DHTDA, họ nghiên cứu nhìn nhận nó dưới góc độ các lĩnh vực khoa học khác
nhau với mục đích phục vụ cho chuyên ngành mà họ đang đảm nhận chính. Vì
thế, từ trước đến nay chưa có một tác giả nào đưa ra một qui trình chung để vận
dụng PP DHTDA cho tất cả các môn học. Có chăng, chỉ đưa ra qui trình áp
dụng vào một môn học cụ thể hay một lĩnh vực hẹp nào đó. Dưới đây là một số
qui trình dạy học theo dự án của một số tác giả.

Trang 18


Savoie và Hunghes miêu tả quá trình dạy học theo dự án gồm các bước
như sau:
1. Xác định một vấn đề phù hợp với học sinh.
2. Liên kết vấn đề với thế giới của các em học sinh
3. Tổ chức chủ đề xung quanh vấn đề /dự án chứ không phải môn học.
4. Tạo cho học sinh cơ hội để xác định phương pháp và kế hoạch học để

giải quyết vấn đề.
5. Khuyến khích sự cộng tác bằng cách tạo ra nhóm học tập
6. Yêu cầu tất cả học sinh trình bày kết quả học tập dưới hình thức một dự
án hoặc một chương trình.
- Qua cách miêu tả của Savoie và Hunghes thì trong qui trình trên, cho thấy
cái nhìn khái quát về một dự án cần tổ chức cho học sinh thực hiện. Cụ thể, thì
theo tác giả thì một dự án có thể đem lại hiệu quả khi dự án đó phù hợp với
người học, có liên hệ với thực tiễn cuộc sống và đặc biệt dự án không chỉ gói
gọn trong một bài học, môn học mà có thể mở rộng sang nhiều môn học, mang
tính liên ngành. Ngoài ra, qui trình trên cho thấy sự chuẩn bị là hết sức quan
trọng khi tổ chức dạy học theo phương pháp này. Trong quá trình chuẩn bị,
người học cần được trực tiếp tham gia vào việc lập kế hoạch, xác định phương
pháp làm việc... Trong quá trình thực hiện dự án, chúng ta luôn khuyến khích
sự cộng tác làm việc theo nhóm của học sinh. Tuy nhiên, qui trình trên chưa chỉ
rõ được tiến trình thực hiện một dự án cụ thể.
- Theo tác giả Nguyễn Đức Chỉnh (Trường ĐH Ngoại ngữ, ĐH Đà
Nẵng) đưa ra quy trình như sau:
1. Chọn dự án: Trước hết giáo viên phải giải thích cho học sinh hiểu sự
cần thiết cũng như mục tiêu của dự án trước khi lựa chọn một chủ đề cụ thể.
Sau đó từng học sinh hay cả nhóm có thể lựa chọn dự án.
2. Lập kế hoạch dự án: Để đạt được mục đích của dự án, học sinh phải
lập kế hoạch . Trong kế hoạch này, học sinh cần phải xem xét dự án của mình
có phù hợp với khóa học, kết quả thu được từ dự án có khích lệ họ trong học tập

Trang 19


hay không. Bên cạnh đó, phương pháp tiến hành, tài liệu tham khảo hay các
phương tiện để hoàn thành cũng cần phải được cân nhắc kỹ.
3. Thực hiện dự án: Học sinh ở các cấp học cao có thể thực hiện các hoạt

động của dự án mà không cần nhiều sự hướng dẫn hay giám sát của giáo viên.
Ngược lại học sinh ở các cấp dưới lại cần có sự hướng dẫn cụ thể. Trong quá
trình thực hiện dự án, học sinh có thể tổ chức các buổi thảo luận để tìm kiếm
các giải pháp.
4. Đánh giá dự án: Khi dự án đến giai đoạn kết thúc, giáo viên và học sinh
cùng nhau đánh giá những gì đã đạt đượcvà rút kinh nghiệm để lần sau làm tốt
hơn.
-Đối với quy trình này, ta nhận thấy vai trò của HS được nhấn mạnh. Tuy
nhiên trong chọn dự án thì tác giả đề cập đến mục tiêu dự án trước rồi sau đó
chọn dự án thực hiện ta thấy nếu những dự án mà HS lựa chọn không hứng thú
thì HS không thể tham gia tích cực được, nên đưa ra vấn đề hấp dẫn liên quan
đến nội dung bài học đáp ứng mục tiêu bài học GV đã đưa ra. Phần đánh giá dự
án, tác giả chưa nêu lên những tiêu chí phục vụ cho việc đánh giá. Tuy nhiên
đây là một quy trình rõ ràng, cho thấy vai trò trung tâm của học sinh trong việc
tự tìm tri thức dưới dự hướng dẫn của GV. Vì vậy, đây có thể xem là một quy
trình tham khảo để ta có thể xây dựng quy trình ở phần sau.
Theo Tác giả Vũ Thị Kim Oanh lên kế hoạch thực hiện dạy học theo dự án
thành các giai đoạn như sau:
1. Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án: GV và HS cùng nhau đề
xuất, xác định đề tài và mục đích của dự án. Cần tạo ra một tình huống xuất
phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó
chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống. Cần chú ý
đến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài. GV có thể giới
thiệu một số hướng đề tài để học viên lựa chọn và cụ thể hoá. Trong trường hợp
thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía HS. Giai
đoạn này được K.Frey mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo
luận sáng kiến.
Trang 20



2. Xây dựng kế hoạch thực hiện: trong giai đoạn này HS với sự hướng
dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án.
Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian
dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong
nhóm.
3. Thực hiện dự án: các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã
đề ra cho nhóm và cá nhân. Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí
tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động
qua lại lẫn nhau. Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử
nghiệm qua thực tiễn. Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới
được tạo ra.
4. Thu thập kết quả và công bố sản phẩm : kết quả thực hiện dự án có thể
được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn… Trong nhiều dự án các sản
phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành. Sản phẩm của dự án cũng
có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch,
việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội. Sản phẩm của dự án
có thể được trình bày giữa các nhóm sinh viên, có thể được giới thiệu trong nhà
trường, hay ngoài xã hội
5. Đánh giá dự án: GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả
cũng như kinh nghiệm đạt được. Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực
hiện các dự án tiếp theo. Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên
ngoài. Hai giai đoạn cuối này cũng có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết
thúc dự án. Ở đây tác giả cũng nêu khá rõ và đầy đủ các giai đoạn của quá trình
dạy học theo phương pháp dự án.
-Trong qui trình trên, tác giả vẫn chưa làm rõ được những nội dung cần
thực hiện trong bước lập kế hoạch thực hiện dự án. Thành công của một dự án
không phải là việc ta đưa ra một quy trình chung mà phải có sự chi tiết trong
từng giai đoạn và được chuẩn bị chu đáo. Tuy nhiên, đây là qui trình có giá trị
giúp làm tài liệu tham khảo quan trọng để em đưa ra qui trình vận dụng phương
pháp dạy học theo dự án trong dạy học vật lí cho học sinh trung học phổ thông.

Trang 21


-Theo Tác giả Trần Thị Thanh Thủy đưa ra qui trình của PP DHTDA
có ứng dụng CNTT trong dạy học như sau:
Bước 1: Tìm hiểu các vấn đề đang diễn ra chung quanh cuộc sống của
học sinh. Các vấn đề này phải có tác động rất rõ nét đối với cuộc sống thường
nhật của các em. Những vấn đề này có thể không giống nhau đối với mọi đối
tượng học sinh.
Bước 2: Tìm kiếm những vấn đề lớn mà thế giới đã và đang phải đối mặt
Bước 3: Tìm trong chương trình GV đang dạy có những bài (phần) nào
có nội dung liên quan đến các vấn đề ở trên. Điều này rất quan trọng vì việc GV
xác định được các nội dung đó sẽ giúp họ lựa chọn được các nội dung phù hợp
để tiến hành dạy bằng PP DHTDA có đạt hiệu quả hay không.
Bước 4: Lựa chọn một bài, nhiều bài hoặc một phần mà GV thấy có khả
năng sử dụng được PP DHTDA
Bước 5: Xác định mức độ tư duy của người học, các GV cần phải xác
định được mức độ nhận thức của người học để từ đó xác định được dự án phù
hợp với trình độ các em.
Bước 6: Xác định mục tiêu của dự án.
Bước 7: Xác định dự án. GV cần lưu ý khi thực hiện bước này bởi vì nội
dung của dự án sẽ chi phối sản phẩm dự án từ đó chi phối các hoạt động của HS
nhằm thực hiện các dự án đó. Chính vì cậy, dự án phải có nội dung bao trùm lên
toàn bộ bài hoặc phần mà GV lựa chọn, đồng thời cũng phải phù hợp với trình
độ nhận thức và tư duy của người học, tránh để diễn ra tình trạng dự án quá khó
hoặc quá dễ đối với các em.
Bước 8: Xác định sản phẩm của dự án – đó là một (hay nhiều) sản phẩm
cụ thể mà người học phải hoàn thành khi thực hiện dự án, đồng thời khi hoàn
thành được sản phẩm thì người học sẽ đạt được các mục tiêu mà GV đề ra.
Bước 9: GV tìm kiếm các tài liệu hỗ trợ cho quá trình dạy của bản thân

và cho quá trình học của người học.
Bước 10: GV lập các phiếu đánh giá bài tập của người học, GV sẽ phát
cho các em các phiếu đánh giá này trước khi tiến hành thực hiện dự án.
Trang 22


Bước 11: GV phân nhóm, mỗi nhóm có từ 4 đến 6 em ở các trình độ khác
nhau.
Bước 12: GV lập kế hoạch sử dụng máy tính, truy cập mạng internet,...
Kế hoạch này phải được GV sắp xếp một cách cẩn thận và tùy thuộc vào điều
kiện cơ sở vật chất của từng trường, của từng địa phương mà GV có kế hoạch
cụ thể.
Bước 13: GV tổ chức một buổi để nêu ý tưởng dự án, giao nhiệm vụ cho
các nhóm, cung cấp nguồn tài liệu tham khảo, lịch hoạt động của phòng máy
tính, thời hạn hoàn thành các sản phẩm dự án,... Trong suốt quá trình người học
làm việc, GV cần thường xuyên đôn đốc, hướng dẫn cho các em và giúp đỡ khi
cần thiết.
Bước 14: Tổ chức một buổi tổng kết để các em báo cáo sản phẩm của mỗi
nhóm, GV và các nhóm khác cùng nhận xét và cho điểm.
-Trong quy trình trên, ta thấy tác giả đưa ra rất nhiều bước thực hiện, chứng
tỏ khá chi tiết, tuy nhiên đa số các bước trên ta chì thấy được vai trò lập dự án
của GV nhưng chưa thấy được cách thức tổ chức HS thực hiện dự án như thế
nào, tiến hành ra sao…
k. Xây dựng quy trình dạy học dự án trong dạy học vật lý
* Những khó khăn khi áp dụng DHDA vào dạy học Vật lý
-Có thể nói dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học mới tuy đã
được áp dụng ở một số môn học nhưng chưa phổ biến. Chính vì thế, khi áp
dụng vào dạy học môn Vật lý sẽ gặp phải không ít khó khăn:
- Phương pháp này, đòi hỏi sự thay đổi trong tư duy “cổ điển” của cả GV
và HS, bởi lẽ dạy học truyền thống đã in sâu trong cách dạy và học của thầy và

trò, chính điều này là một trở ngại cho phương pháp học và dạy mới. Do đó,
phương pháp này đòi hỏi GV phải lập kế hoạch và nội dung dự án khá công
phu, phải thực sự tâm huyết với nghề. Đối với HS cần thay đổi nhận thức đây là
một phương pháp học mới đòi hỏi phải phát huy cao độ tính tích cực, chủ động,
sáng tạo và khả năng hợp tác làm việc trong nhóm.

Trang 23


- Việc chuẩn bị và tiến hành dạy và học theo dự án đòi hỏi thời gian
nhiều hơn so với thời gian chuẩn bị dạy theo kiểu truyền thống _với sự chuẩn bị
chu đáo của GV- vai trò trung tâm thì việc dạy học không có gì là nặng nề,
trong khi đó với thời lượng 2 đến 3 tiết một tuần thì quả là không dễ dàng cho
cách dạy này.
-Hiện nay, không phải trường nào cũng có đầy đủ kinh phí và cơ sở vật
chất phục vụ dạy và học, ở một số trường nông thôn còn nghèo nàn, lạc hậu rất
nhiều. Trong khi đó, Vật lý là môn học mang tính thực nghiệm rất cao và mang
tính trừu tượng, do đó để cho HS hiểu vấn đề sâu sắc thì thật không dễ. Vì vậy,
để triển khai vận dụng phương pháp dạy học dự án có hiệu quả đòi hỏi nhà
trường phải có đủ các trang thiết bị cần thiết: dụng cụ thí nghiệm tương ứng với
từng bài liên quan trực tiếp thực tiễn, mô hình, vật liệu,… Mặt khác, đây là một
phương pháp dạy học mới, nên cả thầy và trò không tránh khỏi bỡ ngỡ và lúng
túng do đó GV phải tìm hiểu kĩ phương pháp này để xây dựng mô hình và
những ví dụ thích hợp để áp dụng trong dạy học theo dự án sẽ gặp không ít khó
khăn.
- Với phương pháp lấy HS làm trung tâm thì HS cần được rèn luyện một
phương pháp học mới: quá trình tự học, tự nghiên cứu, tự sáng tạo, tinh thần
trách nhiệm và khả năng cộng tác giữa các thành viên trong nhóm. Sự cộng tác
này thể hiện ở kết quả là sản phẩm vật chất hoặc phi vật chất của cả nhóm.
-Qua phân tích những khó khăn mang tính khách quan và chủ quan trên,

ta nhận thấy rằng chỉ có lòng quyết tâm và nhiệt huyết cao của đội ngũ GV phụ
trách bộ môn cộng với sự quan tâm và tạo điều kiện của nhà trường cùng với
toàn ngành thì PP DHTDA mới mang tính khả thi, phát triển có hiệu quả.
* Xây dựng quy trình dạy học dự án trong dạy học vật lý
-Nghiên cứu một số quy trình dạy học PP DHTDA, nghiên cứu những
thuận lợi và khó khăn khi áp dụng vào dạy học vật lý, tôi đưa ra quy trình dạy
học theo dự án trong vật lý như sau:
Giai đoạn 1: Quyết định vấn đề, hình thành dự án.
Giai đoạn 2: Lập dự án
Trang 24


Giai đoạn 3: Lập kế hoạch thực hiện
Giai đoạn 4: Thực hiện dự án
Giai đoạn 5: Trình bày sản phẩm
Giai đoạn 6: Tổng kết, đánh giá.
Giai đoạn 1:Quyết định vấn đề, hình thành dự án
-Đây là giai đoạn rất quan trọng nhưng cũng đầy khó khăn. Thông
thường GV và HS cùng nhau suy nghĩ đề xuất vấn đề, xác định đề tài song thực
tế GV phải có sự định hướng trước HS. GV có thể gợi ý một số vấn đề liên
quan đến thực tiễn mang tính chất kích thích trí tò mò của HS, sau đó GV và
HS cùng nhau thảo luận vấn đề, đôi khi trong quá trình đó, HS có thể bật ra
những ý tưởng táo bạo nhưng hấp dẫn liên quan đến nội dung bài học. Để làm
được điều này GV:
- Phải thực sự nắm vững kiến thức và liên hệ thực tế tốt có khả năng xâu
chuổi sự kiện gắn kết với mục tiêu mà GV muốn hướng đến.
- Dựa vào chương trình học của môn, cụ thể là nội dung của bài học mà
mình dự định làm dự án, GV xác định các chuẩn kiến thức, xác định mục tiêu
bài học: kiến thức, kĩ năng mà học sinh cần đạt
- Suy nghĩ, tìm ý tưởng về dự án của mình phải mang tính thực tiễn liên

quan đến cuộc sống và thể hiện nội dung bài học.
-Một dự án tốt có khả năng mang lại hiệu quả là một dự án nghiên cứu sâu
về các chủ đề thực tế và các vấn đề mà người học thực sự muốn tìm hiểu, thể
hiện được vai trò trung tâm của HS nhằm giúp các em hiểu được nội dung bài
học và liên hệ những điều các em quan tâm.
Trong thực tiễn dự án, có một số loại dự án thường được tổ chức như
sau:
+Học thông qua việc phục vụ cộng đồng: đây là những dự án thường gắn
liền với cộng đồng địa phương và HS có thể áp dụng bài học trong lớp học vào
tình hình thực tế. Ví dụ, tìm hiểu ô nhiễm nguồn nước ở địa phương, hay xây
dựng kế hoạch mọi người mọi nhà dùng nguồn nước sách thông qua hệ thống
lọc nước đơn giản.
Trang 25


×