Tải bản đầy đủ (.docx) (100 trang)

Phân tích một số hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện c tỉnh thái nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.06 MB, 100 trang )

DƯƠNG NGỌC NGÀ

PHÂN TÍCH MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG
CUNG ỨNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN c
TỈNH THÁI NGUYÊN NÃM 2011

LUẬN VĂN THẠC sĩ Dược HỌC

HÀ NỘI, 2012


DƯƠNG NGỌC NGÀ

PHÂN TÍCH MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG
CUNG ÚNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN c
TỈNH THÁI NGUYÊN NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC sĩ Dược HỌC

CHUYÊN NGÀNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ Dược
MÃ SỐ: 60.73.20

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hà Văn Thúy

HÀ NỘI, 2012


Lời cảm ơn
Với lòng bỉấ ơn và kính trọng sâu sắc em xỉn gửi lời cảm ơn chân thành
nhất tới TS. Hà Văn Thúy và TS. Nguyễn Thị Song Hà, người thầy đã trực tiếp
hướng dẫn, chỉ bảo tận tinh trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận
văn.


Em xin cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Tổ chức quản lý và kỉnh tế
dược, đặc biệt là PGS.TS. Nguyễn Thị Thái Hằng, PGS.TS. Nguyễn Thanh
Bình, TS. Nguyễn Thị Thanh Hương đã truyền đạt cho em phương pháp
nghiên cứu khoa học và nhiều kiến thức chuyên ngành quý báu.
Em xin gửi lời cảm ơn đến DS. Hoàng Thị Minh Thư đã giúp đỡ và
động viên em rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài.
Em cũng xỉn gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu,
các phòng ban và các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã giúp đỡ,
dạy dỗ em trong suốt quá trình học tập tại trường.
Em xin cảm ơn Ban giám đốc, các bác sĩ, dược sĩ, cán bộ công nhân
viên Bệnh viện c tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho em trong quá trình làm
đề tài.
Em xỉn gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô, đằng nghiệp
trường Đọi học Y Dược Thái Nguyên đã tạo diều kiện tốt nhất giúp em đi học.
Sau cùng, em xin gửi những lài yêu thương nhất tới gia đinh và bạn bè
đã luôn cỗ vũ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua.
Hà Nội, tháng 9 năm 2012
Sinh viên

Dương Ngọc Ngà

MỤC LỤC


ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc chữa bệnh đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe
nhân dân. Với đặc trưng là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt mang tính xã hội cao,
cung ứng thuốc đang đặt ra những vấn đề phức tạp trong nền kinh tế thị trường.
Chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam đặt ra hai mục tiêu lớn: đảm bảo cung
ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến tận tay người dân và đảm bảo sử

dụng thuốc họp lý, an toàn và có hiệu quả. Trải qua nhiều năm nỗ lực thực hiện
mục tiêu của Chính sách thuốc quốc gia, ngành dược đã đạt được thành tựu đáng
kể khắc phục tình trạng thiếu thuốc nhưng việc sử dụng thuốc vẫn còn nhiều bất
cập.
Bệnh viện là nhân tố quyết định và quan trọng nhất trong việc sử dụng thuốc
an toàn, họp lý, hiệu quả. Kinh phí sử dụng thuốc tại các bệnh viện chiếm tỷ lệ
50% tổng trị giá tiền thuốc sử dụng. Thực tế cho thấy có sự cách biệt về chất
lượng khám chữa bệnh giữa các bệnh viện tuyến trung ương và địa phương, giữa
các bệnh viện ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh. Đây là một trong
những nguyên nhân dẫn đến tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến trên, gây
nhiều khó khăn cho công tác khám chữa bệnh và quản lý ở các bệnh viện này,
đồng thòi không phát huy tối đa nguồn lực của hệ thống y tế.


Thái Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế của các tỉnh miền trung du
miền núi Đông Bắc. Cho đến nay có rất ít đề tài nghiên cứu về tình hình cung ứng
thuốc tại các bệnh viện trên địa bàn. Vì vậy đề tài; “Phân tích một số hoạt động
cung ứng thuốc tại bệnh viện c - tỉnh Thái Nguyên năm 2011” được thực hiện vói

các mục tiêu sau:
1. Phân tích hoạt động lựa chọn và mua sắm thuốc tại bệnh viện c tỉnh Thái

Nguyên năm 2011.
2. Phân tích hoạt động tồn trữ, cấp phát và quản lý sử dụng thuốc tại bệnh
viện c tỉnh Thái Nguyên năm 2011.
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1.

Tổng quan về hình hình cung ứng thuốc trong bệnh viện


Cung ứng thuốc là quá trình đưa thuốc từ nơi sản xuất đến người sử dụng
[3]. Chu trình cung ứng thuốc trong bệnh viện được biểu diễn như sau:

Hình 1.1. Chu trình cung ứng thuốc
Quá trình cung ứng thuốc gồm 4 bước lựa chọn, mua thuốc, cấp phát, sử dụng
tạo thành một chu trình khép kín. Mỗi bước trong chu trình là kết quả hoạt động
của bước phía trước đồng thời là tiền đề để thực hiện bước tiếp theo, mà cơ sở
chung là hiệu quả sử dụng thuốc trên bệnh nhân. Để chu trình hoạt động hiệu quả


cần cố sự hoạt động tốt của từng bước và cố sự điều phối, gắn kết chặt chẽ các
bước trong chu trình thông qua các chính sách của tổ chức.
1.1.1. Lựa chọn thuốc
Lựa chọn thuốc là công việc quan trọng của chu trình cung ứng thuốc. Thị
trường dược phẩm đã chứng kiến sự tăng số lượng thuốc trên toàn thế giới kéo
theo sự gia tăng số lượng thuốc tiêu thụ và tiêu dùng. Tổ chức Y tế thế giới ước
tính năm 1997, ít nhất một phần ba dân số thế giói không được tiếp cận với thuốc
thiết yếu bởi vì các thuốc này quá đắt, không sẵn có hoặc không được đào tạo để
bác sỹ kê đơn. Ở những nơi nghèo hơn như châu Á hoặc châu Phi con số này có
thể cao hơn lên đến một phần hai. Kết quả là hàng triệu người phải chết hoặc phải
chịu đựng bệnh tật không cần thiết trong khi bệnh của họ có thể được phòng ngừa
hoặc chữa khỏi bởi các thuốc thiết yếu rẻ và có hiệu quả kinh tế [50]. Chi phí cho
thuốc chiếm 40% ngân sách y tế của các nước phát triển, nhưng phần lớn dân cư
không được tiếp cận hầu hết các loại thuốc thiết yếu. Nguồn ngân sách thường bị
lãng phí vào những thuốc không hiệu quả, không cần thiết, thậm chí không an
toàn. 70% dược phẩm trên thị trường thế giới là các thuốc trùng lặp hoặc không
thiết yếu. Một số thuốc có độc tính cao hơn lợi ích điều trị, một số thuốc không đủ
thông tin về hiệu lực và độ an toàn. Lựa chọn thuốc họp lý góp phần nâng cao
chất lượng cung ứng thuốc, sử dụng thuốc họp lý và giảm chi phí [49], [55]. Bên
cạnh đó sử dụng danh mục thuốc thiết yếu cũng có một số nhược điểm như chậm

trễ cập nhật thuốc mới cho đến khi thuốc đó được thêm vào danh mục; hạn chế
việc kê đơn của bác sỹ đối với thuốc không có trong danh mục; ảnh hưởng đến
quá trình nghiên cứu phát triển thuốc mới [45].
Tiêu chí để lựa chọn:
-

Phù họp với mô hình bệnh tật

-

Đã được chứng minh là có hiệu quả và an toàn

-

Được chứng minh là đảm bảo chất lượng


-

Chỉ số chi phí - hiệu quả thuận lợi
- Có đặc tính dược động học như mong muốn và có thể sản xuất ở địa

phương.
-

sẵn có ở dạng đơn chất [2].
Hiệu quả của việc lựa chọn thuốc trong cung ứng thuốc bệnh viện thể hiện ở

việc xây dựng được danh mục thuốc bệnh viện hợp lý. Hội đồng thuốc và điều trị
phải thống nhất được tiêu chuẩn các thuốc đưa vào danh mục căn cứ vào tiêu chí

sẵn có của WHO, chính sách thuốc quốc gia, các văn bản hướng dẫn của Bộ Y
tế...Trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được thống nhất, mỗi bệnh viện tùy theo nhiệm
vụ điều trị, mô hình bệnh tật, trình độ chuyên môn của cán bộ, nguồn kinh phí,
trang thiết bị, chính sách của nhà nước... để xây dựng danh mục thuốc phù hợp.
Hàng năm danh mục thuốc cần được bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp vói tình
hình thực tế điều trị, phù hợp với khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật của điều trị [42].
Cơ sở để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện: mô hình bệnh tật, phác đồ điều
trị, chủ trương chính sách của nhà nước, trình độ chuyên môn, khả năng kinh phí
của bệnh viện.
* Mô hình bệnh tật

Mô hình bệnh tật bệnh viện là số liệu thống kê về bệnh tật trong khoảng thời
gian nhất định (thường theo từng năm) về số bệnh nhân đến khám và điều trị. Đe
nghiên cứu mô hình bệnh tật được thống nhất, thuận lợi và chính xác, Tổ chức y
tế thế giới đã ban hành phân loại quốc tế về bệnh tật ICD (Intemation
Classification of Diseases and Health Problems). Bảng phân loại này đã được bổ
sung và sửa đổi 10 lần. Bảng phân loại quốc tế bệnh tật ICD lần thứ 10 gồm 21
chương bệnh, mỗi chương bệnh có một hay nhiều nhóm bệnh, mỗi nhóm bệnh có
nhiều loại bệnh, mỗi loại bệnh có nhiều chi tiết theo nguyên nhân gây bệnh hay
tính chất đặc thù của bệnh đó [3], [5].


* Hướng dẫn thực hành điều trị: là văn bản chuyên môn mang tính pháp lý,
được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu trong
điều trị học mỗi loại bệnh. Một hướng dẫn điều trị có thể có một hoặc nhiều công
thức điều trị khác nhau. Theo tổ chức Y tế thế giới, một hướng dẫn bao gồm đủ 4
tiêu chí: hợp lý, an toàn, hiệu quả, kinh tế [3].
* Chính sách quắc gia về thuốc
Chính sách thuốc quốc gia Việt Nam đã đề ra 2 mục tiêu lớn [14]:

- Cung cấp thuốc cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe của toàn dân đầy đủ, kịp
thời các loại thuốc có hiệu lực, chất lượng thuốc, giá thành hợp lý.
- Việc sử dụng thuốc phải đảm bảo an toàn, hợp lý, hiệu quả.
* Danh mục thuốc thiết yếu:
Việc lựa chọn danh mục thuốc thiết yếu góp phần nâng cao chất lượng
khám chữa bệnh và giúp quản lý tốt hơn các loại thuốc (bao gồm cả cải thiện chất
lượng kê đơn thuốc) đồng thòi tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực y tế. Điều này
rất quan trọng để tận dụng nguồn kinh phí hạn hẹp của các nước nghèo và tăng
niềm tin của công chúng trong các dịch vụ y tế [53].
Ở Việt Nam, Danh mục thuốc thiết yếu đang được áp dụng là danh mục thuốc
thiết yếu lần thứ V được Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 17/2005/QĐ-BYT
ngày 01 tháng 07 năm 2005. Danh mục thuốc thiết yếu là cơ sở để xây dựng Danh
mục thuốc chủ yếu sử dụng tại cơ sở khám chữa bệnh. Đối với các bệnh viện, Hội
đồng thuốc và điều trị xây dựng danh mục sử dụng trong bệnh viện đáp ứng nhu
cầu điều trị trình giám đốc phê duyệt [3].
* Danh mục chủ yếu:
Danh mục thuốc chủ yếu được Bộ Y tế ban hành trên cơ sở danh mục thuốc
thiết yếu của Việt Nam và Tổ chức y tế thế giới hiện hành, có hiệu quả tốt trong
điều trị. Mục đích của ban hành danh mục thuốc chủ yếu nhằm đảm bảo sử dụng
thuốc an toàn, họp lý, đáp ứng nhu cầu điều trị của người bệnh và phù họp vói khả
năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của bảo hiểm y tế [9]. Ngày


29/04/2010 Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc y học cổ truyền chủ yếu sử dụng tại
các cơ sở khám chữa bệnh theo thông tư số 12/2010/TT-BYT với 300 vị thuốc và
127 chế phẩm thuốc y học cổ truyền [10]. Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại
các cơ sở khám chữa bệnh được quỹ bảo hiểm thanh toán được ban hành kèm
theo quyết định số 31/2011/QĐ- BYT ngày 11/07/2011. Danh mục thuốc bao gồm
900 thuốc hay hoạt chất, được sắp xếp theo mã ATC (giải phẫu, điều trị, hóa học);
được ghi theo tên chung quốc tế và theo quy định của Dược thư Quốc gia Việt

Nam gồm các thuốc tân dược, thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu [13].
* Trình độ chuyên môn, khả năng kinh phí của bệnh viện

Nếu xây dựng danh mục thuốc trong bệnh viện không dựa trên những căn cứ
khoa học thì ngay từ những yếu tố ban đầu của sử dụng thuốc họp lý đã không đạt
được. Hàng năm danh mục thuốc cần được bổ sung, điều chỉnh cho phù họp vói
tình hình thực tế của điều trị, phù họp vói khả năng ứng dụng các tiến bộ của khoa
học kỹ thuật điều trị [43].
1.1.2.

Mua thuốc

Quá trình mua thuốc là một bước quan trọng có thể ảnh hưởng đến các bước
khác trong chu trình hoặc ảnh hưởng đến toàn bộ hiệu quả của hoạt động cung
ứng thuốc. Quá trình mua thuốc hiệu quả phải đảm bảo cung cấp đúng thuốc, đủ
số lượng, chất lượng đã được thừa nhận vói giá cả họp lý [49].
1.1.2.1.

Chu trình mua thuốc

Chu trình mua thuốc bao gồm các bước sau [49]:
- Xem xét lại việc lựa chọn thuốc;
- Xác định nhu càu về số lượng;
- Cân đối giữa nhu cầu và kinh phí;
- Lựa chọn phương thức mua;
- Xác định và lựa chọn nhà cung cấp;
- Cụ thể các họp đồng kinh tế;
- Kiểm tra tình trạng đơn hàng;



- Nhận và kiểm tra thuốc;
- Thanh toán;
- Phân phối thuốc;
- Thu thập thông tin về tiêu thụ.
1.1.2.2.

Các nguyên lý cơ bản của thực hành mua sắm thuốc tốt [49].

Theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới, Thực hành mua sắm thuốc tốt gồm
các nguyên tắc sau:
- Mua thuốc theo tên gốc (Tên chung quốc tế không được đăng kí bản
quyền): để đảm bảo cạnh tranh công bằng. Định rõ tiêu chuẩn chất lượng và
không ghi tên biệt dược.
- Giói hạn việc mua thuốc theo da nh mục thuốc thiết yếu: Lựa chọn thuốc
an toàn, hiệu quả, chi phí họp lý. Sử dụng những sản phẩm được phê chuẩn cho
những thuốc không thuộc danh mục.
- Mua với số lượng lớn: Khi mua khối lượng lớn thì giá giảm.
- Thẩm định và giám sát chất lượng nhà cung ứng: Chất lượng nhà cung ứng
thể hiện qua chất lượng thuốc, dịch vụ đáng tin cậy và khả năng tài chính tốt.
- Mua sắm cạnh tranh: Trong đấu thầu rộng rãi sẽ mua được giá tốt nhất.
- Cam kết nguồn hàng duy nhất: Tất cả các thuốc được ký kết được cung cấp
bởi nhà trúng thầu.
- Số lượng đặt hàng dựa trên sự ước tính chính xác nhu cầu thực tế: Dựa trên
số liệu tiêu thụ chính xác và mô hình bệnh tật.
- Đảm bảo thanh toán và khả năng tài chính tốt.
- Thủ tục mua sắm minh bạch và rõ ràng.
- Phân chia các chức năng chủ chốt hoặc các vị trí đòi hỏi phải có trình độ
chuyên môn khác nhau thành các tiểu ban, đơn vị.
- Có chương trình bảo đảm chất lượng hàng hóa: Thiết lập và duy trì hệ
thống chính thức cho việc đảm bảo chất lượng.

- Kiểm toán hàng năm và công bố kết quả


- Báo cáo thường xuyên qua bộ chỉ báo về mua sắm: tỷ lệ giữa giá mua và
giá thị trường thế giới, tỷ lệ hàng hóa mua thông qua đấu thầu, tỷ lệ giữa kế hoạch
và thực tế.
1.1.2.3. Phương thức mua sắm thuốc
Nhằm tăng cường quản lý, sử dụng kinh phí của các cơ sở y tế công lập trong
việc mua thuốc, hóa chất, dịch truyền, sinh phẩm, vật tư tiêu hao, Bộ Y tế quy
định việc cung ứng thuốc phải thực hiện qua thể thức đấu thầu, chọn thầu, chỉ
định công khai theo quy định của nhà nước. Ngày 19 tháng 01 năm 2012 Bộ Y tếBộ Tài chính ban hành thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT- BYT-BTC Hướng dẫn
đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế, thông tư này có hiệu lực từ ngày
01/06/2012.
* Các hình thức lựa chọn nhà thầu [31]:

- Đấu thầu rộng rãi
- Đấu thầu hạn chế
- Chỉ định thầu
- Mua sắm trực tiếp
- Chào hàng cạnh tranh trong mua sắm hàng hóa
- Tự thực hiện
- Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt
Ưu nhược điểm của các hình thức lựa chọn nhà thầu được trình bày ở bảng
1.1 [52]:


Bảng 1.1. ưu nhược đỉểm của các hình thức lưa chon nhà thầu
o




2.2.3.





Tồn trữ, cập phất thuốc

Theo Tổ chức y tế thế giổd thì tồn trữ là sự bảo quản tất cả các nguyên liệu
bao bì, vật tư dùng trong sản xuất, mọi bán thành phẩm ưong quá trình sản xuất và
các thành phẩm trong kho. Tồn trữ bao gồm cả quá trình xuất, nhập hàng hốa vì
vậy nố yêu cầu phải cố một hệ thống sổ sách ghì chép đặc biệt là sách ghì chép
việc xuất, nhập hàng ngày. Tồn trữ không chỉ là vỉệc cất giữ thuốc ttong kho mà
còn là cả một quá trình xuất, nhập kho hợp lý, quá trình kỉểm kê, kiểm tra dự trữ
và các biện pháp kỹ thuật bảo quản thuốc. Trong bảo quản thuốc cổ thể bị giảm cả
về số lượng và chất lượng, không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng
tới hiệu quả đỉều trị và gây nên nhiều tác hại khác [4]. Mục tiêu của bảo quản
thuốc là bảo vệ thuốc khỏi mất mát, hỏng, trộm cắp hoặc hao hụt và quản lý


đường đi đáng tin cậy của thuốc từ nguồn cung cấp đến người sử dụng một cách
kinh tế và nhanh chóng nhất [49].
Hoạt động bảo quản thuốc tốt có những đặc điểm sau đây [49]:
- Kho thuốc được chia thành các khu vực có điều kiện môi trường và nhiệt
độ đảm bảo.
- Mỗi một loại thuốc được bảo quản ở một khu vực phù họp
- Thuốc xếp trong mỗi khu vực theo một trình tự họp lý.
- Thuốc phải bảo quản trên giá hoặc kệ
- Duy trì chế độ vệ sinh, kiểm tra, loại bỏ thuốc quá hạn và hỏng, theo dõi

thuốc xuất nhập.
- Nhân viên có trình độ chuyên môn phù họp, được đào tạo, có chế độ khen
thưởng và kỷ luật.
- Hồ sơ và sổ sách luôn sẵn có.
- Để tăng hiệu quả, nhân viên phải có điều kiện và phương tiện làm việc tốt.
- Thuốc phải được kiểm tra và kiểm kê thường kỳ
Đe bảo quản thuốc tốt thì kho phải được thiết kế theo đúng quy định chuyên
môn theo từng chủng loại, bảo đảm cao ráo, thoáng mát, vệ sinh sạch sẽ, đủ
phương tiện bảo quản và an toàn chống mất trộm. Việc sắp xếp trong kho phải bảo
đảm ngăn nắp, có giá kệ; xếp theo chủng loại, dễ thấy, dễ lấy. Phải thực hiện 5
chống: nhầm lẫn; quá hạn; mối, mọt, chuột, gián; trộm cắp; thảm họa (cháy, nổ,
ngập lụt) [7].
Theo thông tư 22/2011/TT-BYT, kho dược bệnh viện phải đảm bảo yêu cầu về
vị trí, thiết kế:
-

Kho thuốc được bố trí ở nơi cao ráo, an toàn, thuận tiện cho việc xuất,
nhập, vận chuyển và bảo vệ;

-

Đảm bảo vệ sinh chống nhiễm khuẩn;

-

Diện tích kho cần đủ rộng để bảo đảm việc bảo quản thuốc đáp ứng với
yêu càu của từng mặt hàng thuốc;


-


Kho hóa chất (pha chế, sát khuẩn) bố trí ở khu vực riêng;

Trang thiết bị phải đáp ứng yêu cầu sau:
-

Trang bị tủ lạnh để bảo quản thuốc có yêu cầu nhiệt độ thấp ;

-

Kho có quạt thông gió, điều hòa nhiệt độ, nhiệt kế, ẩm kế, máy hút ẩm;

-

Các thiết bị dùng để theo dõi điều kiện bảo quản phải được hiệu chuẩn
định kỳ;

-

Có đủ giá, kệ, tủ để xếp thuốc; khoảng cách giữa các giá, kệ đủ rộng để vệ
sinh và xếp dỡ hàng;

-

Đủ trang thiết bị cho phòng cháy, chữa cháy (bình cứu hỏa, thùng cát, vòi
nước) [11].

Công tác bảo quản thuốc cần làm tốt những việc sau đây [11]:
-


Có sổ theo dõi công tác bảo quản, kiểm soát, sổ theo dõi nhiệt độ, độ ẩm
tối thiểu 2 làn (sáng, chiều) trong ngày và theo dõi xuất, nhập sản phẩm.

-

Tránh ánh sáng trực tiếp và các tác động khác từ bên ngoài.

-

Thuốc, hoá chất, vắc xin, sinh phẩm được bảo quản đúng yêu cầu điều kiện
bảo quản do nhà sản xuất ghi trên nhãn hoặc theo yêu cầu của hoạt chất
(với các nhà sản xuất không ghi trên nhãn) để đảm bảo chất lượng của sản
phẩm.

-

Thuốc càn kiểm soát đặc biệt (thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và
tiền chất dùng làm thuốc, thuốc phóng xạ) và thuốc bảo quản ở điều kiện
nhiệt độ đặc biệt thì bảo quản theo quy định hiện hành và yêu cầu của nhà
sản xuất.

-

Theo dõi hạn dùng của thuốc thường xuyên. Khi phát hiện thuốc gần hết
hạn sử dụng hoặc thuốc còn hạn sử dụng nhưng có dấu hiệu nứt, vỡ, biến
màu, vẩn đục phải để khu vực riêng chờ xử lý.

-

Thuốc, hoá chất dễ cháy nổ, vắc xin, sinh phẩm bảo quản tại kho riêng.


-

Kiểm tra sức khỏe đối vói thủ kho thuốc, hóa chất: 6 tháng/lần.


Thuốc được sắp xếp trong kho theo nguyên tắc hạn dùng của thuốc: FIFO
(first in, first out), FEFO (First expiry, first out) [4], [49].
Quá trình cấp phát thuốc ảnh hưởng lớn đến hiệu quả điều trị. Để hoạt động
cung ứng thuốc có hiệu quả, khoa dược cần xây dựng quy trình cấp phát thuốc
họp lý, căn cứ tình hình nhân lực của khoa dược, nhân lực y tá khoa phòng và căn
cứ nhu cầu điều trị của mỗi bệnh viện trên nguyên tắc phục vụ thuốc kịp thòi,
thuận tiện nhất cho điều trị [43].
Khoa dược bảo đảm việc cấp phát thuốc, hóa chất (pha chế, sát khuẩn) đầy đủ
và kịp thời theo phiếu lĩnh thuốc, hóa chất của khoa lâm sàng, cận lâm sàng và
phát thuốc theo đơn cho người bệnh ngoại trú có thẻ bảo hiểm y tế. Khoa dược
duyệt thuốc trước khi cấp phát. Trưởng khoa dược hoặc dược sĩ được ủy quyền
duyệt phiếu lĩnh thuốc trong giờ hành chính. Từ chối phát thuốc nếu phát hiện sai
sót trong đơn thuốc hoặc phiếu lĩnh thuốc, thông báo lại với bác sĩ kê đơn và bác
sĩ ký duyệt; phối hợp vói bác sĩ lâm sàng trong việc điều chỉnh đơn thuốc hoặc
thay thế thuốc. Tùy thuộc vào điều kiện nhân lực của đơn vị, khoa dược đưa thuốc
đến các khoa lâm sàng hoặc khoa lâm sàng nhận thuốc tại khoa dược theo quy
định của giám đốc bệnh viện [11]. Thuốc cấp phát lẻ không còn nguyên bao gói
phải được đóng gói lại trong bao bì kín khí và có nhãn ghi tên thuốc, nồng độ
(hàm lượng), hạn dùng. Việc ra lẻ thuốc phải bảo đảm thực hiện trong môi trường
vệ sinh sạch sẽ và thao tác họp vệ sinh. Tùy theo điều kiện, tính chuyên khoa của
bệnh viện, khoa dược thực hiện pha chế thuốc theo y lệnh và cấp phát dưới dạng
đã pha sẵn để sử dụng [12].
Khi cấp phát thuốc phải tiến hành kiểm tra, đối chiếu:
-


Thể thức phiếu lĩnh thuốc hoặc đơn thuốc;

-

Kiểm tra tên thuốc, nồng độ (hàm lượng), dạng bào chế, liều dùng, đường
dùng, khoảng cách dùng thuốc trên đơn thuốc với thuốc sẽ giao;

-

Nhãn thuốc;

-

Chất lượng thuốc;


-

Số lượng, số khoản thuốc trong đơn thuốc, phiếu lĩnh thuốc với số thuốc sẽ
giao.
Sau khỉ cấp phát phải vào thẻ kho theo dõi thuốc hàng ngày, cấp phát thuốc

theo nguyên tắc thuốc nhập trước xuất trước, thuốc cố hạn dùng ngắn hơn xuất
trước. Chỉ được cẩp phát các thuốc còn hạn sử dụng và đạt tiêu chuẩn chất lượng.
Sau khỉ cấp phát, vào sổ theo dõi xuất, nhập hoặc thẻ kho [11].
1.1.4. Quản lý sử đụng thuốc
Chu trình sử dụng thuốc thể hiện ở sơ đồ sau [49]:

Sử dụng thuốc là khâu chủ chốt ữong chu trình cung ứng thuốc thể hỉện kết

quả của một chuỗi hoạt động đưa thuốc đến người bệnh. Mục tiêu của bẾt kỳ một
hệ thống quản lý dược phẩm nào cũng là nhằm cung cấp cho bệnh nhân đúng
thuốc mà họ cần. Tất cả các hoạt động lựa chọn, mua thuốc, cấp phát đều là
những tiền đề cần thiết cho sử dụng thuốc hợp lý. Sử dụng thuốc họp lý đòi hỏi
bệnh nhân phải được nhận thuốc đúng với tình trạng bệnh, đúng liều, đúng thòi
gian với chi phí thấp nhất đối với họ và cộng đồng của họ.
Các tiêu chuẩn của sử dụng thuốc họp lý bao gồm [49]:
-

Chỉ định đúng;

-

Đúng thuốc, xét về hiệu quả, độ an toàn, phù hợp vói bệnh nhân và chi phí;


-

Đúng liều dùng, liệu trình điều trị;

-

Đúng bệnh nhân: không có chống chỉ định, khả năng có phản ứng bất lọi là
thấp nhất;

-

Cấp phát đúng bao gồm thông tin cho bệnh nhân về thuốc được kê đơn;

-


Bệnh nhân tuân thủ điều trị.

Để đạt được những điểm này, người kê đơn phải tuân theo một quy trình kê
đơn chuẩn, bắt đầu bằng việc chẩn đoán để xác định tình trạng bệnh, sau đó xác
định mục tiêu điều trị. Ngưòi kê đơn phải quyết định điều trị như thế nào căn cứ
vào thông tin cập nhật về thuốc và các phác đồ điều trị, để đạt được mục tiêu
mong muốn cho từng bệnh nhân cụ thể. Khi quyết định điều trị bằng thuốc, thuốc
tốt nhất cho bệnh nhân sẽ được lựa chọn dựa trên hiệu quả, độ an toàn, hợp lý và
kinh tế. Tùy thuộc tình trạng từng bệnh nhân để lựa chọn liều dùng, đường dùng
và liệu trình điều trị. Khi kê đơn một loại thuốc, người kê đơn cần thông tin cho
bệnh nhân chính xác về thuốc và tình trạng bệnh. Cuối cùng người kê đơn quyết
định hình thức giám sát quá trình điều trị và phản ứng bất lợi có thể xảy ra. Bên
cạnh đó, thuốc phải được cấp phát cho bệnh nhân một cách an toàn đảm bảo bệnh
nhân hiểu về liều dùng và quá trình điều trị. Bệnh nhân sẽ tuân thủ điều trị nếu
bệnh nhân hiểu rõ giá trị của việc sử dụng thuốc hiệu quả và điều trị hiệu quả
[49].
Sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý nói chung và trong khu vực bệnh
viện nói riêng đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia. Đây cũng là một
trong những nguyên nhân chính làm tăng chi phí điều trị cho người bệnh. Theo
các nghiên cứu, kinh phí mua thuốc chiếm 30% - 40% ngân sách y tế của nhiều
nước, và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do dùng thuốc không họp lý và các hoạt
động cung ứng thuốc không hiệu quả [1]. Trên thế giới, ước tính một nửa số thuốc
được kê đơn, cấp phát và bán không họp lý và một nửa số bệnh nhân không được
nhận đúng thuốc [54]. Sử dụng thuốc không hợp lý xảy ra ở tất cả các quốc gia,
và ở mọi nơi trong hệ thống chăm sóc sức khỏe từ bệnh viện đến gia tình. Sử


dụng thuốc không hợp lý bao gồm kê đơn thuốc khi không cần thiết, kê đơn và
phát thuốc không đúng hoặc không có hiệu lực và không an toàn, trong khi những

thuốc hiệu quả sẵn có lại không được tận dụng; bệnh nhân dùng sai thuốc. Việc sử
dụng thuốc không họp lý trên phạm vi rộng có tác động tiêu cực đáng kể đến chi
phí chăm sóc sức khỏe, chất lượng của việc điều trị bằng thuốc, và là nhân tố đầu
tiên góp phần gia tăng vi khuẩn kháng kháng sinh. Một tác động tiêu cực nữa là
làm tăng nguy cơ xảy ra tác dụng không mông muốn và khuyến khích sự lệ thuộc
không họp lý vào thuốc của bệnh nhân [49], [54].
Kê đơn và chỉ định dùng thuốc do thầy thuốc thực hiện. Thuốc chỉ định cho
người bệnh cần đảm bảo các yêu cầu sau:
-

Phù họp với chẩn đoán và diễn biến bệnh;

-

Phù họp tình trạng bệnh lý và cơ địa người bệnh;

-

Phù họp với tuổi và cân nặng;

-

Phù họp với hướng dẫn điều trị (nếu có);

-

Không lạm dụng thuốc [12].

Các nguyên nhân sai sót làm giảm hiệu quả ở bước này rất đa dạng: trình độ
chẩn đoán bệnh, hiểu biết về thuốc, do ý thức trách nhiệm - y đức, do bản chất thị

trường dược phẩm chi phối, do sức ép xã hội.. .Vì vậy để giám sát tốt việc kê đom
chỉ định dùng thuốc cần giám sát việc thực hiện các quy định của nhà nước: quy
chế kê đom; thực hiện phác đồ điều trị, quy định sử dụng thuốc trong cơ sở y tế có
giường bệnh...Luôn đúc rút kinh nghiệm với nhiều biện pháp như: bình đom
thuốc, sinh hoạt về thông tin thuốc, các tiến bộ về thuốc định kì trong bệnh viện
[42].
Để góp phần nâng cao chất lượng sử dụng thuốc trong bệnh viện, ngày 4
tháng 7 năm 1997, Bộ Y tế ban hành thông tư số 08/BYT/TT về việc hướng dẫn tổ
chức, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng thuốc và điều trị ở bệnh viện. Ngày
16/04/2004 Bộ Y tế ban hành chỉ thị 05/2004/BYT-CT về việc chấn chỉnh cung
ứng thuốc trong bệnh viện, trong đó nêu rõ: “Giám đốc bệnh viện có trách nhiệm


chỉ đạo hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong việc lựa chọn thuốc và sử
dụng thuốc họp lý, an toàn” .
Sau khi thuốc được kê đom, việc tuân thủ điều trị đóng vai trò quan trọng
trong hiệu quả điều trị. Tại bệnh viện, khoa lâm sàng phải có trách nhiệm giúp
ngưòi bệnh tuân thủ điều trị theo các quy định của thông tư 23/2011/TT-BYT
hướng dẫn sử dụng thuốc trong cơ sở y tế có giường bệnh và thông tư
07/2011/TT-BYT hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong
bệnh viện.
1.2. Tình hình cung ứng thuốc ở các bệnh viện Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay
Năm năm trở lại đây là những năm đày biến động của nền kinh tế toàn cầu.
“Khủng hoảng tài chính”, “giảm phát kinh tế”, “phá sản”, vv ... là những cụm từ
được nhắc đến nhiều nhất trong gần 100 năm qua. Theo đánh giá của Bloomberg
(29 Oct 2008) chỉ riêng trong năm 2008 thị trường dược phẩm thế giới mất 10 tỷ
USD do hậu quả suy thoái kinh tế [44]. Việt Nam đã là thành viên của WTO, cho
nên mặc dù Việt Nam mới hội nhập nhưng cũng đã chịu những ảnh hưởng sâu
sắc. Theo TS Nguyễn Quốc Triệu, phát biểu tại hội nghị trực tuyến ngành dược

năm 2009, ngành dược Việt Nam đã thu được những kết quả rất đáng ghi nhận
trên hầu hết các mặt của công tác chăm sóc dược (pharmaceutical care). Thuốc
sản xuất trong nước đang hướng tới những nhóm thuốc có tỷ lệ sử dụng cao,
thuốc chuyên khoa (như : thuốc tim mạch, tiểu đường, thần kinh, nội tiết, ...) Các
dạng bào chế cũng được phát triển hơn (như : thuốc tác dụng có kiểm soát, thuốc
tiêm đông khô, thuốc sủi bọt, ...) [14]. Số liệu báo cáo cho thấy, năm 2010 thuốc
sản xuất trong nước đạt 919,039 triệu USD, chiếm 48,03 % giá trị tiền thuốc sử
dụng, đã góp phần tăng tiền thuốc bình quân đầu người lên 22,25 USD/năm tăng
12,5 % so với năm 2009 [15],[30]. Nhằm thực hiện tốt mục tiêu đảm bảo đủ thuốc
cho nhân dân có chất lượng với giá họp lý và đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hiệu


quả, Bộ Y tế đã ban hành một số văn bản quy chế trong lĩnh vực công tác cung
ứng thuốc trong bệnh viện. Danh mục thuốc thiết lần thứ V ban hành theo quyết
định số 17/2005/QĐ-BYT ngày 01 tháng 07 năm 2005 và danh mục thuốc chủ
yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh được quỹ bảo hiểm thanh toán ban
hành kèm theo thông tư số 31/2011/TT-BYT ngày 11/07/2011 góp phàn giúp các
bệnh viện lựa chọn danh mục thuốc phù họp cho công tác khám chữa bệnh của
đơn vị mình. Ngày 29/04/2010 Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc y học cổ truyền
chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh theo thông tư số 12/2010/TT-BYT.
Trong công tác quản lý mua thuốc ở các bệnh viện công lập, Bộ Y tế phối họp vói
Bộ Tài chính ban hành thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn
đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế khắc phục một số điểm vướng mắc của
các văn bản hướng dẫn đấu thầu trước đó. Nhằm tăng cường sử dụng thuốc an
toàn hợp lý, Bộ Y tế ban hành thông tư 22/2011/TT/BYT quy định tổ chức và hoạt
động tại khoa dược bệnh viện có nhấn mạnh thêm trách nhiệm của khoa dược
bệnh viện trong sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, bảo quản thuốc được sử dụng tại
bệnh viện. Bộ Y tế cũng quy định trách nhiệm của điều dưỡng trong việc dùng
thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh trong thông tư 07/2011/TT-BYT về
hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện.

Thực hiện quy định của Bộ Y tế, các bệnh viện phấn đấu cung ứng thuốc tốt
đáp ứng nhu càu điều trị. Tổng trị giá tiền mua thuốc sử dụng tại các bệnh viện
trên toàn quốc năm 2009 là 10.791 tỉ VND, chiếm khoảng 40 % tổng trị giá thuốc
sử dụng. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh là 2 địa bàn tập trung nhiều các bệnh viện
lớn, có tỉ trọng sử dụng cao. Hệ thống các bệnh viện tư đã phát triển nhưng số
lượng còn ít, tiền thuốc các bệnh viện công đã sử dụng chiếm 92% [29]. Năm
2010 tổng số tiền mua thuốc trong các bệnh viện công lập là 15.496 tỉ VND, trong
đó 36,7% dùng mua thuốc sản xuất trong nước [34]. Các bệnh viện trung ương và
trên toàn quốc đã duy trì được công tác đấu thầu thuốc hàng năm [14]. Năm 2010,
Cục Quản lý dược đã phối hợp vói Vụ Kế hoạch tài chính xem xét kế hoạch đấu


thầu (giá kế hoạch) cho 41 bệnh viện, 02 dự án (Dự án Quốc gia phòng chống sốt
rét, Dự án phòng chống lao). 97,78% lượt mặt hàng có giá bán lẻ tại nhà thuốc
bệnh viện thấp hơn giá bán lẻ tại nhà thuốc xung quanh [29].
1.2.1.

Lựa chọn thuốc

Việc xây dựng một danh mục thuốc phù hợp sẽ mang lại nhiều lọi ích cho
bệnh viện nói riêng cũng như toàn xã hội nói chung [1]. Một nghiên cứu tại bệnh
viện Nhân Dân 115 cho thấy việc lựa chọn thuốc hợp lý trong danh mục đã giảm
được hơn 500 triệu đồng trong vòng 6 tháng [38]. Trong hoạt động lựa chọn
thuốc, các bệnh viện đã được nghiên cứu đều tiến hành xây dựng danh mục thuốc
mỗi năm một lần. Quy trình xây dựng danh mục thuốc tại các bệnh viện này đều
đầy đủ, rõ ràng theo hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới và các quy định liên quan
của Bộ Y tế. Tuy nhiên chỉ một số rất ít bệnh viện áp dụng phương pháp khoa học
(ABC/VEN, DDD) để đánh giá tình hình sử dụng thuốc và tìm ra các thuốc bị lạm
dụng, các thuốc cần ưu tiên mua. Được xây dựng trên một nền tảng tốt và quan
điểm nghiêm túc về vai trò của việc lựa chọn thuốc, danh mục thuốc bệnh viện

của các bệnh viện được đánh giá là đáp ứng nhu cầu điều trị và phù họp vói kinh
phí của bệnh viện. Các bệnh viện xây dựng danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện
căn cứ vào danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh. Tại bệnh viện Thanh Nhàn - Hà Nội, tỷ lệ thuốc chủ yếu trong danh
mục thuốc bệnh viện khá cao: 95,5%. Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa , tỷ
lệ thuốc chủ yếu trong danh mục thuốc bệnh viện năm 2009 cũng chiếm tới 91,8%
[28], [33]. Tuy nhiên tỷ lệ thuốc thiết yếu trong danh mục tại các bệnh viện được
nghiên cứu thấp. Bên cạnh đó vẫn còn một số bất cập như tỷ lệ thuốc nhập ngoại,
thuốc theo tên biệt dược trong da nh mục chiếm ưu thế. Trong danh mục thuốc
năm 2009 của bệnh viện E, thuốc nội chiếm 26,2% về số lượng và 25,5% về giá
trị [26]. Tại bệnh viện Da liễu trung ương, thuốc nội trong danh mục thuốc năm
2009 cao hơn 46,8 % về số lượng nhưng chỉ chiếm 17,1% về giá trị [27].


1.2.2.

Mua sắm thuốc

Hoạt động mua thuốc trong bệnh viện luôn được xã hội quan tâm. Trước năm
2005, cơ sở pháp lý cho hoạt động thực hiện đấu thầu tại các cơ sở y tế công lập
chưa được hoàn thiện. Mỗi bệnh viện tổ chức đấu thầu theo hình thức khác nhau:
Bệnh viện 108 năm 2005, áp dụng phương thức cung ứng là chào hàng cạnh
tranh. Bệnh viện Hữu Nghị từ năm 2000 bắt đầu tổ chức đầu thầu hạn chế. Năm
2004, bệnh viện tổ chức đấu thầu rộng rãi. Một số bệnh viện áp dụng đồng thòi
nhiều hình thức: chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh, đấu thầu rộng rãi như bệnh
viện Uông Bí - Thụy Điển [19]. Sau khi có các thông tư hướng dẫn đấu thầu cung
ứng thuốc ra đòi, tại các bệnh viện lớn như bệnh viện Bạch Mai, Hữu Nghị, E,
Việt Đức, Phụ sản Trung ương, Chợ Rầy đều tiến hành mua thuốc theo hình thức
đấu thầu rộng rãi. Năm 2010, có 3 hình thức đấu thầu cung ứng thuốc bảo hiểm y
tế: đấu thầu tập trung 59,1%, đấu thầu đại diện 28,3% và đấu thầu đơn lẻ 12,6%.

Trong đó tất cả các bệnh viện tuyến trung ương mua sắm thuốc qua đấu thầu đơn
lẻ [32]. Qua một nghiên cứu kết quả đấu thầu năm 2009- 2010 tại một số bệnh
viện trung ương, tỷ lệ thuốc trúng thầu chiếm trên 90% danh mục thuốc mời thầu.
Trong đó thuốc nước ngoài vẫn chiếm tỷ lệ cao 71%. Tỷ lệ thuốc theo tên biệt
dược trúng thầu cũng cao hơn tỷ lệ trúng thầu theo tên generic [22]. Đấu thầu
thuốc vẫn còn nhiều hạn chế: thời gian đấu thầu kéo dài, tiêu chí lựa chọn không
thống nhất, một số mặt hàng giá cao hơn giá bán buôn trên thị trường [22], [32].
Các quy định của Bộ Y tế góp phần giảm tiêu cực trong hoạt động mua thuốc
nhưng quy trình đấu thầu và tiêu chuẩn xét thầu còn mang tính chủ quan không
đảm bảo tính minh bạch trong quá trình lựa chọn nhà thầu. Theo tác giả Nguyễn
Trung Hà tại bệnh viện Trung ương quân đội 108, tiêu chí đánh giá đạt, không đạt
mang tính định tính, khổ xác định được chi phí thấp nhất trên cùng một mặt bằng
về kỹ thuật. Tỷ lệ hàng hóa trong danh mục mòi thầu nhưng không có nhà thầu
nào tham gia đấu thầu còn cao (trung bình 5 gói thầu: 15%) [23]. Với hoạt động
cung ứng thuốc ở bệnh viện Saint Paul Hà Nội giai đoạn 2006-2008, việc xây


dựng danh mục thuốc đấu thầu theo tên biệt dược và tiêu chuẩn xét thầu, chấm
thầu chưa hoàn thiện [24]. Nguyên nhân là khối lượng công việc đấu thầu rất lớn,
thời gian đấu thầu kéo dài, các bệnh viện gặp khó khăn trong việc xây dựng giá kế
hoạch do biến động giá, tiêu chí chấm thầu mang tính chất chủ quan... [25].
1.2.3. Tồn trữ và cấp phát thuốc
Công tác bảo quản và tồn trữ thuốc ngày càng được các bệnh viện quan tâm
và đầu tư. Tại các bệnh viện, hệ thống kho thuốc và cơ sở vật chất bảo quản tối
thiểu được trang bị phù họp với yêu cầu bảo quản thuốc. Các hệ thông kho đáp
ứng công tác bảo quản thuốc, nhưng phần lớn chưa đạt tiêu chuẩn GSP. Để khắc
phục khó khăn về cơ sở vật chất và nhân lực, các bệnh viện xây dựng và thực hiện
tốt quy trình nghiệp vụ kho. Công tác thống kê, kiểm kê, báo cáo, lưu trữ hồ sơ sổ
sách được thực hiện theo đúng quy định của Bộ Y tế. Bệnh viện Nhân Dân 115 đã
áp dụng một số biện pháp rất khoa học can thiệp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý

tồn kho như: xây dựng các tiêu chí trong công tác quản lý kho đáp ứng yêu cầu
của IMAT, triển khai các phàn mềm hỗ trợ trong công tác quản lý tồn trữ kho
thuốc.. .được đánh giá là giúp quản lý tồn kho tốt hơn [39].
ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và cấp phát thuốc là một tiến bộ
lớn của khối dược bệnh viện. Nhờ vậy công tác cấp phát thuốc được thực hiện
nhanh chóng và hiệu quả. Các bệnh viện được nghiên cứu đều xây dựng quy trình
cấp phát thuốc hợp lý cho bệnh nhân nội trú và ngoại trú. Thực hiện Chỉ thị
05/2004/CT-BYT của Bộ Y tế về việc chấn chỉnh công tác cung ứng thuốc trong
bệnh viện, khoa dược nhiều bệnh viện đã triển khai cấp phát thuốc đến khoa lâm
sàng. Đây là một nỗ lực rất lớn của các bệnh viện trong việc nâng cao chất lượng
cung ứng thuốc. Theo báo cáo tổng kết năm 2005, có 78% khoa dược đưa thuốc
xuống khoa lâm sàng, trong đó có 64% khoa dược cấp thuốc tại 100% các khoa
lâm sàng. Tuy nhiên do công tác này đòi hỏi nhiều nhân lực nên nhiều bệnh viện
đã không duy trì được, hoặc phải thay đổi cách thức thực hiện cho phù họp với
tình hình của đơn vị. Như tại bệnh viện Xanh Pôn, trong thời gian thực hiện theo


chỉ thị 05/2004/CT-BYT, bệnh viện đã thực hiện thí điểm ở 5 khoa phòng. Nhưng
do điều kiện nhân lực thiếu và yếu nên hiệu quả không cao. Hiện nay, công tác
cấp phát thuốc được tiến hành ở tất cả các khoa như sau: y tá các khoa lĩnh thuốc,
khoa Dược giám sát cấp phát thuốc tói từng bệnh nhân [24].
1.2.4.

Quản lý sử dụng thuốc

Nhà nước đã triển khai Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu theo chủ
chương của Tổ chức y tế thế giới nhằm đảm bảo cung ứng thuốc có chất lượng,
giá cả phù họp. Theo kết quả nghiên cứu sử dụng phân tích ABC/VEN để đánh
giá hiệu quả can thiệp cung ứng thuốc của nhóm tác giả Huỳnh Hiền Trung và
cộng sự tại bệnh viện Nhân Dân 115, sau can thiệp tỷ lệ thuốc nhóm N (không

thiết yếu) giảm 1,4% nhưng vẫn ở mức cao 14,34% [40].
Kê đơn, chỉ định dùng thuốc cho bệnh nhân vẫn còn một số tồn tại ở các bệnh
viện công lập. Nghiên cứu tại khoa Khám bệnh, bệnh viện Nhân Dân 115 từ tháng
7/2007 đến 2/2008, số thuốc trung bình trong một đơn không cao nhưng số thuốc
thiết yếu trong một đơn thuốc lại quá cao (47,17% tổng số thuốc). Đối với nhóm
chỉ số chăm sóc bệnh nhân cũng phân tích sơ bộ được sự hiểu biết của bệnh nhân
về bệnh, tổng ngày điều trị, liều dùng cho thấy mức thòi gian dành để chăm sóc
bệnh nhân (khám bệnh, phát thuốc) còn rất thấp [38]. Nghiên cứu việc thực hiện
quy chế kê đơn trong điều trị ngoại trú tại bệnh viện Phổi Trung ương năm 2009
cho thấy, chỉ có 35,0% đơn thuốc ghi rõ ràng, chính xác địa chỉ bệnh nhân; 62,0%
ghi tên thuốc theo tên hoạt chất; 83% ghi đầy đủ hàm lượng, nồng độ, số lượng
thuốc. Cũng tại bệnh viện này, kết quả khảo sát hồ sơ bệnh án cho thấy chỉ có
33,3% bệnh án thực hiện đúng quy chế thuốc gây nghiện và chỉ có 2 trong số 18
bệnh án khảo sát thực hiện đúng quy chế thuốc hướng tâm thần [20]. Tại bệnh
viện Tim Hà Nội năm 2008-2010, số thuốc trung bình trong một đơn là 4,4, số
thuốc kê tên gốc chỉ chiếm tỷ lệ 20% tổng số thuốc. 95% đơn ghi liều dùng, thời
gian dùng nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể. Tỷ lệ kê thuốc đúng số ngày chiếm
95%. Quy định kê đơn thuốc gây nghiện và hướng tâm thần chưa được thực hiện


tốt khi 70,4% bệnh án có ghi số ngày sử dụng thuốc gây nghiện và không có bệnh
án nào thực hiện ghi số lượng thuốc gây nghiện bằng chữ và ghi số 0 trước số
lượng thuốc hướng tâm thần nhỏ hơn 10 [21]. Một số bệnh viện tuyến trung ương
đã thực hiện kê đơn điện tử để nâng cao chất lượng kê đơn, chỉ định thuốc. Ví dụ
việc kê đơn tại bệnh viện Nhân Dân 115 còn nhiều bất cập, các sai sót trong đơn
chiếm tỷ lệ cao như: các đơn thuốc có sai sót thông tin bệnh nhân chiếm 98%, các
đơn thuốc thiếu kê chẩn đoán theo ICD và các hoạt chất là 100%, các đơn thuốc
sai sót ghi tên thuốc là 40,4%, đơn thiếu thòi điểm dùng thuốc chiếm tỷ lệ 54%.
Để cải thiện bất cập này, can thiệp kê đơn điện tử được thực hiện. Can thiệp kê
đơn điện tử với việc thiết lập quy trình kê đơn điện tử từ lúc tiếp cận bệnh nhân,

bác sỹ khám bệnh kê đơn đến lúc bệnh nhân nhận thuốc, sử dụng hệ thống cảnh
báo, cung cấp hướng dẫn sử dụng thuốc nhập sẵn, thiết kế mẫu đơn đúng quy định
đã cải thiện rõ rệt chất lượng kê đơn thuốc. Các sai sót thông tin bệnh nhân giảm
từ 98% xuống còn 33,6%; thiếu thông tin về thời điểm dùng giảm từ 54% xuống
33,5% [41]
Đến năm 2008, 100% bệnh viện công lập đã thành lập Hội đồng thuốc và điều
trị. Vai trò của hội đồng thuốc và điều trị đã được phát huy trong công tác cung
ứng thuốc trong bệnh viện, góp phần đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, họp lý. Tuy
nhiên, hoạt động này mang tính hình thức, chủ yếu tập trung vào mua sắm và cấp
phát trong khi hoạt động giám sát sử dụng thuốc còn hạn chế [6].
Công tác dược lâm sàng đã được triển khai nhưng phần nhiều mới dừng lại ở
mức thành lập các tổ dược lâm sàng hoặc tổ thông tin thuốc. Nhân lực dược lâm
sàng còn thiếu và yếu. Tại Hà Nội, năm 2010 vẫn còn 20% bệnh viện công lập
không có dược dỹ đại học, số dược sỹ được đào tạo về dược lâm sàng rất ít chỉ có
8% số cán bộ dược, trong đó số có chứng chỉ về dược lâm sàng chỉ là 4,6% [48].
Các bệnh viện tiếp tục triển khai hoạt động dược lâm sàng và giám sát sử
dụng thuốc như duy trì hoạt động bình đơn thuốc, thông tin thuốc trong bệnh


×