Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

chủ nghĩa mác lênin về tôn giáo

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (200.63 KB, 31 trang )

Mở đầu
Mấy thập kỷ gần đây, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo được nhiều người quan
tâm, theo dõi trên cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Có tình hình đó
không chỉ do sự phục hồi, phát triển mạnh mẽ của các hình thức tín ngưỡng, tôn
giáo ở một số nước mà còn vì trong thời đại ngày nay, tôn giáo có lien quan chặt
chẽ đến những cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc đang diễn ra ở nhiều nơi; không
chỉ vì nó có vai trò và tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực của đời sống xã hội
mà còn biểu hiện của sự bảo lưu, gìn giữ bản sắc văn hoá của từng cộng đồng
dân tộc trước xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá hiện nay. Tín ngưỡng, tôn giáo là
nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, nhưng lại liên quan đến các lĩnh
vực của đời sống xã hội, tác động đến văn hoá, đạo đức, kinh tế, xã hội, an ninh
và quốc phòng.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo và đang có
xu hướng phát triển. Trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh
đạo đổi mới về tôn giáo cũng là quá trình lâu dài, quá trình ấy đòi hỏi phải từng
bước được hoàn thiện. Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, việc đổi
mới nhận thức, đánh giá và ứng xử với tôn giáo cũng cần được đặt ra. Tuy vậy,
sự đổi mới đúng đắn và khoa học phải dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, cơ sở
đó là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo cùng với
những đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

1


Nội dung
Chương 1: Lý luận chung
1.1

Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo

Tất cả các nhà triết học trước chủ nghĩa Mác, kể cả những nhà duy vật, đều là


những người theo chủ nghĩa duy tâm trong quan niệm về đời sống xã hội, vì họ mới
dừng lại ở chỗ xác nhận một sự thật là: khác với tự nhiên - nơi mà những lực lượng
vô tri vô giác đang hoạt động, thì trong xã hội, con người lại là một trong những
thực thể có ý thức, có khả năng tự kiểm soát các hoạt động của riêng mình. Từ đó
mà họ đều cho rằng: xã hội vận hành theo một cách riêng của nó, hoặc theo ý chí
của một thế lực siêu tự nhiên có nhân tính ( như Đức Chúa ) hay không có nhân tính
( như Ý niệm tuyệt đối ), hoặc theo ý chí chủ quan của chính loài người.
Xuất phát từ cái nhìn duy tâm đó, tôn giáo - một hình thái ý thức xã hội, đã ra đời và
vẫn có cơ sở để phát triển trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, từ cuối thời kỳ
công xã nguyên thuỷ cho đến tận bây giờ. Vậy đâu là nguyên nhân cho sức sống dai
dẳng của tôn giáo trong xã hội ? Và trong xã hội xã hội chủ nghĩa, liệu có còn tồn
tại tôn giáo ? Chủ nghĩa Mác - Lênin có quan điểm như thế nào về việc giải quyết
vấn đề này ?
Tìm lời giải đáp cho những câu hỏi này là một vấn đề hết sức phức tạp.
Trong tác phẩm Những nguyên lý của Đảng Cộng sản ( năm 1847 ), trước câu hỏi: "
Nó ( tức tổ chức cộng sản trong chủ nghĩa xã hội ) sẽ có thái độ như thế nào đối với
các tôn giáo hiện đương tồn tại ?", Ăngghen viết: " Vẫn giữ lại " (1), tức là vẫn giữ
nguyên những quan điểm trước đây của Người về vấn đề này trong bản sơ thảo
Cương lĩnh của Liên đoàn những người Cộng sản - nhưng tác phẩm này đến nay đã
không còn nữa. Chính sự thiếu xót này là một khó khăn trong việc nghiên cứu các
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo
trong chủ nghĩa xã hội.
2


Tôn giáo là gì ? Và tôn giáo xuất hiện từ đâu ?
Tác phẩm Chống Duyhrinh chính là nơi Ăngghen đã đưa ra những nhận định quan
trọng vào loại bậc nhất của những người cộng sản về vấn đề tôn giáo. Trong tác
phẩm này, Người đã đưa ra định nghĩa về tôn giáo, là " sự phản ánh hư ảo - vào
trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống

hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang
hình thức những lực lượng siêu trần thế " (2).
Còn Mác trong tác phẩm Góp phần phê phán Triết học pháp quyền của Hêghen
cũng đã khẳng định rằng " con người sáng tạo ra tôn giáo " (3).
Quay lại với lý luận nhận thức của Lênin : " từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng để nhận
thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan "(4), ta có thể nhận thấy rằng,
tôn giáo là kết quả từ một sự phản ánh của thế giới tự nhiên vào bộ não con người
một cách sai lầm hoặc là một sự phản ánh không toàn diện thế giới khách quan,
khiến con người hiểu sai hoặc không hiểu hết các hiện tượng trong tự nhiên. Cùng
với những hạn chế mang tính chất thời đại bắt nguồn từ một nền khoa học còn rất
thô sơ, mang nặng tính cảm tính, những phản ánh không đúng đắn này của nhận
thức đã tạo nên những rào cản giữa con người và sự thật khách quan của thế giới tự
nhiên, dẫn đến việc con người không thể trả lời được các câu hỏi về tự nhiên bí ẩn,
và kết quả cuối cùng là khiến con người phải tìm đến tôn giáo.
Trong suốt giai đoạn đầu của thời kỳ công xã nguyên thuỷ, tôn giáo vẫn chưa tồn
tại, mà chỉ đến cuối thời kỳ này, và sang thời kỳ cổ đại thì những tôn giáo đầu tiên
mới bắt đầu hình thành. Đó là do chỉ đến thời kỳ này con người mới có đủ những tri
thức để xây dựng, hoàn thiện hệ thống kinh sách và tín điều, mà quan trọng nhất là
việc xuât hiện chữ viết để ghi chép kinh sách.
Khi xem xét những tôn giáo xuất hiện trong thời kỳ này, ta nhận thấy chúng mang
nhiều đặc điểm xuất phát từ những tín ngưỡng rất sơ khai. Tôn giáo của người Ai
3


Cập, Lưỡng Hà, Hy Lạp - La Mã hay Giéc-manh..., đều là những tôn giáo đa thần
( polytheism ) mang màu sắc tín ngưỡng " vạn vật hữu linh " ; các thần thánh đều
đại diện cho những lực lượng thiên nhiên, và " những lực lượng thiên nhiên ấy đã
được nhân cách hoá một cách hết sức nhiều vẻ và hết sức hỗn tạp" (5). Là đại diện
cho những lực lượng tự nhiên chi phối đời sống con người, thần thánh của các tôn

giáo chi phối đời sống con người. Và bắt nguồn từ đó, những lực lượng chỉ mang
tính tự nhiên đã dần mang tính xã hội. Và bắt nguồn từ đó, tôn giáo mang tính giai
cấp.
Tính xã hội của tôn giáo:
Trong Góp phần phê phán Triết học pháp quyền của Hêghen , Mác viết: " Sự nghèo
nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản
kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị
áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần
của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân " (6).
Nhận định này đã toát lên đầy đủ tính xã hội của tôn giáo. Nó là sự đền bù lại cho sự
nghèo nàn của hiện thực xã hội - với những nghèo nàn của tri thức để lý giải thế
giới, tôn giáo lấp đầy vào đó bằng những huyền thoại: thế giới được tạo thành ra sao
? mây, gió, sấm, chớp sự thực là thế nào ?... và với những sự nghèo nàn trong đời
sống do sự thấp kém của trình độ khoa học kỹ thuật cùng sự bất công, bạo ngược
của xã hội đương thời, tôn giáo như một liều thuốc an thần xoa dịu những vết đau
của con người. Lời khẳng định " Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân " quả thực là
hoàn toàn chính xác.
Tính giai cấp của tôn giáo:
Những lực lượng thuộc tầng lớp trên của xã hội, có địa vị, có tiền của và có tri thức
hơn, đã biết lợi dụng tôn giáo để bảo vệ và củng cố quyền lợi của mình, đồng thời
cũng không ngừng tác động làm tôn giáo ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn.
Một thực tế lịch sử là: kinh sách và những tín điều tôn giáo chỉ có thể được hoàn
thiện và lưu truyền dưới dạng văn bản bởi những cá nhân thuộc tầng lớp trên trong
4


xã hội. Do đó, cả bằng nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan mà tư tưởng của tầng
lớp này dần trở thành nền tảng chủ yếu cho các tôn giáo. Một sự kiện quan trọng có
thể lấy làm minh chứng cho sự tác động của tầng lớp quý tộc tới tôn giáo, đó chính
là sự kiện " Công đồng Nicaea " : hoàng đế La mã là Constantine đã triệu tập hội

nghị tất cả các giám mục Kitô giáo tại Nicaea ( Thổ Nhĩ Kỳ ) năm 325 để biên soạn
bộ Kinh Thánh Tân Ước như chúng ta thấy ngày nay, mà mục đích chính là để
thống nhất các chi nhánh của Kitô giáo, đưa tôn giáo này trở thành công cụ để mê
hoặc nhân dân, củng cố quyền lực của bản thân hoàng đế (7).
Để tổng kết về quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo, em xin
trích theo Từ điển Triết học như sau: " Tôn giáo là sự phản ánh hư ảo trong đầu óc
con người những lực lượng bên ngoài thống trị họ trong cuộc sống hàng ngày, sự
phản ánh trong đó các lực lượng trần thế mang hình thức các lực lượng siêu phàm.
Chủ nghĩa Mác coi tôn giáo là một hiện tượng xã hội chế định và vì vậy là một hiện
tượng nhất thời trong lịch sử. Trong suốt một thời kỳ lịch sử lâu dài của loài người,
người ta không hề biết đến một tôn giáo nào cả. Tôn giáo xuất hiện trong một giai đoạn
nhất định của chế độ công xã nguyên thuỷ với tư cách là sự phản ánh tình trạng bất lực
của con người trước các lực lượng khủng khiếp và bí ẩn của tự nhiên " (8).
1.2. Nguyên nhân tồn tại tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội
Như đã nói ở trên, tôn giáo là một hiện tượng chỉ tồn tại trong một giai đoạn nhất
định của lịch sử xã hội, từ đầu thời công xã nguyên thuỷ trở về trước là chưa có, và
đến thời kỳ cộng sản chủ nghĩa cũng sẽ không tồn tại tôn giáo. Nhưng trong lòng xã
hội xã hội chủ nghĩa vẫn sẽ tồn tại tôn giáo. Tại sao vậy ?
Xuất phát từ bản chất mang cả hai phương diện xã hội và giai cấp như đã trình bày
ở trên, tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ
đầu của chủ nghĩa xã hội vẫn sẽ tồn tại, bởi nó vẫn chưa mất hết những giá trị tích
cực cũng như vẫn còn có những nền tảng để tiếp tục tồn tại.
Những nguyên nhân khách quan:
5


Tôn giáo trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại vì nền tảng của nó là những
câu hỏi về thế giới vẫn chưa thể có được đầy đủ tất cả các câu trả lời xác đáng.
Khoa học hiện nay đang tiến nhanh như vũ bão, nhưng khoa học càng phát triển thì
nhân loại càng nhận ra rằng những kiến thức của mình về thế giới là quá nhỏ, và còn

quá nhiều vấn đề cần phải giải quyết và tìm hiểu. Do đó, những bí ẩn của thế giới
không thể được giái quyết một cách nhanh chóng trong một thời gian ngắn; tức là
những cơ sở về nhận thức và tâm lý của tôn giáo vẫn còn có thể tồn tại trong lòng xã
hội xã hội chủ nghĩa.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng như giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã
hội, nền kinh tế xã hội chủ nghĩa vẫn chưa thể phủ định hoàn toàn nền kinh tế thị
trường nhiều thành phần; nên trong xã hội vẫn tồn tại những giai cấp, tầng lớp khác
nhau, vẫn tồn tại sự phân biệt về địa vị và quyền lợi kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội... Do đó áp bức, bất công, sự ngẫu nghiên, may rủi... vẫn tồn tại, và vẫn kéo theo
niềm tin vào một đấng siêu nhiên nào đó đang định đoạt số phận con người.
Những nguyên nhân mang tính chủ quan:
Tôn giáo đã tồn tại trong xã hội suốt hàng ngàn năm, và đã ăn sâu bám chặt vào nếp
sống, nếp nghĩ của con người. Bởi vậy không dễ dàng gì có thể ngay trong một thời
gian ngắn mà loại bỏ tôn giáo ra khỏi đời sống xã hội.
Các nguyên tắc của tôn giáo có thể vẫn có những giá trị nhất định trong xã hội chủ
nghĩa, như nguyên tắc yêu thương, nhân đạo, nhân ái của đạo Phật hay đạo Kitô. Và
trên cơ sở đó, " nhà nước xã hội chủ nghĩa làm cho người có đạo hiểu rằng, niềm
tin tôn giáo chân chính không đối lập với chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa, và
chủ nghĩa xã hội đang hiện thực hoá lý tưởng của chủ nghĩa nhân đạo trong cuộc
sống của mỗi người dân " (9).
Một nguyên nhân nữa là tôn giáo có khả năng tự biến đổi mình cho phù hợp với
hoàn cảnh mới. Như Kitô giáo ban đầu là vũ khí đấu tranh của tầng lớp nô lệ và dân
nghèo chống lại quý tộc Roma, thì ngày nay Kitô giáo cũng hoàn toàn có thể trở lại
6


vị trí là một hoạt động văn hóa tinh thần của quần chúng nhân dân, phục vụ lợi ích
của quần chúng nhân dân, " theo xu hướng " đồng hành với dân tộc " sống " tốt đời,
đẹp đạo ", " sống phúc âm giữa lòng dân tộc " ... " (10).
Bên cạnh những đặc điểm tiêu cực như kìm hãm sự tiến bộ của nhân loại, là nguồn

gốc, là nền tảng của những nhận thức sai lầm... chúng ta cũng không thể phủ nhận
hoàn toàn những giá trị văn hoá tinh thần tích cực của các hoạt động tín ngưỡng tôn
giáo. Các lễ hội dân gian đã trở thành một nét truyền thống của cộng đồng lãng xã
Việt Nam, là bản sắc văn hoá của dân tộc. Các tôn giáo có ý nghĩa cao về giáo dục
đạo đức, lối sống, như " Mười điều răn " của đạo Kitô hay " Bát chính đạo " của đạo
Phật... Bởi vậy việc lưu giữ và bảo tồn các khía cạnh văn hoá và tích cực của tôn
giáo là một yêu cầu, và là một yêu cầu chính đáng.
Nói tóm lại, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng như giai đoạn đầu của
chủ nghĩa xã hội, tôn giáo vẫn sẽ tồn tại, bởi cả những nguyên nhân khách quan lẫn
những nguyên nhân chủ quan. Sự tồn tại này không có gì là vô lý bởi tôn giáo là
một hình thái ý thức xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng, tuy phải chịu sự chi phối
và quyết định của cơ sở hạ tầng, nhưng bản thân nó vẫn có sự độc lập tương đối; do
đó, dù đứng trước những biến đổi to lớn của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội...
trong bước nhảy vọt từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, tôn giáo vẫn không bị
triệt tiêu ngay lập tức, mà chỉ " dần mất đi ảnh hưởng của nó đối với ý thức xã hội ",
và " chỉ trong xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển thì tôn giáo mới có thể hoàn
toàn biến mất và hoàn toàn bị xoá bỏ khỏi đời sống con người " (11).

1.3

Quan điểm của Đảng ta về tôn giáo

Tôn giáo là một vấn đề được Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh
rất quan tâm giải quyết trong quá trình tiến hành cách mạng dân tộc và
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những quan điểm về tôn giáo của
Đảng được thể hiện nhất quán, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách
mạng Việt Nam.
Đoàn kết tôn giáo trong đại đoàn kết dân tộc
7



Ngay sau khi được thành lập (1930), Đảng ta đã thấy được Việt Nam là quốc gia
có nhiều tôn giáo. Tuy mỗi tôn giáo có những đặc điểm riêng nhưng đều giống
nhau ở chỗ cùng tồn tại trong lòng dân tộc. Ngay cả trong những thời điểm khó
khăn nhất, đại đa số đồng bào các tôn giáo đều đứng về phía cách mạng, cùng
toàn dân đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tích cực tham gia xây dựng,
phát triển đất nước.
Đặc biệt, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới (từ 1986), các tôn giáo của Việt
Nam có sự phục hồi, phát triển nhanh chóng và có nhiều tác động trực tiếp tới
tình hình kinh tế - xã hội và an ninh, trật tự ở các địa phương. Nhận rõ điều đó,
Đảng ta đã kịp thời tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác tôn giáo; trên
cơ sở đó tiếp tục hoàn thiện những chủ trương, chính sách đối với tôn giáo, nhằm
đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế. Sự đổi mới về tôn giáo của Đảng
ta được thể hiện qua các quan điểm:
tôn giáo vẫn tồn tại và tác động thường xuyên tới Một là, khẳng định tôn giáo là
vấn đề tồn tại lâu dài. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, các nguồn gốc nảy sinh sự
phát triển của các tôn giáo. Do không nhận thức đúng đắn quy luật này, cộng với
những mặc cảm, định kiến về tôn giáo, nên trước đây đã có nơi, có lúc, chúng ta
có chủ trương, biện pháp đối xử thô bạo với tôn giáo, tìm cách thu hẹp, hạn chế
các hoạt động tôn giáo. Vì vậy đã gây căng thẳng trong quan hệ giữa chính
quyền với tôn giáo, làm mất lòng tin của quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn
giáo với Đảng và Nhà nước.
Để chấn chỉnh, khắc phục những lệch lạc trên, một số nghị quyết của Bộ Chính
trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo đang và
sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”.
Quan điểm này là cơ sở cho việc xem xét, giải quyết các vấn đề tôn giáo ở nước
ta hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải có thái độ bình tĩnh, khách quan trong khi xem
xét, giải quyết các hoạt động tôn giáo; đảm bảo cho các tôn giáo ở Việt Nam
sinh hoạt một cách bình thường, tuân thủ pháp luật, đồng hành với dân tộc và
chủ nghĩa xã hội. Quan điểm này cũng yêu cầu các cấp, các ngành và mọi cán bộ

đảng viên phải khắc phục tư tưởng chủ quan, nóng vội trong giải quyết các vấn
đề liên quan đến tôn giáo nói chung, với hoạt động tôn giáo nói riêng.
8


Hai là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.
Đảng luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn giáo và đảm bảo quyền tự do tín
ngưỡng. Chống mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc
lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của tổ quốc và nhân dân.
Ba là, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội
mới. Trong quá trình ra đời, tồn tại và phát triển, tôn giáo nào cũng có hai mặt
tích cực và tiêu cực. Mặt tích cực thể hiện ở chỗ răn, dạy tín đồ hướng thiện, làm
điều lành, tránh điều ác. Còn mặt tiêu cực thể hiện ở chỗ làm cho con người sống
an phận và chấp nhận “sự an bài”, thậm chí hạn chế họ tham gia vào quá trình
cải tạo thực hiện xã hội bằng các phương pháp cách mạng.
Bốn là, công tác tôn giáo vừa phải quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín
ngưỡng của quần chúng, vừa phải kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn
giáo phá hoại cách mạng.
Năm là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng,
công tác đối với con người. Trong công tác này phải quan tâm đến các lợi ích
thiết thân, chính đáng của quần chúng tín đồ nói chung, chức sắc, chức việc nói
riêng làm cốt lõi...
Sáu là, làm tốt công tác đối với tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống
chính trị do Đảng lãnh đạo.
Các tôn giáo ở nước ta phát triển mạnh
Có thể nói, chưa bao giờ các tôn giáo lại phát triển mạnh như giai đoạn hiện nay.
Điều này thể hiện rất rõ những mặt cơ bản sau đây:
Từ năm 2006 đến nay, các cơ quan thẩm quyền đã cấp đăng ký hoạt động và
công nhận tư cách pháp nhân cho 16 tổ chức tôn giáo, nâng tổng số lên 32 tổ
chức tôn giáo thuộc 12 tôn giáo.

Những cơ sở đào tạo, thờ tự lớn của các tôn giáo đều được Nhà nước cấp đất xây
dựng. Điển hình như: Giáo xứ La Vang, Quảng Trị được cấp thêm 15ha đất,
nâng diện tích lên 21ha; Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội được cấp 10ha
đất, Học viện Phật giáo Nam Tông Khmer tại Cần Thơ được cấp 11,3ha đất...
Các hoạt động của các tổ chức, cá nhân chức sắc, cá nhân tín đồ diễn ra sôi động
phong phú, tự do. Việc mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành được đảm bảo.
9


Các lễ hội tôn giáo diễn ra ngày càng sầm uất ở tất cả các cơ sở thờ tự của các
tôn giáo với những quy mô khác nhau. Điển hình là đại lễ Phật đản Liên Hợp
Quốc tại Việt Nam; Năm thánh để Pháp miện 350 năm Công giáo có mặt ở Việt
Nam, 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm; lễ khai đạo của Phật giáo Hoà Hảo; lễ
hội Yếu diêu trì cung đạo Cao Đài...
Những thành tựu của Việt Nam đạt được trên lĩnh vực tôn giáo là một bằng
chứng sinh động chứng minh cho chính sách tôn giáo đúng đắn, cởi mở, thực sự
tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, của Đảng và
Nhà nước Việt Nam. Những kết quả đó buộc Bộ Ngoại giao Mỹ phải đưa Việt
Nam ra khỏi danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo.
Thế nhưng, phớt lờ những kết quả và tiến bộ đạt được của Việt Nam trên lĩnh
vực tôn giáo, những năm qua, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc tình
hình tôn giáo ở Việt Nam, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo. Đây là một thủ
đoạn quen thuộc mà các thế lực thù địch thường sử dụng để kích động, gây mất
ổn định chính trị ở các vùng tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây
chia rẽ đồng bào các tôn giáo với Đảng, Nhà nước.
Song trước những chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước về tôn giáo và tinh
thần yêu nước, đoàn kết của đồng bào tôn giáo, các thế lực thù địch đã thất bại
trong âm mưu lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam.

Chương 2: Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta

2.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về giải quyết vấn đề tôn giáo trong
chủ nghĩa xã hội
Tôn giáo là một hệ tư tưởng mang tính chất duy tâm, do đó về bản chất nó có thế
giới quan, nhân sinh quan trái ngược hoàn toàn so với quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin - quan điểm duy vật biện chứng khoa học. Bởi vậy, để xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội không thể nào không xoá bỏ tôn giáo, như là xoá bỏ
một thành luỹ của sự trì trệ, bảo thủ, lỗi thời, lạc hậu, của nguồn gốc cho những
sai lầm trong nhận thức và tư duy của con người. Nhưng công cuộc xoá bỏ tôn
giáo ấy phải diễn ra như thế nào ?
10


Trong Chống Đuy-rinh, Ăngghen đã cực lực phê phán thái độ bài tôn giáo cực
đoan của Đuy-rinh: " Trong xã hội tự do, không thể có sự thờ cúng; bởi vì mỗi
thành viên của xã hội đều khắc phục được cái quan niệm ấu trĩ nguyên thuỷ cho
rằng ở đằng sau thiên nhiên hay bên trên thiên nhiên, có những đấng mà người
ta có thể dùng những vật hy sinh hay những lời cầu nguyện để tác động đến".
"Vì thế, hệ thống xã hội xã hội chủ nghĩa, được hiểu một cách đúng đắn, phải ...
phế bỏ mọi trang bị của sự mê hoặc tinh thần, và do đó, phế bỏ tất cả những yếu
tố cơ bản của sự thờ cúng" (12).
Người cho rằng tôn giáo chỉ thực sự mất đi khi xã hội đã được cải tạo hoàn toàn:
việc nắm giữ cũng như việc sử dụng các tư liệu sản xuất đã được lên kế hoạch,
giúp xã hội tự giải phóng mình và giải phóng mọi thành viên trong xã hội khỏi
tình trạng nô dịch và áp bức bất công; khi không còn mưu sự tại nhân, thành sự
tại thiên nữa, mà cả mưu sự và thành sự đều từ con người mà ra cả... khi đó tôn
giáo - sự phản ánh thế giới tự nhiên một cách sai lạc trong bộ não con người, sẽ
tự mất đi, bởi nó sẽ chẳng còn gì để phản ánh nữa.
Người đã nhận định rất đúng về hậu quả của chính sách đàn áp tôn giáo theo chủ
trương của Đuy-rinh: " giúp cho tôn giáo đạt tới chỗ thực hiện tinh thần tử vì
đạo và kéo dài thêm sự tồn tại của nó " (13).

Bởi vậy, giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội, cần phải tuân theo
những nguyên tắc cơ bản sau:
- Một là, những mặt tiêu cực của tôn giáo phải bị khắc phục và đẩy lùi, dần đến
chỗ xoá bỏ hoàn toàn chúng. Đây là một nguyên tắc nhưng cũng là yêu cầu quan
trọng nhất cần phải quán triệt trong công tác giải quyết vấn đề tôn giáo của
những người cộng sản. Chỉ có thế tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin - tư tưởng
khoa học chân chính, chủ đạo trong chủ nghĩa xã hội mới có thể đi sâu vào quần
chúng nhân dân, mới tạo được nền tảng cơ sở vững chắc cho công cuộc xây
dựng xã hội mới.
- Hai là, phải tuyệt đối không được sử dụng các biện pháp bạo lực để xoá bỏ tôn
giáo. Vi phạm nguyên tắc này là cố tình đẩy xã hội tới chỗ phân chia, đẩy những
người theo đạo vào chỗ buộc phải chống lại chính quyền nhân dân. Vi phạm
nguyên tắc này cũng là đi ngược lại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, vi phạm
11


nghiêm trọng tới quyền thiết yếu nhất của con người: quyền được tự do; và trong
đó có quyền được tự do theo hay không theo một tôn giáo. Chính quyền nhân
dân nào vi phạm nguyên tắc này thì không còn là chính quyền của nhân dân nữa,
tổ chức đảng nào vi phạm nguyên tắc này thì không còn là đảng cộng sản nữa.
Bên cạnh đó, cần phải không ngừng phát huy những giá trị tốt đẹp, tích cực của
tín ngưỡng tôn giáo trong xã hội xã hội chủ nghĩa; cần phải nghiêm cấm mọi
hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân.
- Ba là, cần không ngừng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó có cả
mối liên hệ giữa người theo đạo và những người không theo đạo. Đó là yêu cầu
hàng đầu để xây dựng đất nước và xã hội, nhưng cũng là một cách thức quan
trọng để những người theo đạo hoà nhập vào với cuộc sống tích cực của xã hội,
để họ dần nhận ra rằng cuộc sống hiện tại là quan trọng nhất, để giúp họ chủ động
tham gia vào các hoạt động xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc; chứ không
phải luôn trong trạng thái thụ động, tiêu cực vì chỉ quan tâm tới việc sống sao bây

giờ cho mai sau đến được với " nước Thiên Đường " hay " cõi Niết bàn ".
- Bốn là, không ngừng thực hiện công tác giáo dục tuyên truyền, giúp quần
chúng nhân dân hiểu nắm được những lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin, từ đó mà nhận ra được rằng những tư tưởng duy tâm là hoàn toàn không
có căn cứ. Việc giáo dục chủ nghĩa vô thần khoa học cũng như thế giới quan duy
vật không chỉ đẩy lui những sai lầm trong nhận thức của tư duy tôn giáo, mà chủ
yếu là góp phần nâng cao trình độ kiến thức cho toàn dân.
- Năm là, phải kết hợp nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân
dân theo đạo với nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống những thế lực phản động lợi
dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, để tuyên truyền chống phá
cách mạng. Cuộc đấu tranh này vừa phải khẩn trương, kiên quyết vừa phải thận
trọng và có sách lược đúng, nếu không sẽ dễ dàng bị nhìn nhận là chính sách đàn
áp tôn giáo.
- Sáu là, phải giải quyết vấn đề tôn giáo trên lập trường quan điểm lịch sử, tức là
phải nhìn nhận vai trò, tác động của tôn giáo tới đời sống xã hội trong từng thời
kỳ lịch sử khác nhau là có thể rất khác nhau. Bởi vậy mối quan hệ với tôn giáo
cũng cần phải rất linh hoạt và mềm dẻo: có những thời điểm phải biết sử dụng
12


tôn giáo như một thứ vũ khí lợi hại để chống lại những kẻ thù chung của cả dân
tộc, như cuộc đấu tranh của Phật tử chống lại chính sách đàn áp tôn giáo của
chính quyền Nguỵ quyền Sài Gòn; nhưng trong thời điểm khác phải đẩy mạnh
công cuộc tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa vô thần khoa học, đưa tôn giáo tới "
cái chết tự nhiên của nó " (14).
Nói tóm lại, " với thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, tôn giáo dần dần
mất đi ảnh hưởng của nó đối với ý thức xã hội. Góp phần vào đó là việc truyền
bá thế giới quan cộng sản khoa học trong đông đảo quần chúng nhân dân. Chỉ
trong xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển thì tôn giáo mới có thể hoàn toàn
biến mất và bị xoá bỏ khỏi đời sống con người. Nhưng việc tôn giáo mất đi
không phải là một quá trình tự động; nó đòi hỏi phải kiên trì hoạt động giáo dục

quần chúng, tuyên truyền rộng rãi những hiểu biết khoa học tự nhiên, xã hội và
thế giới quan mác-xít " (15); bên cạnh đó phải vận dụng những quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin một cách phù hợp với thực tiễn cách mạng ở Việt Nam.
Đó là con đường đúng đắn nhất và cũng là duy nhất để giải quyết vấn đề tôn giáo
trong xã hội chủ nghĩa.
Tôn giáo là hệ thống các tư tưởng, quan điểm giải thích về thế giới mang màu sắc
huyền bí, thần thoại. Xét trên phương diện khoa học và nhận thức, nó kìm hãm sự
phát triển của nhân loại, kìm hãm sự phát triển của tư duy con người trong những
bức tường chật hẹp của những sách kinh, giáo điều. Nhưng cũng không thể không
nhắc đến ý nghĩa của tôn giáo như là một phương thuốc giảm đau cho những con
người đang bất lực trước tự nhiên kinh khủng và bí ẩn, đang rên siết trong gông
cùm của nô dịch và đàn áp, bất công. Bởi vậy, khi nghiên cứu về tôn giáo phải
nắm vững quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lênin, không thể chỉ xem xét
nó một cách phiến diện trong những mặt tiêu cực và hạn chế.
Tôn giáo là một vấn đề hết sức nhạy cảm trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Nếu không giải quyết được vấn đề này thì sẽ không thể tạo dựng được nền
tảng tư tưởng cho xã hội mới. Nhưng nếu giải quyết một cách vội vã bằng
phương cách cưỡng bức, bạo lực thì chắc chắn sẽ gây ra những bất ổn cho xã
hội, và càng kéo dài hơn sự tồn tại của tôn giáo trong lòng nhân dân.

13


Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ rằng: không thể sử dụng bạo lực để đàn áp tôn
giáo, mà chỉ có thể sử dụng phương cách giáo dục, tuyên truyền, thuyết phục để
toàn thể nhân dân, cả những người theo đạo lẫn những người không theo đạo, có
thể nắm bắt được những nguyên lý của chủ nghĩa vô thần khoa học và thế giới
quan duy vật, từ đó tự nhận ra những bất cập, những vô lý của thế giới quan
huyễn hoặc tôn giáo, và chủ động từ bỏ tôn giáo. Đó là con đường đúng đắn duy
nhất để tiến tới xoá bỏ tôn giáo ra khỏi đời sống xã hội, tiến tới xây dựng một

nền tảng tư
2.2- Quan điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh với tín ngưỡng, tôn giáo.
Đoàn kết tôn giáo, hoà hợp dân tộc, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo là những nội dung cơ bản trong
tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo.
Hồ Chí Minh cho rằng: "Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không
ai chiến thắng được lực lượng đó"(1). Đoàn kết toàn dân, trong đó có đoàn kết
dân tộc và tôn giáo là yếu tố cơ bản đưa tới thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng ấy nằm trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.
Với tinh thần đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
tập hợp được đông đảo chức sắc, tín đồ các tôn giáo hết lòng phấn đấu cho sự
nghiệp cứu nước, kiến quốc, từ đó xóa dần những định kiến, mặc cảm do lịch sử
để lại và âm mưu chia rẽ tôn giáo của các thế lực thù địch.
Hồ Chí Minh cho rằng, đoàn kết lương giáo là đoàn kết lâu dài và toàn diện, là
vấn đề chiến lược. Thái độ chân tình, cởi mở, bao dung và luôn thấu hiểu nỗi
trăn trở, suy tư của đồng bào của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại ấn tượng tốt
đẹp trong lòng tín đồ các tôn giáo.
Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và công bố trước toàn
dân ngày 2-9-1945 đã kế thừa và phát triển những giá trị của những tư tưởng tiến
bộ về quyền con người trong các cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Chỉ sau một
14


ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 3-9-1945 Hồ Chí
Minh đã chủ tọa phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Trong phiên họp
này, Chủ tịch đã nêu sáu vấn đề cấp bách cần giải quyết, trong đó vấn đề thứ sáu
là thực hiện "tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết"(2).
Ngày 9-11-1946, Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó ghi nhận: Nhân dân có quyền "tự do
tín ngưỡng". Ngày 14-6-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL quy

định những hoạt động tôn giáo trong chế độ mới, được đồng bào theo và không
theo tôn giáo nhiệt liệt hoan nghênh và ủng hộ.
Năm 1958, khi trả lời câu hỏi của các cử tri Hà Nội: "Tiến lên chủ nghĩa xã hội
thì tôn giáo có bị hạn chế không?", Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa nhắc lại
thái độ của người cộng sản đối với tôn giáo: "Không. ở các nước xã hội chủ
nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do. ở Việt Nam ta cũng vậy"(3). Người cũng nêu
rõ những giá trị đạo đức và văn hóa nhất định của tôn giáo:
"Chúa Giê-su dạy: Đạo đức là bác ái.
Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi.
Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa"(4).
Chính những quan điểm đúng đắn ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã
hội và tôn giáo đã bác bỏ luận điệu tuyên truyền rằng: Chủ nghĩa xã hội không
phù hợp với nền văn minh Ki-tô giáo; chủ nghĩa xã hội hạn chế, thậm chí không
chấp nhận chung sống với tôn giáo… và giải toả nỗi lo lắng, ngờ vực trong cộng
đồng Công giáo khi bước vào công cuộc xây dựng xã hội mới.
Hồ Chí Minh thường nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ cả nước phải "quan tâm,
chăm sóc cuộc sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các tôn giáo. Mong sao
sản xuất ngày càng phát triển, phần xác ta được ấm no thì phần hồn cũng được
yên vui"(5).
15


Hồ Chí Minh coi tôn giáo là một yếu tố cấu thành và là di sản văn hoá của nhân
loại. Có được sự nhìn nhận ấy phải là con người đã trải qua một quá trình trải
nghiệm trong thực tiễn cách mạng và sự am hiểu các tôn giáo một cách tường
tận, để khái quát, chắt lọc những giá trị tinh tuý của nó nhằm tiếp thu, kế thừa.
Tôn trọng, chấp nhận sự khác biệt về nhận thức, tư tưởng; tìm ra và phát huy
điểm tương đồng, mẫu số chung về mục tiêu, lý tưởng tốt đẹp để cùng nhau hoàn
thành nhiệm vụ cao cả của dân tộc luôn được Hồ Chí Minh chú ý.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu mối quan hệ chặt chẽ giữa tôn giáo với dân tộc một

cách giản dị, dễ hiểu nhưng rất độc đáo và sâu sắc: kính Chúa gắn liền với yêu
nước, phụng sự Thiên chúa và phụng sự Tổ quốc, nước có vinh thì đạo mới sáng,
nước có độc lập thì tín ngưỡng mới được tự do.
Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với người có tôn giáo thì đức tin
tôn giáo và lòng yêu nước không hề mâu thuẫn. Một người dân Việt Nam có thể
vừa là một người dân yêu nước, đồng thời cũng vẫn là một tín đồ chân chính.
Tôn giáo với dân tộc bao giờ cũng được Hồ Chí Minh xem xét và giải quyết trên
tinh thần của khối đại đoàn kết toàn dân. Tôn giáo chỉ có thể khẳng định được
mình khi sống giữa lòng dân tộc và dân tộc trên con đường phát triển cần biết
phát huy những giá trị tích cực của các tôn giáo.
Hồ Chí Minh luôn tỏ lòng kính trọng, ngưỡng mộ các danh nhân của thế giới,
không phân biệt họ thuộc tôn giáo nào, vô thần hay hữu thần, là người phương
Đông hay người phương Tây... Người đã chắt lọc, rút ra những giá trị tư tưởng
lớn lao ở họ để kế thừa và phát triển. Từ Phật Thích Ca (Siddartha Gautama),
Khổng Tử (Confucius), Chúa Giê-su (Jesus Christ) đến Các Mác (Karl Marx),
Tôn Dật Tiên (Sun Yat Tsen)… Hồ Chí Minh đều coi họ là những vĩ nhân của
lịch sử, những bậc thầy mà Người nguyện là người học trò nhỏ của các vị ấy.
2.3- Chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tín
ngưỡng, tôn giáo.
16


Trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như trong lãnh đạo việc quản lý xã hội
và điều hành đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến tôn giáo và
có chính sách tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn và phù hợp với từng giai đoạn của
cách mạng.
Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Đến năm
1990, Đảng Cộng sản Việt Nam có sự đổi mới trong chính sách đối với tôn giáo
qua Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khóa VI) "Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình

hình mới". Sau 13 năm thực hiện chính sách đổi môi đối với tôn giáo, tổng kết
thực tiễn, đồng thời xem xét những vấn đề mới nẩy sinh, trong bối cảnh trong
nước và thế giới có nhiều thay đổi quan trọng, ngày 12-3-2003, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác
tôn giáo. Văn kiện đã trở thành nền tảng chính sách của Đảng và Nhà nước Việt
Nam đối với tôn giáo trong thời kỳ đổi mới. Tư tưởng của Nghị quyết 25 được
thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau:
Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải nhằm tăng
cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát
huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ
tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện
nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc
không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng
pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước
pháp luật.
Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn
dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đoàn kết đồng bào
17


theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không
theo tôn giáo. Đại đoàn kết toàn dân tộc với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các
tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn
giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Động viên đồng bào
nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc; thông
qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo

đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào
các tôn giáo.
Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn
vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt
đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật
và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây
rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, có liên quan đến
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và nhiều cấp, nhiều ngành vì cuộc sống tinh
thần và vật chất của hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn
giáo, phân bố ở mọi vùng, miền, địa phương trong cả nước.
Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp
theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận
được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn
giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn,
sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp
luật. Việc truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ
Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt
động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo cũng như bỏ đạo.

18


Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam
(tháng 4-2006) tiếp tục khẳng định: "Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan
trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và
bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân,
quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo các
tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.

Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động viên,
giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống "tốt đời, đẹp đạo". Các
tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ.
Thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật
chất, văn hoá của đồng bào các tôn giáo. Tăng cường công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo. Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín
dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích
chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân"(6).
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 có ghi về chính
sách tôn giáo của Nhà nước như sau:
" Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo 1 tôn giáo
nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.
Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.
Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng,
tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước" (Điều 70).
Trong Chỉ thị của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo trong tình hình mới có ghi
những nguyên tắc về tín ngưỡng, tôn giáo sau đây:
1. "Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín
ngưỡng, tôn giáo của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và
quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và không theo đạo,
cũng như giữa các tôn giáo khác nhau.
19


2. Đoàn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối
đại đoàn kết toàn dân.
3. Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phi tuân thủ Hiến pháp
và Pháp luật, có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
giữ gìn độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.
4. Những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi

ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được đảm bảo. Những giá trị văn hoá, đạo
đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy.
5. Mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để làm mất trất tự an toàn xã hội, phưng hại nền
độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đoàn kết toàn dân, chống lại Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây tổn hại các giá trị đạo đức, lối sống,
văn hoá của dân tộc, ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo thực hiện nghĩa vụ
công dân, đều bị xử lý theo pháp luật. Hoạt động mê tín phi bị phê phán và loại
bỏ" (chỉ thị 37/CT-TW ngày 2/7/1998).
Chính sách tôn giáo của Đng Cộng sn Việt Nam và của Nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam trước hết là đoàn kết dân tộc, đoàn kết người có tôn giáo
với nhau, đoàn kết người khác tôn giáo với nhau, đoàn kết người có tôn giáo với
người không tôn giáo với nhau, động viên nhau thực hiện mục tiêu "Độc lập
Thống nhất, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, Dân giàu, Nước mạnh, Xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Có một vấn đề thiết tưởng cần làm rõ để tránh ngộ nhận về chính sách tôn giáo
của Đng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
đó là Đảng và Nhà nước không chống tôn giáo tức là bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo
nhưng kiên quyết chống sự lợi dụng tôn giáo. Tại sao lại đặt vấn đề nhưu vậy?
Lý do chủ yếu là vì trong lịch sử Việt Nam, các thế lực thù địch với độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội luôn luôn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ dân tộc, phá
20


hoại Độc lập, Thống nhất, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đó
là một sự thật lịch sử mà bất cứ ai khách quan, trung thực cũng đều thấy.
Chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam được cụ thể hoá bằng mấy vấn đề sau đây:
1. Các tôn giáo ở Việt Nam được hoạt động tự do trong khuôn khổ của Hiến
pháp và Pháp luật Nhà nước Việt Nam. Điều này cũng giống như ở các quốc gia

khác và phù hợp với thông lệ quốc tế. Không có một tổ chức, cá nhân nào ở bất kỳ
một quốc gia nào lại được hoạt động tự do ngoài vòng pháp luật của quốc gia đó.
Các tôn giáo ở Việt Nam được Nhà nước Việt Nam quan tâm, tạo điều kiện đáp
ứng những nhu cầu tôn giáo căn bản:
+ Tự do sinh hoạt tôn giáo
+Bảo hộ nơi thờ tự; xây mới nơi thờ tự
+Có trường đào tạo giáo sĩ, cho đi đào tạo ở nước ngoài
+Có kinh sách, ấn phẩm tôn giáo
+Được giao lưuu quốc tế
2. Một tôn giáo ở Việt Nam muốn hoạt động hợp pháp phi đáp ứng đủ những tiêu chí
căn bản: Có tín đồ tự nguyện tin theo; có giáo sĩ hướng dẫn việc đạo; có tôn chỉ mục
đích hoạt động không trái với pháp luật Nhà nước; có hệ thống giáo lý, giáo luật phù
hợp; có nơi thờ bảo đảm vệ sinh, an toàn; không hoạt động mê tín dị đoan làm tổn hại
đến tinh thần, vật chất, sức khoẻ của tín đồ và làm ảnh hưởng đến những quyền căn
bản của người khác và phải đăng ký hoạt động với các quan Nhà nước có thẩm
quyền. Những tổ chức tôn giáo không đáp ứng đủ những yêu cầu trên đều không
được hoạt động. Xin được nói rõ, đó là đối với tổ chức, còn tín đồ thì hoàn toàn tự do
sinh hoạt tín ngưỡng tại gia đình và nơi thờ tự hợp pháp.
21


3. Nhà nước Việt Nam chỉ quan tâm đến tưu cách, phẩm chất công dân của
những người lãnh đạo các tôn giáo, không can thiệp vào trình độ tôn giáo của
những người đó. Thực tế này được thể hiện trong quan hệ Việt Nam - Vatican
những năm qua về việc bổ nhiệm các giám mục ở Việt Nam .
4. Từ trước tới nay, Việt Nam không xử tù, giam giữ, quản chế hành chính bất
kỳ một nhân vật tôn giáo nào vì lý do tôn giáo. Mọi công dân Việt Nam đều bình
đẳng trước pháp luật. Nhà nước Việt Nam xử lý bằng pháp luật đối với bất kỳ
một công dân Việt Nam nào vi phạm pháp luật, bất kể người đó theo tôn giáo
hay không theo tôn giáo và xử lý bằng pháp luật mọi hành vi lợi dụng tôn giáo,

mạo danh tôn giáo để gây rối trật tự xã hội, phương hại đến an ninh quốc gia, tổn
hại tinh thần, vật chất, sức khoẻ của công dân.
5. Các tôn giáo ở Việt Nam được Nhà nước khuyến khích tham gia các hoạt động
giáo dục, từ thiện, nhân đạo theo sự hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn.
6. Nhà nước Việt Nam không tịch thu bất cứ tài sản nào của các tôn giáo ngoại
trừ nếu các tài sản đó được sử dụng nhưu một công cụ nhằm phục vụ cho các
hoạt động gây bạo loạn, lật đổ, chống lại Nhà nước và nhân dân.
7. Các tổ chức, cá nhân tôn giáo được tạo điều kiện thuận lợi để giao lưu quốc tế,
được đi đào tạo ở nước ngoài. Rất nhiều các tổ chức tôn giáo quốc tế đã vào Việt
Nam giao lưuu với các tổ chức tôn giáo Việt Nam mà không bị cn trở gì. (Các
Dòng tu Công giáo quốc tế, một số Hội đồng Giám mục các nước, các tổ chức
Phật giáo, Tin lành nước ngoài...)./.

Chương 3. SỰ VẬN DỤNG THỰC TIỄN CÁCH MẠNG VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để phát
huy sức mạnh toàn dân tộc phấn đấu vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ văn minh" Bộ chính trị yêu cầu các cấp ủy Đảng và chính
22


quyền động viên đồng bào các tôn giáo phát huy truyền thống yêu nước, hăng
hái tham gia công cuộc đổi mới, làm tốt việc đạo, làm tròn nghĩa vụ công dân,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời thực hiện tốt các chính sách của Nhà
nước về tín ngưỡng, tôn giáo theo những nguyên tắc chung sau đây:
- Thứ nhất: Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự
do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng về
nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và không
theo đạo cũng như giữa tôn giáo khác nhau.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn

giáo của công dân đã được Hiến pháp thừa nhận và bảo hộ. Điều 70, Hiến pháp
1992 ghi rõ:"Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không
theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật...Những nơi
thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ...Không ai được xâm
phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái
pháp luật và chính sách của Nhà nước".
Chính vì vậy, trước hết cần phải có thái độ đúng đắn với các hoạt động tôn
giáo với từng lĩnh vực:
Những hoạt động có lợi cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống, mở mang
dân trí, củng cố sự đoàn kết của cộng đồng, hòa nhập và phát triển văn hóa dân
tộc, tăng cường lòng yêu tổ quốc, yêu đồng bào thì tôn trọng, ủng hộ.
Những hoạt động mê tín, dị đoan, như xem ngày, xem giờ, xem tướng, làm
lễ cầu an, gọi hồn, lên đồng, đốt vàng mã...cần kiên trì giáo dục,hạn chế những
yếu tố không lành mạnh, lừa bịp, thậm chí lố lăng...Nếu gây hậu quả cho xã hội,
cho mình và cho người khác thì pháp luật phải can thiệp.
Những hoạt động nguy hại, như gây chia rẽ trong cộng đồng, khích bác
niềm tin tôn giáo khác, gây mâu thuẫn giữa các tôn giáo, tung ra những luận điệu
gây hoang mang trong quần chúng (ngày tận thế, ngày trái đất nổ nung...) những
hoạt động tuyên truyền chống phá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà

23


nước, chống lại sự quản lý của các cấp chính quyền, dù là đối tượng nào cũng
cần phải giáo dục, hoặc xử lý theo pháp luật.
Tiếp đến, thực hiện sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ công dân: Người có
đạo là công dân, có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trước pháp luật. Đảng và Nhà
nước ta nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo giữa
tín đồ tôn giáo và người không có tôn giáo nào.
Thực hiện bình đẳng phải chú ý cả trong nội bộ các tôn giáo. Ủng hộ xu

hướng dân chủ trong nội bộ các tôn giáo. Khuyến khích phát huy vai trò làm chủ
của tín đồ trong cộng đồng tôn giáo.
- Thứ hai: Đoàn kết gắn bó đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo
trong khối đại đoàn kết toàn dân.
Sự đa dạng về đời sống tôn giáo, tín ngưỡng và từ những đặc điểm tôn giáo
ở Việt Nam trong bối cảnh đất nước đang tiến hành công cuộc đổi mới nhằm tíên
tới xây dựng thành công CNXH hiện nay, đoàn kết tôn giáo là một nội dung
quan trọng không thể thiếu để tạo nên sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân.
Quan điểm của Đảng ta (Đại hội IX): "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần
của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh
hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn
giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Chăm
lo phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống của đồng bào. Đồng bào theo
đạo và các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối
với Tổ quốc, sống "tốt đời, đẹp đạo", phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa,
đạo đức của tôn giáo. Từng bước hoàn thiện luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo.
Nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái
pháp luật và chính sách của nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các
dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia”
Với quan điểm đó, chính sách tự do tôn giáo ở nước ta những năm qua đã
thu được những kết quả to lớn, được sự tiếp nhận ngày càng tốt hơn từ phía giới
24


tôn giáo và sự ủng hộ của nhân dân nói chung. Một quốc gia đa dân tộc, đa tôn
giáo như Việt Nam nhưng đến nay vẫn là một bức tranh sinh hoạt tôn giáo yên
bình, hoà đồng và ngày càng tỏ ra thích ứng với Chủ nghĩa xã hội là một thành
tựu lớn xác định tính hợp lý trong đường lối chính sách tôn giáo của Đảng và
nhà nước ta. Nhiều thập kỷ qua, đường hướng hành đạo: Sống phúc âm trong

lòng dân tộc (Công Giáo, Thư chung 1980) ; Dân tộc, Đạo pháp và CNXH (Phật
giáo, từ Đại hội I năm 1981). Nước Vinh, đạo Sáng (Hoà Hảo); Sống Phúc Âm,
phụng sự thiên chúa, phụng sự dân tộc của đạo Tin lành... đã và đang được
khẳng định, nhiều cộng đồng tôn giáo đã thực sự gắn bó, tốt Đạo đẹp Đời.
Các phong trào trong đồng bào có đạo rất phong phúc như với Công giáo là
"sống phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào". Tin lành là
"Sống phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc", Cao Đài,
Phật giáo Hòa Hảo là "yêu nước, phụng đạo", Phật giáo là vì "Đạo pháp - dân tộc
- chủ nghĩa xã hội" là những phong trào truyền thống tốt đẹp của đồng bào tôn
giáo trong phong trào thi đua yêu nước chung của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Chính vì vậy, cần không ngừng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong
đó có cả mối liên hệ giữa người theo đạo và những người không theo đạo. Đó là
yêu cầu hàng đầu để xây dựng đất nước và xã hội, nhưng cũng là một cách thức
quan trọng để những người theo đạo hòa nhập vào với cuộc sống tích cực của xã
hội, để họ dần nhận ra rằng cuộc sống hiện tại là quan trọng nhất, để giúp họ chủ
động tham gia vào các hoạt động xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc; chứ
không phải luôn trong trạng thái thụ động, tiêu cực vì chỉ quan tâm tới việc sống
sao bây giờ cho mai sau đến được với "nước Thiên Đường" hay "cõi Niết bàn".
- Thứ ba: Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân
thủ Hiến pháp và pháp luật, có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc Việt Nam
XHCN; giữ gìn độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.
Trước hết: Đưa mọi tổ chức và hoạt động tôn giáo vào khuôn khổ pháp luật
chẳng hạn như các tổ chức giáo hội nào được Nhà nước cho phép, những hoạt
động nào của tổ chức giáo hội là hợp pháp; sinh hoạt tôn giáo như thế nào là
25


×