MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ DOANH THU
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1
Khái quát về doanh nghiệp
1.1.1
Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm
1.1.1.2 Phân loại
1.1.2
Các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
1.1.2.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.2.3 Hoạt động khác
1.2
Hoạt động quản lý doanh thu của doanh nghiệp
1.2.1
Khái niệm hoạt động quản lý doanh thu
1.2.1.1 Khái niệm doanh thu
1.2.1.2 Hoạt động quản lý doanh thu của doanh nghiệp
1.2.2
Đánh giá hoạt động quản lý doanh thu của doanh nghiệp
1.2.2.1 Vai trò của đánh giá hoạt động quản lý doanh thu
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động quản lý doanh thu
1.3
Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý doanh thu của doanh
nghiệp
1.3.1
Nhóm các nhân tố chủ quan
1.3.2
Nhóm các nhân tố khách quan
Chương 2: Thực trạng quản lý doanh thu của Công ty TNHH Thương
Mại Sài Gòn Ban Mai
2.1
Khái quát về Công ty TNHH TM Sài Gòn Ban Mai
2.1.1
Sơ lược về quá trình phát triển
2.1.2
Cơ cấu tổ chức – nhân sự
2.1.3
Kết quả kinh doanh chủ yếu
2.2
Thực trạng quản lý doanh thu của công ty TNHH TM Sài Gòn
Ban Mai
2.2.1
Thực trạng doanh thu của công ty
2.2.2
Thực trạng quản lý doanh thu của công ty
2.3
Đánh giá thực trạng quản lý doanh thu của công ty
2.3.1
Kết quả
2.3.2
Hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.1 Hạn chế
2.3.2.2 Nguyên nhân
Chương 3: Giải pháp tăng cường hoạt động quản lý doanh thu tại
Công ty TNHH Thương Mại Sài Gòn Ban Mai
3.1
Định hướng phát triển
4
6
6
6
6
6
10
10
11
12
13
13
13
24
25
25
25
26
26
28
31
31
31
32
34
37
37
38
41
41
41
41
42
45
45
3.2
Giải pháp
3.3
Kiến nghị
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
45
48
50
51
LỜI MỞ ĐẦU
Phân công lao động xã hội phát triển đã quyết định một bộ phận lao động
xã hội được tách ra khỏi quá trình sản xuất, chuyên làm nhiệm vụ lưu thông hàng
hóa, hình thành một ngành kinh tế riêng biệt – kinh tế thương mại. Như vậy
thương mại là một ngành kinh tế độc lập có chức năng quan trọng là thực hiện quá
trình lưu thông hàng hóa đưa hàng hóa từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng
do vậy góp phần gắn sản xuất với thị trường, thúc đẩy sản xuất ngày càng phát
triển.
Cũng như các doanh nghiệp khác tồn tại trong nền kinh tế thị trường có sự
cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp thương mại cũng là một đơn vị kinh doanh, do
vậy cũng phải hạch toán kinh tế, lấy thu bù đắp chi phí sao cho có lãi. Muốn quản
lý kinh tế tốt và kinh doanh có hiệu quả các doanh nghiệp phải thường xuyên phân
tích và tăng cường hoạt động quản lý doanh thu của mình qua mỗi kỳ kinh doanh
để tìm ra các biện pháp nhằm tăng doanh thu. Doanh thu là một chỉ tiêu quan
trọng vì doanh thu chính là cơ sở để xác định số thuế phải nộp cho ngân sách Nhà
nước, là khoản để bù đắp vốn kinh doanh và cho phí phát sinh trong quá trình hoạt
động của doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp cũng được xác định từ doanh
thu. Chỉ tiêu doanh thu nói lên tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó
định hướng sự phát triển kinh doanh trong tương lai. Ngoài ra, doanh thu là yếu tố
khẳng định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên thị trường. Do đó, việc
tăng cường quản lý doanh thu để tìm ra nguyên nhân của sự tăng hay giảm doanh
thu trong các kỳ kinh doanh là rất quan trọng.
Với tầm quan trọng của việc tăng cường quản lý doanh thu của doanh
nghiệp nhằm tìm ra các biện pháp để không ngừng tăng doanh thu bán hàng đối
với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, nhờ được nghiên cứu về công tác
quản lý doanh thu tại Công ty TNHH Thương mại Sài Gòn Ban Mai, và được sự
hướng dẫn chỉ bảo nhiệt tình của thầy giáo, PGS.TS Trần Đăng Khâm, tôi đã
3
mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài “ Tăng cường quản lý doanh thu tại Công ty
TNHH thương mại Sài Gòn Ban Mai” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Kết cấu luận văn gồm ba phần:
Phần 1 – Các vấn đề cơ bản về quản lý doanh thu của doanh nghiệp
Phần 2 – Thực trạng quản lý doanh thu của Công ty TNHH thương
mại Sài Gòn Ban Mai
Phần 3 – Giải pháp tăng cường quản lý doanh thu tại Công ty TNHH
thương mại Sài Gòn Ban Mai
4
PHẦN 1
CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ DOANH THU
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động
kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu.
Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá
nhân. Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp
chứ không phải các cá nhân.
Ở Việt Nam, theo luật doanh nghiệp: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh – tức là
thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất
đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh
lời.
1.1.1.2. Phân loại
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN): DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước sở
hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có vốn cổ phần, vốn góp chi phối.
Đặc điểm của DNNN: DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư và
thành lập; DNNN có tư cách pháp nhân, được nhà nước đầu tƣư vốn và có quyền
quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước đầu tư; quyền định đoạt được thực hiện
theo qui định của pháp luật; DNNN hoạt động theo sự quản lý của nhà nước.
Căn cứ vào các tiêu chuẩn khác nhau mà DNNN có các loại sau đây:
5
+ Căn cứ vào tỷ lệ vốn góp của nhà nước trong doanh nghiệp, DNNN bao
gồm công ty nhà nước; công ty cổ phần nhà nước; công ty TNHH nhà nước 1
thành viên; công ty TNHH nhà nước 2 thành viên trở lên; doanh nghiệp nhà nước
có cổ phần, vốn góp chi phối.
+ Căn cứ vào cơ cấu tổ chức quản lý: DNNN bao gồm doanh nghiệp nhà
nước có hội đồng quản trị và doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị.
Sau mỗi chu kỳ sản xuất, doanh nghiệp phải nộp thuế cho ngân sách Nhà
nước (NSNN), phần lợi nhuận còn lại được phân phối và sử dụng theo chính sách
của nhà nước.
Doanh nghiệp tư nhân (DNTN): là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và
tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp. Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp tự khai và có
quyền tăng và giảm vốn đầu tư. Trường hợp giảm vốn đầu tư thấp hơn số vốn đã
đăng ký thì chủ doanh nghiệp phải khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh. Chủ
doanh nghiệp toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ đối với NSNN, chủ doanh nghiệp có
toàn quyền quyết định về việc sử dụng phần thu nhập còn lại. Chủ doanh nghiệp
có quyền thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh nhưng phải
khai báo với cơ quan đang ký kinh doanh.
Công ty cổ phần: là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong đó vốn điều
lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người góp vốn dưới hình
thức mua cổ phiếu gọi là cổ đông. Cổ đông trong công ty cổ phần có thể là tổ
chức, cá nhân, nhưng số thành viên sáng lập công ty ít nhất là 3 người và không
hạn chế số lượng tối đa. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số
vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty được quyền phát hành chứng khoán ra
công chúng. Thu nhập của công ty sau khi trang trải các khoản chi phí bỏ ra và
hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước, công ty dùng một phần lợi nhuận để
tái đầu tư mở rộng sản xuất và chi tiêu cho mục đích chung. Một phần khác chia
cho các cổ đông và coi đây là lợi tức cổ phần (cổ tức).
6
Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên: Là một doanh
nghiệp do một thành viên làm chủ sở hữu, thành viên có thể là một tổ chức hay
một cá nhân. Công ty có tư cách pháp nhân và không được phép phát hành cổ
phiếu và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp. Chủ sở hữu công ty có
quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức
hoặc cá nhân khác.
Công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên: là doanh nghiệp trong đó thành
viên có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng không vượt quá 50 ngƣời. Vốn của
công ty chia ra thành từng phần gọi là phần vốn góp, các phần vốn góp không thể
hiện dưới hình thức cổ phiếu và họ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
công ty trong phần vốn góp của mình. Công ty có tư cách pháp nhân và không
được quyền phát hành cổ phiếu.
Thu nhập của công ty sau khi bù đắp lại những chi phí đã bỏ ra và hoàn
thành nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước, phần còn lại thuộc quyền sở hữu của chủ
doanh nghiệp. Nếu là công ty do nhiều người hùn vốn, phần này sau khi trích lập
các quỹ, số còn lại được đem chia cho các chủ sở hữu theo tỷ lệ phần vốn góp của
mỗi người.
Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất 2 thành viên
hợp danh và có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân
và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công
ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp. Công ty
hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ khi có giấy đăng ký kinh doanh, và không
được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Thành viên hợp danh có quyền quản
lý công ty, tiến hành hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Thành viên góp
vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ theo quy định của điều lệ công ty
nhưng không được tham gia quản lý công ty và hoạt động nhân danh công ty.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:
+ Doanh nghiệp liên doanh: Là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam
trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành
7
đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Công ty liên doanh có tư cách pháp nhân và chỉ
chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp. Đối với loại hình này, việc hình
thành vốn ban đầu, quá trình bổ sung vốn, việc phân chia lợi tức, thực hiện nghĩa
vụ đối với nhà nước... đều được xác định rõ ràng trong một văn kiện cụ thể dưới
hình thức hợp đồng hoặc điều lệ bảo đảm lợi ích cho các bên.
+ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở
hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam,
tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp này được
thành lập theo hình thức công ty chịu trách nhiệm hữu hạn và có tư cách pháp
nhân.
+ Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là văn bản ký kết giữ hai bên
hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó qui định
trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập
pháp nhân mới. Các hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh bao gồm hình thức
BOT, BTO và BT
- Hợp tác xã (HTX): HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các xã viên có nhu
cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật
HTX để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên tham gia HTX, cùng
giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động SXKD và nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Các xã viên có thể là cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân; HTX hoạt động như
một loại hình DN, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa
vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của
HTX theo quy định của pháp luật; tổ chức kinh tế mang tính xã hội & hợp tác cao;
tài sản của HTX thuộc sở hữu của HTX được hình thành từ vốn góp của xã viên
hoặc được hỗ trợ bởi nhà nước; nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX:
nguyên tắc tự nguyện; nguyên tắc quản lý dân chủ, bình đẳng và công khai;
nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; nguyên tắc hợp tác và phát
triển cộng đồng
8
1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh, vốn là điều kiện không thể thiếu, nó phản ánh nguồn lực tài chính được
đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp,
người ta chú ý đến việc quản lý việc huy động và luân chuyển vốn. Nguồn vốn
duy trì trong doanh nghiệp quan trọng như huyết mạch trong cơ thể con người
vậy, đó là điều kiện để tồn tại. Trong thời buổi ngân hàng xiết chặt tiền tệ như
hiện nay, lo được đủ tiền để trả lãi suất ngân hàng đã khó mà vay được tiền ngân
hàng ra còn khó hơn.
Hiện nay, doanh nghiệp có thể huy động vốn ngoài thị trường chứng khoán,
huy động bằng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, vốn vay, vốn chiếm dụng và
nguồn vốn khác.
Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp: đây là khoản đầu tư ban đầu khi thành
lập doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, nguồn vốn tự có là vốn đầu tư
của ngân sách Nhà nước. Đối với công ty cổ phần hoặc công ty TNHH, nguồn vốn
ban đầu do các cổ đông hoặc thành viên đóng góp để hình thành công ty. Đối với
các Công ty cổ phần, vốn kinh doanh có thể huy động thêm từ việc phát hành cổ
phiếu. Công ty TNHH không thể phát hành cổ phiếu mà chỉ có thể phát hành trái
phiếu. Thị trường chứng khoán luôn là nơi huy động vốn hiệu quả nhất trong các
phương thức huy động vốn. Nguồn vốn này dài hạn và đủ sức phục vụ cho các kế
hoạch đầu tư lâu dài. Trước tiên hãy bán cổ phiếu cho cổ đông tùy theo số vốn cần
có, hoặc niêm yết trên thị trường chứng khoán để huy động từ công chúng.
Vốn vay: ngoài phần vốn tự có của doanh nghiệp (vốn góp) thì nguồn vốn
vay có vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nó có thể đáp ứng nhu cầu về vốn trong ngắn hạn hoặc dài hạn, có thể huy động
được số vốn lớn, tức thời. Tuy nhiên sử dụng vốn vay phải hết sức chú ý đến cơ
cấu vốn của doanh nghiệp, kế hoạch sử dụng vốn phải đảm bảo hợp lý, đúng mục
đích, quản lý tốt quỹ tiền mặt, kỳ trả nợ và thu tiền, kế hoạch sản xuất kinh doanh
9
phải được lập bám sát thực tế… nếu không vốn vay sẽ trở thành một gánh nặng
đối với doanh nghiệp
Vốn chiếm dụng của nhà cung cấp (tín dụng thương mại). Đây cũng là một
nguồn vốn tương đối quan trọng trong doanh nghiệp. Nguồn vốn này xuất phát từ
việc doanh nghiệp chiếm dụng tiền hàng của nhà cung cấp (trả chậm), việc chiếm
dụng này có thể phải trả phí (lãi) hoặc không phải trả phí nhưng lại đáp ứng được
việc doanh nghiệp có nguyên vật liệu, điện, nước.. để sản xuất kinh doanh mà chỉ
phải bỏ ra ngay lập tức một số tiền ít hơn số tiền đáng lẽ phải bỏ ra ngay lập tức
để có được số nguyên vật liệu, điện, máy móc, … để tiến hành sản xuất. Như vậy,
doanh nghiệp có thể sử dụng quỹ tiền mặt của mình cho mục đích khác. Tuy nhiên
sử dụng nguồn vốn này cần lưu ý: không nên chiếm dụng quá nhiều hoặc quá lâu
một khoản nợ nào đó vì nó sẽ ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp với đối tác,
với thị trường hoặc kiện tụng pháp luật, tôt nhất nên có sự thỏa thuận về việc
chiếm dụng vốn.
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ lợi nhuận để lại, những
người thân, từ những nhân viên trong doanh nghiệp, tạo vốn bằng nguồn vốn tự
có, tạo tính thanh khoản cao cho hàng hóa, bán tài sản, hoặc thu nợ càng nhiều
càng tốt.
1.1.2.2 Hoạt động sản xuất, kinh doanh
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ công tác tổ
chức và quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các hoạt
động này chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế khách quan, trong quá trình
phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý vĩ mô của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính vì thế đòi hỏi các hoạt động sản xuất
kinh doanh phải tuân thủ theo các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá như quy
luật cung cầu, giá trị, cạnh tranh. Đồng thời các hoạt động này còn chịu tác động
của các nhân tố bên trong, đó là tình hình sử dụng các yếu tố sản xuất, tình hình
sản xuất, tiêu thụ, giá cả các chính sách tiếp thị, khuyến mãi.v.v,. . và các yếu tố
bên ngoài doanh nghiệp như sự thay đổi về cơ chế, chính sách thuế, tỷ giá ngoại
10
tệ, chính sách ưu đãi đầu tư, v.v. Do vậy khi thống kê kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh cần hiểu rõ ý nghĩa, nhiệm vụ, đặc điểm, hệ thống chỉ tiêu thống kê,
và phải thống kê kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cả về mặt số lượng lẫn
chất lượng.
Các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu của
các đối tượng tiêu dùng, không tự sản xuất được hoặc không đủ điều kiện để tự
sản xuất những sản phẩm vật chất và dịch vụ mà mình có nhu cầu tiêu dùng, hoạt
động này sáng tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ để cung cấp cho người tiêu
dùng nhằm thu được tiền công và lợi nhuận kinh doanh.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hoạt động sáng tạo ra
sản phẩm vật chất và dịch vụ cung cấp cho nhu cầu xã hội nhằm mục tiêu kiếm
lời.
Đặc điểm:
- Khác với hoạt động tự túc tự cấp phi kinh doanh, động cơ và mục đích của hoạt
động kinh doanh là sản xuất sản phẩm vật chất hay dịch vụ không phải để tự tiêu
dùng mà để phục vụ cho nhu cầu của người khác nhằm thu lợi nhuận.
- Hoạt động kinh doanh phải hạch toán được chi phí sản xuất, kết quả sản xuất và
hạch toán được lãi (lỗ) trong kinh doanh.
- Sản phẩm của hoạt động sản xuất kinh doanh có thể cân, đong, đo đếm được, đó
là sản phẩm hàng hoá để trao đổi trên thị trường. Người chủ sản xuất phải chịu
trách nhiệm đối với sản phẩm của mình sản xuất ra.
- Hoạt động kinh doanh phải luôn luôn nắm được các thông tin về sản phẩm của
doanh nghiệp trên thị trường như các thông tin về số lượng, chất lượng, giá cả sản
phẩm, thông tin về xu hướng tiêu dùng của khách hàng, thông tin về kỹ thuật công
nghệ để chế biến sản phẩm, về chính sách kinh tế tài chính, pháp luật Nhà nước có
liên quan đến sản phẩm của doanh nghiệp.
1.1.2.3 Hoạt động khác:
Trong quá trình hoạt động của một doanh nghiệp, ngoài những hoạt động
chính như huy động vốn hay sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp còn có thể tham
11
gia vào các hoạt động khác như cho thuê, cầm cố, thế chấp, nhượng bán, thanh lý
tài sản cố định,… nhằm tạo nguồn thu nhập khác cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu
quả trong quá trình quản lý và hoạt động nói chung của doanh nghiệp. Các hoạt
động này chiếm tỷ trọng không lớn, tuy nhiên nó phát huy được vai trò của công
tác quản lý, điều hành và sử dụng nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp có hiệu
quả.
1.2 Hoạt động quản lý doanh thu của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm quản lý doanh thu của doanh nghiệp
1.2.1.1 Doanh thu
a) Khái niệm:
Mục đích cuối cùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
là tiêu thụ được sản phẩm do mình sản xuất ra và có lãi. Tiêu thụ sản phẩm là quá
trình đưa các loại sản phẩm mà doanh nghiệp đã sản xuất ra vào lĩnh vực lưu
thông để thực hiện giá trị của nó thông qua các phương thức bán hàng. Sản phẩm
mà doanh nghiệp bán cho người mua có thể là thành phẩm, bán thành phẩm hay
lao vụ đã hoàn thành của bộ phận sản xuất chính hay bộ phận sản xuất phụ của
doanh nghiệp. Kết quả mà doanh nghiệp thu được từ các hoạt động tiêu thụ đó thể
hiện các lợi ích mà doanh nghiệp thu được, và nó góp phần làm tăng vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp.
Như vậy, doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã
thu được hoặc sẽ thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản
xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ
sở hữu.
Thời điểm xác định doanh thu bán hàng là khi người mua đã chấp nhận
thanh toán mà không phụ thuộc vào số tiền đã thu được hay chưa, ở đây ta cần
phân biệt Doanh thu tổng thể và doanh thu thuần.
Doanh thu tổng thể hay còn gọi là tổng doanh thu là số tiền ghi trong hóa
đơn bán hàng, hợp đồng cung cấp lao vụ kể cả số doanh thu bị chiết khấu, hàng
bán bị trả lại và giảm giá hàng bán chấp thuận cho người mua nhưng chưa được
ghi trên hóa đơn.
12
Doanh thu thuần hay còn gọi là doanh thu thực được xác định bằng công
thức sau:
Doanh thu thuần = Doanh thu tổng thể - Chiết khấu bán hàng – Hàng bán bị
trả lại – Giảm giá hàng bán – Thuế gián thu
Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã
thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi
ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi
là doanh thu (Ví dụ: Khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị chủ
hàng, thì doanh thu của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng được hưởng). Các
khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng
không là doanh thu.
Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ
thu được. (Giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ
được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao
đổi ngang giá).
Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì
doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ
thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ
lệ lãi suất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ
hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác
không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu.
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ
tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch
tạo ra doanh thu.
Trường hợp doanh nghiệp có doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bằng
ngoại tệ thì phải đổi đồng ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá thực tế phát sinh
hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế.
13
b) Nội dung của doanh thu và thu nhập khác của doanh nghiệp
Bao gồm doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường và thu
nhập khác.
Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường: Bao gồm
+ Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ
thu được từ các giao dịch và các nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm,
hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí
thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Nó bao gồm các nghiệp vụ sau:
(+). Bán hàng: Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra hoặc bán hàng hóa
mua vào;
(+). Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong
một hoặc nhiều kỳ kế toán;
+ Doanh thu hoạt động tài chính: Là tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận
được chia và doanh thu hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp.
(+). Tiền lãi: Là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử dụng tiền,
các khoản tương đương tiền hoặc các khoản còn nợ doanh nghiệp, như: Lãi cho
vay, lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, chiết khấu thanh toán mua hàng
được hưởng...;
(+). Tiền bản quyền: Là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử dụng
tài sản như: Bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại, bản quyền tác giả, phần mềm
máy vi tính ... ;
(+). Cổ tức và lợi nhuận được chia: Là số tiền lợi nhuận được chia từ việc nắm
giữ cổ phiếu hoặc góp vốn.
- Thu nhập khác: Là khoản thu góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động
ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu, gồm:
+ Thu về thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ; Thu tiền bảo hiểm được bồi
thƣờng;
+ Thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng;
+ Thu được các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi phí kỳ trước;
14
+ Khoản nợ phải trả nay mất chủ được ghi tăng thu nhập; Các khoản thu nhập
khác.
c) Ý nghĩa của chỉ tiêu doanh thu
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh phản ánh quy mô của quá trình tái sản
xuất, phản ánh trình độ tổ chức, chỉ đạo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh thu bán hàng rất quan trọng để doanh nghiệp trang trải các khoản chi
phí về tư liệu lao động, đối tượng lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất
kinh doanh, để trả lương trả thưởng cho người lao động, nộp các khoản thuế theo
luật định.
Doanh thu bán hàng thu bằng tiền là kết thúc giai đoạn cuối cùng của quá
trình luân chuyển vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất sau. Vì vậy
việc thực hiện chỉ tiêu doanh thu bán hàng có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tài
chính của doanh nghiệp và quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp.
d) Tiêu chuẩn nhận biết giao dịch để xác định doanh thu
Tiêu chuẩn nhận biết giao được áp dụng riêng biệt cho từng giao dịch. Trong một
số trường hợp, các tiêu chuẩn nhận biết giao dịch cần áp dụng tách biệt cho từng
bộ phận của một giao dịch đơn lẻ để phản ánh bản chất của giao dịch đó. Ví dụ,
khi trong giá bán một sản phẩm có một khoản đã định trước cho việc cung cấp
dịch vụ sau bán hàng thì khoản doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ sau bán hàng
sẽ được dời lại cho đến khi doanh nghiệp thực hiện dịch vụ đó. Tiêu chuẩn nhận
biết giao dịch còn được áp dụng cho hai hay nhiều giao dịch đồng thời có quan hệ
với nhau về mặt thương mại. Trường hợp này phải xem xét chúng trong mối quan
hệ tổng thể. Ví dụ, doanh nghiệp thực hiện việc bán hàng và đồng thời ký một hợp
đồng khác để mua lại chính các hàng hóa đó sau một thời gian thì phải đồng thời
xem xét cả hai hợp đồng và doanh thu không được ghi nhận.
Doanh thu bán hàng: Được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm
(5) điều kiện sau:
+ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở
hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
15
+ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu
hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
+ Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán
hàng;
+ Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
- Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn
liền với quyền sở hữu hàng hóa cho người mua trong từng trường hợp cụ thể.
Trong hầu hết các trường hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với
thời điểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền
kiểm soát hàng hóa cho người mua.
- Trường hợp doanh nghiệp vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở
hữu hàng hóa thì giao dịch không được coi là hoạt động bán hàng và doanh thu
không được ghi nhận. Doanh nghiệp còn phải chịu rủi ro gắn liền với quyền sở
hữu hàng hóa dưới nhiều hình thức khác nhau, như:
+ Doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản được hoạt động
bình thường mà việc này không nằm trong các điều khoản bảo hành thông thường;
+ Khi việc thanh toán tiền bán hàng còn chưa chắc chắn vì phụ thuộc vào người
mua hàng hóa đó;
+ Khi hàng hóa được giao còn chờ lắp đặt và việc lắp đặt đó là một phần quan
trọng của hợp đồng mà doanh nghiệp chưa hoàn thành;
+ Khi người mua có quyền huỷ bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó được nêu
trong hợp đồng mua bán và doanh nghiệp chưa chắc chắn về khả năng hàng bán
có bị trả lại hay không.
- Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với quyền sở
hữu hàng hóa thì việc bán hàng được xác định và doanh thu được ghi nhận. Ví dụ
doanh nghiệp còn nắm giữ giấy tờ về quyền sở hữu hàng hóa chỉ để đảm bảo sẽ
nhận được đủ các khoản thanh toán.
16
- Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được
lợi ích kinh tế từ giao dịch. Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn
phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không
chắc chắn này đã xử lý xong (Ví dụ, khi doanh nghiệp không chắc chắn là Chính
phủ nước sở tại có chấp nhận chuyển tiền bán hàng ở nước ngoài về hay không).
Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong trường hợp chưa thu được tiền thì khi xác
định khoản tiền nợ phải thu này là không thu được thì phải hạch toán vào chi phí
sản xuất, kinh doanh trong kỳ mà không được ghi giảm doanh thu. Khi xác định
khoản phải thu là không chắc chắn thu được (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự
phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu. Các khoản nợ phải thu
khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự
phòng nợ phải thu khó đòi.
- Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải được ghi nhận đồng
thời theo nguyên tắc phù hợp. Các chi phí, bao gồm cả chi phí phát sinh sau ngày
giao hàng như chi phí bảo hành và chi phí khác, thường được xác định chắc chắn
khi các điều kiện ghi nhận doanh thu được thỏa mãn. Các khoản tiền nhận trước
của khách hàng không được ghi nhận là doanh thu mà được ghi nhận là một khoản
nợ phải trả tại thời điểm nhận tiền trước của khách hàng. Khoản nợ phải trả về số
tiền nhận trước của khách hàng chỉ được ghi nhận là doanh thu khi đồng thời thỏa
mãn năm (5) điều kiện trên.
Doanh thu cung cấp dịch vụ
Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao
dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy. Trường hợp giao dịch về cung cấp
dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả
phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập bảng cân đối kế toán của kỳ đó. Kết
quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn tất cả bốn (4) điều
kiện sau:
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
+ Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó;
17
+ Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập bảng cân đối kế
toán;
+ Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao
dịch cung cấp dịch vụ đó.
- Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì
việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo
phương pháp tỷ lệ hoàn thành. Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận
trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành.
- Doanh thu cung cấp dịch vụ chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp
nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch. Khi không thể thu hồi được khoản doanh
thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được ghi giảm doanh thu.
Khi không chắc chắn thu hồi được một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu
(Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi
giảm doanh thu.
Khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù
đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi.
- Doanh nghiệp có thể ước tính doanh thu cung cấp dịch vụ khi thỏa thuận được
với bên đối tác giao dịch những điều kiện sau:
+ Trách nhiệm và quyền của mỗi bên trong việc cung cấp hoặc nhận dịch vụ;
+ Giá thanh toán ;
+ Thời hạn và phương thức thanh toán.
Để ước tính doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải có hệ thống kế hoạch
tài chính và kế toán phù hợp. Khi cần thiết, doanh nghiệp có quyền xem xét và sửa
đổi cách ước tính doanh thu trong quá trình cung cấp dịch vụ.
- Phần công việc đã hoàn thành được xác định theo một trong ba phương pháp
sau, tuỳ thuộc vào bản chất của dịch vụ:
+ Đánh giá phần công việc đã hoàn thành;
+ So sánh tỷ lệ (%) giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng khối lượng
công việc phải hoàn thành;
18
+ Tỷ lệ (%) chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ
giao dịch cung cấp dịch vụ.
Phần công việc đã hoàn thành không phụ thuộc vào các khoản thanh toán định kỳ
hay các khoản ứng trước của khách hàng.
- Trường hợp dịch vụ được thực hiện bằng nhiều hoạt động khác nhau mà không
tách biệt được, và được thực hiện trong nhiều kỳ kế toán nhất định thì doanh thu
từng kỳ được ghi nhận theo phương pháp bình quân. Khi có một hoạt động cơ bản
so với các hoạt động khác thì việc ghi nhận doanh thu được thực hiện theo hoạt
động cơ bản đó.
- Khi kết quả của một giao dịch về cung cấp dịch vụ không thể xác định được
chắc chắn thì doanh thu được ghi nhận tương ứng với chi phí đã ghi nhận và có
thể thu hồi.
- Trong giai đoạn đầu của một giao dịch về cung cấp dịch vụ, khi chưa xác định
được kết quả một cách chắc chắn thì doanh thu được ghi nhận bằng chi phí đã ghi
nhận và có thể thu hồi được. Nếu chi phí liên quan đến dịch vụ đó chắc chắn
không thu hồi được thì không ghi nhận doanh thu, và chi phí đã phát sinh được
hạch toán vào chi phí để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ. Khi có bằng chứng
tin cậy về các chi phí đã phát sinh sẽ thu hồi được thì doanh thu được ghi nhận
theo quy định.
Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia:
được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời hai (2) điều kiện sau:
+ Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó;
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
e) Phương pháp xác định doanh thu
Đối với doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Thực hiện theo các bước sau:
- Bước1: Xác định doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Doanh thu bán = Số lượng sản phẩm x Đơn
hàng
và
cấp dịch vụ
19
cung
+ Các khoản phụ thu
hàng hoá hay dịch vụ
giá
và phí thu thêm
được xem là tiêu thụ
bán
ngoài giá bán
- Bước 2: Xác định doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thuần:
Doanh thu bán hàng và = Doanh thu bán hàng và - Các khoản giảm
cung cấp dịch vụ thuần
cung cấp dịch vụ
trừ doanh thu
Trong đó: Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm chiết khấu thương mại; giảm
giá hàng bán; giá trị hàng bán bị trả lại; thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu và
thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp phải nộp.
+ Chiết khấu thương mại: Là khoản tiền doanh nghiệp bán hàng giảm giá bán
cho bên mua hàng, do bên mua thanh toán tiền hàng trước thời hạn qui định được
thỏa thuận trong hợp đồng mua bán trả chậm.
+ Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm
chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu nếu bên mua chấp nhận thanh toán.
+ Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu
thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.
Phương pháp xác định cụ thể một số khoản doanh thu:
+ Đối với sản phẩm, hàng hoá dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá bán chưa
có thuế GTGT.
+ Đối với sản phẩm, hàng hoá dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá
thanh toán (Giá bán bao gồm thuế GTGT).
+ Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt,
hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là bán chưa có
thuế GTGT (bao gồm thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu).
+ Những doanh nghiệp nhận gia công vật tư, hàng hoá thì chỉ phản ánh vào doanh
thu bán hàng và cung cấp dịch vụ số tiền gia công thực tế được hưởng, không bao
gồm giá trị vật tư, hàng hoá nhận gia công.
+ Đối với hàng hoá nhận bán đại lý, ký gửi theo phương thức bán đúng giá hưởng
hoa hồng thì hạch toán vào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phần hoa
hồng bán hàng mà doanh nghiệp được hưởng.
20
+ Trường hợp bán theo phương thức trả chậm, trả góp thì doanh nghiệp ghi nhận
doanh thu bán hàng theo giá trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài
chính về phần lãi tính trên khoản phải trả chậm phù hợp với thời điểm ghi nhận
doanh thu được xác định.
+ Đối với trường hợp trao đổi hàng hoá:
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ
tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch
tạo ra doanh thu.
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ
khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh
thu. Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa
hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả
thêm hoặc thu thêm. Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc
dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc
dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả
thêm hoặc thu thêm.
+ Đối với sản phẩm tiêu dùng nội bộ thì doanh thu tính theo giá thành sản xuất
hoặc giá vốn.
+ Đối với trường hợp cho thuê tài sản có nhận trước tiền cho thuê của nhiều năm
thì doanh thu cung cấp dịch vụ ghi nhận của năm tài chính là số tiền cho thuê
được xác định trên cơ sở lấy toàn bộ tổng số tiền thu được chia cho số năm cho
thuê tài sản.
+ Đối với doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, hàng hoá dịch vụ
theo yêu cầu của Nhà nước, được Nhà nước trợ cấp, trợ giá theo qui định thì
doanh thu thu trợ cấp, trợ giá là số tiền được Nhà Nước chính thức thông báo,
hoặc thực tế trợ cấp, trợ giá.
+ Đối với hoạt động bảo hiểm, doanh thu là phí bảo hiểm phải thu trong kỳ.
+ Đối với hoạt động tín dụng, doanh thu là lãi tiền cho vay đến hạn phải thu trong
kỳ.
21
Đối với doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia:
được ghi nhận trên cơ sở:
- Tiền lãi được ghi nhận trên cơ sở thời gian và lãi suất thực tế từng kỳ;
- Tiền bản quyền được ghi nhận trên cơ sở dồn tích phù hợp với hợp đồng;
- Cổ tức và lợi nhuận được chia được ghi nhận khi cổ đông được quyền nhận cổ
tức hoặc các bên tham gia góp vốn được quyền nhận lợi nhuận từ việc góp vốn.
Trong đó:
+ Lãi suất thực tế là tỷ lệ lãi dùng để quy đổi các khoản tiền nhận được trong
tương lai trong suốt thời gian cho bên khác sử dụng tài sản về giá trị ghi nhận ban
đầu tại thời điểm chuyển giao tài sản cho bên sử dụng. Doanh thu tiền lãi bao gồm
số phân bổ các khoản chiết khấu, phụ trội, các khoản lãi nhận trước hoặc các
khoản chênh lệch giữa giá trị ghi sổ ban đầu của công cụ nợ và giá trị của nó khi
đáo hạn.
+ Khi tiền lãi chưa thu của một khoản đầu tư đã được dồn tích trước khi doanh
nghiệp mua lại khoản đầu tư đó, thì khi thu được tiền lãi từ khoản đầu tư, doanh
nghiệp phải phân bổ vào cả các kỳ trước khi nó được mua. Chỉ có phần tiền lãi
của các kỳ sau khi khoản đầu tư được mua mới được ghi nhận là doanh thu của
doanh nghiệp. Phần tiền lãi của các kỳ trước khi khoản đầu tư được mua được
hạch toán giảm giá trị của chính khoản đầu tư đó.
+ Tiền bản quyền được tính dồn tích căn cứ vào các điều khoản của hợp đồng (Ví
dụ như tiền bản quyền của một cuốn sách được tính dồn tích trên cơ sở số lượng
sách xuất bản từng lần và theo từng lần xuất bản) hoặc tính trên cơ sở hợp đồng
từng lần.
+ Doanh thu được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế
từ giao dịch. Khi không thể thu hồi một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu
thì khoản có khả năng không thu hồi được hoặc không chắc chắn thu hồi được đó
phải hạch toán vào chi phí phát sinh trong kỳ, không ghi giảm doanh thu.
1.2.1.2 Hoạt động quản lý doanh thu
22
Hoạt động quản lý doanh thu là hoạt động của doanh nghiệp nhằm nắm bắt
tình hình doanh thu của công ty, để từ đó đánh giá qui mô, mức độ tăng hay giảm
hoặc có những điều chỉnh chiến lược nhằm giúp cho doanh nghiệp đạt được mức
doanh thu hợp lý, phù hợp với năng lực doanh nghiệp cũng như môi trường xung
quanh doanh nghiệp.
Vậy đối tượng của hoạt động quản lý doanh thu là gì? Có thể thấy đối tượng
của quản lý ở đây là người quản lý, còn đối tượng bị quản lý là doanh thu.
Người quản lý là ban giám đốc, kế toán, phòng kinh doanh, các phòng ban
liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bằng các biện
pháp quản trị của mình, người quản lý có thể trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý
doanh thu của doanh nghiệp và mức độ quản lý theo từng cấp phân công công
việc của từng phòng ban, vị trí lãnh đạo. Do đó, toàn bộ hoạt động quản lý doanh
thu của doanh nghiệp cần tuân thủ những qui tắc chuẩn mực theo qui chế quản lý
tài chính của doanh nghiệp nói chung, đồng thời tuân thủ chặt chẽ những quy định
quản lý doanh thu, chi phí của doanh nghiệp do Ban giám đốc hoặc Hội đồng
thành viên của bản thân doanh nghiệp đề ra
Nội dung của hoạt động quản lý doanh thu gồm rất nhiều các hoạt động đan
xen, có tác dụng hỗ trợ nhau trong quá trình thiết lập doanh thu của doanh nghiệp,
trong đó gồm các hoạt động sau:
- Quản lý các hoạt động tạo doanh thu như sản xuất kinh doanh, đầu tư tài
chính, hoạt động khác
- Quản lý sổ sách, chứng từ tài chính trong kế toán, kiểm toán
- Quản lý các yếu tố đầu vào, đầu ra
- Quản lý giá cả sản phẩm đầu vào – đầu ra
- Quản lý hoạt động quan hệ khách hàng, đối tác
- Quản lý những rủi ro chủ quan và khách quan
- Kế hoạch và lập doanh thu dự trù cho các kỳ kế tiếp
- ….
1.2.2 Đánh giá hoạt động quản lý doanh thu của doanh nghiệp
1.2.2.1 Vai trò của việc đánh giá hoạt động quản lý doanh thu của doanh nghiệp
Ngày nay, vấn đề đặt lên hàng đầu với mọi doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế
làm thế nào để doanh thu ngày càng tăng lên, hiệu quả kinh tế cao. Doanh nghiệp
23
làm ăn có hiệu quả thì mới có thể đứng vững trên thị trường, đủ sức mạnh cạnh
tranh đối với các doanh nghiệp khác, vừa có điều kiện tích lũy và mở rộng sản
xuất kinh doanh vừa đảm bảo đời sống cho người lao động và làm tròn nghĩa vụ
đối với Nhà Nước. Để làm được điều đó doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm
tra, đánh giá đầy đủ chính xác mọi diễn biến về kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh, những mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp trong mối quan hệ với môi
trường xung quanh và tìm ra những biện pháp để không ngừng tăng doanh thu,
hiệu quả cho doanh nghiệp.
Việc đánh giá hoạt động quản lý doanh thu của doanh nghiệp có vai trò hết
sức quan trọng. Trước tiên, nó cho thấy một cách chính xác, toàn diện khách quan
tình hình thực hiện kinh doanh và kết quả doanh thu của doanh nghiệp.
Dựa trên cơ sở kết quả đánh giá hoạt động quản lý doanh thu, sẽ giúp doanh
nghiệp nhìn nhận những mặt tích cực và mặt hạn chế trong công tác quản lý doanh
thu, để từ đó có những tác động và điều chỉnh phù hợp với kế hoạch đề ra với
doanh thu của doanh nghiệp cũng như trong công tác quản lý.
1.2.2.2
Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động quản lý doanh thu của doanh nghiệp
Để đánh giá hoạt động quản lý doanh thu của doanh nghiệp đạt được kết
quả ở mức độ nào chúng ta có rất nhiều các cách khác nhau, trong đó có các chỉ
tiêu như:
Mức tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp qua các kỳ tính toán, cho
thấy bức tranh tổng thể về doanh thu mà doanh nghiệp đạt được qua những số liệu
kế toán tổng hợp các kỳ tính doanh thu gần nhất. Dựa trên những số liệu thống kê
chúng ta sẽ biết được mức tăng/giảm doanh thu của từng kỳ cũng như giữa các kỳ
với nhau, từ đó đánh giá những thuận lợi đạt được cũng như khó khăn trong hoạt
động quản lý doanh thu.
Hiệu quả thực hiện doanh thu so với kế hoạch đề ra, điều đó thể hiện tỷ lệ
thành công về mặt doanh thu đạt được so với kế hoạch đề ra của doanh nghiệp từ
đầu kỳ
24
Hiệu quả công tác kế toán, kiểm toán. Kế toán, kiểm toán tài chính là công
tác ghi chép và thống kê vô cùng quan trọng của doanh nghiệp, nó phản ánh tất cả
các khoản thu và chi của doanh nghiệp, theo dõi các khoản nợ, khó đòi … đòi hỏi
phải chính xác, trung thực và đúng đắn. Những số liệu kế toán, kiểm toán giúp cho
nhà quản lý đánh giá chính xác tình hình thực hiện doanh thu, chi phí,… tổng thể
các vấn đề tài chính của doanh nghiệp nhằm có những biện pháp quản lý phù hợp.
Chính sách sử dụng lao động. Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan
trọng trong chính sách kinh doanh của doanh nghiệp, cùng với đó là chính sách sử
dụng lao động hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp đạt được những chỉ tiêu kinh doanh
của mình.
1.3
Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý doanh thu của doanh
nghiệp
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp và chúng tác
động đến doanh thu theo những khía cạnh khác nhau. Để thấy được một cách rõ
nét sự tác động đó người ta chia nhân tố trên thành hai nhóm là:
- Nhóm các nhân tố chủ quan
- Nhóm các nhân tố khách quan
1.3.1 Nhóm nhân tố chủ quan
Nhóm các nhân tố chủ quan manh tính nội tại bản thân doanh nghiệp, doanh
nghiệp hoàn toàn có thể điều chỉnh được các nhân tố này dựa trên mức ảnh hưởng
của nó đến doanh thu của doanh nghiệp, cụ thể:
1.3.1.1 Sự ảnh hưởng của lượng hàng bán doanh thu bán hàng
Doanh thu bán hàng được tính bằng tiền và xác định bằng công thức:
DT = Q*P
Do vậy khi lượng hàng bán (Q) hoặc đơn giá hàng bán (P) thay đổi hoặc cả
hai cùng thay đổi đều làm cho doanh thu thay đổi theo. Sự ảnh hưởng của lượng
hàng bán đến doanh thu thể hiện:
Sự thay đổi của lượng hàng bán tỷ lệ thuận với sự thay đổi của doanh thu.
Khi lượng hàng bán tăng lên thì doanh thu cũng tăng lên và ngược lại khi lượng
25