Phân tích khổ thứ nhất của bài thơ Đồng chí.( Cơ sở hình thành tình đồng chí)
I. Mở bài
- Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác
- Khái quát nội dung + nghệ thuật
- Giới thiệu, chép lại khổ thơ
VD: Là nhà thơ trưởng thành trong cuộc k/c chống P, CH bắt đầu sáng tác thơ năm 1947. Ông
tên thật là Trần Đình Đắc, quê ở Can Lộc – Hà Tĩnh. Thơ CH xoay quanh đề tài người lính và
chiến tranh. Thơ ông ngắn gọn, cô đọng, hàm xúc, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh chân thực, mộc
mạc như bản chất người xứ Nghệ nhưng lại mang nét hào hoa của người từng sống ở HN. "Đồng
chí" là tác phẩm tiêu biểu của ông. Khổ thơ đầu, nhà thơ đã lí giải sâu sắc cơ sở hình thành lên
tình đồng chí.
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
…………………..
Đồng chí!
II. Thân bài
1. Khái quát: Với những lời thơ mộc mạc, giản dị, ý thơ đằm thắm, tg đã khắc họa thành công
h/ả người lính Cụ Hồ trong cuộc k/c chống P. Đoạn thơ mở đầu đã để lại bao xúc động. Bởi ta
hiểu được cơ sở hình thành nên tình đồng chí. Họ đã gắn kết với nhau bởi rất nhiều điểm chung:
chung giai cấp, nhiệm vụ, khó khăn, thiếu thốn, lí tưởng.
2. Phân tích
* Chung giai cấp:
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
- Hai câu thơ với cấu trúc sóng đôi, giọng thơ trầm lắng như lời tâm sự, ngôn ngữ giản dị mộc
mạc như lời ăn tiếng nói hằng ngày, đặc biệt là cách sử dụng thành ngữ dân gian đã diễn tả đầy
đủ hoàn cảnh xuất thân của những người lính. "Nước mặn đồng chua" gợi h/ả những vùng đồng
bằng chiêm trũng lắm mặn, nhiều phèn. Cây cối khó trồng vì đất đai thiếu màu mỡ, phì nhiều.
"Đất cày sỏi đá" gợi lên liên tưởng đến những vùng trung du, đồi núi, đất đai cằn cỗi, bạc màu.
Anh và tôi tuy xuất thân từ những vùng quê khác nhau, kẻ miền núi, người miền biển nhưng đều
có chung hoàn cảnh nghèo khó, vất vả, lam lũ. Chúng ta đều là những người nông dân nghèo
quanh năm gắn bó với ruộng đồng, với cái cày, cái cuốc, con trâu.
-> Có thế thấy, tình giai cấp chính là t/c đầu tiên gắn bó những người lính nông dân ấy lại với
nhau.
- Trước khi chiến tranh xảy ra, họ vẫn là người xa lạ:
Anh với tôi đôi người xa lạ
- Họ tuy là những người xa lạ nhưng tác giả lại gọi họ là "đôi". "Đôi" cũng có nghĩa là hai nhưng
đó là hai người có mối quan hệ gần gũi, khăng khít. Bởi từ trong sâu thẳm, họ gắn kết với nhau
trong mối quan hệ của người cùng một dân tộc, cùng chung nỗi đau, cùng chung nhiệm vụ chiến
đấu bảo vệ TQ. Họ nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của TQ để rồi:
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
- Chiến tranh xảy ra, đất nước bị lâm nguy, tiếng gọi ấy thôi thúc các chàng trai ra trận. Họ vốn
là những con người nông dân quen với cái cày ,cái cuốc, con trâu, với ruộng vườn. Giờ dây họ
phải giã từ tất cả để lại sau lưng: mái đình, giếng nước, gốc đa và ánh mắt đăm đắm của người
thân. Những con người xa lạ ấy đã trở thành thân thiết, gắn bó vì cùng đứng trên một trận tuyến
chiến đấu với kẻ thù.
* Chung nhiệm vụ
- Những con người xa lạ ấy luôn sát cánh bên nhau. H/ả "súng bên súng" vừa là hình ảnh thực,
vừa là hình ảnh tượng trưng. Súng là vũ khí, là phương tiện của người lính, là biểu tượng của
chiến tranh. Những người lính luôn có cây súng kề bên trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cây súng
không chỉ là vũ khí, phương tiện mà còn là người bạn gần gũi, thân thiết với họ. Đồng thời nó
còn có sức gợi tả những người lính luôn có chung nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc. Và khi họ cùng đứng
trên một trận tuyến, cùng có chung nhiệm vụ thì họ đã trở thành đồng đội của nhau.
* Chung khó khăn, thiếu thốn
- Họ không chỉ có chung nhiệm vụ mà còn cùng nhau chịu những khó khăn, thiếu thốn của c/s
đời thường:
Đêm rét chung chăn
- Lời thơ giản dị, hình ảnh chân thực, giọng thơ trầm lắng như lời thì thầm tâm sự về những khó
khăn thiếu thốn mà “tôi” và “anh” đang phải chịu. H/ả thơ thật giản dị nhưng lại nói lên nhiều
hơn bất kì lời nói hoa mĩ nào. Họ - những con người nông dân bước vào c/chiến với trang bị vô
cùng thô sơ và thiếu thốn.:
Áo anh rách vai.
Quần tôi có vài mảnh vá
Chân không giày
Vậy mà họ vẫn phải đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt và giá rét lạnh của núi rừng VB.
Câu thơ không chỉ nói lên cái thiếu thốn của họ mà còn diễn tả một cách xúc động tình cảm gắn
bó giữa những người lính. Dường như càng khó khăn thiếu thốn bao nhiêu, thì tình đồng chí,
đồng đội càng gắn bó bấy nhiêu. Tấm chăn ấy tuy không đủ để sưởi ấm họ về thể xác nhưng lại
sưởi ấm họ về tâm hồn. Có lẽ không ở đâu trên trái đất này, tình cảm của người lính lại thân
thiết, gắn bó như vậy. Và chính trong những đêm đông lạnh giá, cùng đắp chung tấm chăn
mỏng, họ đã sẻ chia với nhau bao tâm sự, nỗi niềm. . để rồi từ sự gắn bó thân thiết ấy, họ trở
thành bạn tri âm, tri kỉ của nhau.
* Chung lí tưởng:
- Mỗi người lính khi bước vào chiến trường đều mang trong mình ty nước thiết tha cháy bỏng.
Khó khăn thiếu thốn không làm họ lùi bước. vất vả gian truân không làm họ nản lòng. Điều gì đã
giúp họ có được sức mạnh như vậy? Đó chính là khát vọng, là lí tưởng, là mục đích chiến đấu
của họ: Đánh đuổi giặc ngoại xâm. ba tiếng "đầu bên đầu" đều sử dụng vần bằng, diễn tả thái độ
nhẹ nhàng nhưng kiên quyết về ý thức của người lính. Tất cả họ đều đứng chung trong một hàng
ngũ, một trận tuyến để cùng nhau chia sẻ ngọt bùi. Và từ trong những chia sẻ gắn bó ấy, tình
đồng đội đã trở thành tình đồng chí thiêng liêng.
- "Đồng chí" - câu thơ chỉ có 2 tiếng kết hợp với dấu chấm than như một tiếng gọi thốt lên từ tận
đáy lòng với bao t/c trìu mến trân trọng. Đó cũng chính là một phát hiện, một khẳng định về một
tình cảm vô cùng thiêng liêng. Hai tiếng "Đồng chí" ngắn gọn nhưng không khô khan bởi nó là
kết tinh của rất nhiều tình cảm: tình người, tình đồng đội, tình tri kỉ. Nó như gói gọn mọi cung
bậc cảm xúc để phát triển thành thứ tình cảm mới vô cùng thiêng liêng.
- “ Đồng chí” - câu thơ được tách thành một dòng riêng, có vị trí đặc biệt. Nó như một bản lề gắn
kết hai phần bài thơ, vừa khép lại ý của bẩy câu thơ trên: cùng hoàn cảnh xuất thân, cùng lý
tưởng thì trở thành đồng chí của nhau. Đồng thời nó cũng mở ra ý tiếp theo: Đó chính là biểu
hiện cụ thể và cảm động của tình đồng chí ở mười câu thơ sau.
-> Câu thơ như một nốt nhạc làm bừng sáng cả bài thơ. Bởi đó là kết tinh của tình cảm cách
mạng mới mẻ chỉ có ở thời đại mới. Câu thơ thứ 7 thực sự là một câu thơ đặc biệt.
III. Kết bài: Khổ thơ kết thúc nhưng lại mở ra những suy nghĩ mới trong lòng người đọc. Bởi
nó đã khơi gợi lại những kỷ niệm đẹp, những tình cảm tha thiết gắn bó yêu thương để hình thành
nên tình đồng chí mà chỉ có những người đã từng là lính mới có thể hiểu và cảm nhận hết được.
Bài thơ đã ca ngợi tình đồng chí hết sức thiêng liêng như là một ngọn lửa vẫn cháy mãi, bập
bùng, không bao giờ tắt.