ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––––––
HOÀNG VĂN VỊNH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI MỚI
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2013
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––––––
HOÀNG VĂN VỊNH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI MỚI
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHAN THỊ VÂN
THÁI NGUYÊN - 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả công bố trong luận văn là hoàn
toàn trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các
thông tin trích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc.
Ngày 10 tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Vịnh
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn, tôi luôn
nhận được sự quan tâm giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn, các tổ chức và cá
nhân. Nhân dịp này tôi xin trân thành bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới:
Cô giáo hướng dẫn: TS. Phan Thị Vân - Khoa Nông học, Trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên, đã tận tình giúp tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân thành cảm ơn sự quan tâm của Ban giám hiệu Trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa nông
học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập.
Trân trọng cảm ơn Tỉnh Ủy Hà Giang, Huyện Ủy Yên Minh và các cơ
quan đoàn thể đã tạo điều kiện cho tôi cơ hội học tập để nâng cao trình độ
chuyên môn.
Cảm ơn các em sinh viên K41, K42 Khoa Nông học- Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên đã hợp tác cùng tôi thu thập các số liệu của đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và đồng nghiệp.
Cảm ơn gia đình đã là điểm tựa về tinh thần và vật chất cho tôi trong
suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn!
Ngày 10 tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Vịnh
iii
MỤC LỤC
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1
2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU....................................................
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
5
1.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NGÔ TRÊN THẾ GIỚI
6
1.5.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG NGÔ TRÊN THẾ GIỚI
16
CÁC NHÀ KHOA HỌC ƯỚC TÍNH 30 ĐẾN 50% MỨC TĂNG NĂNG SUẤT HẠT CỦA CÁC CÂY LƯƠNG THỰC TRÊN THẾ GIỚI LÀ NHỜ
VIỆC ĐƯA VÀO SẢN XUẤT NHỮNG GIỐNG TỐT. PHAN HUY THÔNG (2007) [29] CHO RẰNG GIỐNG ĐÃ ĐÓNG GÓP CHO
SỰ TĂNG SẢN LƯỢNG CÂY TRỒNG LÊN 43,68% TRONG KHI ĐÓ YẾU TỐ PHÂN BÓN HÓA HỌC - THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
VÀ YẾU TỐ THỦY LỢI ĐÓNG GÓP VỚI CÁC TỶ LỆ TƯƠNG ỨNG LÀ 32,57% VÀ 31,97%.
30
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....................................
2.1. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
38
2.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
38
GHI CHÚ:
40
1. KK11-1 6. KK11-8
40
2. KK11-3 7. KK11-9
40
3. KK11-4 8. KK11-11
40
4.KK11 -5 9. NK4300 (ĐỐI CHỨNG)
40
5. KK11-6
40
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN...........................................
3.1. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống thí
nghiệm vụ Đông 2012 và Xuân 2013....................................................
3.1.1. Thời gian sinh trưởng và các giai đoạn phát dục của các
giống thí nghiệm.....................................................................................
Công trình nghiên cứu của Steves W.Ritchie và Jonh J.Hanway
(1989), đã chia quá trình sinh trình sinh trưởng, phát triển của
cây ngô trên đồng ruộng làm hai giai đoạn. Cách phân chia
này giúp các nhà khoa học cũng như người sản xuất nhận biết
một cách chính xác các giai đoạn sinh trưởng của cây ngô trên
iv
đồng ruộng để tác động các biện pháp kỹ thuật một cách hợp
lý nhất (Ngô Hữu Tình, 1997) [30]........................................................
Vận dụng cách phân chia ở trên chúng tôi đã theo dõi các giai đoạn
sinh trưởng và phát triển của các giống ngô thí nghiệm. Kết
quả được trình bày ở bảng 3.1..............................................................
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CD bắp
:
Chiều dài bắp
CIMMYT
:
Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mỳ Thế Giới
:
Hệ số biến động
CV %
Đ/c
:
Đối chứng
ĐK bắp
:
Đường kính bắp
FAO
:
Tổ chức Lương thực Nông nghiệp liên hiệp quốc
H/B
:
Hàng/bắp
H/H
:
Hạt/hàng
LSD05
:
Sự sai khác nhỏ nhất ở mức 0,05
M1000 hạt
:
Khối lượng nghìn hạt
NSLT
:
Năng suất lý thuyết
NSTT
:
Năng suất thực thu
TPTD
:
Thụ phấn tự do
UTL
:
Ưu thế lai
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1
2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU....................................................
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU....................................................
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
5
1.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NGÔ TRÊN THẾ GIỚI
6
1.5.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG NGÔ TRÊN THẾ GIỚI
16
CÁC NHÀ KHOA HỌC ƯỚC TÍNH 30 ĐẾN 50% MỨC TĂNG NĂNG SUẤT HẠT CỦA CÁC CÂY LƯƠNG THỰC TRÊN THẾ GIỚI LÀ NHỜ
VIỆC ĐƯA VÀO SẢN XUẤT NHỮNG GIỐNG TỐT. PHAN HUY THÔNG (2007) [29] CHO RẰNG GIỐNG ĐÃ ĐÓNG GÓP CHO
SỰ TĂNG SẢN LƯỢNG CÂY TRỒNG LÊN 43,68% TRONG KHI ĐÓ YẾU TỐ PHÂN BÓN HÓA HỌC - THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
VÀ YẾU TỐ THỦY LỢI ĐÓNG GÓP VỚI CÁC TỶ LỆ TƯƠNG ỨNG LÀ 32,57% VÀ 31,97%.
30
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....................................
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....................................
2.1. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
38
2.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
38
GHI CHÚ:
40
1. KK11-1 6. KK11-8
40
2. KK11-3 7. KK11-9
40
3. KK11-4 8. KK11-11
40
4.KK11 -5 9. NK4300 (ĐỐI CHỨNG)
40
5. KK11-6
40
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN...........................................
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN...........................................
3.1. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống thí
nghiệm vụ Đông 2012 và Xuân 2013....................................................
3.1. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống thí
nghiệm vụ Đông 2012 và Xuân 2013....................................................
3.1.1. Thời gian sinh trưởng và các giai đoạn phát dục của các
giống thí nghiệm.....................................................................................
vii
3.1.1. Thời gian sinh trưởng và các giai đoạn phát dục của các
giống thí nghiệm.....................................................................................
Công trình nghiên cứu của Steves W.Ritchie và Jonh J.Hanway
(1989), đã chia quá trình sinh trình sinh trưởng, phát triển của
cây ngô trên đồng ruộng làm hai giai đoạn. Cách phân chia
này giúp các nhà khoa học cũng như người sản xuất nhận biết
một cách chính xác các giai đoạn sinh trưởng của cây ngô trên
đồng ruộng để tác động các biện pháp kỹ thuật một cách hợp
lý nhất (Ngô Hữu Tình, 1997) [30]........................................................
Công trình nghiên cứu của Steves W.Ritchie và Jonh J.Hanway
(1989), đã chia quá trình sinh trình sinh trưởng, phát triển của
cây ngô trên đồng ruộng làm hai giai đoạn. Cách phân chia
này giúp các nhà khoa học cũng như người sản xuất nhận biết
một cách chính xác các giai đoạn sinh trưởng của cây ngô trên
đồng ruộng để tác động các biện pháp kỹ thuật một cách hợp
lý nhất (Ngô Hữu Tình, 1997) [30]........................................................
Vận dụng cách phân chia ở trên chúng tôi đã theo dõi các giai đoạn
sinh trưởng và phát triển của các giống ngô thí nghiệm. Kết
quả được trình bày ở bảng 3.1..............................................................
Vận dụng cách phân chia ở trên chúng tôi đã theo dõi các giai đoạn
sinh trưởng và phát triển của các giống ngô thí nghiệm. Kết
quả được trình bày ở bảng 3.1..............................................................
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1
2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU....................................................
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU....................................................
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
5
1.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NGÔ TRÊN THẾ GIỚI
6
1.5.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG NGÔ TRÊN THẾ GIỚI
16
CÁC NHÀ KHOA HỌC ƯỚC TÍNH 30 ĐẾN 50% MỨC TĂNG NĂNG SUẤT HẠT CỦA CÁC CÂY LƯƠNG THỰC TRÊN THẾ GIỚI LÀ NHỜ
VIỆC ĐƯA VÀO SẢN XUẤT NHỮNG GIỐNG TỐT. PHAN HUY THÔNG (2007) [29] CHO RẰNG GIỐNG ĐÃ ĐÓNG GÓP CHO
SỰ TĂNG SẢN LƯỢNG CÂY TRỒNG LÊN 43,68% TRONG KHI ĐÓ YẾU TỐ PHÂN BÓN HÓA HỌC - THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
VÀ YẾU TỐ THỦY LỢI ĐÓNG GÓP VỚI CÁC TỶ LỆ TƯƠNG ỨNG LÀ 32,57% VÀ 31,97%.
30
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....................................
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....................................
2.1. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
38
2.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
38
GHI CHÚ:
40
1. KK11-1 6. KK11-8
40
2. KK11-3 7. KK11-9
40
3. KK11-4 8. KK11-11
40
4.KK11 -5 9. NK4300 (ĐỐI CHỨNG)
40
5. KK11-6
40
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN...........................................
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN...........................................
3.1. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống thí
nghiệm vụ Đông 2012 và Xuân 2013....................................................
3.1. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống thí
nghiệm vụ Đông 2012 và Xuân 2013....................................................
3.1.1. Thời gian sinh trưởng và các giai đoạn phát dục của các
giống thí nghiệm.....................................................................................
ix
3.1.1. Thời gian sinh trưởng và các giai đoạn phát dục của các
giống thí nghiệm.....................................................................................
Công trình nghiên cứu của Steves W.Ritchie và Jonh J.Hanway
(1989), đã chia quá trình sinh trình sinh trưởng, phát triển của
cây ngô trên đồng ruộng làm hai giai đoạn. Cách phân chia
này giúp các nhà khoa học cũng như người sản xuất nhận biết
một cách chính xác các giai đoạn sinh trưởng của cây ngô trên
đồng ruộng để tác động các biện pháp kỹ thuật một cách hợp
lý nhất (Ngô Hữu Tình, 1997) [30]........................................................
Công trình nghiên cứu của Steves W.Ritchie và Jonh J.Hanway
(1989), đã chia quá trình sinh trình sinh trưởng, phát triển của
cây ngô trên đồng ruộng làm hai giai đoạn. Cách phân chia
này giúp các nhà khoa học cũng như người sản xuất nhận biết
một cách chính xác các giai đoạn sinh trưởng của cây ngô trên
đồng ruộng để tác động các biện pháp kỹ thuật một cách hợp
lý nhất (Ngô Hữu Tình, 1997) [30]........................................................
Vận dụng cách phân chia ở trên chúng tôi đã theo dõi các giai đoạn
sinh trưởng và phát triển của các giống ngô thí nghiệm. Kết
quả được trình bày ở bảng 3.1..............................................................
Vận dụng cách phân chia ở trên chúng tôi đã theo dõi các giai đoạn
sinh trưởng và phát triển của các giống ngô thí nghiệm. Kết
quả được trình bày ở bảng 3.1..............................................................
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây ngô (Zea mays L.) là một trong ba cây lương thực quan trọng trong
nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Mặc dù chỉ có 17% tổng sản
lượng ngô được sử dụng làm lương thực, nhưng cây ngô đã góp phần nuôi
sống 1/3 dân số toàn cầu. Các nước như: Ấn Độ, Philippin, Mêxico và một số
nước ở Châu Phi đã dùng ngô làm lương thực chính, có tới 90% sản lượng
ngô của Ấn Độ, 66% của Philippin dùng làm lương thực cho con người
(Dương Văn Sơn và cs, 1997)[26].
Ở nước ta nhiều vùng như Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên đã dùng ngô
làm lương thực chính, từ ngô có thể chế biến thành bột ngô, bánh ngô, xôi
ngô, mèn mén (một món ăn phổ biến của đồng bào Mông)...
Ngoài việc cung cấp lương thực, ngô là nguồn thức ăn chủ lực cho chăn
nuôi, gần 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp của gia súc là ngô (Ngô Hữu
Tình, 2003)[34]. Ngô là thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc đặc
biệt là bò sữa. Tại các nước phát triển, tỉ lệ ngô làm thức ăn cho chăn nuôi
chiếm trên 70%.
Ngô còn là nguồn nguyên liệu để sản xuất tinh bột, cồn, bánh kẹo… có
thể sản xuất khoảng 670 mặt hàng từ ngô để phục vụ các ngành kinh tế khác
nhau. Ở Mỹ, 18% tổng sản lượng ngô dùng để sản xuất tinh bột, 37% sản xuất
cồn và 5,8% sản xuất bánh kẹo (Nguyễn Thế Hùng, 2006) [16]. Từ ngô có thể
chế biến Ethanol một nguồn nhiên liệu sinh học thay thế các nguồn nhiên liệu
tự nhiên như: Dầu mỏ, than đá đang dần bị cạn kiệt. Sử dụng Ethanol làm
giảm ô nhiễm môi trường vì có lượng khí thải CO 2 thấp hơn gần một nửa so
với xăng.
Chính nhờ vai trò quan trọng của cây ngô trong nền kinh tế thế giới
và với những đặc điểm nông sinh học quý như: tính thích ứng rộng, chống
2
chịu tốt với điều kiện bất thuận và sâu bệnh hại, tiềm năng năng suất cao
nên cây ngô đã nhanh chóng được gieo trồng rộng rãi, phổ biến trên các
vùng lãnh thổ.
Trong gần 50 năm qua, ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng
suất cao nhất trong các cây lương thực. Năm 1980, diện tích trồng ngô chỉ
khoảng 121,6 triệu ha với tổng sản lượng là 376,9 triệu tấn nhưng đến năm
2012, diện tích ngô tăng lên đáng kể đạt 177,0 triệu ha, năng suất 49,44 tạ/ha
và sản lượng đạt 875,1 triệu tấn (FAO, 2013)[50].
Vào cuối thế kỷ XX, cuộc cách mạng về ngô lai đã tạo nên các thành
tựu kỳ diệu ở các châu lục, đặc biệt là các nước phát triển như Mỹ, Pháp,
Italia... Đi đôi với việc áp dụng ưu thế lai trong quá trình chọn tạo giống,
những tiến bộ về kỹ thuật canh tác tiên tiến như cơ giới hoá, thủy lợi hóa, bảo
vệ thực vật ... cũng được áp dụng kịp thời để khai thác tối đa ưu thế của giống
ngô lai. Ngô lai đã được coi là một trong những thành tựu có ý nghĩa nhất
trong việc phát triển nông nghiệp thế giới của thế kỷ XX.
Ở Việt Nam, ngô là cây trồng mới được nhập nội khoảng trên 300 năm
nhưng diện tích trồng ngô đã tăng lên nhanh chóng. Từ những nhận thức về
vai trò của cây ngô trong nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính
sách và phương hướng đúng đắn cho công tác nghiên cứu khoa học, tiếp thu
những thành tựu của thế giới với mục đích duy trì diện tích, đột phá về năng
suất và tăng nhanh sản lượng. Chính vì vây, sản xuất ngô ở Việt Nam có sự
tiến bộ đáng kể. Năm 2012, diện tích ngô của cả nước là 1.118,2 nghìn ha,
trong đó diện tích ngô lai đã chiếm khoảng 95%. Sản lượng ngô năm 2012 đạt
4.803.200 tấn, năng suất 49,95 tạ/ha (FAO, 2013)[50]. So với năm 1990 khi
chưa trồng ngô lai thì sản lượng tăng gấp 7,2 lần, năng suất hơn 3,2 lần. Mặc
dù vậy năng suất ngô nước ta vẫn còn thấp, năm 2012 năng suất ngô của Việt
Nam chỉ bằng 83,9% năng suất ngô bình quân của Trung Quốc, bằng 65,3%
năng suất trung bình của Mỹ.
3
Một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất ngô nước ta còn thấp
là do ngô được trồng chủ yếu ở các vùng khó khăn. Các tỉnh miền núi diện
tích ngô tương đối lớn chiếm khoảng 41,6% diện tích ngô của cả nước, nhưng
lại gặp điều kiện bất thuận của yếu tố ngoại cảnh như khí hậu, thời tiết khắc
nghiệt, hạn hán, rét kéo dài, không có hệ thống thủy lợi, còn sử dụng các
giống cũ, lẫn tạp, thoái hoá…
Hiện nay, nhu cầu sử dụng ngô ở nước ta ngày càng tăng do ngành
chăn nuôi phát triển. Theo Cục Chăn nuôi, năm 2011 nước ta nhập khẩu xấp
xỉ 8,9 triệu tấn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, tăng 3 lần so với năm 2006.
Trong đó, nhóm thức ăn giàu năng lượng như ngô, lúa mỳ, cám mỳ là 3,86
triệu tấn (chiếm khoảng 43%); thức ăn giàu đạm như đỗ tương, khô dầu các
loại, bột cá, bột thịt xương... chiếm gần 5 triệu tấn (khoảng 54%); thức ăn bổ
sung khoảng 0,2 triệu tấn (chiếm 3%). Riêng 8 tháng đầu năm 2012 cả nước
đã nhập 1,1 triệu tấn ngô và 1,8 triệu tấn lúa mỳ (Cục Chăn nuôi, 2013) [5].
Vì vậy, để sản xuất ngô của Việt Nam theo kịp các nước trong khu vực
và đáp ứng đủ nhu cầu ngô tiêu dùng trong nước cần phát triển sản xuất ngô
theo 2 hướng: mở rộng diện tích và tăng năng suất. Tuy nhiên mở rộng diện
tích trồng ngô là bài toán rất khó khăn do diện tích sản xuất nông nghiệp hạn
chế và phải cạnh tranh với nhiều loại cây trồng khác, cho nên tăng năng suất
là phương án tối ưu để tăng sản lượng. Trong giải pháp tăng năng suất thì
giống được coi là hướng đột phá có ý nghĩa quyết định để nâng cao sản lượng
và chất lượng nông sản. Giống tốt sẽ cho sản lượng cao hơn giống bình
thường từ 20 - 25% ((Ngô Hữu Tình, 2003)[34].
Hiện nay cơ cấu giống ngô sử dụng trong sản xuất ở tỉnh Thái Nguyên
cũng như các vùng trồng ngô còn rất hạn chế, đặc biệt là các giống ngô lai
Việt Nam, mặc dù những giống nội có ưu thế hơn giống nhập ngoại là có khả
năng chống chịu tốt hơn với điều kiện ngoại cảnh bất thuận.
4
Chính vì vậy, để bổ sung các giống ngô lai mới, năng suất cao, chống
chịu tốt cho sản xuất ngô của tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi đã tiến hành nghiên
cứu đề tài: "Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số
giống ngô lai mới tại tỉnh Thái Nguyên".
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Xác định được giống có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt, thích
nghi với điều kiện sinh thái tại Thái Nguyên.
2.2. Yêu cầu
- Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống ngô lai
trong điều kiện Vụ Đông 2012 và Xuân 2013 tại Thái Nguyên.
- Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh lý của các giống thí nghiệm.
- Nghiên cứu một số đặc tính chống chịu của các giống ngô lai thí
nghiệm (chống chịu sâu bệnh, chống đổ gãy…).
- Xác định các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống
ngô lai tham gia thí nghiệm.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Thái Nguyên là tỉnh đại diện cho vùng Trung du và miền núi phía
Bắc, vì vậy kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học xác định được
giống ngô phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh
Trung du và miền núi phía Bắc.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là những luận cứ quan trọng cho các
nghiên cứu về sinh trưởng, phát triển và khả năng chống chịu ở cây ngô.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài góp phần làm phong phú cơ cấu giống trong sản xuất ngô của
tỉnh Thái Nguyên.
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Giống là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và hiệu quả kinh
tế trong sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, để phát triển sản xuất nông
nghiệp phải chú ý đến việc cải tạo giống. Đối với sản xuất ngô, muốn phát
triển theo hướng hàng hoá với sản lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu
cầu thị trường, cần phải có các biện pháp hữu hiệu như thay thế các giống ngô
cũ năng suất thấp bằng các giống ngô mới năng suất cao, chống chịu tốt. Đặc
biệt là ở các tỉnh miền núi sử dụng giống có khả năng chịu hạn, chịu rét tốt,
năng suất cao vừa phát huy hiệu quả kinh tế của giống vừa góp phần xóa đói
giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tạo ra nhiều giống ngô lai
năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với các vùng sinh thái. Các giống ngô
lai của Việt Nam có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận
tốt hơn và giá thành rẻ hơn so với các giống được sản xuất bởi các công ty
nước ngoài. Tuy nhiên, các giống mới trước khi đưa ra sản xuất, cần đánh giá
đầy đủ, khách quan khả năng thích nghi của giống với vùng sinh thái cũng
như khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu với những điều
kiện bất lợi khác.
Trong quá trình khảo nghiệm, so sánh giống sẽ loại được các giống có
những yếu điểm về các đặc tính nông sinh học như: Thời gian sinh trưởng quá
dài, cây quá cao, chống đổ kém và dễ nhiễm sâu bệnh … Chọn lựa theo kiểu
hình sẽ loại bỏ được những đặc tính không mong muốn, tuy nhiên để có kết
quả tin cậy phải thực hiện thí nghiệm ở nhiều thời vụ.
Các kết quả nghiên cứu về thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái,
khả năng chống chịu, năng suất .... của các giống thí nghiệm là cơ sở khoa
6
học lựa chọn giống phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh
Thái Nguyên.
1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô là cây trồng có khả năng thích nghi rộng nên phân bố khắp nơi
trên thế giới, trải rộng hơn 90 vĩ tuyến: từ dưới 40 0N (lục địa châu Úc, Nam
châu Phi, Chi Lê,…) lên gần đến 550B (bờ biển Ban Tích, trung lưu sông
Vônga,…), từ độ cao 1-2 mét đến gần 4.000m so với mặt nước biển (Nguyễn
Đức Lương và cs, 2000)[22].
Sản xuất ngô trên thế giới phát triển liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay,
nhờ ứng dụng rộng rãi công nghệ ưu thế lai, kỹ thuật nông học tiên tiến và
những thành tựu của các ngành khoa học khác như công nghệ sinh học, công
nghệ chế biến và bảo quản, cơ khí hoá, công nghệ tin học,…vào sản xuất.
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2001-2012
Năm
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(triệu ha)
(tạ/ha)
(triệu tấn)
137,49
44,77
615,48
137,29
44,06
604,92
144,67
44,60
645,23
147,47
49,48
729,21
147,53
48,37
713,62
148,96
48,09
706,84
158,31
49,90
789,93
162,87
50,98
830,26
158,84
51,63
820,15
163,82
51,87
849,79
171,78
51,55
885,29
177,00
49,44
875,10
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, 2013[50])
Số liệu thống kê của FAO (2013) [50] cho thấy giai đoạn 2001-2012
sản xuất ngô trên thế giới phát triển cả về diện tích, năng suất và sản lượng.
7
Năm 2001, diện tích trồng ngô trên thế giới là 137,49 triệu ha, năng suất đạt
44,77 tạ/ha, sản lượng 615,48 triệu tấn, nhưng đến năm 2012 diện tích đạt
177,0 triệu ha, sản lượng 875,1 triệu tấn. Trong vòng 11 năm, diện tích trồng
ngô trên thế giới tăng 28,74%, năng suất tăng 10,43% và sản lượng tăng
42,18%.
Kết quả trên có được trước hết là nhờ ứng dụng những thành tựu mới
trong chọn tạo giống đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật
canh tác. Hiện nay vị trí của cây ngô đã được khẳng định ở nhiều vùng, nhiều
quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, khí
hậu và kỹ thuật canh tác nên sản xuất ngô có sự khác biệt rất lớn giữa các
vùng, các châu lục.
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất ngô ở một số châu lục năm 2012
Khu vực
Châu Á
Châu Mỹ
Châu Âu
Châu Phi
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(triệu ha)
(tạ/ha)
(triệu tấn)
57,50
50,07
287,92
67,55
62,62
422,96
18,31
51,38
94,09
33,54
20,71
69,45
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, 2013 [50])
Trên thế giới, diện tích trồng ngô tập trung chủ yếu ở Châu Mỹ và
Châu Á, chiếm 70,65% diện tích trồng ngô của toàn thế giới. Châu Mỹ không
chỉ có diện tích trồng ngô lớn nhất mà còn có năng suất và sản lượng ngô cao
nhất thế giới: năm 2012 năng suất đạt 62,62 tạ/ha, cao hơn 26,66% so với
năng suất trung bình của thế giới, sản lượng đạt 422,96 triệu tấn, chiếm
48,33% sản lượng ngô toàn thế giới. Châu Âu và Châu Mỹ tập trung chủ yếu
là các nước phát triển, do có trình độ khoa học kỹ thuật cao, có khả năng đầu
tư thâm canh nên năng suất cao hơn năng suất trung bình của thế giới và cao
hơn các nước đang phát triển.
Châu Á là khu vực có diện tích ngô lớn thứ 2 sau châu Mỹ với 57,50
8
triệu ha (ít hơn Châu Mỹ 4,05 triệu ha), nhưng năng suất ngô ở khu vực này
thấp chỉ đạt 50,07 tạ/ha, chính vì vậy sản lượng ngô của Châu Á chỉ bằng
68,07% sản lượng ngô của Châu Mỹ.
Năng suất ngô thấp nhất thế giới là Châu Phi, năm 2012 đạt 20,71
tạ/ha, bằng 41,89% năng suất trung bình của thế giới và bằng 33,07% năng
suất trung bình của Châu Mỹ.
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất ngô của một số nước năm 2012
Nước
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(triệu ha)
(tạ/ha)
(triệu tấn)
Mỹ
35,36
77,44
273,83
Trung Quốc
34,97
59,56
208,26
Brazil
14,23
50,12
71,30
Ấn Độ
8,40
25,07
21,06
Mexicô
6,92
31,87
22,07
Peru
0,51
33,19
1,68
Hy Lạp
0,18
114,29
2,00
Pháp
1,72
90,85
15,61
Israel
0,03
255,56
0,85
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, năm 2013 [50])
Trên thế giới, Mỹ luôn được coi là cường quốc số một về sản xuất ngô.
Năm 2012, diện tích trồng ngô của Mỹ là 35,36 triệu ha, năng suất bình quân
đạt 77,44 tạ/ha và tổng sản lượng đạt 273,83 triệu tấn chiếm 31,29% sản
lượng ngô toàn thế giới. Theo Rinke.E (1979) [57] việc sử dụng các giống
ngô lai ở Mỹ bắt đầu từ năm 1930. Từ những năm 1990, 100% diện tích ngô
của Mỹ đã trồng các giống ngô lai trong đó hơn 90% là giống ngô lai đơn.
Nhiều thí nghiệm ở Mỹ về các giống ngô lai đơn đã cho năng suất đạt
25 tấn/ha/vụ. Người ta đã tính được mức độ tăng năng suất ngô ở Mỹ trong
giai đoạn 1930-1986 là 103 kg/ha/năm, trong đó sự đóng góp do cải tiến nền
di truyền là 63 kg/ha/năm. Vào cuối thế kỷ 19, Mỹ đã có 770 giống ngô cải
lương (Duvick D.N, 1990) [49].
9
Trong thời gian gần đây, phần lớn các nước phát triển năng suất ngô
tăng không đáng kể, nhưng năng suất ngô ở Mỹ vẫn gia tăng. Kết quả đó có
được là nhờ ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất. Ming Tang Chang
và cộng sự (2005) [55] cho biết: Ở Mỹ chỉ còn 48% giống ngô được sử dụng
được chọn tạo theo công nghệ truyền thống, 52% là bằng công nghệ sinh học.
Năm 2007, diện tích trồng ngô chuyển gen ở Mỹ đạt 27,4 triệu ha chiếm 73%
tổng diện tích ngô (Phan Xuân Hào, 2008)[15], vì vậy năng suất ngô ở Mỹ đã
tăng từ 1,5 tấn/ha (năm 1930) lên 7 tấn/ha (năm 1990) (SK.Vasal et al, 1990)
[58] và đạt 9,2 tấn/ha (năm 2011).
Tuy nhiên, so với năm 2009, năm 2012 năng suất ngô của Mỹ giảm
25,94 tạ/ha, do gặp nhiều bất thuận trong quá trình sản xuất, đặc biệt là hạn
hán. Sự biến đổi của khí hậu đã tác động không nhỏ đến sản xuất ngô của Mỹ
cũng như các nước trên toàn cầu. Ngân hàng Rabobank dự đoán nguồn cung
ngô tại Mỹ vẫn còn có thể gặp rủi ro do bị ảnh hưởng tiềm tàng của hình thái
thời tiết La Nina. Vì vậy, đòi hỏi các nhà khoa học nghiên cứu các biện pháp
cải tạo giống có khả năng chống chịu tốt để thích ứng với điều kiện sinh thái
biến đổi và cải tạo các kỹ thuật canh tác để đảm bảo canh tác ngô bền vững.
Ở Châu Á, Trung Quốc là nước đứng đầu trong sản xuất ngô. Diện tích
trồng ngô của Trung Quốc năm 2012 chỉ ít hơn Mỹ 0,39 triệu ha. Nhưng sản
lượng ngô của Trung Quốc chỉ bằng 76,05% sản lượng ngô của Mỹ do năng
suất ngô của Trung Quốc thấp, năng suất ngô của Trung Quốc đạt 59,56 tạ/ha,
bằng 76,91% năng suất ngô của Mỹ.
Nước luôn đạt năng suất ngô cao nhất trên thế giới là Israel (255,56
tạ/ha), tuy nhiên diện tích trồng ngô của Israel không đáng kể (0,03 triệu ha).
1.2.2. Tình hình tiêu thụ ngô trên thế giới
Ngô là cây trồng có vai trò quan trọng đối với tất cả các quốc gia trên
thế giới vì góp phần giải quyết nhu cầu lương thực cho hơn 6 tỷ người trên
10
hành tinh và là nguồn thức ăn chủ lực cho chăn nuôi. Chính vì vậy nhu cầu sử
dụng ngô ngày càng tăng. Theo báo cáo của Ủy ban ngũ cốc Quốc tế, năm
2010 lượng ngô tiêu thụ trên thị trường thế giới là 86 triệu tấn, năm 2011 là
93 triệu tấn, tăng 8,1% so với năm 2010. Sự gia tăng này một phần xuất phát
từ nhu cầu của các nhà sản xuất ethanol và si-rô ngô. Si-rô ngô có hàm lượng
fructose (HFCS) cao, đây là một loại chất làm ngọt có chứa hàm lượng calorie
lớn, được sử dụng trong các thực phẩm chế biến sẵn (Bloomberg, 2012) [2].
Hiện nay nhu cầu nhiên liệu sinh học ngày càng gia tăng ở các nước phát
triển, đặc biệt là ở Bắc Mỹ. Theo số liệu mới nhất của Liên minh nhiên liệu tái
tạo toàn cầu (GRFA), sản lượng ethanol thế giới năm 2010 tăng 17% và tăng
thêm 15% năm 2011. Theo USDA, năm 2002 - 2003, Mỹ đã dùng 25,2 triệu
tấn ngô để chế biến ethanol, năm 2005 - 2006 dùng 40,6 triệu tấn và năm 2012
dùng 190,5 triệu tấn. Cục Bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) cho biết doanh số bán
hàng của ethanol tại Mỹ năm 2010 là 13 tỷ gallon, năm 2011 tăng lên đạt 14 tỷ
gallon (tương đương với 54,3 tỷ lít) (Cục xúc tiến thương mại, 2013)[7].
Một yếu tố nữa tác động đến tiêu thụ ngô là do nhu cầu về thức ăn chăn
nuôi tại các nền kinh tế mới nổi tăng mạnh. Theo nghiên cứu của
Euromonitor, tổng doanh số mặt hàng thịt tươi sống của Trung Quốc dự kiến
tăng 3,5 triệu tấn. Theo dự báo của IGC, sản lượng ngô tồn kho niên vụ
2010/2011 giảm 22% so với cùng kỳ niên vụ trước do nhu cầu tiêu thụ tăng,
đặc biệt ở các nền kinh tế mới nổi ở Châu Á Thái Bình Dương.
Theo Morgan Stanley, nhu cầu thức ăn chăn nuôi trên toàn thế giới năm
2012 tăng 4% so với năm 2011, do nhu cầu tiêu dùng thịt tại các thị trường
mới nổi tăng. Điều này cho thấy thị trường ngô vẫn mang lại cơ hội tăng lợi
nhuận trong năm 2013.
Theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình lương thực Thế giới,
năm 2020 tổng nhu cầu ngô trên thế giới là 852 triệu tấn, trong đó 15% dùng
11
làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu
cho công nghiệp. Ở các nước phát triển chỉ có 5% sản lượng ngô được sử
dụng làm lương thực nhưng ở các nước đang phát triển tỉ lệ này là 22%. Năm
2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 1997. Nhu cầu ngô
ở các nước đang phát triển tăng rất cao (72%), do dân số tăng, nhu cầu sử
dụng các sản phẩm của chăn nuôi như: thịt, cá, trứng, sữa tăng mạnh, dẫn đến
đòi hỏi lượng ngô rất lớn dùng cho chăn nuôi. Thách thức lớn nhất là nhu cầu
ngô tăng lại tập trung ở các nước đang phát triển, chưa đủ khả năng cung ứng
nhu cầu trong khi đó chỉ khoảng 10% sản lượng ngô từ các nước công nghiệp
có thể xuất sang các nước đang phát triển (IRRI, 2003)[17].
Bảng 1.4. Dự báo nhu cầu ngô Thế giới đến năm 2020
Vùng
Năm 2007
Năm 2020
(triệu tấn)
(triệu tấn)
Thế giới
586
852
Các nước đang phát triển
295
508
Đông Á
136
252
Nam Á
14
19
Cận Sahara - Châu Phi
29
52
Mỹ Latinh
75
118
Tây và Bắc Phi
18
28
(Nguồn: (IRRI, 2003) [17])
% thay đổi
45
72
85
36
79
57
56
Sản lượng ngô xuất khẩu đang có xu hướng giảm tại Mỹ, Achentina,…
một số nước như Trung Quốc không xuất khẩu ngô vì đã sử dụng ngô để
chế biến ethanol thay thế một phần nhiên liệu xăng. Năm 2011, sản lượng
ngô của Mỹ giảm 2,25 triệu tấn. Hạn hán tại khu vực Trung Tây, vùng
trồng ngô chính của Mỹ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng ngô. Bộ
Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo sản lượng ngô Mỹ năm 2013 có thể sẽ
giảm 12%. Tuy nhiên, Mỹ vẫn dự kiến xuất khẩu 40,6 triệu tấn ngô năm
2013, không đổi so với năm 2012.
Năm 2012, lượng ngô xuất khẩu của Brazil đã đạt mức kỷ lục, khoảng
12
20 triệu tấn, tăng gần gấp đôi so với năm 2011. Năm 2012, tổng lượng ngô
xuất khẩu của Argentina này chỉ đạt 16,7 triệu tấn. Do Mỹ có sự suy giảm sản
lượng ngô trong năm qua và Argentina đạt lượng xuất khẩu thấp nên Brazil đã
trở thành nước xuất khẩu thứ 2 trên thế giới về ngô. FNP cũng cho rằng một
phần tăng xuất khẩu của Brazil cũng là do tỷ giá ngoại hối tăng giúp hoạt
động xuất khẩu có nhiều lợi thế.
Năm 2012, Trung Quốc đã nhập 5 triệu tấn ngô để làm thức ăn cho
gia súc và dự kiến sẽ nhập khẩu ít nhất 8 triệu tấn ngô năm 2013. Trong
khi đó Nhật Bản có thể nhập 16 triệu tấn ngô, tăng so với mức 15,5 triệu
tấn niên vụ trước.
Nhu cầu về ngô tại Trung Quốc tăng mạnh do gia tăng nhu cầu về thức
ăn chăn nuôi. Trung Quốc đã có phương hướng quy hoạch phát triển sản xuất
ngô với sản lượng dự kiến thu hoạch là 197,5 triệu tấn niên vụ 2013, tăng 4,6
triệu tấn so với niên vụ trước. Tuy nhiên, mức tăng sản lượng này vẫn không
đủ cung cấp cho nhu cầu nội địa ở Trung Quốc.
Giá ngô trên thị trường thế giới trong thời gian qua đã có sự biến động
đáng kể, bình quân thời kỳ 1994-1999 là 138-142 USD/tấn; hiện nay là 300305 USD/tấn.
Ngô là một trong số ít các hàng hóa nông sản tăng giá trong năm 2011
mặc dù mức tăng chỉ rất nhẹ 2,8%. Giá ngô trên thị trường thế giới tăng
nguyên nhân chính là do sản lượng ngô của Mỹ giảm.
Theo ngân hàng Standard Chartered, thị trường ngô đang phải đối mặt
với nhu cầu suy giảm từ Trung Quốc, tuy nhiên, ngân hàng này cũng cho rằng
giá ngô sẽ tiếp tục tăng, bất chấp tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ chậm lại.
1.3. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Ở nước ta ngô là cây trồng nhập nội mới được đưa vào Việt Nam
khoảng 300 năm nhưng đã nhanh chóng trở thành một trong những cây trồng
13
quan trọng trong hệ thống cây lương thực. Do có khả năng thích ứng rộng nên
diện tích ngô được mở rộng nhanh chóng, cây ngô đã khẳng định vị trí trong
sản xuất nông nghiệp và trở thành cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa
nước, góp phần đáng kể trong việc giải quyết lương thực tại chỗ cho người
dân Việt Nam.
Mặc dù là cây lương thực thứ hai sau cây lúa, song do truyền thống lúa
nước, thời kỳ mới du nhập vào Việt Nam cây ngô không được chú trọng nên
chưa phát huy được tiềm năng của nó. Quá trình phát triển ngô của Việt Nam
từ 1960 đến nay được chia làm ba giai đoạn như sau:
- Thời kỳ từ 1960 - 1980: Diện tích trồng ngô tăng gấp đôi từ 197.600
ha (1960) đến 389.600 ha (1980). Giai đoạn này chủ yếu sử dụng các giống
ngô địa phương và một số giống tổng hợp, hỗn hợp, cũng như một số giống
lai nhập nội (với diện tích không lớn), năng suất biến động từ 10 - 11 tạ/ha.
- Thời kỳ 1980 - 1990: Diện tích tăng chậm, bình quân đạt 1,03%/năm.
Từ giữa những năm 1980, nhờ sự hợp tác với Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa
mỳ Quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến đã được đưa vào trồng ở
nước ta, góp phần nâng năng suất lên gần 15,5 tạ/ha vào đầu những năm
1990, bình quân mỗi năm tăng 3,5%.
- Thời kỳ 1990 đến nay: Sản xuất ngô ở nước ta thực sự có những bước
tiến nhảy vọt, do không ngừng mở rộng diện tích trồng giống ngô lai, đồng
thời cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác theo đòi hỏi của giống mới.
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất ngô của Việt Nam giai đoạn 1961-2012
Năm
1961
1975
1990
1994
2000
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(1000 ha)
260,20
267,0
432,0
534,6
730,2
(tạ/ha)
11,2
10,5
15,5
21,4
25,1
(1000 tấn)
292,20
280,60
671,0
1143,9
2005,9
14
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
1052,6
36,0
1033,1
37,0
1096,1
39,6
1440,2
31,8
1089,2
40,1
1126,4
40,9
1121,3
43,1
1118,2
50,0
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, 2013 [50])
3787,1
3819,4
4250,9
4573,0
4371,7
4606,8
4835,7
4803,2
Số liệu thống kê ở bảng 1.5 cho thấy : giai đoạn 1990 - 2012 sản xuất
ngô ở Việt Nam đã có chuyển biến rõ rệt về diện tích, năng suất, sản lượng.
Năm 1990, diện tích trồng ngô ở nước ta là 432.000 ha với tỉ lệ giống lai chưa
đến 1% nhưng đến năm 2012 diện tích đạt 1.118,2 nghìn ha trong đó diện tích
trồng ngô lai đã chiếm khoảng 95%. So với năm 2008, diện tích trồng ngô
giảm 322 nghìn ha, đây cũng là xu hướng chung của các nước trên thế giới.
Dân số tăng, công nghiệp phát triển, những biến đổi bất thường của điều kiện
ngoại cảnh, là những yếu tố hạn chế đến việc mở rộng diện tích đất canh tác.
Vì vậy để đáp ứng nhu cầu sử dụng ngô ngày càng tăng của xã hội, giải pháp
quan trọng nhất là tăng năng suất.
Trong suốt hơn 20 năm qua, năng suất ngô nước ta tăng liên tục với
tốc độ nhanh hơn so với năng suất trung bình của thế giới. Năm 1980, năng
suất ngô Việt Nam chỉ bằng 34% so với trung bình thế giới nhưng đến năm
2012 đã tương đương với năng suất trung bình của thế giới. Có được kết quả
trên là do các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống đã được áp dụng trong sản
xuất. Từ năm 1993 đến nay các giống ngô thụ phấn tự do tiềm năng năng
suất thấp đã được thay thế bằng các giống ngô lai năng suất cao. Mặc dù các
nghiên cứu về ngô lai ở Việt Nam khởi đầu chậm hơn so với nhiều nước trên
thế giới, nhưng tốc độ phát triển lại rất nhanh. Đây là bước tiến vượt bậc so
với một số nước trong vùng. Theo báo cáo của Tổng Cục Thống kê năm
1993 cả nước mới chỉ có 12% diện tích được sử dụng giống ngô lai thì đến