Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

Tiểu luận môn luật so sánh Hệ thống thông luật Common Law

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (376.73 KB, 33 trang )

MÔN LUẬT KINH DOANH SO SÁNH
LỚP CAO HỌC LUẬT K. 24, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NHÓM 1: NGUYỄN CHIẾN THẮNG (NHÓM TRƯỞNG)
VŨ TRẦN NHẬT MINH
LÊ THỊ HOÀNG OANH
LÊ THỊ MỸ THI

BÀI THUYẾT TRÌNH
HỆ THỐNG THÔNG LUẬT (Common Law System)

Dẫn nhập
Trên thế giới có hơn hai trăm hệ thống pháp luật khác nhau, mỗi hệ thống đó có
những đặc điểm riêng biệt, vì vậy, chúng ta không thể và không có đủ thời gian để có thể
nghiên cứu được hết tất cả các hệ thống pháp luật đó. Do đó, việc phân chia nhóm các hệ
thống pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho việc giới thiệu tổng quát về các hệ thống pháp
luật trên thế giới, giúp cho ta có được một bức tranh toàn cảnh về các hệ thống pháp luật
trên thế giới.
Một số học giả kết hợp nhiều tiêu chí khác nhau để phân nhóm các hệ thống pháp
luật, như học giả người Pháp, René David kết hợp hai tiêu chí: kỹ thuật pháp lý và hệ tư
tưởng:
“Sự khác biệt về thuật ngữ của hai hệ thống pháp luật (các thuật ngữ không thể hiện
cùng khái niệm) hoặc bởi vì hệ thống thứ bậc các nguồn luật và các phương pháp của mỗi
hệ thống pháp luật khác nhau ở mức độ đáng kể”.1
“Hai hệ thống pháp luật không thể được xem là thuộc vào cùng một dòng họ, ngay
cả khi chúng sử dụng cùng các khái niệm và kĩ thuật, nếu chúng được xây dựng dựa vào
1

Xem: René David và John E. C. Brierley, Sđd, tr. 21.
1



những nguyên tắc triết học, chính trị và kinh tế đối lập nhau và nếu chúng cố gắng tạo ra
hai kiểu xã hội hoàn toàn khác nhau”.2
Dựa vào hai tiêu chí này, René David phân chia các hệ thống pháp luật trên thế giới
thành dòng họ pháp luật La Mã-Giécmanh, dòng họ common law, dòng họ pháp luật
XHCN và một số hệ thống pháp luật nhỏ khác là luật Hồi giáo, luật Hindu, luật của một
số nước vùng Đông Á và một nhóm pháp luật mới là pháp luật của các nước châu Phi. 3
Hai học giả khác người Đức là Zweigert và H. Kotz, mặc dù chỉ đưa ra tiêu chí phân
nhóm là “kiểu pháp luật” (legal style) để phân nhóm pháp luật nhưng nội dung tiêu chí
này lại chứa đựng nhiều tiêu chí thành phần khác nhau:
• Cơ sở và sự phát triển lịch sử của hệ thống pháp luật;
• Phương thức tư duy pháp lí nổi trội và đặc trưng về các vấn đề pháp lí;
• Các chế định pháp lí đặc thù;
• Các nguồn luật mà hệ thống pháp luật này chấp nhận và cách thức nó sử dụng các
nguồn luật đó
• Hệ tư tưởng của hệ thống pháp luật.
Zweiger và Kotz đã phân chia các hệ thống pháp luật trên thế giới thành dòng họ
pháp luật La Mã, dòng họ pháp luật Giécmanh, dòng họ pháp luật Bắc Âu, dòng họ
common law và nhóm pháp luật khác là luật Hồi giáo, luật Hindu và pháp luật một số
nước vùng Đông Á.4
Mặc dù sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau, các dòng họ pháp luật được xác định vẫn
rất quen thuộc đối với các nhà luật học là dòng họ common law, dòng họ civil law, dòng
họ pháp luật XHCN và một số nhóm pháp luật khác gắn với các tôn giáo khác nhau là luật
Hồi giáo, luật Hindu.
1.

Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Thông luật

1.1. Lịch sử hình thành
Xem: René David và John E. C. Brierley, Sđd, tr. 21.
Xem: René David và John E. C. Brierley, Sđd, tr. 22-31.

4
Xem: Zweiger and Kotz, Sđđ, tr. 136.
2
3

2


Vào năm 1066, quân Norman do công tước William chỉ huy đã đánh bại quân Ănglô Sắc-xông, thống nhất nước Anh. Sau đó, William lên ngôi vua nước Anh với tên gọi là
William I - trị quốc từ năm 1066 đến khi qua đời năm 1087. Từ đây mở ra một thời kỳ
mới trong lịch sử nước Anh, thời kỳ mà nước Anh dưới sự cai trị của người Norman và
cũng là thời kỳ khởi đầu cho giai đoạn hình thành Thông luật.
Sau khi lên ngôi, William I đã thực hiện một loạt hành động mạnh mẽ như trấn áp
bạo loạn, cũng cố vương quyền, thực hiện xây dựng bộ máy hành chính và cải cách tư
pháp. William không vội vàng áp đặt pháp luật của người Norman đối với cư dân bản địa,
không huỷ bỏ các tập quán truyền thống của Anh và hệ thống toà án địa phương hoặc
thay đổi chúng một cách đột ngột. Nhà vua vẫn giữ nguyên hệ thống pháp luật ở Anh, đi
kèm với nó là hệ thống tòa án ở mỗi địa phương. Các toà án này vẫn tiếp tục áp dụng tục
lệ từ trước của họ mà chưa có bộ luật nào chung cho toàn vương quốc. Đây chính là
những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của Thông luật.
Ở nước Anh trước đó, tồn tại nhiều vùng, miền khác nhau với nhiều tập quán khác
nhau, những tập quán này được người Anh gọi là Luật ví dụ như: Luật Dane được áp
dụng ở miền bắc, Luật Mercia ở miền trung và Luật Wessex ở miền tây và miền nam.
Cùng với đó là sự hiện diện của nhiều hệ thống tòa án khác nhau (gọi là các Tòa án truyền
thống).
Khi lên ngôi, nhà vua đã thiết lập ở Anh một tòa án đặt tại cung điện Buckingham
gọi là Tòa Hoàng gia. Ban đầu, Tòa án này không có thẩm quyền toàn diện vì đây là tòa
án riêng để giải quyết các vụ việc liên quan tới những người Norman cùng đến Anh với
William I. Tới thế kỷ XII, Tòa Hoàng gia đã thay mặt Nhà vua xét xử một số vấn đề về
quyền đối với đất đai, thu thuế, trừng phạt các tội phạm hình sự nghiêm trọng cũng như

giải quyết một số tranh chấp nhất định, nhất là những tranh chấp có liên quan đến sự ổn
định của vương triều. Sự mở rộng thẩm quyền của Tòa Hoàng gia đi kèm là sự mở rộng
về mặt quy mô, cơ cấu tổ chức của Tòa án này.
Dù vậy, bên cạnh Tòa Hoàng gia ở trung ương ngày càng có vị trí quan trọng, thì ở
Anh các tòa địa phương vẫn tồn tại và có thẩm quyền rộng, giải quyết hầu hết các tranh
chấp (trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền của của Tòa Hoàng gia), qua đó cạnh tranh
3


với sự tồn tại của Tòa án này. Nhưng trong quá trình cạnh tranh, Tòa Hoàng gia dần dần
giành được ưu thế (vì hiện đại và chuyên nghiệp hơn, được sự quan tâm, đầu tư rất lớn từ
phía triều đình), các vụ tranh chấp khó giải quyết đều dồn lên cho Tòa Hoàng gia, số
lượng đơn khiếu nại của người dân dần chuyển sang Tòa Hoàng gia. Tòa Hoàng gia đã
xét xử nhiều vụ hơn so với giới hạn ban đầu. Hệ quả là các Tòa Hoàng gia dần mở rộng
đến mức các toà án địa phương mất tác dụng và cuối cùng, Tòa Hoàng gia đã thay thế các
tòa truyền thống để trở thành cơ quan xét xử duy nhất nước Anh.
Các nguyên tắc bền vững của luật chung đã được tạo ra bởi ba tòa án được vua
Henry II (1133 - 1189) thành lập là Tòa án Tài chính (Court of Exchequer) để xét xử các
tranh chấp về thuế; Tòa án thẩm quyền chung (Court of Common Pleas) đối với những
vấn đề không liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhà vua; và Tòa án Quốc vương
( Court of the King’s Bench) để giải quyết những vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền lợi
của Hoàng gia.5
1.2. Sự phát triển của hệ thống thông luật
Với mục đích tăng uy tín của tòa Hoàng gia để, góp phần giải quyết thấu đáo các
đơn thư khiếu nại của các địa phương gửi lên. Từ thời Vua William I, rất nhiều thẩm phán
của Tòa Hoàng gia đã được phái đi thực tế tại các địa phương. Những vị thẩm phán này
trở thành những thẩm phán lưu động (Travelling Justice) có nhiệm vụ đi khắp đất nước,
đến tất cả các vùng thuộc quyền cai trị của Nhà vua, nhân danh Nhà vua để xét xử các vụ
việc tại địa phương bằng các phiên tòa xét xử lưu động.
Khi đi xét xử lưu động khắp đất nước, các thẩm phán Hoàng gia làm quen với các

tập quán pháp khác nhau và mỗi khi gặp nhau tại Luân Đôn họ thường thảo luận với
nhau, so sánh các điểm mạnh, điểm yếu của chúng. Điều này dần đưa đến kết quả là các
thẩm phán Hoàng gia ngày càng áp dụng thường xuyên hơn các quy định pháp luật giống
nhau trên khắp đất nước và thế là “Common Law” ra đời.
Common Law được tạo ra không phải bởi các văn bản pháp luật mà bằng việc các
Tòa án sử dụng các quyết định của tòa như những tiền lệ. Nguyên tắc này phát triển rất
nhanh và thế là các quyết định của tòa được đưa ra trong vụ việc tương tự, phải được tuân
5

Xem “Giáo trình luật so sánh”, Đại học Luật Hà Nội, trang 209.
4


thủ, nghĩa là án lệ phải được tôn trọng (nguyên tắc Stare decisis). Nói cách khác, nếu hai
vụ việc có tình tiết tương tự thì phán quyết mà tòa án ra để giải quyết hai vụ việc đó sẽ
phải có kết cục tương tự.6
Như vậy, thuật ngữ “common law” ngày nay được hiểu theo nhiều nghĩa thông
dụng hơn và thường được đặt trong mối quan hệ với luật thành văn (statues).
Với nghĩa này, có nhiều cách khác nhau để diễn tả “common law” như: luật án
lệ (case law), luật do thẩm phán làm ra (judge-made law), luật tập quán
(customary law) và luật bất thành văn (unwritten law). Nói cách khác, theo
nghĩa này, “common law” là luật không do cơ quan lập pháp làm ra mà được
tạo ra bằng các phán quyết của tóa án (án lệ) và bằng tập quán pháp. Nhiều nhà
nghiên cứu lịch sử pháp luật nói riêng và luật học Anh nói chung đều cho rằng
cách hiểu truyền thống về “common law” là tập quán pháp.7
2. Các nguyên tắc của Thông luật
2.1. Nguyên tắc “Stare decisis” – “tiền lệ phải được tuân thủ” là nguyên tắc
xương sống, tạo tiền đề cho sự tồn tại và ổn định của thông luật Anh
Theo nguyên tắc này, bất kỳ nơi nào phát sinh những vấn đề mang tính chất pháp
lý thì khi đưa ra quyết định phải tuân theo những trường hợp tương tự đã giải quyết trước

đây. Nghĩa là các thẩm phán khi xét xử phải căn cứ vào các bản án đã có trước nếu như có
sự tương tự về mặt tình tiết.
Trên cơ sở tiền lệ (stare decisis) được hình thành này, hệ thống thứ bậc của tiền lệ
cũng hình thành và áp dụng cho các hệ thống tòa án. Theo đó, thẩm phán khi đưa ra phán
quyết phải tuân thủ theo các phán quyết của tòa án cấp trên trong cùng hệ thống. Đây
chính là án lệ hay cũng chính là tiền lệ pháp.
Tuy nhiên, vì nguyên tắc này được xây dựng dựa trên hoạt động tại các tòa án nên
tòa án có thể quyết định sửa đổi nguyên tắc này. Năm 1966, Thượng nghị viện Anh tòa án

Xem: Michael Bogdan, “Luật so sánh” trang 80
Xem: Sir Mathew Hale, “The History of the common law” (2 nd Ed, 1716) at 22: W.Blackstone,
“Commentaries on the laws of England” (1809 Ed) at 44: W.Twinging (Ed) “The common law
and legal theory”, Basil Blackwell. 1986, Chapter two (Brian Simpson), at 18.
6
7

5


cao nhất của nước Anh đã tuyên bố Thượng nghị viện sẽ không bị bắt buộc phải theo các
án lệ của chính mình nữa.
Nguyên tắc này có vai trò là tiền đề cho việc tồn tại và ổn định hệ thống thông luật.
Tuy nhiên, nếu tuân thủ triệt để nguyên tắc này sẽ làm cho thông luật Anh cứng nhắc
thiếu linh hoạt khi các điều kiện kinh tế xã hội thay đổi không ngừng.
2.2. Nguyên tắc tôn trọng quyết định của tòa cấp trên
Mỗi tòa án bị buộc phải tuân thủ theo các quyết định của tòa cấp cao hơn trong cùng
hệ thống hoặc của chính tòa đã tạo ra tiền lệ.
Ví dụ: Ở nước Anh, Tòa sơ cấp – Tòa án địa phương phải tuân theo án lệ của Tòa
cấp cao, Tòa Hoàng gia, Tòa phúc thẩm và Tòa tối thượng (Thượng Nghị viện).8
Tại Hoa Kỳ, các tòa án cấp dưới của liên bang và các tòa án của bang có nghĩa vụ

tuân thủ các quyết định trước đây của tòa án tối cao liên bang. Các phán quyết của tòa án
phúc thẩm khu vực của liên bang mang tính bắt buộc phải tuân theo đối với các tòa án cấp
dưới nằm trong lãnh thổ khu vực đó chứ không ràng buộc các tòa án khu vực khác.
Tương tự, các phán quyết của tòa án cấp trên chỉ có giá trị ràng buộc đối với các tòa án
cấp dưới trong cùng một bang.
2.3. Nguyên tắc không buộc phải tuân theo án lệ của hệ thống tòa án khác
Những quyết định của tòa án thuộc hệ thống tòa án khác chỉ có giá trị tham khảo
chứ không có tính bắt buộc. Tuy nhiên, đối với quyết định của tòa án cấp cao hơn của hệ
thống tòa án khác sẽ có giá trị thuyết phục hơn trong việc tham khảo để tòa án quyết định
bản án.
Tại Hoa Kỳ, các phán quyết của tòa án cấp dưới của liên bang về những vấn đề
mang tính liên bang không có tính ràng buộc đối với các bang nhưng được xem xét và cân
nhắc rất cẩn thận.
2.4. Nguyên tắc chỉ dựa vào cơ sở pháp lý

David Rene, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, Nhà xuất bản Tổng hợp
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003.
8

6


Chỉ có những quyết định của thẩm phán trước đó dựa trên phần chứng cứ pháp lý
của vụ án thì mới có giá trị bắt buộc phải áp dụng để ra quyết định cho vụ án sau này 9.
Trong một bản án theo truyền thống Thông luật luôn có hai phần, đó là phần Ratio
decidendi và Obiter dictum.10
Ratio decidendi: Tiếng Latin có nghĩa là "Lý do để quyết định", là phần cơ sở pháp
lý hay chứng cứ pháp lý của bản án. Đây là nhân tố bắt buộc bất kỳ trong quá trình suy
luận dẫn tới quyết định của tòa án. Là nhân tố quan trọng nhất và là yếu tố bắt buộc của
mỗi phán quyết. Ratio decidendi sẽ tạo nên quy tắc được đưa vào thành phần của pháp

luật Anh. Nó cũng là phần chứa đựng các quy phạm pháp luật trong hệ thống Anh. Vì thế
phần này có vai trò vô cùng quan trọng là nguồn trực tiếp của pháp luật Anh.
Obiter dictum: Tiếng La Tin có nghĩa là "Một lời nhận xét ngẫu nhiên", đây là
phần bình luận của thẩm phán trong bản án. Nó chính là lời nhận xét, bình luận, ý kiến
phụ của thẩm phán, không có giá trị bắt buộc, không mang nội dung trực tiếp của vụ tranh
chấp, và không thể viện dẫn như một tiền lệ.
Vì vậy phần này chỉ là sự tuyên cáo, không chi phối đối với quyết định và vì thế
không có tính bắt buộc đối với các vụ việc trong tương lai. Tuy nhiên, đôi khi nó có giá
trị thuyết phục đáng kể do vị trí của tòa án và danh tiếng của vị thẩm phán đưa ra quyết
định đó.
2.5. Nguyên tắc tham khảo đối với phần bình luận
Những nhận định hoặc quyết định của tòa án trước đó đối với một vụ án không dựa
trên cơ sở pháp lý mà chỉ dựa trên cơ sở bình luận của thẩm phán (Obiter dictum) sẽ
không có giá trị bắt buộc tòa án cấp dưới phải tuân thủ.
Tuy nhiên, những nhận định và phán quyết đó có thể được tòa án sau này xem xét,
cân nhắc và thậm chí có thể áp dụng trong việc ra quyết định.
2.6. Nguyên tắc hiệu lực bất kể thời gian

Nguyễn Lâm, "House" hay "Home" và tầm minh triết của pháp luật, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số
13 (78) tháng 7/2006, trang 26.
10
Michael Bogdan, Comparative law, Nhà xuất bản Kluwer, Norstedts Juridik, Tano, 2002.
9

7


Yếu tố thời gian không thể làm mất đi tính hiệu lực của các tiền lệ. Theo nguyên tắc
này, những phán quyết của các tòa án cách đây hàng trăm năm cũng vẫn có giá trị cho các
thẩm phán sau này vận dụng để ra quyết định cho một vụ án tương tự; ở hệ thống thông

luật, án lệ càng lâu càng có sức thuyết phục, và giá trị. Khác với hệ thống pháp luật châu
Âu lục địa, án lệ càng mới càng có tác dụng giải thích cao hơn. Các vụ án nổi tiếng không
những chỉ có giá trị lịch sử, các giải pháp của những bản án này còn để lại một giá trị thực
tiễn.
3.

Nguồn luật trong hệ thống Thông luật

Hệ thống thông luật bắt nguồn từ sự phát triển pháp luật tại Anh giữa những năm
1066 và 1400. Mặc dù luật được phát triển ở Anh nhưng đã được xuất khẩu toàn cầu như
là kết quả của đế chế Anh và chính phủ cộng hòa Anh. Nó chính là nền tảng cho hệ thống
pháp luật Hoa Kỳ (US). Đó là lí do vì sao chúng ta sẽ chọn Anh và Mỹ như là điển hình
cho hệ thống thông luật.
Khi nói đến nguồn luật của nước Anh, người ta thường nhắc đến hai nguồn chính
là luật thành văn và luật bất thành văn. Luật thành văn là các đạo luật do Nghị viện và các
văn bản phụ trợ do chính phủ ban hành. Luật bất thành văn gồm hai bộ phận: Một là các
tập quán phổ biến từ thời thượng cổ hay còn gọi là common law (các phán quyết của Tòa
gồm cả các án lệ của Tòa án Hoàng gia và luật công lý là những phán quyết được ghi
chép lại và được giải thích trong các báo cáo luật và được sắp xếp một cách có hệ thống
để sử dụng phổ biến trong các tác phẩm có uy tín của các tác giả đáng kính); và hai là các
tập quán hay luật lệ địa phương (particular customs of laws) có ảnh hưởng chỉ tới những
người nhất định sống ở một vùng nào đó.
Luật liên minh châu Âu không phải là 1 nguồn luật tại Mỹ do Mỹ không phải là
nước thành viên của các hiệp ước với các nước châu Âu như Anh. Tuy nhiên, Mỹ bổ sung
một nguồn luật quan trọng đó là Hiến pháp Mỹ. Trong khi Anh không có Hiến pháp bằng
văn bản.
Thông luật và luật công bằng được biết đến như Án lệ - đây chính là sự khác biệt
quan trọng giữa hệ thống thông luật và hệ thống dân luật.
3.1. Thông luật (Án lệ)
8



Điểm đặc thù trong hệ thống pháp luật Anh là bộ phận quan trọng của luật thực định
của Anh do cơ quan tư pháp, tức là do tòa án sáng tạo ra dựa trên cơ sở áp dụng và phát
triển các án lệ hay tiền lệ pháp. Những lĩnh vực pháp luật như luật hợp đồng, bồi thường
trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, cũng như một số hành vi phạm tội nghiêm trọng như
giết người hay hành hung tập thể (common assault) đều là sản phẩm của cơ quan tư pháp
chứ không phải của cơ quan lập pháp. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa hệ thống pháp
luật Anh với các hệ thống pháp luật pháp điển hóa của châu Âu lục địa và những hệ thống
pháp luật khác chịu ảnh hưởng của pháp luật ở châu Âu lục địa.
- Các cách hiểu về án lệ: Có 2 cách hiểu chủ yếu như sau:
• Án lệ là một phương thức làm luật của thẩm phán
• Án lệ bao gồm các qui tắc đã được lập ra trong một bản án ban hành trước đó, có
giá trị ràng buộc đối với các thẩm phán khi có sự tương tự về mặt tình tiết.
Tóm lại án lệ được hiểu là bản án đã có hiệu lực pháp luật trong đó có chứa đựng
các qui tắc pháp lý do tòa án ban hành, được sử dụng để làm khuôn mẫu cho những vụ
việc về sau nếu có sự tương tự về mặt tình tiết. Sự giải thích của tòa có tính mới và tính
tiên phong; cho nên về sau nó được các thẩm phán khác dẫn ra, hay tham chiếu vào, khi
họ xét xử một vụ án có cùng một cơ sở pháp lý. Chỉ khi nào bản án được dẫn chiếu thì nó
mới trở thành án lệ.
Ở nước khác, án lệ còn được gọi là tiền lệ pháp. Theo đó, những bản án, quyết định
giải quyết vụ việc trong các tập san án lệ trở thành khuôn mẫu, trở thành cơ sở để tòa đưa
ra phán quyết trong những vụ việc có tình tiết, vấn đề tương tự sau đó. Việc công bố bản
án được thực hiện thường xuyên, liên tục, rộng rãi bằng nhiều phương tiện thông tin đại
chúng, kể cả Internet. Đối với các nước theo hệ thống thông luật như Anh - Mỹ (Common
Law), những bản án điển hình được tuyển chọn, đăng tải trong các báo cáo tổng hợp án lệ
(Law Report) và án luật (Case Law) trở thành một nguồn của pháp luật.
- Cấu trúc của án lệ

9



Trong quá trình áp dụng tiền lệ pháp, cần phải phân biệt hai phần của bản án gồm:
phần lập luận và phần phán quyết. Phần lập luận hay còn gọi là phần giải thích cho việc đi
đến quyết định mới được xem là án lệ. Phần lập luận lại bao gồm 2 bộ phận:
• Phần lý do để ra quyết định (Ratio decidendi): là bộ phận có tính ràng buộc đối
với các thẩm phán.
• Phần nhận xét bình luận (Orbiter dictum): nhận xét mang tính cá nhân của thẩm
phán, không có tính ràng buộc.
- Điều kiện để một bản án trở thành án lệ
Tuy nhiên, không phải tất cả các phán quyết của các tòa án này đều có giá trị ràng
buộc mà chỉ có những bản án được xuất bản mới trở thành án lệ và có giá trị ràng buộc.
Bản án phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Phải được tuyên bởi Tòa án có thẩm quyền tạo ra án lệ
Án lệ được thiết lập ngay tại Tòa án, tuy nhiên không phải tòa án nào cũng tạo ra án
lệ mà những bản án, quyết định thuộc các Tòa có thẩm quyền mới đáp ứng điều kiện để
trở thành án lệ. Ở nước Anh, việc hình thành án lệ, hệ thống thứ bậc và hiệu lực án lệ gắn
bó mật thiết với tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án.
Ví dụ: 11
Cấp độ thấp nhất trong hệ thống Tòa án là tòa án địa phương (Tòa Địa hạt – County
Court), Tòa án quận, Tòa sơ thẩm ở các thành phố lớn. Gọi chung là các Tòa sơ cấp,
phán quyết của các tòa sơ cấp không được coi là án lệ.
Tòa cấp cao (Hight Court) bao gồm 3 phân tòa là Tòa Công bình, Tòa Nữ hoàng,
Tòa Gia đình. Phán quyết của tòa cấp cao dù chỉ là các phán quyết tại các phiên xét
xử sơ thẩm nhưng các phán quyết đó có giá trị như án lệ. Án lệ của tòa cấp cao có
giá trị bắt buộc đối với các tòa địa phương và tòa sơ thẩm ở các thành phố. Xét về
mặt thứ bậc hiệu lực thì phán quyết của tòa cấp cao đương nhiên không phải là án lệ
có tính bắt buộc đối với tòa án ở cấp cao hơn.
Nguyễn Văn Nam, Án lệ và hệ thống Tòa án nước Anh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng
Quốc hội, số 02/2003.

11

10


Tòa phúc thẩm (Court of appeal) có cấp độ cao hơn tòa cấp cao và tòa Hoàng gia.
Do tính chất và thẩm quyền của tòa phúc thẩm cho nên các bản án của Tòa phúc
thẩm rất có giá trị 25% được xuất bản thành các tập án lệ và có giá trị bắt buộc đối
với các tòa cấp dưới và ngay cả tòa phúc thẩm.
Thượng nghị viện (House of Lord) – Đây là cấp tòa tối thượng trong hệ thống tòa án
Anh. Án lệ của thượng nghị viện (3/4 trong đó được xuất bản) có giá trị bắt buộc đối
với tất cả các tòa án cấp dưới và đối với cả thượng nghị viện. Tuy nhiên do yêu cầu
của việc phát triển pháp luật, vào năm 1966, thượng viện tuyên bố rằng thượng nghị
viện sẽ không bị bắt buộc phải theo các án lệ của chính mình.12
- Bản án phải có hiệu lực pháp luật: phải là bản án có giá trị chung thẩm, đã có
hiệu lực pháp luật ràng buộc các bên mới có thể trở thành án lệ.
- Phải đảm bảo về hình thức
Trong hệ thống pháp luật Anh cũng như các nước việc giải thích và áp dụng các án
lệ là một khâu cực kỳ quan trọng trong đó việc giải thích các án lệ là điểm mấu chốt còn
việc áp dụng án lệ là hệ quả trực tiếp từ việc giải thích.
Trong hệ thống Thông luật cấu trúc của bản án được tuyên rất khác với các nước
theo truyền thống luật dân sự. Về hình thức các bản án của các nước theo hệ thống Thông
luật thường rất dài. (Ví dụ ở Canada có những bản án dài tới hơn 150 trang).
Vậy thì khi so sánh vụ việc đang thụ lý với các vụ việc đã xảy ra trước đây làm thế
nào xác định được tình tiết nào là tình tiết chính, tình tiết nào là tình tiết tương tự hoặc có
liên quan trong một bản án dài với nhiều lập luận ? Đâu là ranh giới giữa án lệ bắt buộc
và án lệ không bắt buộc, giữa phần bắt buộc và phần không bắt buộc của bản án. Để giải
quyết được vấn đề đó, cần phải vận dụng kỹ thuật phân loại.
Không phải mọi nội dung hay tất cả các phần trong một bản án được coi là án lệ đều
có giá trị bắt buộc, mà chỉ có những phần mới có giá trị bắt buộc, và được tòa án xem xét


Theo tuyên bố của Thượng nghị viên tại [Pratice Statement (Judicial Precendent), [1966].
W.L.R. 226, HL]
12

11


các tình tiết trong đó được coi như là những cơ sở quan trọng chủ yếu để lập luận cho
phán quyết của mình.13
- Nội dung bản án phải có tính mới
Một trong những yếu tố quan trọng để tạo ra án lệ là quyết định của thẩm phán trong
vụ án cụ thể liên quan đến các vấn đề pháp luật mới nảy sinh hoặc một nghi vấn pháp
luật. Đó là các vấn đề nảy sinh trong các vụ án có liên quan đến câu hỏi luật cần áp dụng
đối với sự kiện thực tế nảy sinh trong vụ án là gì và nó được áp dụng vào các sự kiện thực
tế trong vụ án như thế nào? Thực chất vấn đề pháp luật ở đâu, chưa được giải quyết, chưa
hề có lời giải đáp trong thực tiễn.
Do đó khi xét xử thẩm phán đã tìm ra lời giải đối với vấn đề pháp luật đặt ra trong
vụ án. Và như vậy thẩm phán đã sáng tạo ra pháp luật. Điều này cũng đồng nghĩa với việc
phán quyết của thẩm phán trong vụ việc cụ thể này đã tạo ra một án lệ (một tiền lệ pháp)
cho các vụ việc trong tương lai.
- Bản án phải được công bố
Các phán quyết phải được công bố và hệ thống hóa. Việc công bố và hệ thống hóa
án lệ phải tuân theo một trình tự thủ tục chặt chẽ.
Đây là hoạt động có vai trò rất quan trọng để một bản án trở thành án lệ nhất thiết
phải qua khâu này. Đây là một trong những đặc điểm của án lệ và cũng là một trong
những nguyên tắc xây dựng án lệ – tiền lệ pháp.
3.2. Luật Công bằng (Equity)
Luật Công bằng hay Luật Công lý (Equity Law) là một bộ phận trong hệ thống pháp
luật Anh xuất hiện vào thế kỷ XVI, cùng tồn tại song song với hệ thống Thông luật, với

đặc trưng là các nguyên lý xây dựng và áp dụng luật được dựa trên lẽ phải, công lý là
chính14. Luật Công bằng ra đời trên bối cảnh Thông luật, hệ thống pháp luật chính của
nước Anh hiện tại đang gặp nhiều bất cập, nhất là trong việc giải quyết các thủ tục tố
Nguyễn Lâm, "House" hay "Home" và tầm minh triết của pháp luật, Tạp chí nghiên cứu lập pháp,
số 13 (78) tháng 7/2006, trang 26.
14
Hudson A. (2009). Equity and Trusts, p. 24. Routledge-Cavendish và Hudson states that these
are primarily "culled from Snell's Equity, the 4th edition.
13

12


tụng15. Sự hình thành và phát triển của Luật Công bằng nhằm sửa đổi và bổ sung cho
Thông luật và hoàn thiện Thông luật chứ không nhằm mục đích thay thế nó. Đến nay, nó
là một trong hai bộ phận chính của hệ thống pháp luật Anh.
Trong quá trình giải quyết, Đại chưởng ấn đưa ra những giải pháp pháp lý rất phù
hợp, hiệu quả vì thường viện dẫn vào "công lý, lẽ phải và tình yêu thương của Chúa trời".
Đầu thế kỷ 16, các quyết định của Tòa công bằng hình thành một hệ thống các quy
định pháp lý và trong quá trình sử dụng công lý để giải quyết các vụ việc, cùng với thời
gian, các phán quyết của Đại pháp quan đã phát triển thành tập hợp những quy phạm đặc
biệt, được nhắc đến dưới danh nghĩa "equity" hay Luật Công bằng và hình thành một hệ
thống pháp luật thứ hai gọi là luật công bằng. Học thuyết về Luật công bằng (Equity law)
mang nhiều yếu tố của Luật La Mã vì các Đại Chưởng ấn thường là các mục sư bị ảnh
hưởng của Luật Giáo hội (cannon law) - một loại luật có cơ sở gần gũi với luật La Mã 16.
3.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của luật công bằng
-

Sự khủng hoảng của thông luật


Vào thế kỉ XV, Anh trở thành một trong những nước hùng mạnh nhất châu Âu, lúc
này tình hình kinh tế xã hội phát triển, tự do kinh tế, tự do mậu dịch được phát triển,
nhiều tranh chấp mới phát sinh giữa các thương nhân nhưng các Tòa án Hoàng gia không
thể giải quyết thấu đáo các tranh chấp này, mặt khác các quy định của thông luật không
phù hợp để điều chỉnh những quan hệ mới phát sinh dẫn đến thông luật rơi vào tình trạng
khủng hoảng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của xã hội Anh.
Khi các điều kiện về hạ tầng thay đổi, đòi hỏi pháp luật cũng phải thay đổi để thích
ứng với tình hình mới. Thông luật Anh tại thời điểm này đã bộc lộ những nhược điểm
sau: Không có án lệ để điều chỉnh những quan hệ mới nên thẩm phán phải áp dụng các
bản án cũ để giải quyết.
Cuối thế kỉ XIV, học thuyết tiền lệ pháp được tuân thủ và áp dụng trong các Tòa án
Hoàng gia của Anh. Học thuyết tiền lệ pháp là học thuyết mà theo đó các thẩm phán khi
Hudson A. (2009). Equity and Trusts, p. 24. Routledge-Cavendish.
S Worthington, Equity (2nd edn. OUP, Oxford 2006) p. 10/11 và J Selden, Table Talk, quoted
in M B Evans and R I Jack (eds), Sources of English Legal and Constitutional History,
Butterworths, Sydney, 1984, 223–224.
15
16

13


giải quyết các vụ việc tại thời điểm hiện tại, phải căn cứ những phán quyết, những quy
định trong quá khứ, trong đó có án lệ.
Vì sự ràng buộc của học thuyết tiền lệ pháp làm cho Thông luật (Common Law) trở
nên cứng nhắc, bởi vì đến một thời điểm thẩm phán không còn đủ tự do để phát triển các
quy phạm pháp luật giải quyết những vấn đề đem đến tòa nữa. Khi tình tiết vụ việc khác
đi thì các thẩm phán không thể áp dụng tiền lệ pháp cũ nữa nhưng họ cũng không có khả
năng sáng tạo ra tiền lệ pháp mới vì bị bó buộc trong khuôn khổ của học thuyết tiền lệ
pháp.

Chế tài duy nhất của thông luật đối với các hành vi gây thiệt hại trong quan hệ dân
sự là phạt tiền bồi thường đã không buộc các bên phải tuân thủ hợp đồng cũng như làm
cho bên bị thiệt hại thấy thỏa đáng. Điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến lĩnh vực
hợp đồng nói riêng và lĩnh vực thương mại nói chung.
Trong lĩnh vực hình sự: các chế tài trở nên hà khắc hơn lúc nào hết, nhà vua dùng
thông luật như một trong nhưng công cụ đắc lực để đàn áp các tầng lớp trong xã hội đòi
dân chủ và có xu hướng chống lại chế độ phong kiến chuyên chế của Hoàng gia Anh.
Sự tồn tại của hệ thống trát đã khiến cho thông luật Anh trở nên phức tạp, cứng nhắc
và đễ dẫn đến bất công trong xét xử vì: không có trát thì không có quyền và trát cũng làm
cho thủ tục tố tụng bị ảnh hưởng mạnh mẽ (người dân khó tiếp cận và phải nhờ đến dịch
vụ luật sư phức tạp, tốn kém) và trở nên quan trọng hơn quyền lợi đang bị tranh chấp
trong vụ kiện. Trát được sử dụng như một loại giấy thông hành do vua cấp để bên nguyên
có thể bước qua cửa Tòa án Hoàng gia, tiếp cận với công lý nhằm giải quyết những oan
khuất của mình.
Mỗi loại khiếu kiện sẽ có một loại trát tương ứng, vì vậy, tùy thuộc vào bản chất của
việc khiếu kiện mà bên nguyên cần giành được loại trát phù hợp mới hi vọng đơn khiếu
kiện của mình được Tòa án Hoàng gia thụ lí và giải quyết. Bước sang thế kỉ XV, thủ tục
tố tụng ngày càng bị chi phối mạnh bởi hệ thống trát, do đó, thủ tục tố tụng thường được
coi trọng hơn cả quyền lợi đang bị tranh chấp trong vụ kiện.

14


Nếu đơn khiếu kiện không rơi vào một trong những vụ việc đã có trát lưu hành, bên
nguyên sẽ mất quyền khởi kiện, hoặc nếu bên nguyên giành được trát nhưng trát đó
không phù hợp với bản chất của vụ kiện, bên nguyên cũng bị tòa bác đơn.
Những hạn chế trên đã làm nảy sinh nhu cầu để tìm giải pháp để khắc phục những
hạn chế của thông luật trong hai trường hợp:
• Người dân không thể tiếp cận công lý từ tòa thông luật vì không có trát phù hợp.
• Người dân không đạt được kết quả trọn vẹn từ các giải pháp pháp lý mà tòa thông

luật đã áp dụng.
-

Hình thành luật công bằng

Do sự cứng nhắc của Thông luật, đặc biệt trong thủ tục xét xử, bên nguyên đơn
trong vụ việc tranh chấp thường tiếp tục khiếu kiện lên vua nhằm tìm kiếm sự trợ giúp
đặc biệt mang tính chất phúc thẩm. Nhiều người khởi kiện không thỏa mãn với phán
quyết của các Tòa án Hoàng gia mà làm đơn thỉnh cầu lên nhà vua. Họ coi nhà vua là
người có quyền lực tối cao và là biểu tượng của công lý, lẽ công bằng. Lẽ tất nhiên, nhà
vua không thể tự mình giải quyết, phân xử hết tất cả những thỉnh cầu của thần dân ông ta
mà những thỉnh cầu này gửi lên càng ngày càng nhiều, tranh chấp càng ngày càng đa
dạng, phức tạp, chưa kể là có những đơn thỉnh cầu, những tranh chấp vặt vãnh.
Vua thường thông qua viên Đại Chưởng ấn hay còn gọi là Đại Pháp quan hoặc Ngài
Đổng lý Văn phòng (Lord Chancellor) là một công chức của Tòa án đồng thời hầu cận
của mình đóng vai trò như một pháp quan để giải quyết những đơn kiện loại này. Dần dần
nhà vua giao cho Đại chưởng ấn giải quyết luôn những vụ việc và giao quyền cho ông ta.
Điều này dẫn đến hệ lụy là Văn phòng đại pháp quan đã dần phát triển thành Tòa đại
pháp.
Trong quá trình giải quyết, Đại chưởng ấn đưa ra những giải pháp pháp lý rất phù
hợp, hiệu quả vì thường viện dẫn vào "công lý, lẽ phải và tình yêu thương của Chúa trời"
dẫn đến số lượng đơn thỉnh cầu tăng lên, khối lượng công việc ngày càng lớn, đòi hỏi
phải có một nhân sự và hệ thống thể chế, thiết chế tương đương vì vậy vua ra quyết định
thành lập tòa án công bằng.
15


Đầu thế kỷ XVI, các quyết định của Tòa công bằng hình thành một hệ thống các quy
định pháp lý và trong quá trình sử dụng công lí để giải quyết các vụ việc, cùng với thời
gian, các phán quyết của Đại pháp quan đã phát triển thành tập hợp những quy phạm đặc

biệt, được nhắc đến dưới danh nghĩa "equity" hay Luật Công bằng và hình thành một hệ
thống pháp luật thứ hai gọi là luật công bằng. Học thuyết về Luật Công bằng (Equity law)
mang nhiều yếu tố của Luật La Mã vì các Đại Chưởng ấn thường là các mục sư bị ảnh
hưởng của Luật Giáo hội (cannon law) - một loại luật có cơ sở gần gũi với luật La Mã17.
-

Giai đoạn trước cải cách 1873-1875: Luật công bằng chỉ được xem là một

bộ phận bổ sung cho thông luật
Các thẩm phán của tòa công bằng tự nhìn nhận và đưa ra nguyên tắc “luật công bằng
đi sau thông luật” luật công bằng ra đời chỉ đóng vai trò hỗ trợ giúp cho thông luật hoàn
thiện hơn. Chỉ khi thông luật không điều chỉnh được hay không điều chỉnh hết thì luật
công bằng mới giải quyết. Luật công bằng đưa ra nguyên tắc này nhằm tránh gây ra xung
đột với các tòa án Hoàng gia luôn tìm cách bảo vệ sự độc quyền của mình trong xét xử.
Các phán quyết của tòa công bằng không chỉ được áp dụng trong tòa công bằng mà
còn được các thẩm phán của tòa thông luật tham khảo với tư cách là những lẽ phải, lẽ
công bằng để bổ sung cho “luật”.
Tuy nhiên khi giải quyết các vụ việc các thẩm phán của tòa công bằng luôn đặt công
bằng và lẽ phải lên hàng đầu để xem xét vụ việc có xâm phạm đến công lý, đạo đức hay
không, nếu có thì đơn thỉnh cầu sẽ được chấp nhận. Chính vì thủ tục tố tụng đơn giản đã
khiến cho người có lợi ích bị xâm phạm dễ dàng tiếp cận được với công lý hơn ở tòa
thông luật nên uy tín của tòa công bằng ngày càng cao.
Về pháp lý, từ 1621, viện nguyên lão bắt đầu xem xét các phán quyết của tòa công
bằng, đồng nghĩa với việc tòa công bằng đã có vị trí ngang với tòa thông luật.
Như vậy tính đến trước cuộc cải cách tòa án, nước Anh đã có hai hệ thống tòa án tồn
tại độc lập với nhau. Trong đó mỗi tòa án áp dụng một thủ tục tố tụng riêng, qui phạm
pháp luật riêng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, cùng một vụ việc nhưng phải có hai
S Worthington, Equity (2nd edn. OUP, Oxford 2006) p. 10/11 và J Selden, Table Talk, quoted in M B
Evans and R I Jack (eds), Sources of English Legal and Constitutional History, Butterworths, Sydney,
1984, 223–224.

17

16


đơn cho cả tòa thông luật lẫn tòa công lý. Nếu một bên muốn thi hành hợp đồng bằng
hiện vật thì điều đó được thực hiện trên cơ sở của tòa công lý, còn việc bồi thường thiệt
hại do quá hạn hợp đồng thì được thực hiện trên cơ sở thông luật. Điều này làm tăng tính
phức tạp vốn có, tốn kém cho người khởi kiện. Khó khăn này đặt ra yêu cầu phải có sự
thống nhất trong hệ thống Tòa án. Đây chính là nguyên nhân cho việc cải cách tòa án
nhằm chấm dứt tính hai mặt của thủ tục tố tụng.
-

Giai đoạn cải cách tòa án

Thông luật và luật công bằng được xem là hai bộ phận độc lập có vị trí ngang nhau
trong pháp luật Anh. Người Anh đã không loại bỏ một hệ thống tòa án nào mà thực hiện
việc sáp nhập hai hệ thống tòa án làm một bằng các luật tổ chức tòa án từ 1873 đến 1875.
Kết quả của cuộc cải cách tòa án: Đã xóa bỏ sự tồn tại song song của hai nhánh tòa
án, sáp nhập hai tòa làm một, chấm dứt tính hai mặt của thủ tục tố tụng. Sau cải cách tòa
án, nguyên đơn thay vì phải nộp hai đơn khác nhau tại hai tòa án khác nhau thì sau cải
cách thì chỉ cần nộp một đơn tại một tòa. Tòa này vừa có thẩm quyền đối với vụ việc của
Thông luật vừa có thẩm quyền của vụ việc của luật công bằng. Nhưng thủ tục của từng
loại vụ việc là khác nhau.
Cải cách tòa án đã bãi bỏ hình thức đơn kiện trát, thay vào đó tất cả các vụ việc dù
được tiến hành theo thủ tục nào cũng bắt đầu bằng một loại trát là trát hầu tóa, Tuy vậy
thực tế vẫn tồn tại vài loại trát và khả năng thắng kiện khi không có loại trát tương ứng là
rất thấp.
Nếu có sự xung đột giữa thông luật và luật công bằng thì ưu tiên cho luật công bằng
song các thẩm phán ngày nay thì coi trọng thông luật hơn.

3.2.2. Đặc điểm của Luật Công Bằng
-

Tính đạo đức:

Ngay từ cái tên Equity là trạng thái công bằng, vô tư. Hàm ý những gì đúng đắn,
hợp lẽ phải, nảy sinh từ việc làm đúng lương tâm hoặc từ các học thuyết về công lý tự
nhiên.

17


Đứng đầu hệ thống Equity là Đại pháp quan (Lord Chancellor), trước kia là linh
mục nghe xưng tội và là cố vấn về mặt tinh thần cho nhà vua, giải thích và định hướng
nhận thức cho nhà vua. Chính vì thế mà sự công bằng còn bị ảnh hưởng không những về
mặt luật lệ mà còn về quy tắc của giáo hội và một phần Luật La Mã
-

Tính chủ quan trong lập luận

Chủ yếu dựa vào nhận thức về sự công bằng của Đại pháp quan (Đại chưởng ấn).
Không những thế, Đại pháp quan còn là giám mục Cơ đốc giáo nên còn có thể bị ảnh
hưởng bởi tư tưởng, quy phạm tôn giáo trong quá trình xét xử.
Những phán xét trong quá khứ của Đại pháp quan được tổng hợp, biên soạn và dần
hình thành nên luật công bằng dựa trên ý chí, suy nghĩ và chi phối khá lớn của những Đại
pháp quan tiền nhiệm. Đồng thời, Đại pháp quan quyết định vụ việc mà không có sự tham
gia của Bồi thẩm đoàn
-

Tính đa dạng của phương tiện pháp lý:


Đơn khởi kiện phải có kèm theo vật làm tin, củng cố chứng cứ pháp lý. Bên cạnh
đó còn cho phép kháng cáo đối với quyết định của tòa công bình từ thế kỷ XVII lên
Thượng nghị viện. Luật công bằng không quá gắn bó chặt chẽ với quy định về thủ tục tố
tụng như Common law, chỉ chủ yếu chú ý đến các vấn đề luật thực định.
Chính vì vậy tạo ra được khả năng thực hiện tốt hơn so với Common law (chỉ buộc
bên bị bồi thường) do có thể buộc bên bị ngưng hoặc bắt buộc thực hiện một hành động
cụ thể nào đó (vận hành thông qua biện pháp cấm hoặc bằng mệnh lệnh trực tiếp tới các
bên), dẫn đến việc Tòa Đại pháp có quyền lực lớn hơn so với Tòa Hoàng gia.
-

Tính đơn giản của thủ tục xét xử

Tòa đại pháp mở đầu quá trình tố tụng không phải bằng trát như trong Common law
(không phức tạp) mà bằng đơn thỉnh cầu, do đó không giới hạn về mặt lĩnh vực và theo
trát. Vì vậy, vụ việc có khả năng vụ án được thụ lý cao hơn so với hệ thống Tòa Hoàng
gia.

18


3.3.

Luật thành văn

Trong khi hầu hết các nguyên tắc pháp lý của Anh nảy sinh từ án lệ và luật công
bằng thì phần lớn các quy phạm pháp luật chi tiết lại được tìm thấy trong luật thành văn.
Ngày nay, án lệ và luật thành văn là hai nguồn luật lớn nhất của Anh.
Luật thành văn do Nghị viện ban hành, vì vậy có uy tín cao hơn các án lệ do thẩm
phán làm ra trong quá trình xét xử. Luật thành văn không chỉ có khả năng bãi bỏ án lệ

trong quá khứ mà còn có thể có hiệu lực hồi tố, tức là có khả năng làm vô hiệu một bản án
đã được xét xử trong quá khứ.
Ở Anh, sự ra đời của luật thành văn muộn hơn so với các nước ở châu Âu lục địa vì
tới năm 600 sau công nguyên mới bắt đầu xuất hiện (cho dù đó chỉ là sự ghi chép các tập
quán đã có từ thời trước).
Ngày nay, các văn bản pháp luật của Anh do Nghị viện ban hành hay ủy quyền ban
hành, nhằm thay thế án lệ trên nhiều lĩnh vực gồm: luật, luật thống nhất và luật hệ thống
hóa.
-

Văn bản pháp luật

Luật thành văn của Anh do Nghị viện Anh ban hành và các văn bản dưới luật do cơ
quan hành pháp ban hành. Căn cứ vào cách thức ban hành, các văn bản ủy quyền được
chia thành hai nhóm: các văn bản thi hành luật và luật lệ địa phương. Các văn bản thi
hành luật được ban hành theo sự ủy quyền được ghi nhận trong các đạo luật của Nghị
viện, thường được trình tới Nghị viện và sẽ phát sinh hiệu lực nếu không bị Nghị viện bác
bỏ. Các văn bản pháp luật địa phương do chính quyền địa phương ban hành.
Ở Mỹ có rất nhiều đạo luật ở cả cấp Liên bang và cấp bang. Hiến pháp Mỹ quy định,
luật Liên bang có giá trị pháp lí cao hơn luật của các bang. Án lệ của Mỹ quy định các
đạo luật Liên bang có hiệu lực cao hơn phán quyết của tòa mặc dù nội dung và ý nghĩa
của các đạo luật do chính tòa án giải thích. Như vậy có thể nói, trừ Hiến pháp Mỹ, các đạo
luật do quốc hội Mỹ thông qua có giá trị pháp lí cao nhất, cao hơn cả phán quyết của tòa
án cấp liên bang và cấp bang và cao hơn cả các đạo luật tương ứng của các bang.

19


Mặc dù mỗi bang của Mỹ đều có quyền ban hành pháp luật thành văn riêng cho
mình nhưng vẫn có những văn bản pháp luật chung được áp dụng thống nhất như Bộ luật

thương mại thống nhất (Uniform Commercial Code) đã được chấp nhận tại 50 Bang và
Bộ luật hình sự mẫu (Model Penal Code) đã được chấp nhận tại hơn 25 Bang tại Mỹ. 18
-

Hiến pháp

Khi nói đến luật thành văn của Anh không thể nào không nhắc đến hiến pháp mặc
dù Vương quốc Anh không có hiến pháp thành văn như các quốc gia khác. Những quy
định có bản chất của hiến pháp của Anh có thể tìm thấy trong đặc quyền Hoàng gia, trong
một số truyền thống và một số án lệ cũng như văn bản pháp luật do pháp luật ban hành và
gần đây còn nằm trong một số đạo luật của Liên minh châu Âu. Manga Carta năm 1215
được coi là bản hiến pháp đầu tiên của Anh, thừa nhận quyền con người, gồm bốn quyền
năng chính:
• Quyền bình đẳng trước công lý;
• Quyền được tòa án xét xử trước khi bị bỏ tù hoặc bị tước đoạt tài sản;
• Quyền không bị phạt tiền đến mức phá sản;
• Quyền không bị tước đoạt kế sinh nhai.
Ngày nay, một số đạo luật quan trọng làm thành Hiến pháp Anh phải kể đến gồm
Luật quyền con người 1689, Luật kế vị ngai vàng 1701, Luật đình quyền giam giữ 1679,
Luật hợp nhất với Scotland 1707 và gần đây nhất là Luật cộng đồng chung châu Âu 1972
đã tiếp nhận Vương quốc Anh với tư cách là thành viên của cộng đồng châu Âu (nay là
Liên minh châu Âu). Chính sự kiện này đã làm phong phú thêm nguồn luật của Anh vì
với tư cách là thành viên của Liên minh châu Âu, Vương quốc Anh cũng phải tuân thủ
pháp luật của Liên minh châu Âu.
Hiến pháp Mỹ, với tư cách là một hiến pháp thành văn, là văn bản pháp luật có giá
trị pháp lý tối cao đối với người Mỹ, là đạo luật cơ bản của quốc gia. Ngoài ra, hệ thống
pháp luật thành văn của Mỹ rất phát triển với đội ngũ những nhà lập pháp có trình độ cao,

18


Giáo trình Luật So sánh, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2012, tr 303.
20


đã cho ra đời rất nhiều bộ luật và đạo luật có giá trị thực tiễn và tính ổn định cao, ở cả cấp
độ Liên Bang và cấp độ Tiểu Bang.
-

Các văn bản dưới luật do cơ quan hành pháp ban hành

Các cơ quan quản lí nhà nước ở cả cấp Liên bang và cấp bang đều ban hành các quy
chế (rules) và quy tắc (regulations) để triển khai cụ thể các quy định trong đạo luật có liên
quan. Các văn bản dưới luật do Chính phủ Liên bang ban hành cũng được ưu tiên áp dụng
trong mỗi quan hệ với pháp luật của các tiểu bang.19
-

Các tác phẩm của các học giả pháp lí

Mặc dù không có vai trò quan trọng với tư cách là một nguồn luật như trong các hệ
thống pháp luật thuộc dòng họ civil law. Tuy nhiên, có thể nói, các tác phẩm này thường
xuyên được trích dẫn bởi các luật sư và thẩm phán trong quá trình hành nghề luật.20
3.4. Tập quán pháp địa phương
Có thể nói, tập quán pháp chính là những quy phạm pháp luật được hình thành bắt
nguồn do tập quán từ lâu đời, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi. Tập quán pháp cùng
với án lệ khá phổ biến ở những nước theo hệ thống pháp luật kiểu Anh và Mỹ.
Ví dụ: Chẳng hạn trong quan hệ bang giao giữa các nước, việc không giết sứ thần là
một tập quán mà tất cả các bên đều tuân thủ trong khi không có một văn bản nào quy
định. Cũng có thể tạm gọi là luật bất thành văn.
Một tập quán muốn được nâng lên thành tập quán pháp phải thỏa mãn một số tiêu
chí, cụ thể như sau:

• Một là tập quán đó phải mang tính cổ xưa, nghĩa là phải có từ lâu đời.
• Hai là tập quán đó phải có tính trường tồn, tức là tập quán đó phải tồn tại lâu dài
và có khả năng tiếp tục tồn tại trong tương lai.
• Ba là tập quán đó phải được áp dụng một cách tự nguyện hay nói cách khác, tập
quán đó phải tồn tại công khai và không bị cộng đồng người địa phương phủ nhận.
19
20

Giáo trình Luật So sánh, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2012, tr 303.
Giáo trình Luật So sánh, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2012, tr 303, 304.
21


• Bốn là tập quán đó phải có lý. Điều đó không nhất thiết phải chứng minh rằng có
những lí do chính đáng cho việc áp dụng một tập quán nào đó mà chỉ cần tập quán đó
không đi ngược lại với lẽ phải.
• Năm là tập quán đó phải mang tính chắc chắn, không thể thay đổi.
• Sáu là tập quán đó phải mang tính phù hợp, nghĩa là không đi ngược lại với các
tập quán khác.
Tập quán ở Anh được soạn thành văn bản pháp luật một cách chi tiết toàn diện nhằm
bao hàm toàn bộ những gì có thể xảy ra mà văn bản pháp luật được thiết kế để điều chỉnh.
3.5.

Luật của Liên minh châu Âu

Khi nói tới luật của một quốc gia nào đó, người ta thường nghĩ tới những văn bản
pháp luật do cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp của quốc gia đó ban hành và có thể
cả án lệ được hình thành bởi hệ thống tòa án của quốc gia đó.
Cho đến khi Anh gia nhập cộng đồng châu Âu (bây giờ là liên minh châu Âu) vào
năm 1973 Nghị viện Anh trở thành cơ quan quyền lực tối cao, luật thành văn do Nghị

viện ban hành có giá trị pháp lý cao nhất và không có Hiến pháp thành văn. Có sự tương
phản rõ ràng so với các nước khác như Mỹ - có hiến pháp thành văn và nó có thể gây ra
trở ngại cho sự lập pháp của Tòa án.
Trong những năm gần đây, Anh là thành viên của liên minh châu Âu đã giới hạn
quyền lực tối thượng trước đây của Nghị viện. Đó là một nghĩa vụ theo Công ước Rome,
đưa luật pháp Anh phù hợp với Công ước và chỉ thị của Ủy ban hay Hội đồng châu Âu.
Mặc dù là thành viên của Liên minh Châu Âu nhưng việc Vương quốc Anh gia nhập
một điều ước quốc tế không thể làm cho điều ước quốc tế đó trở thành luật của vương
quốc này mà cần có thêm sự phê chuẩn của Nghị viện Anh. Luật của Liên minh Châu Âu
có thể được thi hành bằng một đạo luật trong nước hoặc bằng một văn bản dưới luật do
Chính phủ Anh ban hành.
Luật của Liên minh Châu Âu gồm cả nguồn luật nằm ngoài các điều ước quốc tế.
Phán quyết của Tòa án châu Âu cũng có thể trở thành nguồn luật quan trọng, tiền lệ pháp
22


của tòa án Anh. Anh chỉ có thể từ chối áp dụng luật của Liên minh châu Âu bằng phương
pháp chính trị chứ không phải bằng phương pháp tư pháp.
Các tòa án ở Vương quốc Anh đã cố gắng áp dụng luật của Liên minh châu Âu như
được yêu cầu nhưng cũng gặp một số khó khăn vì luật này mang tính khái quát và không
có sự chính xác như luật thành văn của Liên minh châu Âu (vì luật của Liên minh châu
Âu hầu hết do các nhà soạn luật của civil law soạn thảo).
Luật liên minh châu Âu không phải là một nguồn luật tại Mỹ do Mỹ không phải là
nước thành viên của các hiệp ước với các nước châu Âu như Anh. Tuy nhiên, Mỹ bổ sung
một nguồn luật quan trọng đó là Hiến pháp Mỹ.
4. Pháp điển hóa pháp luật trong hệ thống Thông luật (Codification)
Qua thời gian, Nghị viện sẽ tiến hành hệ thống hóa thành các văn bản pháp luật, đặt
thông luật trong một khu vực trên nền tảng luật định. Hệ thống hóa thành các văn bản
pháp luật tương tự như các bộ luật của dân luật.
Tuy nhiên việc hệ thống hóa thành các văn bản pháp luật không có phổ biến tại Anh,

và nhiều mảng luật như luật hợp đồng phần lớn vẫn bắt nguồn từ thông luật.
5. Vai trò của Thẩm Phán trong hệ thống thông luật
Thẩm phán giữ hai vai trò trong việc xây dựng án lệ trong hệ thống thông luật – thiết
lập và áp dụng tiền lệ tư pháp và giải thích văn bản pháp luật, Thẩm phán cũng giữ chức
năng quan trọng trong việc xem xét tinh hợp hiến của pháp luật.
Thẩm phán giữ ba vai trò trong việc xây dựng án lệ trong hệ thống thông luật là (1)
thiết lập và áp dụng tiền lệ tư pháp, (2) giải thích văn bản pháp luật và (3) Thẩm phán
cũng giữ chức năng quan trọng trong việc xem xét tính hợp hiến của pháp luật. 21
- Khái quát vai trò của Thẩm phán trong Hệ thống thông luật:
Thẩm phán tự mình đưa ra Quyết định về những vấn đề liên quan đến vụ án và về
quy định pháp luật khi xét xử độc lập. Trường hợp, xét xử cùng với bồi thẩm đoàn thì sẽ
thực hiện hướng dẫn bồi thẩm đoàn về những vấn đề về quy định pháp luật đồng thời là
người cuối cùng quyết định và kết luận trên tinh thần vô tư khách quan nếu có tranh
luận giữa các bên trong Hội đồng xét xử. Ngoài ra, thẩm phán còn đảm bảo thực hiện
Giáo trình Luật so sánh của Michael Bogdan, bản dịch của PGS.TS Lê Hồng Hạnh và Th.S
Dương Thị Hiền.
21

23


quy trình theo dõi về chứng cứ và Thông qua bản án hình sự hoặc xác định bồi thường
phù hợp trong vụ dân sự.
Vì Án lệ là nguồn cơ bản trong hệ thống thông luật Anh – Mỹ 22, đặc biệt với
truyền thống coi trọng chứng cứ nên không những thẩm phán mà luật sư cũng rất được
coi trọng trong hệ thống thông luật. Theo đó, thẩm phán vừa là người sáng tạo ra luật
pháp - Common law là hệ thống pháp luật được tạo nên bởi các thẩm phán judge – made
law, vừa là người giải thích và áp dụng luật pháp, kiểm soát các thủ tục tố tụng. Thẩm
phán được lựa chọn từ một tổ chức gồm các luật sư thực hành (barrister), theo đó những
luật sư thực hành này được phân cấp và thẩm phán chỉ được lựa chọn từ những luật sư

thực hành cấp cao hơn, giỏi và giàu kinh nghiệm (thường là có từ 10 năm kinh nghiệm
trở lên).
Cùng với thẩm phán, luật sư tại các nước Thông luật đặc biệt rất được coi trọng.
Do thủ tục tố tụng mang tính tranh tụng, các bên tham gia vào thủ tục tố tụng được coi
là có địa vị pháp lí bình đẳng với nhau, thẩm phán chỉ có vai trò người trung gian phân
xử, không tham gia vào quá trình tranh tụng nhưng lại là người đưa ra phán xét cho vụ
án. Họ chủ yếu dựa vào sự thật tại tòa do các luật sư nêu, nhiều khi không đúng với sự
thật trên thực tế. Vì vậy bên nguyên hay bên bị, bên nào muốn thắng kiện thì phần nhiều
dựa vào tài biện hộ của luật sư bên đó.
5.1. Vai trò thứ nhất của thẩm phán - thiết lập và áp dụng tiền lệ tư pháp
5.1.1. Nguyên tắc áp dụng án lệ tại Anh (giống như nguyên tắc của Thông luật)
5.1.2. Nguyên tắc áp dụng án lệ tại Mỹ
Tòa án không bị ràng buộc bởi án lệ của chính mình (khác biệt với Anh):
Tòa án tối cao thường không có nghĩa vụ phải tuân thủ cứng nhắc các phán quyết
trước đây của mình. Bởi lẽ, tòa án tối cao có trách nhiệm với chính sách pháp lý tổng thể
của đất nước nên tòa án tối cao cần phải linh động, ví dụ như các tòa án tối cao liên bang
của Hoa Kỳ, tòa án tối cao Ireland, tòa tối cao ở Anh, tòa án tối cao của các bang tại
Australia. Song, trên thực tế, các tòa án tối cao (nhất là Tòa án tối cao Anh và tòa án tối
cao của các bang tại Australia) thường tôn trọng án lệ của mình nhằm đảm bảo tính thống
nhất của việc xét xử.
Nguyễn Văn Nam, Án lệ và hệ thống Tòa án nước Anh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn
phòng Quốc hội, số 02/2003
22

24


5.1.3. Các đặc trưng hệ thống tòa án

25



×