Tải bản đầy đủ (.docx) (66 trang)

Xây dựng phần mềm quản lý kho tại công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu an hồng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.36 MB, 66 trang )

MỤC LỤC

1


LỜI MỞ ĐẦU
Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội trong
thời đại ngày nay. Việc nhanh chóng đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình
tự động hóa trong sản xuất kinh doanh là vấn đề đang, đã và sẽ luôn được quan tâm.
Việc tin học hóa các hoạt động quản lý là rất cần thiết. Một doanh nghiệp muốn hoạt
động sản xuất một cách hiệu quả nhất thì không thể thiếu một hệ thống thông tin hỗ
trợ. Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp cần có một phần mềm riêng, phù hợp với công tác
quản lý, hoạt động kinh doanh của mình là một vấn đề không đơn giản.
Sau một thời gian nghiên cứu, khảo sát hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty
cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An Hồng, tác giả nhận thấy hệ thống quản lý vật
tư, hàng hóa tại kho của Công ty còn rất phức tạp, khối lượng công việc nhiều đòi hỏi
cần có một phần mềm chuyên biệt có khả năng quản lý chính xác, thống nhất, cung cấp
báo cáo, thông tin một cách kịp thời, hiệu quả cho người sử dụng và quản trị hệ thống.
Chính từ sự cần thiết và hiệu quả của phần mềm quản lý kho hàng hóa trong các
doanh nghiệp hiện nay mà tác giả quyết định chọn đề tài “Xây dựng phần mềm quản
lý kho tại công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An Hồng” làm đề tài cho
chuyên đề thực tập của mình.
Cấu trúc chuyên đề gồm:
Chương 1: Giới thiệu về cơ sở thực tập – Công ty Cổ phần truyền thông và phát triển
phần mềm Cát Việt và Tổng quan về đề tài.
Chương 2: Phương pháp luận phân tích và xây dựng phần mềm quản lý kho.
Chương 3: Xây dựng phần mềm quản lý kho tại công ty cổ phần xây dựng và xuất
nhập khẩu An Hồng.
Qua đây tác giả xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ tận tình của cô giáo
Trần Thị Song Minh - Giảng viên Khoa Tin học kinh tế và anh Nguyễn Tuấn Mạnh –
Lập trình viên công ty PPCLINK người đã trực tiếp hướng dẫn tác giả hoàn thành đề


tài này.
Với những kiến thức đã học, sự nỗ lực của bản thân cùng sự nghiên cứu tài liệu tác
giả đã cố găng hoàn thành chuyên đề một cách tốt nhất. Nhưng do kiến thức và thời
gian hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tác giả rất mong sự quan
tâm, góp ý của các thầy cô, các bạn để chuyên đề được hoàn thiện một cách tốt nhất.
Tác giả xin chân thành cảm ơn!

2


CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP – CÔNG TY CỔ PHẦN
TRUYỀN THÔNG VÀ PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM CÁT VIỆT VÀ TỔNG
QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1.

Giới thiệu về cơ sở thực tập - Công ty Cổ phần truyền thông và phát triển
phần mềm Cát Việt

1.1.1. Thông tin chung về Công ty Cổ phần truyền thông và phát triển phần mềm

Cát Việt
Tên công ty: Công ty cổ phần truyền thông và phát triển phần mềm Cát Việt
Tên viết tắt: PPCLINK
Tên tiếng Anh: Mobile Software Company.
Lĩnh vực hoạt động: Sản xuất phần mềm ứng dụng trên nhiều thiết bị.
Giám đốc công ty: ông Hoàng Quốc Hoàn.
Địa chỉ: Phòng A1805, toà nhà M3M4, 91 Nguyễn Chí Thanh, quận Đống Đa, Hà Nội.
Điện thoại: 04 6275 1197
Tác giảail
Website:

Chức năng chính của công ty là chuyên sâu trong việc cung cấp các sản phẩm phần
mềm ứng dụng trên nhiều thiết bị và nền tảng di động cho thị trường trong nước và
quốc tế, ngoài ra công ty cũng phát triển phần mềm quản trị tài chính
1.1.2. Cơ cấu tổ chức và tình hình nhân sự của công ty
Ban giám đốc
Phòng kinh doanh
Phòng test sản phẩm
Phòng bảo hành
Phong triển khai
Phòng hành chính-nhân sự
Phòng kế toán

Hình 1.1.Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty

Hiện nay đội ngũ nhân lực của PPCLINK có 25 người, trong đó có 1/3 nhân viên
có kinh nghiêm làm việc trên 6 năm về lĩnh vực,1/3 nhân viên có ít nhất 2 năm kinh
nghệm, số còn lại đều có ít nhất 1 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực. Đội ngũ nhân viên
của PPCLINK là một đội ngũ trẻ tài năng, nhiệt tình và đầy sức sáng tạo, có nhiều kinh
nghiệm trong việc chuyển giao, sửa đổi chương trình phần mềm theo những yêu cầu
3


của khách hàng , thiết kế được những sản phẩm có tính cạnh tranh với thị trường trong
nước và quốc tế.
STT
1

2
3
4

5
6

Phòng ban
Ban
Tổng
giám
giám đốc
đốc
Phó
giám đốc
Phòng kinh doanh
Phòng triển khai

Số lượng
1

Phòng test sản
phẩm
Phòng kế toán

1

Phòng hành chính
nhân sự

1

1
3

17

1

Chức năng, nhiệm vụ
Điều hành chung toàn
công ty
Điều hành chung các hoạt
đông của các phòng
Phát triển thị trường
Triển khai các dự án trên
địa bàn trong nước và
nước ngoài
Phụ trách kiểm tra chất
lượng sản phẩm
Phụ trách hệ thống kế
toán tài chính
Quản lý tài chính nhân sự
toàn công ty

Công ty luôn ý thức được rằng con người là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành
công. Chính vì vậy công ty luôn có các khóa đào tạo cho nhân viên về nghiệp vụ, công
nghệ, kỹ năng làm việc. Công ty cam kết sẽ mang đến cho khách hàng những sản
phẩm, dịch vụ tốt nhất, đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng.
1.2.

GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ XUẤT NHẬP
KHẨU AN HỒNG

1.2.1. Chức năng và cơ cấu tổ chức của công ty


Chức năng hoạt động
Trụ sở chính: Tổ 2 – thị trấn Xuân An – Nghi Xuân – Hà Tĩnh
Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An Hồng là công ty chuyên sản xuất
và chế biến các sản phẩm từ gỗ, kinh doanh xuất nhập khẩu các sản phẩm từ gỗ. Công
ty có thể đảm nhận các đơn hàng có quy mô khác nhau. Công ty có quan hệ rất tốt và là
bạn hàng thường xuyên với các nhà cung cấp gỗ trong nước và ngoài nước. Là một
doanh nghiệp mạnh, hoạt động của công ty đã tạo ra việc làm và mức thu nhập ổn định
cho người lao động. Công ty được thành lập trên cơ sở mua cổ phần 100%, huy động
theo vốn từ các cổ đông bên ngoài vào mục đích sản xuất kinh doanh, đầu tư thiết bị
theo đúng ngành nghề kinh doanh, nhằm mục đích tăng năng suất, giảm giá thành, tăng
1.2.1.1.

4


cổ tức. Vốn điều lệ ban đầu của Công ty: 9.000.000.000 đồng (Chín tỉ VND) do các cổ
đông trong công ty góp vốn chung. Hằng năm, lợi nhuận của công ty lên đến hàng tỉ
đồng. Đó là thành quả lao động nỗ lực hết mình, vượt qua muôn vàn khó khăn của ban
giám đốc cũng như toàn thể các nhân viên công ty.
Cơ cấu tổ chức của công ty
Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An Hồng là một công ty tư nhân, hoạt
động một cách độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân trong quan hệ kinh tế trong nước
cũng như nước ngoài. Giám đốc kiêm chủ tịch hội đồng quản trị điều hành hoạt động
của công ty.
1.2.1.2.

Đại hội đồng cổ đông
Phó giám đốc
Tổng giám đốc

Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Phó giám đốc
Đội kho

Phòng tài chính kế toán
Phòng tiêu thụ sản phẩm
Phòng tổng hợp

Hình 1.2.Sơ đồ tổ chức của công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An
Hồng
Hiện nay cơ cấu bộ máy quản lý Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An
Hồng gồm:
 Đại hội đồng cổ đông:

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty cổ phần xây
dựng và xuất nhập khẩu An Hồng. Đại hội cổ đông có quyền và nhiệm vụ thông qua
định hướng phát triển, quyết định các phương án, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; quyết
định sửa đổi, bổ sung vốn điều lệ của Công ty; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên
Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát; và quyết định tổ chức lại, giải thể Công ty và các
quyền, nhiệm vụ khác theo quy định của Điều lệ Công ty.
 Hội đồng quản trị:
5


Hội đồng quản trị là tổ chức quản lý cao nhất của Công ty cổ phần xây dựng và xuất
nhập khẩu An Hồng do Đại hội đồng cổ đông bầu ra gồm 01 (một) Chủ tịch Hội đồng
quản trị và 04 (bốn) thành viên với nhiệm kỳ là 5 (năm) năm. Thành viên Hội đồng
quản trị có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Tổng số thành viên Hội
đồng quản trị độc lập không điều hành phải chiếm ít nhất một phần ba tổng số thành

viên Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị nhân danh Công ty quyết định mọi vấn đề
liên quan đến mục đích và quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền
của Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị có trách nhiệm giám sát hoạt động của
Giám đốc và những cán bộ quản lý khác trong Công ty. Quyền và nghĩa vụ của Hội
đồng quản trị do Pháp luật, Điều lệ Công ty và Nghị quyết Đại hội đồng cổ
đông quy định.
 Ban kiểm soát:

Ban kiểm soát của của Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An Hồng bao
gồm 04 (bốn) thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu ra. Nhiệm kỳ của Ban kiểm soát
là 05 (năm) năm; thành viên Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không
hạn chế. Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và
mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công
tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của các
cổ đông. Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc.
 Ban giám đốc:

Ban Giám đốc của Công ty bao gồm 03 (ba người): 01 Giám đốc và 02 Phó Giám đốc.
Giám đốc điều hành, quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các
quyền và nghĩa vụ được giao. Các Phó Giám đốc giúp việc Giám đốc trong từng lĩnh
vực cụ thể và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về các nội dung công việc được phân
công, chủ động giải quyết những công việc được Giám đốc ủy quyền theo quy định của
Pháp luật và Điều lệ Công ty.
 Phòng tiêu thụ sản phẩm:

Chịu trách nhiệm thu thập thông tin, đánh giá tình tình thị trường, xây dựng kế hoạch
tiêu thụ sản phẩm. Tham mưu cho Giám đốc về giá bán sản phẩm, chính sách quảng
cáo, phương thức bán hàng, hỗ trợ khách hàng, lập các hợp đồng đại lý. Tư vấn cho
khách hàng về sử dụng thiết bị bảo quản, kỹ thuật bán hàng, thông tin quảng cáo. Theo

dõi và quản lý tài sản, thiết bị, công cụ, dụng cụ bán hàng. Kết hợp với phòng Kế toán
Tài chính quản lý công nợ các đại lý và khách hàng tiêu thụ sản phẩm; Quản lý hóa
đơn và viết hóa đơn, thu tiền bán hàng.
 Phòng tổng hợp:

6


Đảm nhận và chịu trách nhiệm trước Công ty về việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh
doanh hàng tháng, quý, năm; Mua sắm, làm thủ tục nhập, xuất vật tư, nguyên liệu, phụ
tùng thay thế, dụng cụ cho sản xuất; Tham mưu và làm các thủ tục pháp lý trong việc
ký kết, giám sát thực hiện, thanh quyết toán các hợp đồng kinh tế với các nhà cung cấp.
Tham gia xây dựng phương án, kế hoạch giá thành sản phẩm của Công ty;
Tổng hợp báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh và các báo cáo
thống kê theo quy định và yêu cầu quản trị của Công ty.
Đảm nhận và chịu trách nhiệm trong công tác tham mưu xây dựng cơ cấu tổ chức quản
lý sản xuất kinh doanh, quy hoạch cán bộ; Lập kế hoạch đào tạo và tuyển dụng lao
động, xây dựng định mức lao động và đơn giá tiền lương hàng năm; tham mưu cho
Ban giám đốc xây dựng quy chế trả lương, thưởng. Thực hiện các chế độ chính sách
cho người lao động theo luật định và quy chế của Công ty; Theo dõi, giám sát việc
chấp hành nội quy lao động, nội quy, quy chế của Công ty và thực hiện công tác kỷ
luật. Thực hiện các nhiệm vụ của công tác hành chính, văn thư lưu trữ, quản lý xe ôtô
con, vệ sinh môi trường, ngoại cảnh, công tác bảo vệ 2 nhà máy. Phối hợp xây dựng và
tổ chức thực hiện các kế hoạch bảo vệ, an ninh, quốc phòng, phòng chống cháy nổ,
phòng chống bão lụt hàng năm.
 Phòng tài chính kế toán:

Đảm nhận và chịu trách nhiệm trước Công ty về lĩnh vực tài chính kế toán. Phòng có
chức năng xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính hàng năm; Tổ chức công
tác hạch toán kế toán, lập báo cáo tài chính theo quy định và các báo cáo quản trị theo

yêu cầu của Công ty; Thực hiện thu tiền bán hàng, quản lý kho quỹ; Chịu trách
nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc lập hóa đơn chứng từ ban đầu cho công tác hạch
toán kế toán; hướng dẫn, tổng hợp báo cáo thống kê.
 Đội kho:

Quản lý các kho vật tư, nguyên liệu, thành phẩm, bao bì, chai két, công cụ dụng cụ
phục vụ sản xuất, bán hàng; Thực hiện công tác xuất, nhập vật tư, nguyên liệu, theo
dõi, đối chiếu, lập các bảng kê bán hàng, báo cáo nhập xuất tồn hàng ngày, tuần, tháng
gửi các phòng Nghiệp vụ của công ty và Tổng Công ty theo quy định.
Khi mới thành lập công ty có khoảng 9 tỷ vốn điều lệ, càng ngày vốn công ty không
ngừng tăng lên, đến nay đã hơn 20 tỷ đồng. Thành quả trên là do doanh nghiệp đã luôn
quan tâm đến việc xoay vòng vốn đầu tư mở rộng quy mô sản xuất.
Yếu tố lao động luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong sự thành bại của bất cứ
doanh nghiệp nào. Đối với công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An Hồng cũng
vậy, đội ngũ nhân viên lành nghề, có trình độ cao, trong văn phòng công ty đều là
những người có trinh độ đại học hoặc sau đại học. Ngoài ra họ còn có trình độ sử dụng
thành thạo tin học văn phòng và ngoại ngữ cơ bản nhằm đảm bảo cho hoạt động của
7


một doanh nghiệp xuất nhập khẩu gỗ. Số người có trình độ đại học trong công ty chiếm
khoảng 30% tổng số lao động của công ty. Các công nhân đều có trình độ tay nghề và
kinh nghiệm làm việc. Với đội ngũ như vậy công ty luôn làm hài lòng khách hàng
trong những năm qua.
1.2.2. Giới thiệu bài toán quản lý kho tại công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập

khẩu An Hồng
Giới thiệu chung về đề tài
Trong thời kỳ nên kinh tế hội nhập hiện nay, công nghệ thông tin đóng vai trò quan
trọng quyết định sự thành công của một tổ chức, một doanh nghiệp cũng như sự phát

triển của một quốc gia. Ở nước ta cũng không thể phủ nhận những tác dụng to lớn mà
công nghệ thông tin mang lại trong các lĩnh vực đời sống, đặc biệt là trong sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Kho hàng của công ty An Hồng vẫn quản lý theo phương pháp thủ công như việc
xuất nhập hàng hóa hàng ngày cho các xí nghiệp sản xuất vẫn ghi vào sổ sách, dựa trên
giấy tờ là chủ yếu, việc tổng jowpj vật tư xuất nhập tồn vẫn do cán bộ vật tư tính bằng
tay với sự trợ giúp của máy tính. Cách quản lý như vậy không tránh khỏi những sai sót
và khó khăn trong công việc như tính sai giá trị hàng hóa, nhầm lẫn trong việc kiểm kê
hàng hóa, tốn nhiều thời gian, công sức cho việc tra cứu vật tư . Điều này gây cản trở
cho việc quản lý và ra quyết định của ban lãnh đạo, gây tổn thất cho công ty, hạ thấp
năng suất lao động. Từ đó ban giám đốc nhận thấy cần thay đổi cách quản lý bằng việc
ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hàng hóa để đạt hiệu quả quản lý cao
hơn,tăng năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Trong thời gian đầu thự tập tại công ty PPCLINK, tác giả đã được tiếp xúc với dự
án của công ty trong đó có dự án về phần mềm quản lý kho cho công ty cổ phần xây
dựng và xuất nhập khẩu An Hồng. Sau đó được chứng kiến quy trình công việc tại
công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An Hồng , được sự đồng ý của anh hướng
dẫn thực tập tác giả quyết định chọ đề tài: ”Xây dựng phần mềm quản lý kho cho công
ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An Hồng”. Phần mềm sau khi được đưa vào sử
dụng sẽ khắc phục được những sai sót trong quá trình quản lý thủ công và đáp ứng yêu
cầu của ban giám đốc cũng như nhu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp.
1.2.2.1.

1.2.2.2.
Sự cần thiết của đề tài
• Đứng trên góc độ kinh tế - xã hội nói chung

Theo các nhà nghiên cứu kinh tế, nguyên nhân dẫn đến tình trạng hoạt động kém
hiệu quả của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là do trình độ quản lý còn yếu kém.
Thông tin lại là một yếu tố đầu vào hết sức quan trọng phục vụ cho quá trình quản lý.

Cho dù nghệ thuật quản lý có hay đến đâu ma không có thông tin cung cấp một cách
chính xác, đầy đủ, kịp thời thì hệ thống vẫn sẽ hoạt động tồi tệ. Vì vậy, xây dựng phần
mềm quản lý cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp lớn như
8


Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An Hồng – nói tiêng thì lại càng là vấn
đề cần thiết hơn bao giờ hết.
• Đứng trên góc độ của doanh nghiệp nói riêng
Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An Hồng là công ty sản xuất – kinh
doanh gỗ lớn trong nước, chuyên sản xuất, chế biến các sản phẩm từ gỗ, kinh doanh
nhập xuất nhập khẩu các sản phẩm từ gỗ chất lượng cao phục vụ cho các công trình.
Sản phẩm xuất khẩu chiếm một tỷ trọng lớn trong mức sản phẩm trung bình của Công
ty trong một năm. Vì vậy xây dựng một hệ thống quản lý cho Công ty là rất cần thiết.
Do quy mô công ty khá lớn, hàng năm Công ty xuất ra một lượng lớn gỗ, chất lượng
của nguyên liệu, hàng hóa phải được đảm bảo đúng tiêu chuẩn. nếu để thất thoát, sai
hỏng, lãng phí sẽ dẫn đến việc gián đoạn hoạt động sản xuất gây tổn hại lớn đến doanh
thu công ty. Vì vậy vấn đề này phải được quan lý một cách chặt chẽ, chính xác, hiệu
quả. Cho nên theo tác giả hệ thống quản lý kho cần phải được tin học hóa, cần xây
dựng một phần mềm nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra rất cần thiết này. Mặt khác, khi khảo
sát công việc quản lý kho, công việc của nhân viên ké toán thường bị dồn vào cuối
tháng vầ cuối năm. Phải đợi đến cuối tháng mới tính giá vật tư sản xuất,ghi sổ và lên
báo cáo…dẫn đến thông tin có khi không cung cấp kịp thời. Do đó cần phải xây dựng
một phần mềm với các chức năng tự động giúp giảm bớt khối lượng công việc của
nhân viên vào cuối kỳ, nhằm cung cấp thông tin kịp thời cho cấp trên, đồng thời khắc
phục những sai sót trong quá trình thực hiện công việc.
1.2.3. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin ở công ty và giải pháp tin học

hóa cho bài toán quản lý kho
Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong công ty

Qua nhiều năm hoạt động, công ty đã có những bước phát triển rất vững chắc trong
ngành xuất nhập khẩu và sản xuất, chế biến gỗ ở Việt Nam. Có được những thành tựu
đó không phải là dễ dàng, nhất là trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế hiện nay, vì vậy để
khẳng định thương hiệu của mình công ty hiểu rằng cần chú trọng đến việc xây dựng
chiến lược phát triển hệ thống thông tin của mình. Hiện nay, công ty cũng đang bắt đầu
thay đổi cách quản lý thủ công sang quản lý tự động, có sự tương tác giữa người và
máy nhằm giảm bớt các thao tác thừa, không chính xác trong quản lý, giảm chi phí
nâng cao năng suất lao động, đưa ra các thông tin chính xác và kịp thời, trợ giúp cho
quá trình ra quyết định.
Hiện nay một số phòng ban đã được trang bị máy tính, máy in, mạng, phần mềm…
Tuy nhiên các thiết bị đó vẫn chưa được sử dụng đúng mục đích và phục vụ đúng chức
năng của các văn phòng. Do kinh phí còn hạn hẹp, công ty chỉ trang bị công nghệ hiện
đại cho một số phòng ban, còn hầu hết vẫn làm thủ công.Mọi thông tin về vật tư vẫn
được lưu trên văn bản dựa vào các phiếu xuất kho, phiếu nhập kho, hóa đơn thanh toán
của người bán gửi tới. Chưa có phần mềm quản lý kho chuyên dụng, chỉ lưu trữ dữ liệu
1.2.3.1.

9


củ yếu bằng Microsoft Exel. Công ty đã trang bị máy in để in các báo cáo xuất nhập
tồn…để phê duyệt.
Công ty chưa kết nối các máy tính thành mạng cục bộ nên việc chia sẻ thông tin và
quản lý nguồn lực của công ty bị hạn chế và khó khăn. Công ty còn chưa trang bị phần
mềm quản lý toàn diện doanh nghiệp. Mỗi khi cần thông tin từ các phòng ban khác,
mình phải làm văn bản yêu cầu và đợi văn bản trả lời bằng giấy của các phòng ban
khác. Điều đó dẫn đến việc chậm trễ trong việc đáp ứng thông tin gây khó khăn cho
công tác lập kế hoạch, chiến lược và ra quyết định của các cấp lãnh đạo. Vì vậy. ban
giám đốc công ty đã đề ra chiến lược phát triển hệ thống thông tin phục vụ công tác ra
quyết định để đáp ứng cac yêu cầu mới đặt ra của thị trường, bắt kịp thời đại tin học

đang diễn ra như vũ bão trên đất nước và thế giới
Ban giám đốc xác định tình trạng quản lý thủ công không thể kéo dài nhưng trong
lúc này công ty không thể khắc phục một cách tổng thể và toàn diện do chi phí để phát
triển hệ thống thông tin quá lớn, Ban giám đốc quyết định tin học hóa từng phần, từng
bộ phận. Sau đó sẽ kết nối thành một hệ thống thông tin quản lý thống nhất trên cơ sở
thiết lập mạng máy tính thống nhất toàn cơ quan và trang bị một phần mềm quản lý
doanh nghiệp toàn diện dễ dàng quản lý các nguồn lực, chia sẻ thông tn giữa các phòng
ban, mọi người có thể năm bắt thông tin nhanh chóng kịp thời. Trong thời gian tới,
công ty sẽ trang bị thêm máy tính, máy in, hệ thống mạng cho các phòng ban, các phần
mềm chuyên dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho các phòng ban thực hiện nghĩa và
công tác quản lý của mình, giúp nâng cao năng suất lao động, đạt hiệu quả cao trong
công việc như phần mềm bán hàng, phần mềm quản lý kho hàng, …Khi tin học hóa
công tác quản lý được hoàn thành, công ty sẽ có một hệ thống quản lý hiện đại, hoàn
chỉnh, thống nhất trợ giúp đắc lực cho quá trình ra quyết định của lãnh đạo, giải quyết
kịp thời những vấn đề nảy sinh, nắm bắt được khoa học công nghệ tiên tiến, phù hợp
với sự phát triển chung của đất nước và dành được ưu thế cạnh tranh trên thị trường
1.2.3.2.

Giải pháp cho bài toán quản lý kho

a. Mục đích của đề tài
• Được người sử dụng chấp nhận
• Giải quyết được các vấn đề khó khăn của công ty trong công tác thực hiện quản lý

vật tư, hàng hóa
• Cung cấp thông tin một cách chính xác, kịp thời đầy đủ,nhanh chóng phục vụ tốt
quá trình quản lý vật tư, phục vụ tốt bộ phận sản xuất.
• Tân dụng năng lực tài nguyên (hệ thống máy tính), năng lực con người nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý
• Giúp doanh nghiệp nâng cao doanh thu, tiết kiệm chi phí nhờ giảm đội ngũ nhân

công, tiết kiệm chi phí do thất thoát, lãng phí, giảm thiểu sai sót có thể xảy ra trong
quá trình quản lý, đồng thời hỗ trợ cho người lao động.
10


b. Hiệu quả kinh tế mà đề tài có thể mang lại
• Nâng cao năng suất và hiệu quả công việc

Phần mềm trong tương lai sẽ thay thế toàn bộ các nghiệp vụ thủ công trong việc quản
lý kho cho các doanh nghiệp có hệ thống kho hàng vói quy mô lớn bao gòm việc quản
lý vật tư, hàng hóa, thống kê...Phần mềm ra đời sẽ tăng tốc độ xử lý nghiệp vụ, hỗ trợ
cho các cán bộ quản lý kho và ban lãnh đạo thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác
trợ giúp ra quyết định sản xuất.
• Hiệu quả trong việc sử dụng thông tin để ra quyết định lãnh đạo
Phần mềm sẽ cung cấp cho lãnh đạo thông tin tức thời về tình hình nhập- xuất – tồn
kho nguyên vật liệu hàng hóa trong kho, các báo cáo cụ thể về tình hình sử dụng
nguyên vật liệu cũng như sản xuất hàng hóa theo từng chủng loại...từ đó phục vụ việc
ra quyết định chỉ đạo sản xuất kip thời và đúng đắn
• Nâng cao trình độ đội ngũ , tạo môi trường phát triển và ứng dụng công nghệ
thông tin
Phần mềm xử lý phần lớn các nghiệp vụ băng máy tính, điều này sẽ góp phần nâng cao
trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty, tạo ra môi trường phát triển và
ứng dụng công nghệ thông tin trong tương lai.
1.2.3.3.
Những mục tiêu của hệ thống mới
- Quản lý hàng hóa
- Quản lý thông tin nhân viên
- Quản lý nhà cung cấp
- Quản lý phiếu nhập, phiếu xuất
- Xử lý các báo cáo hàng tháng

1.2.3.4.

Yêu cầu về chức năng hệ thống mới

a. Sơ đồ tổ chức của công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An Hồng

Ban giám đốc
Lưu trữ hàng hóa
Kiểm tra hàng hóa
Quản lý hàng hóa
Kho
Xác định kết quả kinh doanh
Chi trả lương

11


Thanh toán hóa đơn
Phòng kế toán

b. Yêu cầu về nghiệp vụ





Phần mềm được xây dựng phải cho phép quản lý vật tư theo các chức năng sau:
Cập nhật các thông tin mới về vật tư, nhân viên, nhà cung cấp, kho… cho các tệp
danh mục
Theo dõi và hiệu chỉnh thông tin khi có sai sót và yêu cầu

Xóa các thông tin về vật tư, nhà cung cấp, kho, nhân viên thôi việc không cần dùng.
Phần mềm quản lý tình hình xuất nhập vật tư theo các công việc sau:
- Cuối mỗi ngày thủ kho sẽ thống kê từng loại vật tư về lượng xuất, lượng nhập,
lượng tồn.
- Cho phép nhập liệu số liệu cho các phiếu nhập kho, xuất kho.
- Cho phép sửa chữa bổ sung khi có yêu cầu.
- Tính lượng xuất, nhập, tồn kho theo công thức:
TONCK = TONDK + NHAPTK – XUATTK
TONCK: vật tư tồn kho cuối tháng trước
TONDK: vật tư tồn kho đầu kỳ
NHAPTK: vật tư nhập kho trong kỳ
XUATTK: vật tư xuất kho trong kỳ
- Phần mềm phải cho phép in ra các báo cáo cần thiết.

Yêu cầu phi nghiệp vụ
Phần mềm phải đáp ứng các yêu cầu sau của công ty:
• Phần mềm phải đơn giản, dễ hiểu, dễ sử dụng: phần mềm phải có giao diện gần gũi
với người dùng, ngôn ngữ chính xác, dễ hiểu.
• Phần mềm phải mô tả đúng, chân thực về công tác quản lý kho vật tư của Công ty
cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An Hồng.
• Phần mềm có khả năng thay đổi, mở rộng theo yêu cầu phát triển quy mô của công
ty.
c.

d. Yêu cầu chức năng hệ thống
• Phân quyền: Với mỗi chức danh khác nhau thỡ cỏc chức năng của phần mềm có


giới hạn khác nhau. Quyền admin thì lớn hơn quyền user.
Cấu hình thiết bị: Máy cá nhân phải được trang bị cấu hình phần cứng mạnh, chạy

hệ điều hành Windows XP trở lên.

12


1.2.3.5.

Những yêu cầu cho hệ thống mới

a.








Phần cứng:
CPU (chip) 3.06 MHz.
512 MB DDRAM.
HDD 80 GB (500 MB không gian đĩa cứng).
Màn hình màu độ phân giải 800 x 600 pixel hoặc tốt hơn 1024 x 768 pixel
Chuột, bàn phím.
Thiết bị lưu dự phòng.
Máy Un Lasze

b.






Phần mềm:
Hệ điều hành Windows 2000 trở lên.
Visual studio 2008
SQL Server 2008
Crystal Reports 9

Ngôn ngữ lập trình
Mỗi chương trình máy tính đều được tạo ra dựa trên một thuật toán làm nền tảng.
Chương trình là một thuật toán trong đó mỗi lệnh được viết bằng các ký hiệu theo đúng
quy cách thống nhất sao cho máy tính có thể nhận biết và thực hiện được.
Thuật toán là một bản hướng dẫn bao gồm một số hữu hạn các mệnh lệnh quy định
chính xác những phép toán và động tác cần thực hiện một cách máy móc theo một trình
tự đã vạch rõ để giải quyết một loại bài toán hay một nhiệm vụ nào đó.
Thuật toán được biểu diễn bằng lời hoặc bằng sơ đồ khối. Biểu diễn bằng lời có nghĩa
là dùng lời nói, chữ viết để mô tả các bước thực hiện thuật toán. Biểu diễn bằng sơ đồ
khối có nghĩa là sử dụng kết hợp các khối cơ bản như khối bắt đầu, khối kết thúc, khối
xử lý, khối điều kiện,…để biểu diễn thuật toán.
Mỗi ngôn ngữ lập trình được kiến tạo từ các yếu tố cơ sở sau:
- Tập hợp các ký tự (bảng chữ cái, chữ số và ký hiệu)
- Tập hợp các từ vựng (còn gọi là từ khóa hay từ dành riêng) : Như begin, read,
write, if, else…
- Tập hợp các quy tắc ngữ pháp, bao gồm các quy tắc đặt tên các đối tượng dùng
trong chương trình như biến, hàm,…và quy tắc viết các lệnh.
Như vậy có thể nói “Ngôn ngữ lập trình là công cụ để diễn tả thuật toán thành chương
trình cho máy tính thực hiện”.
Trong số các ngôn ngữ lập trình người ta phân biệt ngôn ngữ máy với ngôn ngữ còn lại
để ghi chép thuật toán gọi chung là ngôn ngữ thuật toán.

Ngôn ngữ máy là ngôn ngữ lập trình viết các lệnh dưới dạng nhị phân can thiệp trực
tiếp vào trong các mách điện tử. Chương trình viết bằng ngôn ngữ máy có thể thực
hiện ngay.
c.

13


Ngôn ngữ thuật toán là ngôn ngữ lập trình rất gần với ngôn ngữ tự nhiên của con người
nhưng chính xác như ngôn ngữ toán học, Chương trình viết bằng ngôn ngữ thuật toán
chưa thể thực hiện ngay được mà phải chuyển sang ngôn ngữ máy.

CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP LUẬN PHÂN TÍCH VÀ XÂY DỰNG PHẦN
MỀM QUẢN LÝ KHO
2.1. Giới thiệu tổng quan về hệ thống thông tin
Trước tiên muốn thực hiện phân tích một dự án tin học là phải khảo sát hệ thống.
Người ta định nghĩa hệ thống phải là một tập hợp các phần tử có các ràng buộc lẫn
nhau với môi trường bên ngoài. Hệ thống quản lý là một hệ thống tích hợp giữa người
và máy tạo ra các thông tin giúp con người trong sản xuất quản lý và ra quyết định. Do
đó, cần xtác giả xét phân tích các yếu tố đặc thù, những nét khái quát cũng như các
mục tiêu và nguyên tắc đảm bảo cho việc xây dựng một hệ thống thông tin quản lý
được tin học hóa mang lại lợi ích và kết quả tốt.
Hệ thống thông tin quản lý nhằm trợ giúp các hoạt động quản lý của tổ chức, các
hoạt động này nằm ở mức điều khiển tác nghiệp, điều khiển quản lý hoặc lập kế hoạch
chiến lược. Chúng dựa chủ yếu vào các cơ sở dữ liệu được tạo ra bởi các báo cáo cho
các nhà quản lý một cách định kỳ hoặc theo yêu cầu.
Các báo cáo này tóm lược tình hình về một mặt đặc biệt nào đó của tổ chức. Các
báo cáo này thường có tính so sánh, chúng làm tương phản tình hình hiện tại với một
tình hình đã được dự kiến trước, tình hình, tình hình hiện tại với một dự báo, các dữ
liệu hiện thời của các doanh nghiệp trong cùng một ngành công nghiệp, dữ liệu hiện

thời và các dữ liệu lịch sử. Vì các hệ thống thông tin quản lý phần lớn dựa vào các dữ
liệu sản sinh từ các hệ xử lý giao dịch do đó chất lượng thông tin mà chúng sản sinh ra
phụ thuộc rất nhiều vào việc vận hành tốt hay xấu của hệ xử lý giao dịch. Hệ thống
phân tích năng lực bán hàng, theo dõi chi tiêu, theo dõi năng suất hoặc sự vắng mặt của
nhân viên, nghiên cứu về thị trường… là các hệ thống thông tin quản lý
2.2. Giới thiệu tổng quan về phần mềm
2.2.1. Đôi nét về phần mềm
Phần mềm là các chương trình các thủ tục tin học liên quan tới các việc khai thác
hệ thống thông tin. Chương trình là tập hợp các chỉ dẫn nhằm thực hiện một nhiệm vụ
xác định trên máy tính.

14


Chương trình là một tập hợp các câu lệnh được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ
lập trình, nhằm thực hiện tự động một số chức năng giải quyết một bài toán nào đó.
Theo giáo trình Tin học dại cương khoa Tin học kinh tế Đại học Kinh tế Quốc Dân thì:
“Phần mềm máy tính là các chương trình, các cấu trúc dữ liệu làm cho chương trình xử
lý được những thông tin thích hợp và các tài liệu mô tả phương thức sử dụng các
chương trình ấy”. Phần mềm luôn luôn được bổ sung và sửa đổi thường xuyên.
Khi lập trình ở quy mô học đường, người ta thường đồng nhất khái niệm phần mềm
với chương trình. Trong công nghệ phần mềm, khái niệm phần mềm được hiểu tổng
quát hơn. Người ta chấp nhận định nghĩa của nhà tin học người Mỹ Roger Pressman:
“Phần mềm là tổng thể gồm 3 yếu tố: Các chương trình máy tính, các cấu trúc dữ liệu.
tài liệu hướng dẫn sử dụng phần mềm.”
2.2.2. Các giai đoạn phát triển của phần mềm
Tiến trình phát triển phần mềm chia ra thành 4 giai đoạn. Đó là:
-

Giai đoạn 1: Từ năm 1950 – 1960: Phần mềm có tốc độ chậm, xử lý theo lô. Phần

mềm đơn chiếc.
Giai đoạn 2: Từ năm 1960 – 1970: Tốc độ nhanh, xử lý theo thời gian thực.
Giai đoạn 3: Từ năm 1970 – 1990: Hệ thống phân tán. Phần mềm đã bắt đầu được
thương mại hóa.
Giai đoạn 4: Từ năm 1990 đến nay: Hệ thống để bàn, ngôn ngữ lập trình hướng đối
tượng. Phần mềm được sản xuất theo quy mô công nghiệp.

Theo các giai đoạn phát triển của phần mềm, ta nhận thấy tiến trình phát triển của
phần mềm luôn luôn đi song song với quá trình phát triển của phần cứng theo định
hướng hoàn toàn tương tự, tức là quy mô thu nhỏ, tính năng nâng cao. Tính tinh lợi của
một máy tính nằm hầu hết ở phần mềm, phần cứng càng hiện đại thì phần mềm càng
đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy năng lực của phần cứng.
2.2.3. Các đặc trưng của phần mềm
Phần mềm là phần tử hệ thống logic, nó có các đặc trưng sau đây:
- Phần mềm được kỹ nghệ hóa, nó không được chế tạo theo nghĩa cổ điển.
- Phần mềm không bị hỏng đi trong quá trình sử dụng.
- Phần mềm được xây dựng theo đơn đặt hàng chứ không lắp đặt từ những phần mềm
có sẵn.
2.2.4. Phân loại phần mềm
2.2.4.1. Phần mêm ứng dụng (Application software)
- Phần mềm năng suất ( Productivity Software)
Là phần mềm giúp người dùng làm việc hiệu quả và hiệu suất cao hơn, một số phần
mềm loại này như:
15


Các bộ chương trình lập bảng tính giúp tính toán trên các con số để dẽ
dàng lập ra các bảng biểu kế toán, thống kê, phân tích,… Bảng tính phổ biến là
Microsoft Offoce Exel.


Hệ soạn thảo điều khiển các máy tính hoạt động như một máy chữ để
giúp người dùng biên soạn các tài liệu như công văn, thư từ, báo cáo,… Hệ soạn
thảo văn bản phổ biến là Microsoft Office Word.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu giúp lưu trữ dữ liệu, tổ chức, sắp xếp, cập nhật thông tin
trong máy tính và tìm kiếm thông tin khi cần thiết. Các hệ quản trị cơ sở dữ liệu
thống nhất hiện nay là Foxpro, Microsoft Exel.
• Phần mềm gửi và nhận thư điện tử giúp chúng ta liên hệ với mọi đối tác cho dù
họ ở bất kỳ nơi nào trên thế giới thông qua mạng Internet ví dụ như : Outlook
Express, Pegasus Mail…
• Phần mềm đồ họa giúp vẽ các bức tranh, tạo những hình ảnh ba chiều và làm
phim hoạt hình.
• Phần mềm chế bản điện tử cho phép dùng máy tính để phân trang, chia cột…và
còn nhiều phần mềm khác nữa.
Phần mềm kinh doanh
• Phần mềm kinh doanh: Gồm các bộ chương trình giúp các doanh nghiệp hoàn
thành nghiệp vụ có tính lặp đi lặp lại hàng ngày, hàng tháng, hàng quý, hàng
năm. Phần mềm kinh doanh nhấn mạnh vào những nhiệm vụ trên phạm vi toàn
cơ quan như kế toán, quản lý nhân sự, quản lý vật tư,…. Các phần mềm kế toán
được sử dụng nhiều nhất hiện nay là Fast, Bravo…
• Phần mềm giải trí: bao gồm các trò chơi và các bộ chương trình giúp tiêu khiển,
giải trí.
• Phần mềm giáo dục và tham khảo: Giúp cung cấp những kiến thức, kỹ năng về
một chủ đề, lĩnh vực nào đó, cung cấp bộ cơ sở dữ liệu cho phép tra cứu thông
tin theo yêu cầu. Ví dụ như bộ từ điể và phần mềm học ngoại ngữ của công ty
Lạc Việt,…


-

-


2.2.4.2. Phần mềm hệ thống (Systtác giả software)
Phần mềm hệ thống gồm các chương trình quản lý, hỗ trợ các tài nguyên và điều
hành các hoạt động của hệ thống máy tính điện tử; nó giúp cho máy tính hoạt động
hiệu quả cao nhất.
-

Hệ điều hành (Operating Systtác giả) là một chương trình phục vụ cho việc quản lý
chặt chẽ hệ thống tính toán và tổ chức khai thác chúng một cách tối ưu.
Các chương trình tiện ích (Utilities) bổ sung thêm cho các dịch vụ cần cho nhiều
người mà hệ điều hành chưa đáp ứng được hay đã có nhưng chưa trọn vẹn. Ví dụ
như tiện ích quản lý các phân vùng đĩa cứng (PQ magic, Patition Magic, Norton
Ghost), tiện ích cho phép tìm kiếm thông tin trên đĩa cứng,…

16


-

-

Các chương trình điều khiển thiết bị (device driver) giúp máy tính điều khiển một
thiết bị nào đó mà không có trong danh sách những thiết bị phần cứng được hệ điều
hành hỗ trợ như các loại Card màn hình, card âm thanh cao cấp của MSI,…
Các chương trình dịch có nhiệm vụ dịch các chương trình viết bằng ngôn ngữ thuất
toán sang ngôn ngữ máy để máy tính có thể hiểu và xử lý được

2.2.5. Công nghệ phần mềm
2.2.5.1. Giới thiệu về công nghệ phần mềm
Công nghệ phần mềm là một môn khoa học nghiên cứu các phương pháp, các thủ

tục và các công cụ đi từ phần tích thiết kế đến quản lý một dự án phần mềm nhằm đạt
được các mục tiêu của dự án.
Mỗi dự án phần mềm không phụ thuộc vào quy mô, do phức tạp hoặc lĩnh vực ứng
dụng đều có thể chia thành 3 giai đoạn được biểu diễn trong hình vẽ dau đây.
Giai đoạn 1



Xác định

Phân tích yêu cầu
Lập kế hoạch

Giai đoạn 2

Phát triển




Thiết kế
Lập trình
Kiểm thử
Bảo trì

Giai đoạn 3





Bảo trì sửa đổi
Bảo trì thích nghi
Bảo trì hoàn thiện

Giai đoạn 1: Giai đoạn xác định
Giai đoạn này trả lời cho câu hỏi cái gi? Về bản chất chính là xác định 1 cách cụ thể và
chính xác bài toán đặt ra. Người ta thường gọi một cách vắn tắt là xác định P trên cơ sở
xác định chính xác p người ta đưa ra giải pháp phần mềm S (Solution). Vì thế việc định
danh bài toán đầu tư tức là xác định P càng chính xác bao nhiêu thì việc xác định các
giải pháp P càng hiệu quả bấy nhiêu
- Giai đoạn 2: Giai đoạn phát triển
Trả lời cho câu hỏi thế nào? Về bản chất đây chính là công đoạn xây dựng và thiết kế
phần mềm.
- Giai đoạn 3: Giai đoạn bảo trì
Trả lời cho câu hỏi thay đổi ra sao? Mà nội dung chủ yếu của nó liên quan đến sản
phẩm sau khi đã thương mại hóa trên thị trường. Trong thực tiễn của các công ty phần
-

17


mềm, thường được thể hiện dưới 3 hình thức: Bảo trì sửa đổi, bảo trì thích nghi và bảo
trì nâng cao.

Bảo trì sửa đổi: Sửa chữa sai sót.

Bảo trì thích nghi: Thích nghi với phần cứng của doanh nghiệp, hợp với
hệ điều hành.

Bảo trì nâng cao: Thêm chức năng mới.

Sự phân bố các nỗ lực trong giai đoạn xác định và phát triển phần mềm được thực hiện
theo quy tắc 40 – 20 – 40 theo mô hình sau:

Phân tích thiết kế 40

Kiểm thử 40
Mã hóa 20
Hình 1.4. Phân bố thời gian trong quá trình phát triển phần mềm
2.2.5.2. Các đặc trưng của nền công nghiệp phần mềm
Trong thời gian gần đây, phần mềm đã phát triển với tốc độ nhanh chóng trở thành
một ngành công nghiệp. Công nghiệp phần mềm là ngành công nghiệp sản xuất ra các
sản phẩm phần mềm máy tính phục vụ cho các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con
người.
Công nghiệp phần mềm của Mỹ trong thời kỳ 1980 – 1992 tăng 28% mỗi năm
trong khi GDP chỉ tăng 3% hàng năm. Ấn độ cũng là nước có nền công nghiệp phần
mềm phát triển rất mạnh. Thị phần thế giới của các sản phẩm phần mềm sản xuất tại
Ấn Độ là 17%. Ấn Độ có 7 khu công nghiệp phần mềm công nghệ cao cấp quốc gia và
mỗi năm một số khu chuyên viên kỹ thuật phần mềm tăng đến 600.000 người.
Nền công nghiệp phần mềm có đặc trưng sau:
-

-

Các sản phẩm của nền công nghiệp phần mềm lại chứa một khối lượng lao động
sáng tạo rất cao. Nó là sản phẩm lao động trí tuệ của các lập trình viên. Nhà khoa
học Mỹ Mc.Corduck đã nói: “ Công nghiệp phần mềm là ngành công nghiệp lý
tưởng. Nó tạo ra giá trị bằng cách biến đổi năng lực trí não của con người, tiêu thụ
rất ít năng lượng và nguyên liệu thô”.
Nền tảng quan trọng nhất là trí tuệ của đội ngũ lập trình viên. Nhà khoa học Mỹ
Feigenbaum đã cho rằng: “ Trí thức là quyền lực, còn máy tính điện tử là bộ khuếch

đại của quyền lực đó”.

18


-

-

-

Các sản phẩm của nền công nghiệp phần mềm được chuyển giao giữa nhà cung cấp
và người sử dụng một cách mau chóng, tốn kém ít chi phí chuyên chở tới nơi sản
xuất đến nơi tiêu thụ.
Sản phẩm của ngành công nghiệp phần mềm không bị khấu hao theo thời gian.
Các nước tuy chưa có nền công nghiệp phát triển cao cũng có thể tham gia xây
dựng công nghiệp phần mềm nếu có một tiềm năng chất xám và một chính sách
phù hợp ở tầm quản lý vĩ mô.
Nền công nghiệp phần mềm tạo ra các nghề nghiệp mới như lập trình viên, quản trị
hệ thống, thao tác viên phòng máy, thiết kế hệ thống,…

Đối với Việt Nam, ngày 05/06/2000, chính phủ đã ra Nghị Quyết số 07/CP về phát
triển nền công nghiệp phần mềm của Việt Nam thành một ngành kinh tế mũi nhọn của
đất nước.
2.2.6. Vòng đời phát triển của phần mềm
Mỗi phần mềm từ khi ra đời và phát triển đều trải qua 1 chu kỳ trong công nghệ
phần mềm gọi là vòng đời phát triển phần mềm.
Mục đích của việc nghiên cứu vòng đời phát triển của phần mềm là phần ra thành giai
đoạn trên cơ sở đó tìm hiểu giải pháp và công cụ thích hợp để tác động vào các giai
đoạn. Vòng đời phát triển của một phần mềm được biểu diễn bằng mô hình thác nước

theo hình vẽ sau đây:

Bảo trì
Công nghệ hệ thống
Thiết kế
Phân tích
Mã hóa
Kiểm thử
Hình 2.1. Mô hình thác nước
Ý nghĩa của mô hình này là: các bậc ở phía bên trên sẽ tác động bao trùm đến tất cả
các thứ bậc ở phía dưới và càng ở những thứ bậc cuối thác nước ngày càng phải chịu
những thứ bậc ở bên trên. Chúng ta lần lượt xtác giả xét nộ dung chính của các công
đoạn.

19


-

-

-

-

-

Công nghệ hệ thống: Đây là phương pháp luận tổng quát phân tích và sản xuất một
phần mềm với yêu cầu và đánh giá một cách toàn diện tất cả các tác động và ảnh
hưởng của phần mềm và công nghệ hệ thống hiện diện ở mọi công đoạn tiếp sau.

Phân tích: Mục đích của công đoạn phân tích là xác định rõ mục tiêu của phần mềm
những ràng buộc về thiết kế và công nghệ và định rõ miền áp dụng của phần mềm.

Yêu cầu về chức năng – hệ thống được thiết kế để làm gi? Khuôn dạng
các định nghĩa này phụ thuộc vào phương pháp luận sử dụng trong giai đoạn
phân tích.

Yêu cầu về cấu hình – các thiết bị cuối, các thông điệp, thời gian trả lời
của mạng, dung lượng vào/ra, yêu cầu do thời gian xử lý.

Yêu cầu về giao diện – dữ liệu trao đổi với các ứng dụng và đơn vị khác
là gi? Định nghĩa này bao gồm cả tính thời gian, phương tiện và khuân dạng của
dữ liệu trao đổi.

Yêu cầu về thiết kế - Các ví dụ về yêu cầu thiết kế bao gồm công tác lưu
trữ dữ liệu, phần cứng, các điều kiện trắc nghiệm, các yêu cầu chuyển đổi, các
yêu cầu tương tác người – máy.

Các chuẩn xây dựng phần mềm – Dạng cấu trúc, tính thời gian, nội dung
cơ bản của tài liệu cần đưa ra trong quá trình xây dựng phần mềm.
Thiết kế: Đây là công đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng trong công nghệ phần
mềm vì mục đích của nó là đưa ra một hồ sơ thiết kế phần mềm hoàn chỉnh làm cơ
sở để lập trình.
Mã hóa: Khái niệm mã hóa trong công nghệ phần mềm khác với khái niệm mã hóa
thông thường. Mã hóa trong công nghệ phần mềm được hiểu là quá trình dich từ
bản vẽ thiết kế thành ngôn ngữ lập trình cụ thể. Cũng như trong xây dựng quy trình
thiết kế tương ứng với quá trình thiết kế một công trình xây dựng còn lập trình
chính là quá trình thi công.
Kiểm thử: Đây là công đoạn tiến hành kiểm tra toàn bộ phần mềm (test) trong đó
tiến hành kiểm tra hệ thống, kiểm tra các thủ tục của phần mềm.

Bảo trì: Đây là công đoạn thực hiện sau khi phần mềm đã được đưa vào sử dụng và
được tiến hành theo ba hình thức:
• Bảo trì sửa đổi.
• Bảo trì thích nghi.
• Bảo trì hoàn thiện.

2.2.7. Làm bản mẫu phần mềm
Đây lầ một công đoạn rất đặc trưng khi sản xuất phần mềm ở quy mô công nghiệp.
Cũng tương tự như trong sản xuất của một ngành công nghiệp nào đó, trước khi đưa
sản phẩm vào sản xuất hàng loạt thì phải tiến hành thử nghiệm làm thử một số sản
phẩm để đưa ra thăm dò ý kiến của khách hàng nếu khách hàng đồng ý thì mới tiến
hành sản xuất hàng loạt.

20


Bản mẫu phần mềm được hiểu là một mô hình của phần mềm tương lai mang những
đặc trưng cơ bản nhất nhưng chưa phải là phần mềm hoàn toàn đã hoàn thiện.
Trong quy trình làm phần mềm nhất thiết phải làm bản mẫu vì :
-

Khi khách hàng đến công ty đặt hàng người ta chỉ bày tỏ nguyện vọng sản phẩm
phần mềm mới được thiết kế.
Các kỹ sư phần mềm ngay từ đầu khi nhận đơn đặt hàng thì cũng không hình dung
hết các chức năng chi tiết của phần mềm.

Quy trình làm bản mẫu phần mềm đòi hỏi những cán bộ có chuyên môn cao không
chỉ thuần túy về mặt tin học. Vì mục đích của công đoạn làm bản mẫu chưa hẳn là chất
lượng của phần mềm mà còn là khả năng thu hút khách hàng để sản xuất phần mềm.
Sau khi có bản mẫu phần mềm, khách hàng sẽ xtác giả xét đánh giá và nếu bản mẫu đã

được chấp nhận thì phần mềm sẽ được đưa vào sản xuất.
Quy trình làm bản mẫu phần mềm gồm các bước như sau:
Bản mẫu phần mềm
Yêu cầu của khách hàng
Làm mịn bản mẫu
Khách hàng đánh giá bản mẫu
Làm bản mẫu
Thiết kế nhanh
Bắt đầu
Kết thúc
Hình 2.2. Mô hình minh họa các bước làm bản mẫu phần mềm
-

-

Bước 1: Xác định yêu cầu của khách hàng. Trong bước này đại diện của công ty
phần mềm gặp gỡ khách hàng để xác định các yêu cầu của họ về phần mềm. Thông
thường khách hàng chỉ bày tỏ nguyện vọng là chính, bản thân cán bộ công ty phần
mềm phải lượng hóa và mô hình hóa các nguyện vọng đó
Bước 2: Thiết kế nhanh. Mục đích của bước này ở dạng phác thảo chỉ bao gồm 1
vài đặc trưng cơ bản của phần mềm.
Bước 3: Làm bản mẫu. Nhằm mục đích công ty phần mềm cho ra đời nhanh 1 bản
mẫu dạng phác thảo chỉ gồm 1 vài đặc trưng cơ bản của phần mềm.
Bước 4: Khách hàng đánh giá bản mẫu.
21


-

Bước 5: Làm mịn bản mẫu, hay là chi tiết hóa các chức năng phần mềm.

Bước 6: Kết thúc ta được 1 sản phẩm chưa được thương mại hóa thị trường mà là
bản mẫu phần mềm.

Quy trình này có vai trò đặc biệt quan trọng, là yếu tố quyết định xtác giả khách
hàng có ký hợp đồng phần mềm hay không. Ngoài ra cán bộ làm phần bản mẫu ngoài
kiến thức chuyên môn phải có kiến thức tổng hợp về tình hình kinh tế xã hội.
2.2.8. phương pháp thiết kế phần mềm
* thiết kế phần mềm theo phương pháp cấu trúc TOP – DOWN:
Đây là phương pháp truyền thống, module hóa vấn đề. Xác định yêu cầu chức
năng khái quát, sau đó phần chia ra các chức năng nhỏ hơn, từng cấp một cho đến mức
có thể bắt tay viết chương trình bằng một ngôn ngữ lập trình cụ thể nào đó .
Phương pháp này đã được tập đoàn IBM cụ thể hóa thành phương pháp với các mức
phân cấp như sau:
Cấp 1: Công việc là các xử lý có cùng một sự kiện khởi sinh ngoài.
Cấp 2: Tiến trình là các xử lý thuộc cùng một công việc và thuộc cùng một chức năng
nghiệp vụ.
Cấp 3: Pha là các xử lý thuộc cùng một tiến trình và thuộc cùng một yếu tố tổ chức vật
lý như nơi xử lý, thời điểm xử lý, cách thức xử lý,…
Cấp 4: Module xử lý là các xử lý thuộc cùng một pha xử lý nhưng được nhóm vào
chức năng xử lý cập nhật hoặc chức năng tra cứu hoặc chức năng thao tác với dữ liệu.
Cấp 5: Module lập trình là xử lý thuộc cùng một module xử lý có cùng một yếu tố kỹ
thuật như sử dụng với một ngôn ngữ phát triển cụ thể, với một loại phần cứng cụ thể,
đủ nhỏ để dùng trong nhiều module xử lý khác,…
Sau khi phân rã xong thiết kế viên cần phải vẽ sơ đồ liên kết module xử lý để xtác giả
toàn cảnh cũn như vai trò, vị trí của mỗi chức năng trong toàn bộ hệ thống phần mềm.
* Thiết kế phần mềm theo phương pháp cấu trúc BOTOM – UP:
Trong thực tế nhiều khi thiết kế phần mềm đi theo con đường ngược lại từ dưới lên
trên, tứ là thiết kế các phần mềm nhỏ cho các chức năng xử lý nhỏ rồi tích hợp dần
thành hệ thống bao quát toàn bộ các hoạt động của tổ chức. Phương pháp này phù hợp
với những công ty lớn, đã tin học hóa từng phần mà lại không có kinh phí đủ để phát

triển một lần.
2.2.9. Các phương pháp khảo sát yêu cầu của đề tài
- Quan sát: phương pháp này thu thập thông tin bằng cách quan sát con người thuộc

đối tượng nghiên cứu, hành động của họ, và hoàn cảnh có liên quan. Phương pháp
quan sát có thể được sử dụng để có được thông tin khi mọi người thường không thể
hoặc không sẵn lòng cung cấp. Trong một số trường hợp, đây là phương pháp duy
nhất có được thông tin cần thiết.

22


Thực nghiệm: là phương pháp tiến hành chọn các nhóm đối tượng nghiên cứu thích
hợp, tạo ra đối với nhóm đó các nhân tố điều kiện khác nhau, kiểm soát các yếu tố
có liên quan sau đó, đo lường sự khác biệt trong phản ứng của các nhóm với các
điều kiện khác nhau đã đưa ra. Mục tiêu của nghiên cứu là khám phá mối quan hệ
nhân quả bằng cách thay đổi các biến điều kiện để theo dõi các kết quả xảy ra.
- Điều tra: phương pháp này rất tiện lợi cho việc nghiên cứu mô tả. Điều tra là
phương pháp thu thập thông tin sơ cấp bằng cách đặt câu hỏi để hỏi mọi người về
sự am hiểu, thái độ, sở thích và hành vi của họ.
Trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp thu thập thông tin chủ yếu là quan
sát kết hợp với nghiên cứu tài liệu.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu giúp ta nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng, tỉ mỉ về cơ cấu
tổ chức, nhiệm vụ chức năng của công ty.
Phương pháp quan sát tạo điều kiện cho ta tìm hiểu sâu để thấy được sự hoạt động thực
tế của hệ thống từ đó có sự nhận xét đúng đắn về vấn đề quan tâm và xây dựng hệ
thống một cách chính xác, hoàn thiện nhất.
-

CHƯƠNG III. XÂY DỰNG PHẦN MỀM QUẢN LÝ KHO CHO CÔNG TY CỔ

PHẦN XÂY DỰNG VÀ XUẤT NHẬP KHẨU AN HỒNG
3.1. Phân tích hệ thống quản lý kho
Quá trình xây dựng một phần mềm hay là một hệ thống thông tin luôn đòi hỏi công
tác khảo sát hệ thống, nó quyết định tính chính xác sau đó đồng thời nó cũng quyết
định phần mềm hay hệ thống thông tin đáp ứng được nhu cầu thực tế hay không.
3.1.1. Khảo sát hệ thống quản lý kho
3.1.1.1. Mô tả bài toán
Bài toán quản lý kho tại Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu An Hồng
như sau:
23


-

-

Các phân xưởng sản xuất lên kế hoạch yêu cầu cung cấp vật tư, lập phiếu yêu cầu
cung cấp vật tư gồm danh sách và số lượng vật tư cần cung cấp.
Nếu số lượng vật tư còn đủ trong kho thì phòng vật tư sẽ cho tiến hành xuất cho sản
xuất. Nếu không đủ phòng vật tư sẽ làm phiếu yêu cầu mua vật tư.
Phiếu yêu cầu được trình giám đốc phê duyệt sau đó được gửi sang phòng kinh
doanh. Phòng kinh doanh sẽ chịu trách nhiệm tìm hiểu thông tin về vật tư đó: giá
cả, chất lượng, nơi sản xuất, thời gian giao hàng,… sau đó lập báo cáo.
Báo cáo được trình lên giám đốc, nếu được duyệt, phòng kế toán cấp tạm ứng và
tiến hành mua vật tư.
Vật tư mua về được phòng vật tư kiểm tra chất lượng, nếu không đảm bảo chất
lượng thì liên hệ với nhà cung cấp. Nếu không đủ số lượng thì yêu cầu cấp thêm.
Vật tư đủ yêu cầu sẽ được lưu vào kho để phục vụ cho sản xuất.
Dựa vào định mức sản xuất phòng vật tư sẽ cấp dần vật tư cho các phân xưởng sản
xuất theo tiến độ sản xuất.


3.1.1.2. Các nghiệp vụ quản lý kho
a. Nghiệp vụ nhập kho vật tư
Khi có yêu cầu mua vật tư, Đội kho sẽ đặt mua vật tư, vật tư mua về sẽ được bộ
phận giao hàng của nhà cung cấp đtác giả đến kho cùng với hóa đơn bán hàng, giấy
báo nhận hàng cùng với một số chứng từ khác. Vật tư trước khi nhập kho sẽ được kiểm
tra chất lượng cũng như số lượng vật tư. Sau khi nhập kho sẽ được kiểm tra chất lượng
cũng như số lượng vật tư. Sau khi nhập kho người quản lý kho sẽ viết phiếu nhập kho,
phiếu nhập kho được gửi lên phòng kinh doanh, phòng kế toán và lưu kho. Những vật
tư không đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng sẽ được gửi lại bộ phận giao hàng.
Cuối tháng thủ kho sẽ lên báo cáo nhập vật liệu.
b. Nghiệp vụ xuất kho vật tư
Khi có yêu cầu bán vật tư, Đội kho nhận đơn đặt hàng và kiểm tra số lượng vật tư
có trong kho rồi gửi hóa đơn cho khách hàng. Sau khi nhận được phiếu thanh toán từ
khách hàng, người quản lý viết phiếu xuất kho, phiếu này gồm có 3 liên : 1 gửi lên
phòng kế toán, 1 do kho giữ, 1 đưa cho khách hàng. Khách hàng kiểm tra số lượng,
chất lượng vật tư, sau đó ghi xác nhận giao hàng.Cuối tháng thủ kho sẽ lên báo cáo về
số lượng xuất trong tháng. Mỗi một sản phẩm đều có định mức vật tư nhất định nếu bộ
phận sản xuất dùng vượt quá giới hạn quy định của vật tư nào thì sẽ phải làm báo cáo
giải trình lên phòng vật tư.
c. Nghiệp vụ quản lý tồn kho
Hàng ngày khi có vật tư xuất nhập, thủ kho đều lên thẻ kho và tính toán số lượng
tồn đầu, tồn cuối của vật tư đó. Việc tính toán này do máy tính tự động tính khi có sự
cập nhật dữ liệu về phiếu nhập hay phiếu xuất, giúp cho quá trình theo dõi tồn kho diễn
ra liên tục và kịp thời đáp ứng nhu cầu sản xuất theo kế hoạch sản xuất. Cuối tháng
phòng kế toán lên báo cáo tồn kho và báo cáo tổng hợp nhập xuất tồn kho.

24



3.1.2. mô hình hóa quản lý kho
3.1.2.1. Sơ đồ chức năng nghiệp vụ (BFD) của chương trình quản lý kho vật tư

Quản lý kho gỗ công ty An Hồng
Xếp hàng vào kho
Xác nhận nhập hàng
Lưu phiếu nhập kho
Nhận hóa đơn bán hàng
Quản lý hàng nhập
Kiểm tra hàng nhập
Viết phiếu nhập kho
Lập báo cáo
Tính toán các chỉ tiêu
Nhận yêu cầu
Quản lý hàng xuất
Giao hàng
Gửi phiếu xuất kho đến Khách hàng
Lưu phiếu xuất kho
Viết phiếu xuất kho
Nhận đơn đặt hàng và hóa đơn
Quản lý tồn kho
Theo dõi lượng tồn
Cập nhật tồn kho

25


×