PHẦN 1. MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Văn hóa, một định nghĩa luôn gắn liền cùng một quốc gia, dân tộc. Là đặc
điểm biểu trưng, là cái riêng có được đúc kết bằng cả máu và hoa song hành
cùng tiến trình tồn tại của quốc gia, dân tộc ấy. Và 4000 năm tồn tại của đất
nước, con người Việt Nam, lịch sử đã, đang ghi nhận sự hiện diện của một kho
tàng văn hóa được đắp xây từ thuở Hồng hoang mở cỏi đến thời đại Hồ Chí
Minh. Trong kho tàng ấy, văn hóa đời sống dường như là mảng sống động nhất
vì chính nó là cái hồn của văn hóa Việt Nam, hiện hiện trong cái cốt cách đã
tạo nên hai tiếng Việt Nam. Nhưng, trước một thế giới phẳng, khi xu hướng
hòa bình, hữu nghị, giao lưu hợp tác được đề cao hơn cả thì những con người
tạo và giữ cái hồn của văn hóa Việt đứng trước một thách thức lớn khi làn sống
lớn từ bên ngoài lãnh thổ tràng vào một cách tự do buộc chúng ta là những
người chọn lọc. Tốt và xấu, giữ hay trừ, bài toán đặc ra phải làm sao tiếp thu
nền văn hóa tiên tiến của loài người tiến bộ mà vẫn giữ gìn, phát huy được giá
trị tinh hoa của văn hóa dân tộc, đồng thời bài trừ những mầm mống độc hại,
tàn tích, hủ tục còn tồn động. Để giải quyết bài toán đó, chúng tôi quyết định
chọn đề tài nghiên cứu Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa đời sống và
thực tiển văn hóa đời sống ở nước ta hiện nay trong quá trình học tập và
nghiên cứu môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại trường đại học Sư phạm Kỹ thuật
Thành phố Hồ Chí Minh.
Cách thức tiếp cận
Tiếp xúc với thực tiển qua mọi góc nhìn từ trực tiếp, khác quan đến các
góc nhìn truyền thông gián tiếp, kết hợp với nghiên cứu lý luận về Tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hóa đời sống. Đối chiếu bằng thống kê và so sánh đề tìm
lý do trong các thực trạng và đề ra giải pháp giải quyết.
Mục đích của đề tài
Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết các vấn đề phát sinh
của cuộc sống, từ nền kinh tế thị trường, từ thời kỳ quá độ. Rèn luyện và cải
tạo chính bản thân quan tư duy và hành động phù hợp với xu hướng của thời
đại. Kế đó, đề tài còn được nghiên cứu với mục đích tìm ra nguyên nhân và
giải pháp cho các vấn đề còn tồn động trong cách cư xử, hành động của một đại
bộ phận quần chúng hiện nay, góp một tiếng nói nhỏ nhầm xây dựng một hình
ảnh lớn. Hình ảnh con người Việt Nam, hình ảnh văn hóa Việt Nam.
PHẦN 2: NỘI DUNG
Chương 1: Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa
1.1. Khái niệm văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.1. Định nghĩa về văn hóa
- Khái niệm “văn hóa” có nội hàm phong phú và ngoại diện rất rộng. Chính
vì vậy đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa.
- Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện
của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và
đòi hỏi của sự sinh tồn.
1.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa
- Tháng 8-1943, khi còn ở trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, Hồ Chí
Minh đưa ra định nghĩa về văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp
luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng
ngày về ăn mặc ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát
minh đó tức là văn hoá.
- Như vậy:
+ Văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ những giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra.
+Văn hóa là động lực giúp con người sinh tồn.
+ Văn hóa là mục đích cuộc sống loài người.
1.1.3. Quan điểm về xây dựng một nền văn hóa mới
- Cùng với định nghĩa về văn hóa, Hồ Chí Minh còn đưa ra bốn điểm lớn
định hướng cho việc xây dựng nền văn hóa dân tộc:
+ Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.
+ Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp liên quan đến phúc lợi của nhân dân
trong xã hội.
+ Xây dựng chính trị: dân quyền.
+ Xây dựng kinh tế.
1.1.4. Quan điểm về tính chất của nền văn hóa
- Nền văn hóa mới được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh luôn bao
hàm ba tính chất: tính dân tộc, tính khoa học và tính đại chúng.
+ Tính dân tộc của nền văn hóa được Hồ Chí Minh biểu đạt bằng nhiều
khái niệm như đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc, nhằm nhấn mạnh đến chiều
sâu bản chất rất đặc trưng của văn hóa dân tộc, giúp phân biệt, không nhầm lẫn
với các dân tộc khác.
Người cho rằng để được như vậy, phải “ trau dồi cho văn hóa, văn nghệ
có tinh thần thuần túy Việt Nam”, phải “lột tả cho hết tinh thần dân tộc”, đó là
chủ nghĩa yêu nước, khát vọng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường,.. của dân tộc.
Tính dân tộc của nền văn hóa không chỉ thể hiện ở chỗ biết giữ gìn, kế
thừa, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, mà còn phải phát triển
những truyền thống tốt đẹp ấy cho phù hợp với điều kiện lịch sử của đất nước.
+ Tính khoa học của nền văn hóa mới thể hiện ở tính hiện đại, tiên tiến,
thuận với trào lưu tiến hóa của thời đại.
Tính khoa học của văn hóa đòi hỏi phải đấu tranh chống lại những gì trái
với khoa học, phản tiến bộ, phải truyền bá tư tưởng triết học mácxít, đấu tranh
chống lại chủ nghĩa duy tâm, thần bí, mê tín dị đoan, phải biết gạn đục, khơi
trong, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại.
+ Tính đại chúng của nền văn hóa thể hiện ở chỗ nền văn hóa ấy phải phục
vụ nhân dân và do nhân dân xây dựng nên.
Hồ Chí Minh nói, “ văn hóa phục vụ ai? Cố nhiên chúng ta phải nói là
phục vụ công nông binh, tức là phục vụ đại đa số nhân dân”, “ Quần chúng là
những người sáng tạo…”
1.1.5. Quan điểm về chức năng của văn hóa
- Chức năng của văn hóa rất phong phú, đa dạng. Hồ Chí Minh cho rằng,
văn hóa có ba chức năng sau:
+ Một là, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và những tình cảm cao đẹp.
Tư tưởng và tình cảm là hai vấn đề chủ yếu nhất của đời sống tinh thần
của con người.
Lý tưởng là điểm hội tụ của những tư tưởng lớn của một Đảng, một dân
tộc. Đối với nhân dân Việt Nam, đó là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Một khi lý tưởng này phai nhạt thì không thể nói đến thắng lợi của
sự nghiệp cách mạng. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ ra chức năng hàng đầu
của văn hóa là phải làm thế nào để ai ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do;
phải làm thế nào để cho ai cũng “ có tinh thần vì nước quên thân, vì lợi ích
chung và quên lợi ích riêng”.
Tình cảm lớn, theo Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương dân, thương
yêu con người; yêu tính trung thực, chân thành, thủy chung, ghét những thói hư,
tật xấu, sự sa đọa, …Tình cảm đó được thể hiện trong nhiều mối quan hệ: với
gia đình, quê hương; với bạn bè, anh em, đồng chí… Thông qua các mối quan
hệ tốt đẹp, văn hóa phải góp phần xây đắp niềm tin cho con người, tin vào bản
thân, tin vào lý tưởng, tin vào nhân dân và tin vào tiền đồ của cách mạng.
+ Hai là, mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí.
Nói đến văn hóa là phải nói đến dân trí. Đó là trình độ hiểu biết, là vốn
kiến thức của người dân. Nâng cao dân trí phải bắt đầu từ chỗ biết đọc, biết viết
để có thể hiểu biết các lĩnh vực khác của đời sống, xã hội, như kinh tế, chính trị,
lịch sử, khoa học – kỹ, thực tiễn Việt Nam và thế giới…
Mục tiêu nâng cao dân trí của văn hóa là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội. Nâng cao dân trí là để nhân dân có thể tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn
hóa, góp phần cùng Đảng xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
+ Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất, phong cách và lối sống tốt đẹp, lành
mạnh; hướng con người đến chân, thiện, mỹ để hoàn thiện bản thân.
Phẩm chất và phong cách được hình thành từ đạo đức, lối sống, từ thói
quen của cá nhân và phong tục tập quán của cả cộng đồng. Các phẩm chất
thường được thể hiện qua phong cách, tức là lối sinh hoạt, làm việc, lối ứng xử
trong đời sống,…
Những phẩm chất và phong cách đẹp làm nên giá trị con người. Văn hóa
giúp con người hình thành những phẩm chất, phong cách và lối sống tốt đẹp,
lành mạnh thông qua phân biệt cái đẹp, lành mạnh với cái xấu xa, hư hỏng; cái
tiến bộ với cái lạc hậu, bảo thủ. Từ đó giúp con người ngày càng tốt hơn và
vươn tới cái chân, thiện mỹ để hoàn thiện bản thân.
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Phải làm thế nào cho văn hóa thấm sâu vào tâm lý
quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được những tham nhũng, lười biếng,
phù hoa xa xỉ; văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi.
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa nghệ thuật
1.2.1 Khái niệm văn hóa – nghệ thuật theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Văn nghệ (bao gồm văn học và nghệ thuật) là biểu hiện tập trung nhất của
nền văn hóa, là đỉnh cao của đời sống tinh thần, là hình ảnh của tâm hon dân tộc.
Hồ Chí Minh không chỉ là người khai sinh ra nền văn nghệ cách mạng ở Việt
Nam mà còn là một chiến sĩ tiền phong trong sáng tạo văn nghệ.
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nội dung của văn hóa – nghệ thuật
Trong quá trình chỉ đạo xây dựng nền văn nghệ cách mạng, Hồ Chí Minh
đã đưa ra nhiều quan điểm lớn. Sau đây là ba quan điểm chủ yếu:
Một là, văn hóa – văn nghệ là một mặt trận, nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm
văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng.
Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa – văn nghệ là một mặt trận, tức là khẳng
định vai trò, vị trí của vă hóa – văn nghệ trong sự nghiệp cách mạng, coi mặt
trận văn hóa cuãng có tầm quan trọng như mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế.
Ở một tầm nhìn sâu xa hơn, Hồ Chí Minh còn coi mặt trận văn hóa như
một “cuộc chiến khổng lồ” giữa chính và tà, giữa cách mạng và phản cách
mạng. Cuộc chiến đó sẽ rất quyết liệt, rất lâu dài, song rất vẻ vang. Trong cuộc
chiến đó, người “nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí” đấu tranh.
Trước khi giành được chính quyền, văn nghệ có nhiệm vụ thức tỉnh quần chúng,
tập hợp lực lượng, cổ vũ cho thắng lợi tất yếu cảu cách mạng. Sau khi có chính
quyền, văn nghệ phải tham gia vào công cuộc bảo vệ và xây dựng chế độ mới,
xây dựng con người mới. Mặt trận văn nghệ lúc này cam go hơn, quyết liệt hơn,
bởi thắng đế quốc thực dân đã khó, thắng nghèo nàn, lạc hậu còn khó khan hơn
nhiều. Để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang đó, Hồ Chí Minh yêu cầu “chiến sĩ nghệ
thuật cần có lập trường vững vàng, tư tưởng đúng…đặt lợi ích cảu kháng chiến,
của Tổ quốc, cảu nhân dân lên trên hết, trước hết.”
Hai là, văn nghệ phải gắn với thực tiễn đời sống nhân dân.
Thực tiễn đời sống của nhân dân rất phong phú, bao gồm thực tiễn lao động
sản xuất, chiến đấu, sinh hoạt và xây dựng đời sống mới. Đây là nguồn nhựa
sống, là sinh khí và là chất liệu vô tận cho văn nghệ sáng tác. Từ thực tiễn đó,
bằng tài năng sáng tạo và tinh thần nhân văn của mình, văn nghệ sĩ có thể nhào
nặn, thăng hoa, hư cấu, tạo nên những tác phẩm nghệ thuật trường tồn cùng dân
tộc và nhân loại. Để làm được như vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu các văn nghệ sĩ
phải “thật hòa mình vào quần chúng”, phải “từ trong quần chúng ra, trở về nơi
quần chúng”, phải “…liên hệ và đi sâu vào đời sống của nhân dân”, để hiểu thấu
tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân, để học tập nhân dân và “miêu tả
cho hay, cho chân thật và cho hung hồn” thực tiễn đời sống của nhân dân. Bởi
vì, nhân dân không chỉ là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần. Họ
còn là người hưởng thụ và đánh giá các tác phẩn văn học – nghệ thuật một cách
trung thực, khách quan và chính xác nhất.
Ba là, phải có những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại mới của đất
nước và dân tộc.
Mục tiêu của văn nghệ là phục vụ quần chúng. Để thực hiện mục tiêu này,
các tác phẩm văn nghệ phải đạt tới sự thống nhất hài hòa về nội dung và hình
thức. Người nói “Quần chúng mong mong muốn những tác phẩm có nội dung
chân thực và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi. Khi chưa xem thì
muốn xem, xem rồi thì có bổ ích”. Đó là một tác phẩm hay.
Một tác phẩm hay là một tác phẩm diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, ai
đọc cũng hiểu được và khi đọc xong phải suy ngẫm. Tác phẩm đó phải kế thừa
được những tinh hoa văn hóa dân tộc, mang được hơi thở của thời đại, vừa phản
ánh chân thật những cái gì đã có trong đời sống, vừa phê phán cái dở, cái xấu,
cái sai, hướng nhân dân đến cái chân, cái thiện, cái mỹ, vươn tới cái lý tưởng –
đó chính là sự phản ánh có tính hướng đích của văn nghệ. Để thực hiện tính
hướng đích này, các tác phẩm văn nghệ phải chân thực về nội dung, đa dạng,
phong phú về hình thức và thể loại. Chính sự phong phú, đa dạng về hình thức
và thể loại đã mở ra con đường sáng tạo không giới hạn cho các văn nghệ sĩ.
Chương 2: Thực tiễn của Văn hóa nghệ thuật ở nước ta hiện nay
2.1. Sự chuyển biến của văn hóa nghệ thuật
2.1. 1. Văn hóa nghệ thuật qua từng giai đoạn lịch sử
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã rút ra và kiên trì thực
hiện bài học “yên dân” để giữ vững nền thái bình, thịnh trị. Các triều đại phong
kiến Việt Nam rất coi trọng các chính sách để “an dân”, quy tụ lòng dân, lấy dân
làm gốc. Những Chiếu, Hịch, Thơ, Phú… đầy tính nhân văn, chứa chan lòng
yêu nước thương dân, hết lòng phụng sự xã tắc… Ấy là văn hóa, là văn nghệ đã
góp phần phát huy sức mạnh của toàn dân trong việc giành và giữ vững nền độc
lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong cuộc kháng chiến chống
Nguyên - Mông, nhờ có “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung
sức” mà nhà Trần đã lãnh đạo nhân dân ba lần đánh bại đội quân xâm lược hùng
mạnh nhất lúc bấy giờ. Ngược lại, triều đại Hồ Quý Ly, dù có tài năng, với
thành cao, hào sâu, quân hùng, tướng mạnh, song không quy tụ được “lòng dân”
nên vẫn không thể cản được giặc Minh. Tổng kết thắng lợi của cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn chống quân Minh xâm lược, Nguyễn Trãi cho rằng: “Khoan thư sức
dân làm kế sâu rễ, bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”, vì “bức thành lòng
dân” là bức thành kiên cố nhất, không kẻ thù nào có thể vượt qua. Đây chính là
những bài học quý của lịch sử còn nguyên giá trị mà cha ông đã để lại cho hậu
thế. Chúng ta đã phát huy rất hiệu quả trong công cuộc giải phóng dân tộc, trong
hòa bình xây dựng đất nước… và tiếp tục sẽ được phát huy để thế hệ trẻ có trách
nhiệm tiếp sức đi vào tương lai…
Vào thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt những năm tháng kháng
chiến của dân tộc, Người hết sức coi trọng văn hoá - nghệ thuật bởi hơn ai hết,
Người luôn đề cao tính chiến đấu của văn nghệ và xem đây như thần thái đặc
sắc của nền văn nghệ cách mạng, trong đó vai trò chủ thể của những sáng tạo
văn nghệ rất quan trọng. Người xác định nghệ sĩ cũng là chiến sĩ với một trọng
trách rất lớn lao. Nhằm làm tốt nhiệm vụ của người nghệ sĩ trên trận tuyến
chống quân xâm lược chống lại cái ác, phê bình những cái xấu còn đang tồn tại
(trong thời bình) như ''tham ô, lãng phí, lười biếng, quan liêu...'' trên tinh thần
''thật thà, chân chính, đúng đắn'', mà vẫn đảm bảo tính sáng tạo đậm chất nghệ
thuật của tác phẩm, không đánh mất hay hạn chế sức tưởng tượng trong sự thăng
hoa của người nghệ sĩ. Đồng thời, ca ngợi ''những người mới, việc mới'' góp
phần xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn. Hơn thế nữa, băn hóa – văn nghệ là một
thứ vũ khí hữu hiệu, trung thực. Từ đó ra đời những sáng tác mang hơi thở của
cuộc sống, mang âm hưởng của thời đại phục vụ cho công cuộc giải phóng dân
tộc, loại trừ những cái gì lạc hậu đang ngăn cản bước tiến của đất nước. Xem
văn nghệ là ''một mặt trận'' trong hoàn cảnh đất nước đang tiến hành chống thực
dân Pháp xâm lược, rồi sau là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; những
cuộc kháng chiến này đều được xác định là toàn dân, toàn diện, Hồ Chí Minh
không chỉ xác định vai trò, vị trí đặc biệt của văn hoá - nghệ thuật với tính chất
gay go, ác liệt của trận tuyến ''không tiếng súng'' mà còn xác lập mối quan hệ
bền chặt giữa công tác văn hoá - văn nghệ với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của
dân tộc. Văn nghệ của chúng ta đã không đứng ngoài cuộc, mà thực sự đã cùng
với toàn dân vạch trần, tố cáo tội ác giặc ngoại xâm, đồng thời tuyên truyền độc
lập dân tộc, cổ vũ tinh thần chiến đấu, khích lệ cái đúng, cái tốt, lên án cái xấu,
cái sai nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Khi đất nước xung trận thì văn nghệ sĩ cũng xung trận. Từ đó, văn nghệ sĩ không
chỉ tiếp sức mà còn tạo nên sức mạnh tinh thần mang âm hưởng văn hóa dân tộc.
Ngày nay, hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật phong phú hơn về nội
dung và đề tài, đa dạng hơn về hình thức, thể loại và phong cách biểu hiện.
Một số tác phẩm mới có giá trị tư tưởng và nghệ thuật được quần chúng
hoan nghênh. Nhiều hình thức văn hoá truyền thống được khôi phục. Các
phương tiện thông tin đại chúng, nhất là phát thanh truyền hình ngày càng
phát triển, làm phong phú những hình thức và phương tiện đưa văn hoá, văn
nghệ đến với đông đảo nhân dân. Một số hoạt động văn hoá - văn nghệ được
tổ chức trên quy mô cả nước, thu hút hàng triệu lượt người tham gia. Giao
lưu văn hoá với nước ngoài từng bước được mở rộng. Đội ngũ văn nghệ sĩ và
cán bộ văn hoá gồm nhiều lớp kế tiếp nhau, trải qua thử thách, ngày càng
phát triển và trưởng thành. Trước khó khăn của đất nước và những biến
động quốc tế phức tạp trong mấy năm gần đây, đại bộ phận vẫn tin tưởng,
gắn bó với Đảng và sự nghiệp cách mạng của dân tộc, giữ vững phẩm chất,
đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển văn hoá, văn nghệ. Để phát triển
đường lối văn hoá, văn nghệ đúng. Hơn nữa Đảng đã tạo điều kiện cho văn
hoá, văn nghệ đạt nhiều thành tựu, đáp ứng một phần nhu cầu hưởng thụ
văn hoá của các tầng lớp nhân dân, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới.
2.1.2 Nhận xét chung về sự chuyển biến của văn hóa nghệ thuật
Việt Nam nằm trong khu vực giao thoa giữa các nền văn minh phương
Đông và phương Tây, chịu sự tác động trực tiếp của các quan hệ quốc tế vừa
phong phú, hấp dẫn, vừa gay gắt, phức tạp hiện nay.
Trong quá khứ, Việt Nam bao giờ cũng sẵn sàng đón nhận những giá trị
văn hóa từ bốn phương. Chúng ta từng có khả năng hòa nhập quốc tế nhưng
không đánh mất mình. Nhờ ở tinh thần khoan dung và rộng mở, dân tộc ta đã tạo
được một bộ lọc tinh vi, thu hút được những gì tinh túy của các nền văn hóa
khác mà không bị đồng hóa.
Ngày nay, khi toàn cầu hóa đang trở thành một xu thế khách quan, đặc biệt
là về kinh tế và công nghệ thì nguy cơ xói mòn bản sắc dân tộc là rất lớn. Bên
cạnh những chuyển biến tích cực, tình hình văn hoá, văn nghệ có nhiều điều
đáng lo ngại: lối sống chạy theo đồng tiền, những thị hiếu không lành mạnh,
những hủ tục, mê tín tăng nhanh; nhiều văn hoá phẩm độc hại lan tràn trên thị
trường. Trong sáng tác và lý luận, phê bình nảy sinh một số khuynh hướng sai
lầm: phủ nhận thành tựu cách mạng và văn hoá, văn nghệ cách mạng; tách văn
nghệ khỏi sự lãnh đạo của Đảng; xúc phạm anh hùng, vĩ nhân của dân tộc;
khuynh hướng "thương mại hoá", truyền bá lối sống thực dụng, sa đoạ, bạo lực
phát triển. Các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng những tác phẩm xấu để
chống phá ta.
Vấn đề “làng xã toàn cầu”trong lĩnh vực văn hóa chưa có các hiệp ước
kiểm soát thông tin đã và đang là một thách thức không nhỏ đối với việc giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong đó có văn hóa – văn nghê. Trước tình
hình đó, cần có những phương hướng, giải pháp cụ thể để nhằm giữ gìn các giá
trị văn hóa – nghệ thuật truyền thống
2.2. Thực trạng của Văn hóa nghệ thuật ở nước ta hiện nay
2.2.1. Mặt tích cực:
Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước được khởi xướng tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), Đảng dần đi tới những
nhận thức mới, quan điểm mới về văn hóa văn nghệ. Việc coi trọng các chính
sách đối với văn hóa văn nghệ, đối với con người thực chất là trở về tư tưởng
của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, là cơ sở cho những nhận thức mới, quan điểm mới
về văn hóa văn nghệ của Đảng.
Về vai trò của văn hóa văn nghệ, Đại hội VI đánh giá: “khung hình thái
tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xừy dựng tình
cảm lành mạnh, tác động sừu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con
người”
Ngày nay nhừn loại đang nhận thức đầy đủ về vai trò của văn học nghệ
thuật trong sự phát triển kinh tế xã hội. Tiếp thu tư tưởng nhừn văn Hồ Chí
Minh về văn hóa văn nghệ, nhiều năm qua Đảng ta đó có những chủ
trương đường lối soi đường cho sự nghiệp văn học nghệ thuật phát triển. Những
chủ trươngđường lối đóđược thể chế hoá qua các nghị định, quyết định của
chính quyền các cấp.
Ngày 16 tháng 6 năm 2008 Bộ chính trị đó ra Nghị quyết số 23 NQ/
TW “Về việc tiếp tục xừy dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong tình hình
mới”. Nghị quyết khẳngđịnh: “Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan
trọng đặc biệt tinh tế của văn hoá, là nhu cầu thiết yếu thể hiện khát vọng chừn,
thiện, mỹ của con người, là một động lực to lớn trực tiếp góp phần xâydựng nền
tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam”.
Nghị quyết cũng chỉ râ trong thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, hoà nhập quốc tế… văn học nghệ thuật nước ta đứng trước những thời cơ,
vận hội lớn, đồng thời cũng đứng trước những thách thức mới gay gắt. Nghị
quyết 23- NQ/ TW của Bộ Chính trị thể hiện ý chí của Đảng : giáo dục (36%), y
tế (29%) và hải quan (29%). Với giới trẻ thanh niên Việt Nam ăn chơi hơn cả
thanh niên Mĩ.
Vd: Nhà báo vào cuộc lật vụ Năm cam và đồng bọn và mới đừy là
vụ Vinashin (4. 5 tỷ USD – tương đương 86. 000 tỷ VNĐ). Bừy giê không có gì
là báo chí không nhẩy vào được, người khác không phanh phui được thì báo
chí, đài truyền hình sẽ làm được.
Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh với khẩu hiệu: “Học tập và làm theo tấm
gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.Đồng thời đáp lại lòng mong mỏi của
Bác, của gia đình, nhà trường và xã hội, thế hệ trẻ hôm nay, những
người đó và đang học tập, hoạt động trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật cố gắng
vận dụng linh hoạt những kiến thức chuyên môn cũng như kỹ năng, nghiệp
vụ để đóng góp cho nền văn nghệ nước nhà những tác phẩm có giá trị, những
sản phẩm văn hoá tốt nhất, những giá trị thẩm mỹ cao đẹp nhất. Đó là những tác
phẩm văn nghệ “xứngđáng với thời đại vẻ vang của chúng ta” như Bác Hồ kính
yêu hằng mong đợi. Những nghệ sĩ tương lai đó, đang và sẽ tiếp tục nối bước
cha anh, học tập và hoạt động văn hoá nghệ thuật theođúng tinh thần những lời
chỉ bảo, nhắn nhủ của Bác. Đó là tiếp tục sưu tầm, gìn giữ và phát huy vốn văn
hoá nghệ thuật của dừn tộc, là sáng tạo nhiều giá trị văn hoá nghệ thuật có chất
lượng cao về cả tư tưởng và nghệ thuật, là tăng cường giao lưu về văn hoá nghệ
thuật với các nước để học hái và tiếp thu những tinh hoa văn hoá nghệ thuật của
nước bạn. Gìn giữ và phát huy nền “văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dừn tộc” thì vấn đề quan trọng và cần thiết trong công tác thanh niên chính là
tăng cường giáo dục, đào tạo thanh niên thành lớp người
vừa “hồng” vừa “chuyên”.Cộng với những nét đẹp văn hóa vốn có ta luôn duy
trì bảo vệ,sự nổi bật với nhiều công trình, di sản văn hóa nghệ thuật và những di
sản được tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp quốc
UNESCOcông nhận như là: Vịnh Hạ Long, được công nhận hai lần, năm1994,
là di sản thiên nhiên thế giới, và năm 2000, là di sản địa chất thế giới ,Cao
nguyên đá Đồng Văn, Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế
giới.Không gian văn hóa cồng chiêng Từy Nguyên, Quan họ Bắc Ninh, Ca trù,
Khu di tích trung từm Hoàng thành Thăng Long, Hội Gióng ở Phù Đổng và Sóc
Sơn, 82 bia Tiến sỹ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám , nét đẹp văn hóa lịch sử Việt
Nam, con người Việt Nam. Ngay bừy giờ truyền thống văn học, nghệ thuật nước
ta phát triển mới cả về sáng tác, biểu diễn, nghiên cứu lý luận, phê bình, góp
phần xừy dựng nền tảng tinh thần xã hội, bồi dưỡng, giáo dục con người, góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xó hội.
2.2.2. Mặt tiêu cực:
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn ít những tác phẩm có
giá trị cao, có ý nghĩa lừu bền, phản ánh sừu sắc hiện thực cuộc sống của nhừn
dừn, của đất nước trong những giai đoạn lịch sử hào hùng của dừn tộc, nhất là
trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Khi đất nước hội nhập, các tổ chức chống phá cách mạng Việt Nam nước
ngoài để bắt nối với những phần tử văn nghệ sĩ bất mãn. Tham nhũng trong bộ
máy công quyền đang là một quốc nạn. Nhiều khó khăn thách thức đang như
những tảng đá cản đường công cuộc cách mạng. Ngay cả bản thừn mỗi phóng
viên, biên tập viên chúng ta cũng lắm khi nao lòng, cảm thấy bức bối trước nạn
tham nhũng và những khó khăn trong đời sống như tai nạn và ùn tắc giao thong
(văn hóa đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông), như tệ nạn ma tuý, rồi nạn
hàng giả, thực phẩm ô nhiễm, văn hóa mê tín, lai căng môi trường ô nhiễm....
Tình trạng nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu về đời sống văn hóa – tinh thần ở
nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng sừu... vẫn chưa khắc phục có hiệu quả.
Việc xừy dựng thể chế văn hóa còn chậm, chưa đổi mới thiếu đồng bộ, làm
hạn chế tác dụng của văn hóa đối với lĩnh vực quan trọng của đời sống đất nước.
Ngay cả giải trí cũng là lành mạnh, là trí tuệ, có văn hoá. Ngược lại, một số
tác giả với động cơ mê ám đã lợi dụng chức năng giải trí, biến tác phẩm văn
nghệ thành trò đùa và thông qua đó để tiêm nhiễm độc hại vào lòng công chúng
văn nghệ. Trong những năm gần đừy đã xuất hiện những tác phẩm văn nghệ vừa
khiêu dừm vừa chống phá cách mạng thừm thuý, thậm chí còn có xu hướng hạ
nhục, phỉ báng cả dừn tộc mà chính những tác giả đó đã sinh ra, đã lớn lên và
được hưởng hạnh phúc, được thành đạt.
2.2.3. Giải pháp:
“Theo gương Bác Hồ kính yêu, nhà báo là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng,
văn hoá” là tiêu chí nghiệp vụ chung cho giới báo chí Việt Nam. Từ mục tiêu
chung ấy, với những người làm văn nghệ phát thanh của Đài Tiếng nói
Việt Nam có thể được hiểu giản dị, cụ thể là: Chúng ta phải phấn đấu làm các
chương trình văn nghệ sạch nhưng lại phải hay, phải hấp dẫn để chiếm được đông
đảo thính giả.
Và muốn đạt được những mục tiêu cụ thể ấy, việc trau dồi đạo đức, nừng
cao bản lĩnh chính trị và học tập, chịu nghe, chịu đọc, chịu đi thực tế, nừng
cao về cách nói, cách viết, cách thể hiện sao cho hiệu quả, từ viết văn, viết báo,
viết khẩu hiệu đến các bài nói chuyện sao cho thiết thực và thấm thía, sao cho
thu hút được quần chúng và thuyết phục được họ. luôn đặt ra với mọi cán bộ,
phóng viên, biên tập viên những người làm văn hóa văn nghệ.
Thể hiện sự khen chê có“chừng mực”,“đúng đắn”, để có thể “thật
thà”, trong nêu những cái hay, cái tốt cũng như trong việc phê bình và tự phê
bình. Bác đã từng nhắc nhở những người làm công tác văn hoá văn nghệ “khen
hay chê đều phải đúng mực. Khen quá lời thì người được khen cũng hổ ngươi.
Mà chê quá đáng thì người bị chê cũng khó tiếp thụ”. Những nghệ sĩ phải hiến
dâng cho đời những tác phẩm“có nội dung chân thật và phong phú, có hình
thức trong sáng và vui tươi” và phải là những món ăn tinh thần “bổ ích” nữa.
2.3. Quan điểm của Đảng về văn hóa nghệ thuật
Những quan điểm cơ bản của Đảng về văn hóa - văn nghệ được hình thành
và phát triển trong quá trình thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nền văn hóa
cách mạng của dân tộc ta từ 1930 đến nay. Các quan điểm đó được thể hiện
trong các văn bản chỉ thị, nghị quyết của Đảng và trong các bài viết, bài nói của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các thời
kỳ cách mạng. Cùng với thực tiễn văn hóa, thực tiễn cách mạng và kinh nghiệm
lãnh đạo, chỉ đạo, Đảng ta đã đúc kết và hoàn chỉnh các quan điểm chỉ đạo cơ
bản của mình đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa cách mạng.
Ở phần này, chúng ta sẽ phân tích những nội dung quan trọng nhất trong các
quan điểm cơ bản của Đảng ta, đồng thời đi sâu phân tích nhiệm vụ xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được coi là
một trong những quan điểm cơ bản nhất của Đảng ta về văn hóa, văn nghệ từ
nay về sau.
Quan điểm nhất quán, xuyên suốt toàn bộ tiến trình lãnh đạo văn hóa của
Đảng ta từ 1930 đến nay là luôn luôn khẳng định văn hóa, văn nghệ là bộ phận
khăng khít của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, phục vụ các nhiệm vụ của cách
mạng trong từng thời kỳ và gắn bó sâu sắc với đời sống nhân dân
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền
tảng tinh thần của xã hội, thiếu nó hoặc không giải quyết đúng đắn mối quan hệ
giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa phát triển kinh tế
với mục tiêu cuối cùng là văn hóa (công bằng, dân chủ, văn minh, con người
phát triển toàn diện…) thì không thể có sự phát triển bền vững của xã hội .
Nếu kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xã hội thì văn hóa là nền tảng
tinh thần của đời sống ấy và vì thế hai lĩnh vực kinh tế và văn hóa luôn luôn giữ
vị trí quan trọng và quyết định đối với thực trạng, sự vận động và phát triển của
xã hội đó.
Về nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa
xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội lần thứ XI
(tháng 1/2011), Đảng ta đã bổ sung Cương lĩnh 1991, trình bày quan niệm về xã
hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng, trong đó gồm tám đặc trưng có quan
hệ hữu cơ với nhau, tạo nên phẩm chất và giá trị của chủ nghĩa xã hội. Nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong tám đặc trưng của chủ nghĩa
xã hội, vì thế về nội dung, nó góp phần quan trọng tạo nên phẩm chất và giá trị
của xã hội đó. Điều đó cũng có nghĩa là, sẽ không có chủ nghĩa xã hội nếu như
không xây dựng được trong xã hội đó một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc.
Về phẩm chất tiên tiến của nền văn hóa Việt Nam Nghị quyết Trung ương
5 (khóa VIII) đã khái quát những phẩm chất, nội dung cơ bản của tiên tiến là
"yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghiã xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu
tất cả vì con người; vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện
của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội
và tự nhiên. Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức
biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung”11. Một nền văn hóa tiên
tiến trong tất cả sự phong phú của nó, bao giờ cũng dựa trên và gắn liền với tính
chất tiên tiến, tiến bộ của một hệ tư tưởng triết học và của một lý tưởng xã hội đạo đức mà dân tộc và nhân dân đã lựa chọn. Từ quan điểm đó, đặc trưng yêu
nước và tiến bộ được khẳng định là phẩm chất quan trọng của tiên tiến.
Như vậy, có nghĩa là nền văn hóa tiên tiến phải mang cái riêng, cái độc đáo
của truyền thống, đặc tính, cốt cách và tâm hồn dân tộc. Nó không thể bị hòa lẫn
với nền văn hóa khác và nó hoàn toàn xa lạ với sự lai căng, bắt chước, học đòi
để đanh mất đi bản sắc, tính độc đáo của dân tộc mình. Điều đó cũng có nghĩa
là, bản sắc dân tộc không dừng lại ở những biểu hiện bề ngoài, hình thức, mà
thực chất là biểu hiện sức sống, sức sáng tạo, phát triển và tính đặc thù độc đáo
của
dân
tộc.
Trước hết, bản sắc dân tộc của nền văn hóa được tạo nên bởi những giá trị bền
vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua
lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Nhận thức, phản ánh
và khám phá những giá trị và những tinh hoa đó là nhiệm vụ lớn lao của văn
hóa. Những thành tố cơ bản tạo nên giá trị bền vững và tinh hoa của dân tộc ta,
từ đó làm nên bản sắc độc đáo của dân tộc là "lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự
cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình làng xã- Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trong nghĩa tình, đạo lý, đức tính
cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối
sống”
Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam Xuất phát từ đặc điểm lịch sử, truyền thống lâu đời
của chúng ta, Đảng ta đã có những kiến giải riêng về vấn đề dân tộc ở nước ta.
Khác với một số quan niệm cho rằng, nói đến dân tộc là nói đến sự hình thành
dân tộc tư sản, là sản phẩm của thời đại tư bản chủ nghĩa đang lên, Đảng ta đã
khẳng định: Ở Việt Nam, dân tộc Việt Nam hình thành từ khi lập nước, chứ
không phải khi chủ nghĩa tư bản nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam, bởi vậy,
dân tộc Việt Nam ta có lịch sử mấy ngàn năm, có ngôn ngữ riêng, phong tục, tập
quán riêng, cốt cách làm ăn riêng, phong thái sinh hoạt riêng và có nền văn hóa
lâu đời của mình. Tất cả những cái đó tạo nên truyền thống, tình cảm riêng của
dân tộc ta. Hơn 50 dân tộc sinh sống trên đất nước ta đã đoàn kết một lòng
chúng sức xây đắp nên cái đặc trưng độc đáo và cái truyền thống lâu đời đó của
chúng ta. Mặt khác, hơn 50 dân tộc đó lại có những giá trị và sắc thái văn hóa
riêng của mình. Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền
văn hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc. Xuất phát từ nhận thức sâu
sắc truyền thống và thực tiễn văn hóa trên, Đảng ta trong suốt hơn 70 năm qua,
đã khẳng định nhất quán quan điểm của mình vê xây dựng một nền văn hóa Việt
Nam hiện đại, tiên tiến trong sự thống nhất mà đa dạng, đa dạng mà thống nhất
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Các nguyên tắc lớn về vấn đề dân tộc,
theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được vận
dụng triệt để và sáng tạo trong chỉ đạo xây dựng văn hóa, đó là bình đẳng, đoàn
kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau phát triển các giá trị và sắc thái riêng của văn
hóa từng dân lộc nhằm tạo nên sự phong phú và thống nhất chung của văn hóa
Việt Nam. Như vậy, tính thống nhất trong sự đa dạng đó xuất phát từ phẩm chất
yêu nước và tiến bộ của nền văn hóa, từ truyền thống lâu đời, từ khát vọng
chung là độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, từ sự cố kết, gắn bó sâu sắc với nhau
trong tiến trình lịch sử và từ sự đồng cảm trong tinh thần, tâm hồn, tâm lý.
Xây dựng vì phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh
đạo, trong đó đội ngũ trí thức đóng vai trò quan trọng .Quan điểm rất giản dị này
có nguồn gốc sắc từ nhận thức của Đảng ta về vai trò, sứ mệnh của nhân dân
không chỉ đối với lịch sử. Với tài sản vật chất của loài người, mà còn đối với
toàn bộ những giá trị tinh thần được tạo nên bởi chính nhân dân. Ở quan điểm
này, cần phải thấu hiểu đồng thời các nội dung không thể tách rời nhau: Nhân
dân là lực lượng làm nên văn hóa trong cả ba nhân chủ yếu của tiến trình văn
hóa: sáng tạo (sản xuất), truyền bá (lưu giữ), và tiếp nhận (hưởng thụ); Đảng ta
là lực lượng tiên phong về lư tưởng có sứ mệnh lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng
để nhân dân xây dựng văn hóa và vai trò rất quan trọng, trực tiếp sáng tạo văn
hóa là đội ngũ tri thức.
Quan điểm này còn thể hiện đầy đủ, sáng rõ sự đánh giá cao của Đảng ta
về vị trí vai trò của văn hóa cơ sở trong xây dựng nền văn hóa chung của dân
tộc. Văn hóa cơ sở là nền tảng vững chắc cho toàn bộ sự phát triển của văn hóa,
chính nó là làm nên diện mạo, đặc trưng cơ bản của văn hóa dân tộc và không có
nó không thể tạo nên những giá trị văn hóa đỉnh cao của văn hóa dân tộc qua
từng thời kỳ lịch sử. Chính trong sự phát triển mạnh mẽ của văn hóa cơ sở mà
tạo ra các tài năng hoạt động văn hóa, đúc kết nên những tinh hoa văn hóa.
Trong các Nghị quyết của Đảng về văn hóa, những tư tưởng trên đây được
khẳng định nhiều lân, dứt khoát và kiên định. Tư tưởng đó còn xuyên thấm
trong toàn bộ các nhiệm vụ của văn hóa, từ xây dựng các giá trị, phẩm chất của
con người bằng văn hóa, thông qua văn hóa đến xây dựng môi trường văn hóa
lành mạnh, tốt đẹp cho con người, từ định hướng đẩy mạnh phong trào toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, gia đình văn hóa, làng văn hóa, cơ sở văn
hóa đến xác định vai trò to lớn cửa nhân dân của cơ sở đối với cuộc đấu tranh
kiên trì, rộng lớn chống những biểu hiện tiêu cực đen tối, hư hỏng, thiếu văn
hóa, tầm thường, xấu xa, và đối với các nhiệm vụ văn hóa cụ thể: thư viện, bảo
tồn, bảo tàng, hoạt động nghệ thuật. Tư tưởng trên đây cũng chính là cơ sở lý
luận để Đảng ta khẳng định một phương châm rất quan trọng trong phát triển
văn hóa thời kỳ mới, đó là xã hội hóa các hoạt động văn hóa. Vì nhân dân là
người làm nên văn hóa nên xã hội hóa hoạt động văn hóa là một quy luật, một
đòi hỏi khách quan nhằm vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân
dân, của toàn xã hội vào phát triển văn hóa, tạo động lực mạnh cho sự phát triển
vững chắc của nó, đồng thời cũng tạo điều kiện cho văn hóa thấm sâu vào mọi
mặt của đời sống xã hội, từ đó nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân,
một mục tiêu cao nhất, đẹp nhất của sự nghiệp văn hóa dưới sự lãnh đạo của
Đảng.
Văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp
cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng
Ý nghĩa thời sự của quan điểm này thể hiện ở chỗ: hơn lúc nào hết, do tác
động hết sức phức tạp của cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng hiện nay, Đảng
nhấn mạnh nhiệm vụ tăng cường đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái,
lệch lạc trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, kiên cường chiến đấu và tỉnh táo trước
âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình “, "xâm lăng văn hoá” của các thế lực thù
địch trên lĩnh vực rất nhạy cảm này, đồng thời kiên trì bài trừ các hủ tục, các
thói hư, tật xấu, sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng
viên
và
nhân
dân.
Tất nhiên, đồng thời với việc nhấn mạnh đặc trưng bản chất "văn hóa là một mặt
trận" Đảng ta luôn luôn lưu ý dấu hiệu đặc thù của mặt trận này, từ đó đòi hỏi
phải có ý chí cách mạng cao gắn với lòng kiên trì và thái độ thận trọng, linh
hoạt, khoa học. Sự thống nhất trên là cơ sở đem lại hiệu quả của sự lãnh đạo, chỉ
đạo và quản lý lĩnh vực văn hóa, văn nghệ.
2.4. Vận dựng tư tưởng Hồ Chí Minh về định hướng phát triển Văn Hóa
Nghệ thuật
2.4.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa văn hóa- nghệ thuật với
cuộc sống
Quan điểm văn hooá- nghệ thuật của Hồ Chí Minh luôn hướng tới một nền
văn hoá -văn nghệ mới tiên tiến, phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc.
Đó là một nền văn hoá - nghệ thuật lành mạnh, tốt đẹp chứa chan tinh thần dân
tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội của đất nước Việt Nam cường thịnh. Quan
điểm văn nghệ của Hồ Chí Minh hoàn toàn thống nhất với sáng tác của Người.
Trong hầu hết các bài viết bàn về văn hoá - nghệ thuật bao giờ Người cũng nhấn
mạnh mối quan hệ giữa văn nghệ với cuộc sống, với sự nghiệp cách mạng của
dân tộc. Quan điểm này đã trở thành kim chỉ nam trong phương châm sáng tác
văn nghệ của Hồ Chí Minh trong suốt thời gian Người hoạt động cách mạng ở
nước ngoài. Sau này, khi trở thành lãnh tụ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, mặc dù không có nhiều thời gian sáng tác, Người vẫn thường xuyên quan
tâm đến sự nghiệp phát triển văn hóa - nghệ thuật của đất nước. Người luôn coi
trọng văn hoá - nghệ thuật bởi hơn ai hết Người rất hiểu: “xã hội thế nào, văn
nghệ thế ấy” và “dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do”. Đối với
Người, văn nghệ không phải chỉ phản ánh cuộc sống một cách thuần tuý mà phải
trở thành vũ khí tư tưởng sắc bén trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
và trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Do vậy, Người luôn đề cao tính chiến
đấu của văn nghệ và xem đây như là một thuộc tính của nền văn nghệ cách
mạng mà trong đó vai trò của chủ thể sáng tạo văn nghệ rất quan trọng. Người
xác định người nghệ sĩ là chiến sĩ với một trọng trách vô cùng thiêng liêng và
cao cả, đó là: “phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân,
trước hết là công, nông, binh”. Trong thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội
hoạ năm 1951, Người chỉ rõ:
“Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận
Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”
Với quan điểm này, Người đã xác định rất cụ thể vị trí và mối quan hệ giữa
các nghệ sĩ với lĩnh vực văn hoá - nghệ thuật, giữa lĩnh vực văn hoá - nghệ thuật
với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Dưới chế độ thực dân, phong kiến, văn nghệ sĩ Việt Nam đã phải chịu
chung số phận với dân tộc “nhân dân ta bị nô lệ, thì văn học cũng bị nô lệ, bị tồi
tàn, không thể phát triển được”, văn nhân nghệ sĩ bị khinh thường, bị coi rẻ, họ
là những kẻ “xướng ca vô loài”, là những người“thương vay, khóc mướn”. Hầu
hết những sáng tác của họ bị chế độ ấy bóp nghẹt, nếu có “tự do” thì cũng chỉ là
thứ tự do làm nô lệ cho đồng tiền. Còn trong thời đại cách mạng vô sản người
nghệ sĩ đứng ở vị trí người làm chủ, dùng ngòi bút của mình sáng tạo nên những
tác phẩm nghệ thuật phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
2.4.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của chủ thể sáng tạo nghệ thuật
Hồ Chí Minh luôn xem trọng vai trò và chức năng của chủ thể sáng tạo,
nên Người đã khẳng định rằng để:“phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc,
phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh”, người nghệ sĩ cần phải rèn
luyện đạo đức, giữ vững lập trường, rèn luyện tư tưởng chính trị, ý chí phấn đấu,
tinh thần trách nhiệm, không ngừng nâng cao trình độ để mài dũa ngòi bút ngày
một sắc bén hơn nhằm làm tốt nhiệm vụ của người nghệ sĩ trên trận tuyến chống
quân thù, chống lại cái ác, phê bình những cái xấu còn tồn tại trong xã hội như:
"tham ô, lãng phí, lười biếng, quan liêu,…” trên tinh thần “thật thà, chân chính,
đúng đắn” mà vẫn đảm bảo tính nghệ thuật của tác phẩm, không đánh mất vai
trò tưởng tượng trong sáng tạo nghệ thuật; đồng thời ca ngợi “những người mới,
việc mới” góp phần xây dựng cuộc sống tốt hơn, đẹp hơn. Hơn thế nữa, trong sự
nghiệp “phò chính trừ tà”, người chiến sĩ văn hoá cần phải biến ngòi bút của
mình thành một thứ vũ khí hữu hiệu:
“Dùng cán bút làm đòn chuyển xoay chế độ
Mỗi vần thơ, bom đạn phá cường quyền”
Quan điểm này thể hiện thái độ đề cao vị thế văn nghệ, vai trò to lớn của
văn học nghệ thuật đối với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của đất nước. Khi dân
tộc xung trận thì văn nghệ sĩ cũng xung trận. Từ đó văn nghệ sĩ không chỉ tiếp
sức cho dân tộc mà còn tạo nên sức mạnh tinh thần cho toàn dân tộc. Cho đến
sau này, quan điểm văn nghệ của Hồ Chí Minh còn được phát huy mạnh mẽ như
lời khẳng định trong Báo cáo chính trị tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng
(12-1986): “Không có hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và
nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc
đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”. Cũng nhờ vậy, trải qua hai cuộc
kháng chiến vĩ đại của dân tộc, văn hoá nghệ thuật đã góp phần to lớn vào việc
nâng nền văn học, nghệ thuật Việt Nam lên tầm cao của thời đại như lời biểu
dương của cố Tổng bí thư Lê Duẩn: “Với những thành tựu đã đạt được, chủ yếu
trong việc phản ánh hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, văn học nghệ thuật
nước ta xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học nghệ
thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay”. Văn học nghệ thuật là tâm hồn
của dân tộc. Văn học nghệ thuật dưới ánh sáng quan điểm của Hồ Chí Minh đã
thực sự mang đậm bản sắc Việt Nam, tinh thần và sức mạnh Việt Nam khi nền
văn học này thực sự là một bộ phận khăng khít với toàn bộ sự nghiệp cách mạng
của đất nước và của dân tộc.
2.4.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, chức năng của văn hóa- nghệ thuật
đối với đời sống tinh thần của nhân dân
Xác định động lực, sức sống và tiền đề của văn học nghệ thuật cách mạng
Việt Nam bắt nguồn trước hết từ mục tiêu cao quý là phục vụ Tổ quốc, phục vụ
nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nghệ thuật chân chính cốt để phục vụ
nhân dân”, “Phục vụ nhân dân là mục đích của văn nghệ ta”. Mặc dù, những ý
kiến này được Hồ Chí Minh nói từ năm 1955, nhưng cho mãi đến nay và cả sau
này nữa, những ý kiến ấy vẫn còn nguyên giá trị. Có thể nói, ý kiến của Hồ Chí
Minh về văn hoá - nghệ thuật thể hiện một quan điểm rất đúng đắn và đầy sáng
tạo trong việc xây dựng một nền văn nghệ mới Việt Nam nên những ý kiến ấy
mãi soi đường, rọi hướng cho từng bước phát triển của nền văn học - nghệ thuật
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Văn học - nghệ thuật, theo Người
phải hướng đến quần chúng nhân dân,“nghệ thuật vị nhân sinh”. Điều này được
thể hiện rất rõ ở hệ thống các câu hỏi có tính mục đích và tính phương pháp
trong sáng tác văn học nghệ thuật của Người: “Viết cho ai”, “Viết để làm
gì”, “Viết cái gì”, “Cách viết thế nào” và “Viết rồi phải thế nào”. Đối với Hồ
Chí Minh thì việc“Viết cho ai” được Người đặt lên hàng đầu và tự trả lời “viết
cho công, nông, binh”. Đây không phải là quan điểm có tính chất nhất thời mà là
quan điểm có tính chiến lược và thấm đượm tư tưởng nhân văn sâu sắc. Chính
quan điểm này đã tạo nên sự thống nhất cao độ giữa cách mạng với sáng tạo
nghệ thuật của Hồ Chí Minh. Câu hỏi “Viết cho ai” thể hiện sự quan tâm đến
người đọc và đặt người đọc lên vị trí hàng đầu, không chỉ có ý nghĩa thực tiễn
mà còn có giá trị định hướng sâu sắc và là một gợi ý rất sớm (vào năm 1952) về
vấn đề tiếp nhận văn học của Người khi mà mãi đến năm 1970, giới nghiên cứu
văn học nước ta mới đề cập đến.
-Phải có những tác phấm văn nghệ xứng đáng với dân tộc với thời đại.
Tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại phải là tác phẩm vừa hay vừa
chân thật sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Đồng thời tác phấm đó phải phục
vụ quần chúng đông đảo nhân dân, được quần chúng yêu thích, đem lại những
chuyến biến thích cực trong tư tưởng, tình cảm và tâm hồn mọi người. Theo tư
tưởng Hồ Chí Minh, văn nghệ phục vụ quần chúng không phải là hạ thấp văn
nghệ, không phải là cung cấp cho họ những món ăn tinh thần được chế biến vội
vàng, mà phải là nhừng tác phấm có tính nghệ thuật cao.
Tính nghệ thuật cao trước hết phải là tác phẩm hay, chỉ diễn đạt vừa đủ
những điều đáng nói,trình bày sao cho mọi người ai cũng hiếu được.Ngoài ra nó
còn phụ thuộc vào những nội dung của tác phẩm phải chân thực và phong phú,
hình thức của nó phải trong sáng và vui tươi, tạo nên sự hấp dẫn vì sự bô ích của
nó đối với dân chúng. Văn nghệ hư cấu phải trên cái nền hiện thực, xuất phát từ
hiện thực đế rồi trở lại phục vụ hiện thực, nâng hiện thực lên cao hơn nữa. Phản
ánh chân thực không phải chỉ dừng lại ở chỗ phản ánh những gì đã có trong đời
sống nhân dân, mà phải hướng nhân dân loại bỏ cái giả, cái sai, cái không đúng,
cái dở, cái xấu để vươn tới cái lí tưởng
2.5. Trách nhiệm của sinh viên đối với vấn đề giữ gìn và phát huy văn hóa
nghệ thuật
Hội Sinh viên Việt Nam các cấp cần trở thành mái nhà chung ấm áp để sinh
viên đóng góp, cống hiến trong các phong trào Hội.
Hội Sinh viên cần tạo nhiều hơn nữa các sân chơi lành mạnh để đáp ứng
nhu cầu học tập, vui chơi và giải trí của hội viên, sinh viên. Khuyến khích và tạo
mọi điều kiện để sinh viên đăng ký và tham gia nghiên cứu, thực hiện các đề tài
khoa học, trong đó chú trọng các đề tài liên quan bảo vệ, gìn giữ và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc.
Những hội viên và quan trọng hơn là những cán bộ nòng cốt của Hội phải
là những người tiên phong đi đầu, làm gương trong công tác này, chủ động xây
dựng tác phong, lối sống đẹp, sống có ích... và động viên, khuyến khích các bạn
trẻ hưởng ứng. Được như vậy, vai trò của Hội Sinh viên trong việc giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc sẽ nhanh chóng được khẳng định.
2.5.1 Sinh viên cần rèn luyện lòng yêu đất nước, yêu đồng bào, tự hào dân
tộc
Lòng yêu đất nước là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, đó là tình
cảm sâu sắc đối với quê hương, đất nước được nối tiếp qua nhiều thế hệ người
Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Cùng với lòng yêu nước, một
nét văn hóa đặc sắc của dân tộc ta, đó là tình yêu đồng bào, tình yêu thương
đồng loại, vì hạnh phúc, sự phát triển toàn diện và hài hòa của con người. Chủ
nghĩa nhân đạo, bao gồm trong nó tình yêu thương giữa con người với con
người, của người lớn đối với trẻ em, của người trẻ đối với người già, của người
khỏe mạnh, lành lặn đối với người ốm đau, tàn tật, của người có hạnh phúc với
người bất hạnh, đặc biệt đó còn là thái độ đối xử với kẻ thù, không kêu căng,
không công thần, không kiêu binh v.v...Lòng yêu nước, yêu đồng bào tạo nên
sức mạnh của dân tộc, giúp cho sự thống nhất ý chí, trí tuệ, tài năng của các cá
nhân trong cộng đồng xã hội, tạo nên sức mạnh to lớn để ứng phó với mọi khó
khăn, với nguy cơ trước kẻ thù xâm lược. Những nét văn hóa đặc sắc vừa nêu
trên đã có từ ngàn xưa, duy trì, phát triển cho đến ngày nay, đòi hỏi chúng ta
phải biết trân trọng, bảo vệ và phát huy trong hoàn cảnh mới và coi đó là nét văn
hóa đặc sắc cần giáo dục cho các thế hệ mai sau.
2.5.2. Tôn trọng, giữ gìn, phát huy giá trị các di sản văn hóa
Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân hết sức quan tâm
đến việc giữ gìn các di sản văn hóa dân tộc, từ đó tạo tiền đề cần thiết để làm
sống dậy một tiềm năng văn hóa, coi đó như là nguồn lực bên trong thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) đã
chỉ rõ: “ Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi
của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa”.
“Coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, văn
hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”.
Hiện nay, các di tích như quần thể Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Hoàng
thành Thăng Long, Thánh địa Mỹ Sơn, ... đã được tổ chức UNESCO công nhận
là những di sản văn hóa thế giới, tuy nhiên giá trị, ý nghĩa sâu sắc của những di
sản đó vẫn chưa được quảng bá một cách sâu rộng đến đại bộ phận công chúng
nhằm tôn vinh và lưu truyền những giá trị lịch sử vô giá đó. Một trong những
giải pháp mang tính lâu dài và bền vững là thông qua giáo dục. Giáo dục chính
là kênh truyền thống có tính hiệu quả cao nhất, đặc biệt là giáo dục đại
học.Thông qua những hoạt động ngoại khóa, những chương trình lồng ghép
trong các môn học, dần dần đưa những giá trị cốt lõi, hồn dân tộc của các di sản
văn hóa đến từng sinh viên để các em có nhận thức đầy đủ, sâu sắc và từ đó có
những hành động, việc làm góp phần gìn giữ, phát huy giá trị các di sản văn hóa
của đất nước.
2.5.3. Duy trì và bảo vệ văn hóa làng xã
Suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, chúng ta có thể tự hào mà
nói rằng, văn hóa bản địa, văn hóa làng xã là tài sản vô giá của dân tộc cần phải
được giữ gìn, phát huy trên cơ sở sàng lọc, loại bỏ những gì phi văn hóa, duy trì
và làm phong phú thêm những nét đep văn hóa vốn có. Bên cạnh lũy tre, cây đa,
bến nước thì những làn điệu dân ca, điệu múa, câu hò, bài vè, ca dao, tục ngữ ...
luôn tồn tại, phát triển cùng những thăng trầm của lịch sử dân tộc. Một trong
những truyền thống tốt đẹp khác của nhân dân ta đó là lòng thành kính, tôn thờ
tổ tiên, ông bà, hiếu thảo đối với cha mẹ, thể hiện lòng biết ơn những người đã
sinh thành dưỡng dục mình. Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, kính
trọng, lễ phép với người lớn tuổi, đề cao vai trò người phụ nữ... cũng là những
nét văn hóa truyền thống của nhân dân ta. Thực chất những nét văn hóa, truyền
thống đó mang trong bản thân nó, ý nghĩa nhân văn hết sức sâu sắc, có sức nêu
gương trong mỗi gia đình, trong cộng đồng làng xã. Tất cả những đức tính trên
vô cùng cao quý và luôn được người Việt Nam giáo dục dạy dỗ cho con cháu từ
tuổi nhỏ đến khi trưởng thành. Từng người Việt đã và phải “ngấm” thật sâu, thật
bền dòng chảy truyền thống văn hóa dân tộc này.
2.5.4. Giáo dục lòng yêu thiên nhiên
Lòng yêu thiên nhiên, thái độ gìn giữ, bảo vệ thiên nhiên là biểu hiện
của đạo đức, là nét văn hóa đã tồn tại từ ngàn xưa của dân tộc ta. Ngày nay, diện
tích rừng ngày càng thu hẹp, số lượng động vật hoang dã ngày càng ít đi, khí
hậu không ngừng thay đổi thất thường là hậu quả của việc khai thác rừng quá
mức, không bảo tồn thiên nhiên mà chính con người đã tự mình gây ra. Đã đến
lúc phải dừng ngay” việc vay mượn tài nguyên của thế hệ con cháu”. Phải giáo
dục cho thế hệ trẻ, các học sinh sinh viên về tình yêu thiên nhiên, quý trọng
những gì mà thiên nhiên mang lại cho con người.
Mỗi một dân tộc bao giờ cũng có những sắc thái văn hóa đặc thù, phản
ánh những phong cách, diện mạo của chính dân tộc đó. Khi một dân tộc quay
lưng với truyền thống, đánh mất bản sắc văn hóa của dân tộc mình, nhất định sẽ
không tồn tại. Xuất phát từ thực tế đó, Đảng ta coi việc xây dựng và bảo vệ bản
sắc văn hóa dân tộc là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài của quá trình phát
triển đi lên của đất nước. Mỗi người Việt Nam, nhất là đối với thế hệ trẻ những
người chủ tương lai của đất nước phải luôn giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc, đó cũng là thể hiện trách nhiệm đối với đất nước.
Tóm lại, hiện nay song song với nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh
tế, việc xây dựng nền văn hóa văn minh hiện đại, trong đó bảo tồn và phát huy
văn hóa bản địa là việc làm vô cùng cần thiết trong hệ thống giáo dục Việt Nam,
đặc biệt trong giáo dục đại học hiện nay. Những trí thức Việt Nam trong thời đại
CNH-HĐH của nền kinh tế tri thức toàn cầu phải là những hiền tài, nguyên khí
của quốc gia, mang đầy đủ bản lĩnh, bản sắc và tinh hoa của dân tộc Việt. Phải
làm sao để các giá trị truyền thống của 4.000 năm văn hiến lan tỏa thành giá trị
đặc thù của nền văn hóa Việt. Đội ngũ tri thức Việt Nam được đào tạo từ trường
đại học, từ xã hội sẽ nổi lên như những bông hoa tươi thắm đặc sắc trong nhiệm
vụ xây dựng xã hội học tập ngày nay.
PHẦN 3: KẾT LUẬN
Như vậy, văn hóa là toàn bộ những công cụ được con người sản sinh ra vì
chính lẽ sinh tồn của chính con người, nó gắng liền với tiến trình tồn tại và phát
triển của con người. Trong quá trình hình thành và phát triển ấy đôi khi còn tồn
tại những mặt hạn chế, đó là điều khách quan, khó tránh khỏi, nhưng quan trọng
ở đây là phải làm sau để phát hiện, phân tích, bày trừ và cùng nhau bày trừ mới
là cái chúng ta cần quan tâm nhất. Áp dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
đời sống chúng ta hiểu cần phải xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc,
kế thừa tinh hoa văn hóa loài người tiến bộ, loại bỏ những hủ tục, những điểm
đen còn tồn tại ở đâu đó. Mỗi cá nhân phải tự thay đổi chính bản thân mình làm
khuôn mẫu cho chính ngôi nhà nhỏ, xây dựng những ngôi nhà, những gia đình
văn hóa từ những hành động đơn giản nhất, thường ngày nhất. Đó chính là nồng
cốt cho một xã hội văn hóa. Bên cạnh đó, các cấp, ban, ngành lãnh đạo cần tiến
hành nghiêm túc các tiêu chí văn hóa, tránh bệnh quan liêu, thành tích trong xây
dựng nếp sống văn hóa các cấp, hoàn thiện các tiêu chí văn hóa nông thôn mới,
… Đồng thời, văn hóa đời sống cần được nhà trường tạo nền tảng từ những ngày
còn thực học của học sinh, sinh viên, bằng các hoạt động cuốn hút mang đậm
tính chất nhân văn xâu sắc, đưa các bạn trở về với chính “ngôi nhà” của mình,
hiểu được nó và làm chủ nó.
PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh
2. Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa đời sống, vận dụng tư tưởng này
vào việc giáo dục đạo đức mới, lối sống mới, nếp sống mới cho học sinh, sinh
viên hiện nay (Trang />3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá (www.wattpad.com)
4. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa, xây dựng con người
trong giai đoạn mới – PGS, TS Phạm Duy Đức
5. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh – Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa (Trang
/>6. Tiểu luận Tư tưởng hồ chí minh Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa đời sống.
Vận dụng tư tưởng này vào việc giáo dục đạo đức mới, lối sống mới, nếp sống
mới cho học sinh - sinh viên hiện nay (Trang />