i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan :
1. Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn
trực tiếp của TS.Âu Văn Trường.
2. Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả,
tên công trình, thời gian, địa điểm công bố.
3. Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo tôi xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm.
Cao học viên
Phan Quang Quý
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện đề tài, Tôi xin trân trọng cảm ơn Văn phòng Khối Hỗ trợ
BIDV Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thu thập dữ liệu, tìm hiểu hoạt động
tại đơn vị.
Tôi xin trân trọng cảm ơn nhà trường đã cho tôi được học hỏi những
kiến thức quý giá không chỉ phục vụ cho việc viết đề tài mà còn phục vụ cho
công việc của tôi sau này được tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS.Âu Văn Trường đã tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo và giúp đỡ trong suốt quá trình hoàn thành đề tài này.
Với kinh nghiệm thực tế chưa cao, khả năng phân tích, tổng hợp các kết
quả còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, kính
mong nhận được sự giúp đỡ cũng như ý kiến chỉ bảo của toàn thể hội đồng để
tôi hoàn thiện hơn nữa đề tài nghiên cứu của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
iii
MỤC LỤC
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DN
DNNVV
DNNN
CP
TNHH
NHNN
NHTM
NHTMCP
BIDV
TSBĐ
TCTD
DPRR
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp Nhà nước
Cổ phần
Trách nhiệm hữu hạn
Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Tài sản bảo đảm
Tổ chức tín dụng
Dự phòng rủi ro
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
BẢNG
Bảng 1.1: Bảng phân loại doanh nghiệp......................................................................6
Đơn vị: Nghìn tỷ đồng...............................................................................................44
v
Bảng 2.2: Doanh số cho vay DNNVV theo quy mô doanh nghiệp...........................50
Bảng 2.4: Doanh số cho vay DNNVV theo thời hạn cho vay...................................54
.....................................................................................................................................56
Bảng 2.6: Dư nợ cho vay DNNVV theo thời hạn cho vay.......................................56
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam...........42
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Diễn biến huy động vốn........................................................................46
Biểu đồ 2.2: Diễn biến hoạt động tín dụng................................................................47
Biểu đồ 2.3: Diễn biến hoạt động dịch vụ..................................................................48
Biểu đồ 2.4: Doanh số cho vay DNNVV...................................................................50
Biểu đồ 2.5: Tỷ trọng cho vay DNNVV....................................................................51
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện nền kinh
tế chuyển đổi, các DNNVV luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển nền kinh tế của đất nước. Phát triển DNNVV là một bộ phận quan trọng
trong quá trình xóa đói giảm nghèo và đáp ứng những mục tiêu phát triển
chung. Thực tế từ các nước trên thế giới cho thấy, một khu vực DNNVV lớn
mạnh là đặc điểm quan trọng của một nền kinh tế thành công. Cũng như nhiều
quốc gia khác, tầm quan trọng của khu vực DNNVV ở Việt Nam ngày càng
được chú trọng nhiều hơn trên nhiều phương diện xã hội. Theo số liệu điều tra
từ Tổng cục Thống kê đến đầu năm 2010 trên cả nước cho thấy, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ chiếm hơn 90% số lượng các doanh nghiệp, đóng góp hơn
40% tổng sản lượng GDP và tạo khoảng 12 tỷ việc làm cho xã hội. Tuy nhiên,
thực tế trong thời gian qua cho thấy, sức cạnh tranh của các DNNVV còn hạn
chế, có khuynh hướng giảm. Bên cạnh nguyên nhân khách quan xuất phát từ
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới thì nguyên nhân chủ quan dẫn đến hạn chế
sức cạnh tranh của các DNNVV chủ yếu là do chưa được đầu tư đổi mới máy
móc, trang thiết bị và quy trình công nghệ một cách thích đáng vì thiếu vốn.
Một trong những trở ngại cho các DNNVV là khả năng tiếp cận thu hút các
nguồn vốn bên ngoài gặp khó khăn, đặc biệt là đối với nguồn vốn tín dụng
ngân hàng.
Nhận thức được điều này, trong thời gian qua các ngân hàng thương
mại đã chú trọng quan tâm đến các doanh nghiệp này. Nhất là khi môi trường
kinh doanh giữa các ngân hàng ngày càng trở nên khốc liệt thì việc nhắm tới
các DNNVV như là một đối tượng khách hàng đầy tiềm năng là chiến lược
phát triển tất yếu của các ngân hàng thương mại.
Phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động cho vay giữa các ngân
hàng với các DNNVV nhằm đáp ứng yêu cầu về vốn để các doanh nghiệp đổi
mới máy móc, thiết bị, ứng dụng khoa học, kỹ thuật, quy trình công nghệ hiện
2
đại vào sản xuất - kinh doanh là cơ sở để tăng sức cạnh tranh, phát huy vai trò
quan trọng đối với phát triển kinh tế của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc
tế. Trên thực tế, hoạt động cho vay của ngân hàng đối với các DNNVV còn
nhiều hạn chế. Một điều tra gần đây của Tổng cục Phát triển doanh nghiệp,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, chỉ có trên 32% số doanh nghiệp vừa và nhỏ
có khả năng tiếp cận được với nguồn vốn ngân hàng (chủ yếu là ngân hàng
thương mại), trong khi đó có hơn 35% số doanh nghiệp khó tiếp cận và trên
32% số doanh nghiệp không có khả năng tiếp cận vốn ngân hàng. Tỷ lệ hồ sơ
vay vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ được ngân hàng chấp thuận cho vay chỉ
vào khoảng 30 - 40%.
Xuất phát từ thực tế này tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện chính sách
cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam” để làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Về cơ sở lý luận: có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đã
đề cập đến lý luận về phát triển các dịch vụ ngân hàng như: Prederics
MishKin (1994), tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính, Nhà xuất bản khoa
học kỹ thuật, Hà Nội; Nguyễn Minh Kiều (1993), Tiền tệ tín dụng, ngân hàng
và thanh toán quốc tế, Nxb Giáo dục, Hà Nội; Nguyễn Đăng Đờn, Nghiệp vụ
ngân hàng thương mại, Nxb Đại học quốc gia TPHCM. Nguyễn Minh Tuấn
(2008), Phát triển dịch vụ ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt
Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học kinh tế quốc dân.
Các công trình đã đưa ra quan niệm về dịch vụ ngân hàng, phân tích về
mặt lý luận việc đánh giá, đo lường chất lượng dịch vụ ngân hàng bao gồm cả
dịch vụ huy động vốn và dịch vụ cho vay tiền… Ngoài ra các nghiên cứu
khác trong nước liên quan đến hoạt động cho vay đối với DNNVV của hệ
thống ngân hàng thương mại trong những năm gần đây đã được một số tác giả
quan tâm, tuy nhiên đa phần những nghiên cứu này chỉ mới dừng lại ở các
nghiên cứu về hoạt động tín dụng đối với DNNVV và chưa có một nghiên
3
cứu nào về hoạt động cho vay đối với DNNVV tại hệ thống ngân hàng của
BIDV.
Nghiên cứu của tác giả. Đặng Trung Nghĩa, năm 2005 về "Giải pháp
tín dụng cho doanh nghiệp ở các ngân hàng thương mại Việt Nam", nghiên
cứu của Lê Văn Thành, cán bộ ngân hàng Nhà nước Việt Nam, năm 2006 về
"Đánh giá hoạt động tín dụng dành cho Doanh nghiệp trên hệ thống ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam". Các nghiên cứu tuy đã
có phần nào tiếp cận, đánh giá được tín dụng dành cho DNNVV nhưng cũng
chỉ mới dừng lại ở tiêu chí mang tính chất phân tích, mô tả, chưa có một đánh
giá sâu sắc về chất lượng tín dụng trên các khía cạnh theo quy mô doanh
nghiệp, theo các loại hình cho vay, theo khu vực địa lý.
Như vậy, có thể nói việc nghiên cứu hoạt động tín dụng đối với
DNNVV tại các ngân hàng thương mại một cách có chiều sâu đang còn rất
hạn chế, thực tế hiện nay trong phân tích hoạt động tín dụng cho các DNNVV
chủ yếu các cấp ngân hàng vẫn tiếp cận theo loại hình cho vay. Do đó, việc
tiếp tục nghiên cứu làm rõ những vấn đề về hoạt động cho vay của BIDV Việt
Nam đối với các DNNVV là rất cần thiết, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế như hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đề ra các nhiệm vụ sau:
Một là, hệ thống hóa những vấn đề cơ bản, cơ sở lý luận về chính sách
cho vay của ngân hàng đối với DNNVV.
Hai là, phân tích tình hình điều hành và thực tế thực hiện chính sách
cho vay đối với DNNVV của ngân hàng BIDV Việt Nam trong thời gian qua
và đánh giá những kết quả đạt được cũng như những tồn tại và nguyên nhân
về hoạt động cho vay của ngân hàng đối với DNNVV.
Ba là, từ tình hình thực hiện chính sách của các để từ đó đưa ra các giải
pháp hoàn thiện chính sách cho vay của ngân hàng đối với DNNVV tại BIDV
Việt Nam.
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là tình hình điều hành và thực hiện chính sách
cho vay của ngân hàng BIDV Việt Nam với DNNVV.
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu hoạt động cho vay đối với
DNNVV của BIDV Việt Nam
Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu chính sách cho vay của BIDV đối
với các DNNVV trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến 2012.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phép duy vật biện chứng làm
phương pháp nghiên cứu chung, xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu luận
văn.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đánh giá hoạt động cho vay
của ngân hàng đối với DNNVV thông qua các biến số kinh tế nhằm luận giải
về các vấn đề có liên quan đến hoạt động cho vay của ngân hàng đối với
DNNVV.
- Phương pháp thống kê mô tả, so sánh, đối chiếu và tổng hợp được sử
dụng để có thể đưa ra một cái nhìn tổng quát, xác thực và đo lường những kết
quả đạt được cũng như những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại.
6. Những đóng góp của luận văn
- Phân tích, đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của chính sách cho
vay giữa BIDV Việt Nam với các DNNVV.
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách cho vay của BIDV
với DNNVV trong giai đoạn tiếp theo.
7. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia
làm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay đối với Doanh
nghiệp nhỏ và vừa của NHTM
5
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện chính sách cho vay các Doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách cho vay đối với Doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH CHO VAY ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm và vai trò của DNNVV trong nền kinh tế
1.1.1 Khái niệm DNNVV
Trong nền kinh tế có nhiều cách phân loại doanh nghiệp khác nhau
nhưng cách phân loại theo quy mô được xem là phổ biến nhất. Theo cách
phân loại này thì doanh nghiệp bao gồm DNNVV và doanh nghiệp lớn. Theo
Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/6/2009, DNNVV được
định nghĩa như sau: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo
quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô
tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định
trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân
năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Bảng phân loại doanh nghiệp
Doanh
Quy mô
nghiệp
Doanh ngiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
siêu nhỏ
Số
Tổng
Số
Tổng
Số
lao động
nguồn
lao động
nguồn vốn
lao động
(người)
vốn
(người)
( tỷ đồng)
(người)
≤10
( tỷ đồng)
≤ 20
10 - 200
20 - 100
200 - 300
sản
II. Công nghiệp
≤10
≤ 20
10 - 200
20 - 100
200 - 300
và xây dựng
III. Thương mại
≤10
≤ 20
10 - 50
10 - 50
50 - 100
Khu vực
I. Nông lâm
nghiệp và thủy
và dịch vụ
- Đối tượng áp dụng
7
+ Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp
+ Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp
Nhà nước
+ Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật đầu tư nước
ngoài
+ Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã
+ Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghi định số 02/2000/NĐ-CP
ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh.
- Cơ sở xác định vốn và lao động
+ Vốn đăng ký: Đối với doanh nghiệp nhà nước là vốn điều lệ được
Nhà nước cấp, đối với doanh nghiệp còn lại là vốn ghi trên đăng ký kinh
doanh, giấy phép đầu tư
+ Lao động trung bình hàng năm là số lao động bình quân mà doanh
nghiệp đã đăng ký với cơ quan quản lý lao động và có tham gia bảo hiểm xã
hội (không bao gồm số lao động doanh nghiệp đăng hợp đồng thời vụ, hợp
đồng công việc).
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong tổng số doanh nghiệp trên
địa bàn cả nước có đến trên 96% là DNNVV ; đóng góp trên 40% GDP, thu
hút hơn 50% tổng số lao động, chiếm 17,26% tổng nộp ngân sách nhà nước.
Bên cạnh những thế mạnh riêng, các DNNVV còn hạn chế về nhiều mặt, vì
vậy, thường rất nhạy cảm trước những biến động của môi trường KT-XH .
1.1.2 Đặc điểm của DNNVV Việt Nam
Có thể nói, DNNVV là một thực thể kinh tế mang những đặc điểm
riêng không giống bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế. Điều này
cũng giải thích một cách chính xác sự tồn tại và phát triển của các DNNVV
trong nền kinh tế. Chính những đặc điểm đó đã mang lại cho các doanh
nghiệp này những ưu thế nhất định.
Ưu điểm của DNNVV
8
Đầu tiên là quy mô vốn, DNNVV cần số vốn đầu tư ban đầu nhỏ hơn
các doanh nghiệp lớn, do đó các nhà đầu tư dễ lựa chọn loại hình doanh
nghiệp này khi quyết định thành lập công ty. Vốn đầu tư ban đầu nhỏ, khả
năng thu hồi vốn sẽ lớn hơn vì phần nhiều DNNVV hoạt động trong lĩnh vực
thương mại, sản xuất nhỏ nên sản phẩm dễ tiêu thụ, chu kỳ kinh doanh ngắn,
thu hồi vốn nhanh hơn những ngành khác và nhanh hơn những doanh nghiệp
lớn. Do thu hồi được vốn ban đầu bỏ ra trong thời gian tương đối ngắn nên
khả năng quay vòng vốn, tái đầu tư lớn, mở rộng sản xuất kinh doanh dễ dàng
hơn.
Hoạt động kinh doanh của các DNNVV rất linh hoạt và năng động: Các
chủ doanh nghiệp luôn vận động, tìm kiếm các lĩnh vực mà ở đó có sự cạnh
tranh chưa cao song lại đem lại lợi nhuận nhanh chóng. DNNVV có khả năng
chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng kinh doanh nhanh, tăng
giảm lao động dễ dàng và thậm chí việc chuyển địa điểm cũng dễ dàng hơn so
với các doanh nghiệp lớn. Do đó, họ luôn tìm kiếm, phát hiện được những
ngành, lĩnh vực, mặt hàng xã hội đang thiếu, đang cần đầu tư sản xuất; đồng
thời không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động và chất lượng
sản phẩm để có ưu thế trong cạnh tranh và thu được lợi nhuận cao.
Hơn nữa, chính quy mô nhỏ và vừa cũng tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu sản xuất hoặc bộ máy quản lý
khi có sự bất lợi từ môi trường kinh doanh, tăng khả năng thích nghi của
doanh nghiệp với những biến động bất lợi từ thị trường.
DNNVV có số nhân công ít hơn doanh nghiệp lớn, dây truyền sản xuất
không quá cồng kềnh nên có thể tận dụng diện tích xây dựng nhà xưởng, cơ
sở sản xuất, làm giảm giá thành sản phẩm, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ có
tính cạnh tranh cao hơn.
Tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý kinh doanh gọn nhẹ, các quyết định
quản lý được thực hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp dễ dàng.
Do đó góp phần tiết kiệm chi phí quản lý.
9
Hạn chế của DNNVV
Một đặc điểm nổi bật của các DNNVV là quy mô về vốn bị hạn chế
khiến cho các DNNVV gặp không ít khó khăn về nhiều mặt. Ngoài nguồn
vốn huy động từ phía gia đình, bạn bè, việc tiếp cận các nguồn vốn chính thức
từ ngân hàng, thị trường tài chính để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh cũng gặp nhiều trở ngại do DNNVV thiếu tài sản có giá trị lớn để thế
chấp. Do vậy, các DNNVV thường rơi vào tình trạng thiếu vốn, nhiều cơ hội
kinh doanh bị bỏ lỡ, các DNNVV gặp khó khăn trong việc mua sắm trang
thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh. Mặt khác, vốn ít khiến cho các
DNNVV không có khả năng trả lương và thưởng cao để cạnh tranh với các
doanh nghiệp vốn lớn nên việc thu hút và giữ chân người lao động giỏi là vấn
đề khó khăn của DNNVV. Quy mô nhỏ lại luôn khó khăn về vốn nên hầu hết
các DNNVV không đủ kinh phí để đầu tư, nâng cao trình độ chuyên môn cho
người lao động.
Các DNNVV thiếu máy móc, trang thiết bị hiện đại với công nghệ cao
phục vụ sản xuất. Hạn chế này cũng bắt nguồn từ việc thiếu vốn của DNNVV.
Trang thiết bị lạc hậu cộng thêm tay nghề thấp của công nhân là một thách thức
rất lớn với các DNNVV trong nền kinh tế của Việt Nam hiện nay.
Năng lực quản lý, điều hành của những người đứng đầu trong doanh
nghiệp cũng là 1 vấn đề đáng quan tâm. Do trong các DNNVV, người sở hữu
vốn đồng thời là người quản lý, chủ doanh nghiệp nên hiểu biết về giá trị
doanh nghiệp còn hạn chế, hiểu biết pháp luật trong kinh doanh cũng không
được cặn kẽ.
Luôn tiềm ẩn rủi ro trong kinh doanh do các DNNVV còn hạn chế về
năng lực quản lý, về vốn, hơn nữa thị trường của các DNNVV chủ yếu là khu
vực các doanh nghiệp lớn như làm đại lý bán hàng, nhà cung cấp nguyên vật
liệu, kênh phân phối,… Những thi trường này chứa đựng nhiều rủi ro và
không ổn định khiến cho hoạt động của các DNNVV trở nên bấp bênh. Sự
cạnh tranh cũng diễn ra rất gay gắt, thực tế thì đối thủ cạnh tranh lớn nhất của
10
các DNNVV không phải là những doanh nghiệp lớn mà chính là các doanh
nghiệp có cùng quy mô. Bởi vì, các doanh nghiệp lớn có thị trường ổn định,
nhóm khách hàng mục tiêu thường được xác định trước, họ luôn tìm kiếm
những thị trường có quy mô lớn, có chiều sâu còn những thị trường nhỏ
thường bị bỏ qua. Trong khi đó, các DNNVV có số lượng đông đảo và đều có
mục đích giống nhau là tìm kiếm những thị trường còn bỏ trống, các thị
trường này quá nhỏ bé để chứa nhiều doanh nghiệp trong đó cho dù đó là
những doanh nghiệp nhỏ nên họ gặp nhiều áp lực về sự thâu tóm, xoá sổ từ
các doanh nghiệp lớn.
Một khó khăn nữa là việc thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với
nước ngoài. Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta còn ở giai đoạn thấp, trước
ngưỡng cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới, do trình độ còn hạn chế nên các
DNNVV còn bộc lộ rất nhiều yếu kém trong quá trình hoạt động. Trốn lậu
thuế, một số doanh nghiệp trốn đăng ký kinh doanh, làm hàng giả, hàng kém
chất lượng, … khi xảy ra tranh chấp thì bên bị thiệt thường là các DNNVV do
năng lực pháp lý và hiểu biết về pháp luật của các DNNVV còn hạn chế,
không nắm bắt kịp thời những thay đổi của thị trường trong nước và thế giới.
1.1.3 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường
Đối với sự phát triển kinh tế của một đất nước thì không thể không kể
đến sự đóng góp của các DNNVV. Đặc biệt là đối với các nước đang phát
triển thì DNNVV có vị trí, vai trò hết sức quan trọng. Trong bối cảnh cạnh
tranh gay gắt như hiện nay, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các nước đặc biệt
là các nước đang phát triển cần có các chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV,
có như vậy mới huy động được tối đa nguồn lực xã hội, góp phần hỗ trợ các
doanh nghiệp lớn phát triển, tăng sức cạnh tranh trên thị trường…Vị trí và vai
trò đó của DNNVV được thể hiện qua các đặc điểm chủ yếu như sau:
Thứ nhất, về số lượng, các DNNVV là bộ phận kinh tế chiếm ưu thế
tuyệt đối, nó có mặt ở hầu hết mọi thành phần kinh tế với đủ các loại hình
kinh doanh đa dạng. Ở nước ta số lượng các DNNVV chiếm tỷ trọng gần 90%
11
tổng số các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Con số này còn ở mức cao hơn ở
một số nước phát triển như Đức, Nhật. Đối với một số nước Châu Á như
Singapore, Malaixia, Hàn Quốc…các DNNVV chiếm từ 81-98% số doanh
nghiệp. Như vậy mới chỉ nhìn vào những con số này chúng ta đã thấy được vị
trí của các DNNVV trong nền kinh tế quan trọng đến mức nào. Với số lượng
như vậy, hàng năm các DNNVV đóng góp rất đáng kể vào GDP của cả nước.
Toàn bộ bộ phận DNNVV hàng năm tạo ra khoảng 31% giá trị tổng sản lượng
công nghiệp, khoảng 24% GDP của cả nước. Nếu nhìn vào tốc độ tăng trưởng
GDP của các DNNVV như hiện nay có thể thấy rằng tiềm năng phát triển để
đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra trong giai đoạn tới phụ
thuộc nhiều vào sự phát triển của các DNNVV chứ không chỉ phụ thuộc vào
các chương trình dự án lớn.
Thứ hai, DNNVV đóng vai trò quan trọng việc thu hút lao động, tạo
công ăn việc làm với chi phí đầu tư thấp, giảm thất nghiệp góp phần làm ổn
định và phát triển xã hội.
Ở nước ta, theo ước tính, hàng năm các DNNVV thu hút khoảng 7,8 tỷ
lao động tương đương với 26% lao động của cả nước, trong đó số lao động
được thu hút vào các ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn nhất
(35,7%), sau đó đến các ngành thương mại-dịch vụ (19,5%), xây dựng
(15,6%)…Con số này cho thấy vai trò quan trọng của DNNVV lớn hơn rất
nhiều so với DNNN trong việc thu hút lao động, tạo công ăn việc làm góp
phần giải quyết tốt sức ép thất nghiệp đang ngày càng gia tăng.
Thứ ba, nhờ việc thu hút hàng tỷ lao động mỗi năm, các DNNVV đã
tạo ra nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên cho dân cư, góp phần quan
trọng trong việc tạo lập sự phát triển cân bằng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo vùng, lãnh thổ.
Phần lớn các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế lớn thường chỉ tập
trung đáp ứng nhu cầu của một nhóm khách hàng nhất định có mức thu nhập
cao ở các vùng đô thị, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển, dân cư đông đúc, thị
12
trường tiêu thụ rộng. Vì thế họ đã bỏ qua đoạn thị trường rất quan trọng đó là
bộ phận khách hàng có mức thu nhập hơn nhưng lại chiếm tỷ trọng khá lớn
trong nền kinh tế. Đây là đoạn thị trường có tiềm năng rất lớn để cho các
DNNVV xâm nhập, tạo chỗ đứng cho riêng mình nhưng đồng thời như thế nó
cũng đã giúp cân đối được khả năng cung cầu trong xã hội, đáp ứng được nhu
cầu cho phần lớn bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp, nâng cao mức sống
cho họ. Hơn nữa các các doanh nghiệp lớn không đáp ứng được tất cả các yêu
cầu của nền kinh tế như lưu thông hàng hóa, phát triển ngành nghề truyền
thống, tiểu thủ công nghiệp…Trong khi đó các DNNVV với quy mô nhỏ, cơ
cấu tổ chức đơn giản, linh hoạt; mặt khác vốn của hầu hết các doanh nghiệp
này là do những chủ thể kinh doanh tự nguyện bỏ ra, hoặc do các cổ đông
đóng góp hoặc do liên doanh liên kết…vì thế họ có quyền tự chủ trong sản
xuất kinh doanh, có quyền quyết định ngành nghề kinh doanh phù hợp với
khả năng, trình độ cũng như chu cầu thị trường. Đây là những điều kiện quan
trọng giúp các DNNVV từng bước khai thác những tiềm năng của các vùng,
miền mà các doanh nghiệp lớn không tiếp cận được, góp phần giảm bớt chênh
lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư, tạo ra sự phát triển tương đối đồng
đều giữa các vùng của đất nước và cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực
kinh tế khác nhau.
Thứ tư, DNNVV có vai trò quan trọng trong việc khai thác nguồn tài
chính của dân cư trong vùng và sử dụng tối ưu nguồn lực tại chỗ của các địa
phương. Với việc thành lập một doanh nghiệp loại này chỉ cần một số vốn
nhỏ do đó đã tạo điều kiện cho dân cư tham gia đầu tư góp vốn vào DNNVV.
Như vậy thông qua các DNNVV, những nguồn vốn nhỏ, tạm thời nhàn rỗi đã
có khả năng được sinh lời. Hơn nữa việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân
hàng của các DNNVV rất hạn chế, nguồn vốn hoạt động chủ yếu được huy
động từ những người thân quen vì thế DNNVV được tiếp xúc trực tiếp với
người cho vay, người cho vay có khi là chủ sở hữu doanh nghiệp, trực tiếp
điều hành hoạt động của doanh nghiệp nên việc sử dụng vốn sẽ hiệu quả hơn.
13
Bên cạnh đó các DNNVV có thể tận dụng được nguồn lao động và nguyên
vật liệu với giá rẻ do đó làm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tạo
lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm. Như
vậy sự phát triển của các DNNVV đã tận dụng được tối đa các nguồn lực của
xã hội, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động có trình độ, tay nghề thấp góp
phần làm ổn định và phát triển xã hội.
Thứ năm, DNNVV có mặt trong rất nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác
nhau và tồn tại như một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế. Nó có tác
dụng hỗ trợ, bổ sung, thúc đẩy các doanh nghiệp lớn phát triển. DNNVV là
một bộ phận hữu cơ gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, là cơ sở để
hình thành nên các tập đoàn kinh tế lớn trong quá trình phát triển nền kinh tế
thị trường. Ngoài ra các DNNVV cũng là đầu mối cung cấp các đầu vào hay
tham gia vào một khâu nào đó trong quá trình sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp lớn. Chính điều này đã làm tăng khả năng hoạt động cho các
doanh nghiệp trên thị trường, tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các loại hình
doanh nghiệp, các thành phần kinh tế góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh
cho các doanh nghiệp.
Thứ sáu, DNNVV hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng
động, sáng tạo. Cùng với việc phát triển các DNNVV là sự xuất hiện của nhiều nhà
kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, đây là lực lượng rất cần thiết góp phần thúc đẩy sản
xuất kinh doanh ở nước ta phát triển. Đội ngũ các nhà kinh doanh hiện nay ở Việt
Nam còn rất khiêm tốn cả về số lượng và chất lượng do chế độ cũ để lại. Trong
những năm đổi mới đã xuất hiện nhiều gương mặt trẻ điển hình, năng động và sáng
tạo trong quá trình điều hành, quản lý DNNVV. Với chính sách hỗ trợ các DNNVV
sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ các nhà kinh doanh trẻ phát huy năng lực của
mình đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội.
Thứ bảy, sự phát triển của các DNNVV tạo ra môi trường cạnh tranh
thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển có hiệu quả hơn. Sự tham gia của rất
nhiều các DNNVV vào quá trình sản xuất kinh doanh làm cho số lượng và
14
chủng loại sản phẩm tăng lên rất nhanh. Kết quả là làm tăng tính cạnh tranh
trên thị trường, tạo ra sức ép lớn buộc các doanh nghiệp thường xuyên đổi
mới mặt hàng, giảm chi phí, tăng chất lượng để thích ứng với môi trường
cạnh tranh. Những yếu tố đó có tác động lớn làm cho nền kinh tế phát triển
năng động và hiệu quả hơn.
Với vị trí và vai trò to lớn đó của DNNVV trong nền kinh tế quốc
doanh thì việc khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp này là một giải pháp
quan trọng để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010 đặc
biệt là thực hiện chương trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và
nông thôn. Đây cũng là một trong các giải pháp đảm bảo cho sự phát triển bền
vững của nền kinh tế nước ta. Vì vậy Chính phủ cần đưa ra các chính sách
phát triển hợp lý tạo điều kiện tốt nhất để các DNNVV phát huy được tối đa
vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước.
1.2 Chính sách cho vay các DNNVV của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm chính sách cho vay của NHTM
Hoạt động cho vay có thể được hiểu là việc ngân hàng đưa tiền cho
khách hàng với cam kết là khách hàng phải trả cả gốc và lãi trong khoảng thời
gian xác định. Trong quan hệ vay mượn này, ngân hàng và khách hàng
(DNNVV) có hợp đồng vay vốn quy đinh quyền và nghĩa vụ cụ thể của các
bên tham gia về: lượng vốn vay, thời hạn vay, mục đích sử dụng vốn vay, tài
sản đảm bảo, phương thức trả nợ,…
Chính sách cho vay của NHTM là một hệ thống các biện pháp liên
quan đến việc khuếch trương hoặc hạn chế hoạt động cho vay nhằm đạt được
các mục tiêu của ngân hàng trong từng thời kỳ cụ thể.
Với ý nghĩa như vậy, rõ ràng chính sách cho vay có tác động rất lớn
đến chất lượng cho vay ngân hàng nói chung và chất lượng cho vay doanh
nghiệp nhỏ và vừa nói riêng. Trước hết là về mặt quy mô tín dụng, nếu chính
sách cho vay của ngân hàng trong một thời kỳ nào đó hạn chế cho vay trung
và dài hạn cũng có nghĩa là quy mô cho vay dự án đầu tư của ngân hàng đó sẽ
15
có nguy cơ bị thu hẹp. Đó có thể cho thấy chất lượng cho vay dự án của ngân
hàng đang gặp vấn đề hay ít ra xét về quy mô cũng không thể nói chất lượng
cho vay dự án của ngân hàng trong giai đoạn đó là tốt. Ngoài ra, chính sách
tín dụng của ngân hàng còn bao gồm hàng loạt các vấn đề như: những quy
định về điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng đối với khách hàng; lĩnh vực tài trợ;
biện pháp bảo đảm tiền vay; quy trình quản lý tín dụng; lãi suất có tác dụng
trực tiếp hay gián tiếp đến chất lượng tín dụng cũng như chất lượng cho vay
doanh nghiệp của ngân hàng. Nếu các vấn đề đó được xây dựng một cách
khoa học và chặt chẽ, kết hợp hài hoà lợi ích của ngân hàng, khách hàng và
của toàn xã hội thì chắc chắn chất lượng cho vay DNNVV được nâng lên và
ngược lại.
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới chính sách cho vay DNNVV của NHTM
1.2.2.1 Định hướng, chiến lược cho vay
Định hướng chiến lược của ngân hàng là đường lối chủ trương đảm bảo
cho mọi hoạt động được thực hiện một cách tốt nhất trong đó có hoạt động
cho vay, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một Ngân hàng. Một
chiến lược cho vay đúng đắn, phù hợp sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm
bảo khả năng sinh lời của hoạt động cho vay, từ đó sẽ mang lại lợi nhuận cho
Ngân hàng
Trên cơ sở diễn biến thị trường, tình hình kinh tế cùng với đó là chỉ đạo
chung của NHNN, BIDV cũng sẽ có những điều chỉnh hoạt động cho vay thời
gian tới.
BIDV sẽ tập trung vào 4 định hướng:
1. Những DN được xác định khó khăn tạm thời, có định hướng phát triển lâu
dài BIDV sẽ hỗ trợ DN đặc biệt là khối Doanh nghiệp Nhỏ và vừa để có điều
kiện hoạt động kinh doanh trong thời gian tới.
2. Cùng với việc giảm lãi suất thì BIDV sẽ tập trung tăng việc cấp tín dụng,
đặc biệt là tín dụng đáo hạn để đảm bảo vốn cho DN tái sản xuất và duy trì
hoạt động kinh doanh.
16
3. Đưa ra gói sản phẩm linh hoạt gồm 4 nhà, nhà băng – nhà đầu tư– nhà thầu
– khách hàng với quỹ cung ứng có dòng tiền tốt nhất cho các chủ thể trên.
Đảm bảo giữa ngân hàng – nhà thầu –khách hàng cùng chia sẻ để tạo ra luu
chuyển về dòng tiền.
4. Triển khai hàng loạt các biện phát, cùng với DN cơ cấu lại các hoạt động,
định hướng phát triển thời gian tới.
Điểm nhấn ấn tượng trong hoạt động tín dụng của BIDV thể hiện ở việc
tăng trưởng tín dụng đều qua các tháng, ngay từ đầu năm 2013. Trong điều
kiện việc hấp thụ vốn của nền kinh tế và khả năng cấp tín dụng của toàn hệ
thống Ngân hàng còn khó khăn, việc gia tăng tín dụng của BIDV ngay từ đầu
năm đã đảm bảo nguồn vốn cho vay với các khách hàng. Điều đó thể hiện
tinh thần chia sẻ của BIDV với các Doanh nghiệp trong thời kỳ khó khăn
nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp phục hồi nền sản xuất.
Hoạt động tín dụng bán lẻ của BIDV tập trung đáp ứng nhu cầu vay vốn
của các khách hàng cá nhân và hộ gia đình để tiêu dùng và phục vụ sản xuất,
kinh doanh. Từ năm 2009, BIDV đã xây dựng chiến lược phát triển hoạt động
bán lẻ tập trung vào lĩnh vực tín dụng tiêu dùng, hiện dư nợ tín dụng tiêu
dùng chiếm khoảng 67% tổng dư nợ tín dụng bán lẻ và có xu hướng ngày
càng tăng. Với nền khách hàng cá nhân rộng lớn, BIDV hướng tới cung cấp
các sản phẩm tín dụng đa dạng, chuẩn hóa và tập trung phát triển sản phẩm
đáp ứng nhu cầu thiết yếu của khách hàng, đồng thời thiết kế sản phẩm tín
dụng phù hợp với từng phân khúc khách hàng, bao gồm: cho vay mua nhà,
sửa chữa nhà ở với thời hạn tối đa lên tới 15 năm, cho vay tín chấp tiêu dùng
(vay lương, thấu chi tài khoản...), cho vay mua ô tô phục vụ nhu cầu tiêu dùng
và nhu cầu sản xuất, kinh doanh, cho vay du học, cho vay mua cổ phiếu phát
hành lần đầu, cho vay trả góp, cho vay cầm cố và chiết khấu GTCG, thẻ tín
dụng (Visa, Master...), các sản phẩm tín dụng bán lẻ khác... theo đó, giai
đoạn 2011-2015, BIDV xác định lĩnh vực tín dụng tiêu dùng là một lĩnh vực
cơ bản, mũi nhọn trong hoạt động ngân hàng bán lẻ của BIDV và BIDV phải
17
tập trung phát triển với mục tiêu tăng trưởng nhanh (30-40%/năm) và đảm
bảo chất lượng tín dụng an toàn.
Năm 2013, BIDV đã thể hiện tốt vai trò tiên phong, là công cụ đắc lực
của Đảng, của Chính phủ và NHNN trong việc thực thi các nhiệm vụ chính trị
được giao, cụ thể: BIDV thực hiện điều hành lãi suất cho vay theo hướng chủ
động, đi đầu và dẫn dắt thị trường, bám sát chỉ đạo của NHNN.
Dòng vốn tín dụng của BIDV hướng vào các lĩnh vực ưu tiên, cho vay
phát triển nông nghiệp, nông thôn, tăng 32,6%, cho vay doanh nghiệp nhỏ và
vừa tăng 24,8%, tài trợ xuất khẩu tăng 21%, cho vay doanh nghiệp ứng dụng
công nghệ cao tăng 25,5%. Đồng thời, BIDV đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng
có hiệu quả, tiếp tục hỗ trợ thị trường, tháo gỡ khó khăn trong SXKD cho
khoảng 800 doanh nghiệp.
1.2.2.2 Lãi suất, giá cả
Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng,
vì nó là giá của quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất
định, mà người sử dụng phải trả cho người cho vay; là tỷ lệ của tổng số tiền
phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất
là cơ sở để cho cá nhân cũng như doanh nghiệp đưa ra các quyết định của
mình như chi tiêu hay để dành gửi tiết kiệm, đầu tư, mua sắm trang
thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh hay cho vay hoặc gửi tiền vào Ngân
hàng. Trường hợp lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa quá cao
sẽ khiến doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn.Vì thế, hoạt
động cho vay doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi mức quy định lãi
suất cho vay của các Ngân hàng, các Ngân hàng cần phải đưa ra một mức lãi
suất thích hợp để có thể hấp dẫn và thu hút khách hàng của mình.
- Lãi suất huy động: lãi suất huy động của BIDV được đa dạng theo
nhiều loại tiền và nhiều kỳ hạn đầu tư thỏa mãn nhu cầu đầu tư khác nhau của
từng khách hàng.
18
- Lãi suất cho vay: lãi suất cho vay được xác định dựa trên lãi suất huy
động, chi phí khoản vay và lợi nhuận mong muốn của ngân hàng.
- Chính sách phí dịch vụ khác: BIDV đã có biểu phí dịch vụ dành cho
khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp trong hầu hết các dịch vụ như: giao
dịch tiền gửi thanh toán, chuyển tiền, tín dụng chứng từ, nhờ thu, dịch vụ bảo
lãnh, điện phí, bao thanh toán trong nước, dịch vụ ngân quỹ và các dịch vụ
khác.
1.2.2.3 Sản phẩm
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày nay, sản phẩm dịch vụ giữ một vai trò
quan trọng trong sự phát triển của các Ngân hàng và có sự tác động không
nhỏ đến hoạt động tín dụng trung và dài hạn. Các Ngân hàng cần phải không
ngừng đa dạng các sản phẩm dịch vụ, phát triển các sản phẩm dịch vụ của
mình theo chiều sâu để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách
hàng, mang lại nhiều tiện ích và an toàn cho khách hàng, đồng thời có thể
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường.
Bản thân ngân hàng là một dạng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tiền
tệ, thu phí của khách hàng, được xếp vào nhóm ngành dịch vụ. Hoạt động
ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thể , nhưng với việc đáp ứng
các nhu cầu về tiền tệ, về vốn, về thanh toán ... cho khách hàng, ngân hàng đã
gián tiếp tạo ra các sản phẩm dịch vụ cho nền kinh tế.
Việc phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng sẽ giúp các doanh
nghiệp giảm chi phí sản xuất kinh doanh, đồng thời sự phát triển này làm tăng
tỷ trọng của ngành dịch vụ trong GDP của nền kinh tế, điều này đúng với
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình hội nhập. Phát triển các
sản phẩm dịch vụ ngân hàng tạo ra sự cạnh tranh trong nền kinh tế, cạnh tranh
giữa những chủ thể đi vay, cho vay. Tùy theo định hướng chiến lược mà sản
phẩm của ngân hàng sẽ được phát triển hỗ trợ hoặc kìm hãm nhóm khách
hàng mục tiêu trong những giai đoạn nhất định.
1.2.2.4 Hệ thống Marketing, hỗ trợ
19
Hiện nay, Marketing đã trở thành một phần không thể thiếu đối với các
doanh nghiệp nói chung và các Ngân hàng thương mại nói riêng. Hoạt động
marketing giữ một vai trò quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh, thương
hiệu và sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng đến với khách hàng. Hoạt động tín
dụng trung và dài hạn cũng chịu tác động rất nhiều từ hoạt động marketing
tiếp thị, thông qua các chương trình khuyến mại, các chương trình quảng cáo,
giới thiệu sản phẩm, giảm lãi suất, tặng quà nhân ngày lễ…của các Ngân hàng
sẽ nhận được sự quan tâm chú ý của khách hàng và thu hút họ đến giao dịch
nhiều hơn.
Trong hệ thống các yếu tố hỗ trợ hoạt động ngân hàng thì thông tin
luôn là yếu tố cơ bản cần thiết cho công tác quản lý, hoạt động cho vay của
ngân hàng cũng không loại trừ điều đó. Thông tin càng chính xác, kịp thời thì
càng thuận lợi cho ngân hàng trong việc đưa ra quyết định cho vay, theo rõi
việc sử dụng vốn vay và tiến độ trả nợ.Thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ
còn giúp ngân hàng xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, chính
sách tín dụng một cách linh hoạt cho phù hợp với tình hình thực tế. Tất cả
những điều trên góp phần nâng cao chất lượng cho vay của mỗi ngân hàng.
Hệ thống thông tin hỗ trợ là yếu tố sống còn trong nền kinh tế thị
trường, trong cạnh tranh ai nắm được thông tin trước là người có khả
năng dành chiến thắng lớn hơn, với Ngân hàng thông tin tín dụng hết sức cần
thiết là cơ sở để xem xét, quyết định cho vay hay không cho vay và để theo
dõi, quản ký các khoản cho vay với mục đích đảm bảo an toàn và hiệu quả đối
với khoản vốn cho vay. Thông tin tín dụng được thu thập từ nhiều nguồn khác
nhau, thông tin càng đầy đủ, chính xác kịp thời và toàn diện thì khả
năng ngăn ngừa rủi ro càng cao, chất lượng tín dụng càng cao.
Công nghệ ngân hàng và trang thiết bị kỹ thuật cũng là một trong
những nhân tố tác động đến chất lượng cho vay doanh nghiệp của các ngân
hàng nhất là trong thời đại khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão
hiện nay. Một ngân hàng sử dụng công nghệ hiện đại, được trang bị các
20
phương tiện kỹ thuật cao sẽ tạo điều kiện đơn giản hoá các thủ tục, rút ngắn
thời gian giao dịch, đam lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng vay vốn. Đó là
tiền đề để ngân hàng thu hút thêm khách hàng, mở rộng hoạt động tín dụng.
Sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại còn giúp cho việc thu thập
thông tin nhanh chóng, chính xác, công tác lập kế hoạch và xây dựng chính
sách tín dụng cũng đạt hiệu quả cao hơn.
1.2.2.5 Các thể chế nghiệp vụ
Để phát triển hoạt động cho vay của ngân hàng thì việc hoàn thiện các
thể chế, nghiệp vụ liên quan đến hoạt động cho vay là điều hết sức quan
trọng. Nó giúp ngân hàng thu hút khách hàng, mở rộng cho vay và qua đó
nâng cao chất lượng tín dụng.
Một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động cho vay của
một ngân hàng là vốn và lãi vay được thanh toán đầy đủ và đúng hạn. Điều
này sẽ không thể có được nếu như việc thực hiện dự án không đạt hiệu quả
mong muốn, hoặc doanh nghiệp không có thiện chí, cố tình lừa đảo ngân
hàng. Để hạn chế nguy cơ đó ngân hàng cần phải thực hiện tốt công tác thẩm
định dự án, thẩm định khách hàng. Thông thường công tác thẩm định khách
hàng được tiến hành trước và chủ yếu tập trung xem xét các mặt : khả năng
quản lý, khả năng điều hành, năng lực sản xuất kinh doanh, mức độ tín nhiệm.
Những khách hàng đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu do ngân hàng đề ra
thì dự án đầu tư sẽ được xem xét để ra quyết định có cho vay hay không. Vấn
đề đặt ra ở đây là thủ tục và các điều kiện, tiêu chuẩn được sử dụng làm căn
cứ để đánh giá khách hàng và dự án đầu tư có hợp lý hay không. Nếu thủ tục
quá rườm rà, các điều kiện tiêu chuẩn đặt ra quá khắt khe, không phù hợp với
thực tế sẽ làm nản lòng khách hàng hoặc có rất ít khách hàng thoả mãn được
yêu cầu của ngân hàng. Điều đó gây cản trở cho ngân hàng trong việc thu hút
thêm khách hàng, mở rộng tín dụng. Ngược lại, nếu quy trình, điều kiện đặt ra
không chặt chẽ có thể khiến ngân hàng mắc những sai lầm đáng tiếc trong
việc ra quyết định cho vay, dẫn đến rủi ro tín dụng. Chính vì vậy trong quá