Tải bản đầy đủ (.doc) (115 trang)

Luận văn thạc sỹ Quản lý nhà nưới đối với thị trường du lịch ở sầm sơn tỉnh thanh hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (578.97 KB, 115 trang )

i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm
hướng dẫn, giúp đỡ của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài trường.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn TS.Trần Thị Bích Hằng, người hướng
dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm
luận văn.
Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo, nhân viên phòng ban của Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch Thanh Hóa, UBND Thị xã Sầm Sơn đã cung cấp cho tôi những
thông tin, tư liệu quý giá và những đóng góp xác đáng, hết sức quý báu để tôi hoàn
thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo Trường Đại học
Thương mại, khoa Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học
tập và nghiên cứu để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ Quản lý kinh tế.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp, bạn bè đã tạo điều
kiện giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập.
Do những hạn chế về chủ quan và khách quan, đề tài nghiên cứu không tránh
khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những nhận xét góp ý của quý thầy cô
và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn, sâu sắc hơn và có tính khả thi hơn nữa.
Cuối cùng tôi xin gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, kính chúc quý Thầy, Cô
thành công trong sự nghiệp cao quý.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ sinh tế “Quản lý Nhà nưới đối với thị
trường du lịch ở Sầm Sơn - Tỉnh Thanh Hóa” là công trình nghiên cứu thực sự
của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát
tình hình thực tiễn, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Thị Bích Hằng.
Các số liệu, mô hình và những dữ liệu sử dụng trong luận văn là trung thực,


các giải pháp, đề xuất đưa ra xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu, chưa từng được
công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình bày, bảo vệ và công nhận bởi Hội
đồng đánh giá luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kinh tế.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.
Cao học viên

Lê Thị Bình


iii
MỤC LỤC

KẾT LUẬN....................................................................................................................101


iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
ANTT
CNH-HĐH
CSHT
CSLT
CSVCKT
DVLT
FDI (foreign direct investments)
HĐDL
HĐND
KDDL
KHCN
KT-XH

QLNN
QLTT
SXKD
TDTT
TNDL
TN&MT
UBND
VHTTDL
VSATTP
VSMT

Nghĩa của từ viết tắt
An ninh trật tự
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Cơ sở hạ tầng
Cơ sở lưu trú
Cơ sở vật chất kỹ thuật
Dịch vụ lưu trú
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hoạt động du lịch
Hội đồng nhân dân
Kinh doanh du lịch
Khoa học công nghệ
Kinh tế - xã hội
Quản lý Nhà nước
Quản lý thị trường
Sản xuất kinh doanh
Thể dục thể thao
Tài nguyên du lịch
Tài nguyên và môi trường

Uy ban nhân dân
Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Vệ sinh an toàn thực phẩm
Vệ sinh môi trường

DANH MỤC BẢNG
STT Số bảng
Tên bảng
1
Bảng 2.1 Doanh thu du lịch Sầm Sơn giai đoạn 2009-2013

Trang
Error:
Reference
source not


v

found
Error:
2

Bảng 2.2

Số lượng và cơ cấu khách du lịch đến Sầm Sơn giai

Reference

đoạn 2009 – 2013


source not
found
Error:

3

Bảng 2.3

Đánh giá tổng hợp các loại tài nguyên du lịch tự

Reference

nhiên đối với sự phát triển du lịch ở Sầm Sơn

source not
found

4

Bảng 2.4

5

Bảng 2.5

Hiện trạng cơ sở lưu trú của Sầm Sơn giai đoạn
2009-2013
Phân loại cơ sở lưu trú du lịch ở Sầm Sơn giai đoạn


Phụ lục 1

2009 – 2013

Phụ lục 2
Error:

6

Bảng 2.6

Tình hình nhân lực du lịch ở Sầm Sơn giai đoạn

Reference

2009 – 2013

source not
found

7

Bảng 2.7

Chất lượng nhân lực du lịch ở Sầm Sơn giai đoạn
2009- 2013
Bảng kết quả tổng hợp ý kiến đánh giá nội dung

8


Bảng 2.8 QLNN đối với thị trường du lịch ở Sầm Sơn - Tỉnh
Thanh Hóa

Phụ lục 3
Error:
Reference
source not
found

Bảng kết quả tổng hợp ý kiến đánh giá về việc sử
9

Bảng 2.9 dụng các công cụ và phương pháp QLNN đối với
thị trường du lịch ở Sầm Sơn - Tỉnh Thanh Hóa

Error:
Reference
source not
found

10

Bảng 3.1 Mục tiêu phát triển du lịch Sầm Sơn đến năm 2020

78


vi



1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ đã
và đang tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển nhanh chóng và trở thành một
trong những lĩnh vực kinh tế hàng đầu của thế giới. Du lịch đã tạo nên những thay
đổi to lớn trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia, những khoản thu nhập với lợi thế
hơn hẳn các ngành trọng yếu khác, đặc biệt là khoản thu ngoại tệ. Nhận thức sâu sắc
vấn đề này, các quốc gia trên thế giới đã đầu tư thích đáng cho sự phát triển của
ngành du lịch.
Đối với Việt Nam, ngành du lịch đã có nhiều khởi sắc, thay đổi diện mạo và
từng bước khẳng định tầm vóc của ngành trong nền kinh tế quốc dân, góp phần phát
triển kinh tế - xã hội (KT-XH), đóng góp tích cực hơn cho sự nghiệp công nghiệp
hóa – hiện đại hóa (CNH-HĐH) của đất nước, thúc đẩy giao lưu văn hóa làm cho
nhân dân thế giới hiểu biết thêm về đất nước, con người Việt Nam. Chính vì vậy,
những năm qua Đảng và Nhà nước ta có sự quan tâm đặc biệt đến ngành "công
nghiệp không khói" này. Công tác quản lý Nhà nước (QLNN) đối với ngành du lịch
luôn được tăng cường, đổi mới, từng bước hoàn thiện để phù hợp với điều kiện phát
triển du lịch trong giai đoạn hiện nay.
Thanh Hoá được biết đến với nhiều danh lam thắng cảnh hấp dẫn khách du
lịch trong và ngoài nước. Trong đó, Sầm Sơn với tiềm năng và khả năng phát triển
du lịch đã nhanh chóng trở thành một điểm du lịch hấp dẫn không chỉ du khách
trong nước mà cả du khách nước ngoài. Công tác QLNN đối với hoạt động du lịch
(HĐDL) được Đảng bộ và chính quyền Thị xã Sầm Sơn luôn quan tâm củng cố
thường xuyên, từng bước hoàn thiện. Do đó, du lịch Sầm Sơn thời gian qua đã có
nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển KT-XH của Thị xã nói riêng và của Tỉnh
nói chung.
Tuy nhiên, QLNN đối với thị trường du lịch ở Sầm Sơn còn những hạn chế
nhất định. Các ban, ngành và các cấp trong Tỉnh chưa quan tâm đúng mức tới việc
tạo môi trường thuận lợi cho du lịch phát triển, chưa khơi dậy được tiềm năng và

chưa huy động được các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch. Cơ chế,
chính sách về thị trường du lịch có mặt chưa đồng bộ và nhất quán, do đó tốc độ
tăng trưởng và phát triển du lịch Sầm Sơn những năm qua còn chậm, chưa tương
xứng với tiềm năng và thế mạnh sẵn có. Vì vậy, công tác QLNN đối với thị trường
du lịch ở Sầm Sơn cần được đổi mới một cách toàn diện, để đáp ứng yêu cầu phát


2
triển KT-XH của Thị xã, góp phần tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững của du
lịch Sầm Sơn trong thời gian tới.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý Nhà nước đối
với thị trường du lịch ở Sầm Sơn - Tỉnh Thanh Hóa” làm luận văn thạc sĩ quản lý
kinh tế góp phần giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề QLNN đối với thị trường du lịch ở phạm vi cả nước nói chung và của
từng địa phương nói riêng là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học.
Cho đến thời điểm hiện nay, đã có một số công trình khoa học tiêu biểu như sau:
- Nguyễn Thị Thanh Hiền (1995), QLNN về du lịch trong giai đoạn phát
triển mới của nền kinh tế Việt Nam, Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn đã phân tích đặc điểm, vai trò của ngành
du lịch trong giai đoạn đầu phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam, đánh giá
thực trạng QLNN về du lịch nói chung và đề xuất những giải pháp nhằm góp phần
nâng cao hiệu lực QLNN về du lịch ở nước ta.
- Trịnh Đăng Thanh (2004), QLNN bằng pháp luật đối với HĐDL ở Việt
Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Luận án đã đưa ra cơ sở lý luận về sự cần thiết phải QLNN bằng pháp luật đối với
hoạt du lịch; phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn
thiện QLNN bằng pháp luật đối với HĐDL của nước ta trước yêu cầu mới.
- Nguyễn Minh Đức (2007), QLNN đối với hoạt động thương mại, du lịch
Tỉnh Sơn La trong quá trình CNH-HĐH, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh. Đây là một công trình nghiên cứu QLNN đối với hoạt động
thương mại, du lịch ở một địa phương cụ thể. Luận án đã phân tích cơ sở lý luận và
thực tiễn nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ, đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm
góp phần đổi mới và nâng cao QLNN về thương mại, du lịch ở Tỉnh Sơn La.
- Nguyễn Thị Thanh Nga (2012), Hoàn thiện công tác QLNN về du lịch trên
địa bàn Tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Luận văn đã hệ
thống hóa và làm rõ những vấn đê lý luận về QLNN đối với du lịch, cũng như phân
tích thực trạng QLNN trên địa bàn Tỉnh Bình Định, trong đó nêu lên những kết quả
đạt được, những hạn chế, nguyên nhân, từ đó đưa ra được những giải pháp chủ yếu
để hoàn thiện QLNN đối với du lịch Tỉnh Bình Định.
- Nguyễn Thị Vân Anh (2014), Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh
doanh du lịch trên địa bàn Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Thương Mại.


3
Luận văn đã đề cập đến một số vấn đề lý luận cơ bản về QLNN đối với hoạt động
KDDL của địa phương, đã phân tích thực trạng QLNN đối với hoạt động kinh
doanh du lịch trên địa bàn Hà Nội để từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị hoàn
thiện QLNN đối với hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn Hà Nội.
Ngoài ra, còn một số bài viết liên quan đến vấn đề phát triển du lịch và
QLNN về du lịch tiêu biểu như:
- Trần Xuân Ảnh (2007), Giải pháp tăng cường QLNN về thị trường du lịch,
Tạp chí QLNN, số 132.
- Trịnh Đăng Thanh (2004), Một số suy nghĩ về công tác QLNN đối với
ngành du lịch, Tạp chí QLNN, số 98.
- Võ Thị Thắng (2001), Tăng cường QLNN để du lịch Việt Nam phát huy vai
trò ngành kinh tế mũi nhọn, Tạp chí QLNN, số 7(66).
Ba bài viết trên đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN đối với thị
trường du lịch cũng như đã đưa ra được những giải pháp, kiến nghị nhằm tăng
cường công tác QLNN về du lịch, về thị trường du lịch ở nước ta.

Tại Thanh Hóa, gần đây cũng đã có một số luận văn nghiên cứu về đề tài
HĐDL Sầm Sơn như:
- Luận văn thạc sĩ Kinh tế của Lưu Thị Ngọc Diệp (2009), Sầm Sơn (Thanh
Hóa): Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch.
- Luận văn thạc sĩ Kinh tế của Vũ Đình Quế (2008), Kinh tế du lịch ở Sầm
Sơn, Tỉnh Thanh Hoá.
Các luận văn đã nêu lên được thực trạng phát triển du lịch ở Sầm Sơn thời
gian qua, cũng như những định hướng, giải pháp để phát triển du lịch ở Sầm Sơn.
Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu khoa
học nào nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về thị trường du lịch và QLNN đối với
thị trường du lịch ở Sầm Sơn, Thanh Hóa. Chính vì vậy, đề tài luận văn của em có
tính mới, không trùng lắp với các công trình nghiên cứu nói trên. Đề tài của em sẽ
kế thừa và phát triển các vấn đề lý luận của các công trình nghiên cứu trước đây để
nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện QLNN đối với thị
trường du lịch ở Sầm Sơn – Tỉnh Thanh Hóa.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài hướng tới mục tiêu đề xuất được một số giải pháp và kiến nghị cơ bản
nhằm hoàn thiện QLNN đối với thị trường du lịch ở Sầm Sơn – Tỉnh Thanh Hóa.


4
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài cần giải quyết được 3 nhiệm
vụ sau đây:
- Hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận cơ bản về QLNN đối với thị
trường du lịch ở điểm du lịch
- Khảo sát và phân tích thực trạng QLNN đối với thị trường du lịch ở Sầm
Sơn, Thanh Hóa; từ đó nhận định những thành công, hạn chế và nguyên nhân của
những thành công, hạn chế trong QLNN đối với thị trường du lịch ở Sầm Sơn,
Thanh Hóa
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm hoàn thiện QLNN

đối với thị trường du lịch ở Sầm Sơn, Thanh Hóa trong những năm tiếp theo.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là QLNN đối với thị trường du lịch ở điểm
du lịch.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung nghiên cứu: QLNN đối với thị trường du lịch là vấn đề khá lớn
và phức tạp. Trong đề tài chỉ giới hạn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và
thực tiễn liên quan đến nội dung, phương pháp và công cụ QLNN đối với thị trường
du lịch. Trong đó, các nội dung QLNN đối với thị trường du lịch được giới hạn bao
gồm tạo lập môi trường pháp lý cho phát triển thị trường du lịch quản lý cầu du lịch
quản lý cung du lịch và quản lý giá cả thị trường du lịch.
- Về không gian nghiên cứu: Đề tài giới hạn nghiên cứu thị trường du lịch
nhận khách ở Thị xã Sầm Sơn – Tỉnh Thanh Hóa.
- Về thời gian nghiên cứu: Đề tài giới hạn sử dụng các dữ liệu thực trạng trong
vòng 5 năm gần đây (2009-2013) và định hướng đề xuất giải pháp đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng 2 nhóm phương pháp nghiên
cứu sau đây:
Nhóm phương pháp thu thập dữ liệu
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Đề tài đã sử dụng phương pháp khảo
sát bằng bảng hỏi đối với 80 doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Sầm Sơn để thu thập
ý kiến của các doanh nghiệp này về thực trạng nội dung, phương pháp, công cụ và
đề xuất của doanh nghiệp nhằm hoàn thiện QLNN đối với thị trường du lịch ở Sầm
Sơn. Ngoài ra, đề tài cũng đã sử dụng phương pháp phỏng vấn để thu thập ý kiến
của đại diện cơ quan QLNN về du lịch ở Thanh Hóa và Sầm Sơn về các vấn đề liên


5
quan đến QLNN đối với thị trường du lịch ở Sầm Sơn (xem mẫu phiếu khảo sát và
phỏng vấn ở phụ lục).

- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Được sử dụng để tổng hợp, thu thập
các dữ liệu thứ cấp từ nhiều nguồn khác nhau như sách, báo, tạp chí, luận văn thạc
sĩ, luận án tiến sĩ, các báo cáo tổng kết về hoạt động KDDL ở Sầm Sơn, Thanh Hóa,
… Các dữ liệu thứ cấp thu thập từ các nguồn tài liệu này được kế thừa để hệ thống
hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng của đề tài,…
Nhóm phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp thống kê: được sử dụng để thống kê kết quả khảo sát nội
dung, phương pháp và công cụ QLNN đối với thị trường du lịch ở Sầm Sơn - Tỉnh
Thanh Hóa thông qua phần mềm excel.
- Phương pháp tổng hợp: Dùng để tổng hợp các dữ liệu về cung, cầu du lịch,
kết quả hoạt động KDDL ở Sầm Sơn – Thanh Hóa giai đoạn 2011 – 2013.
- Phương pháp so sánh: Từ thông tin, số liệu thu thập được, tiến hành so sánh
các dữ liệu qua các năm trong giai đoạn 2011-2013
- Phương pháp phân tích: dùng để phân tích số liệu từ phương pháp so sánh
cần thiết cho các nội dung cần nghiên cứu đó là: nội dung QLNN đối với thị trường
du lịch bao gồm tạo lập môi trường pháp lý cho phát triển thị trường du lịch, quản
lý cầu du lịch, quản lý cung du lịch và quản lý giá cả thị trường du lịch; thực trạng
nội dung và phương pháp quản lý Nhà nước đối với thị trường du lịch ở Sầm Sơn Tỉnh Thanh Hóa.
- Phương pháp đánh giá: dùng để đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước đối
với thị trường du lịch ở Sầm Sơn - Tỉnh Thanh Hóa. dựa trên phân tích số liệu trên.
Từ đó đưa ra những ưu điểm và hạn chế trong công tác quản lý của Nhà nước và
đánh giá nguyên nhân.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Về khoa học: Luận văn bổ sung, hoàn thiện và làm sáng tỏ thêm một số vấn
đề lý luận về QLNN đối với thị trường du lịch ở điểm du lịch.
- Về thực tiễn:
+ Thứ nhất, luận văn góp phần giúp các cơ quan QLNN trung ương và cơ
quan QLNN địa phương cơ sở khoa học về phương pháp và công cụ QLNN đối với
thị trường du lịch trên địa bàn Thị xã Sầm Sơn. Đồng thời cũng giúp cho các địa
phương khác rút ra những kinh nghiệm quản lý đối với thị trường du lịch trên địa

của mình.


6
+ Thứ hai, luận văn có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên, cao
học viên, sinh viên khối các trường Đại học, Cao đẳng kinh tế.
+ Thứ ba, đối với bản thân tác giả sau khi nghiên cứu luận văn, tác giả có thể
nâng cao năng lực nghiên cứu của bản thân về nghiên cứu nói chung và nghiên cứu
trong lĩnh vực QLNN nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời cảm ơn, lời cam đoan, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh
mục bảng biểu, hình vẽ, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục, luận văn được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về QLNN đối với thị trường du lịch
ở điểm du lịch
Chương 2. Thực trạng QLNN đối với thị trường du lịch ở Sầm Sơn – Tỉnh
Thanh Hóa
Chương 3. Một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện QLNN đối với thị
trường du lịch ở Sầm Sơn – Tỉnh Thanh Hóa


7
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG DU LỊCH Ở ĐIỂM DU LỊCH
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM, ĐỊNH NGHĨA CƠ BẢN
1.1.1. Điểm du lịch
1.1.1.1. Khái niệm điểm du lịch
Hiện nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau về điểm du lịch, trong phạm vi
đề tài luận văn này, có thể hiểu: Điểm du lịch là nơi có TNDL hấp dẫn, phục vụ nhu
cầu tham quan của khách du lịch [26]. Trong đó, TNDL là cảnh quan thiên nhiên,

yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con
người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng đáp ứng nhu cầu du lịch…
[26].
Về cơ bản, theo tính chất của TNDL, điểm du lịch có thể phân thành 4 nhóm
chính [31]:
- Điểm du lịch thiên nhiên: là những điểm du lịch hoạt động chủ yếu dựa vào
việc khai thác giá trị TNDL tự nhiên, ví dụ như Đà Lạt, Tam Đảo, Sầm Sơn,…
- Điểm du lịch văn hóa: là những điểm du lịch phát triển các thể loại du lịch
văn hóa (trung tâm lịch sử, trung tâm khoa học, trung tâm nghệ thuật, trung tâm tôn
giáo,…), ví dụ như Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, Sa Pa, Mai Châu,…
- Điểm du lịch đô thị: gồm các điểm du lịch mà ở đó chủ yếu phát triển các
loại hình du lịch liên quan đến các nhân tố và chính trị. Đó là các đô thị, trung tâm
kinh tế và chính trị của thế giới, khu vực hay quốc gia, ví dụ như Thủ đô Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh,…
- Điểm du lịch đầu mối giao thông: là các điểm du lịch ở đầu mối giao thông –
những nơi có ga xe lửa, sân bay, cảng biển,…, nơi giao cắt các trục đường lớn, thường
trở thành nơi dừng chân tạm thời của du khách, ví dụ như Đà Nẵng, Hà Nội,…
1.1.1.2. Các yếu tố cấu thành điểm du lịch
Thông thường, điểm du lịch được cấu thành bởi các yếu tố [22, trang 60]:
- Điểm hấp dẫn du lịch: Các điểm hấp dẫn du lịch là một yếu tố cấu thành
quan trọng nhất của điểm đến du lịch nói riêng và của hệ thống du lịch nói chung.
Nó là động cơ chủ yếu cho các chuyến đi du lịch và là hạt nhân của sản phẩm du
lịch. Điểm hấp dẫn là các thực thể có khả năng quản lý và được giới hạn trong một
phạm vi nhất định. Chúng là yếu tố thúc đẩy du khách vượt mọi khoảng cách để đến
viếng thăm vào lúc rãnh rỗi, trong một thời gian ngắn (thời gian hạn chế).


8
- Giao thông đi lại: Du lịch gắn với sự di chuyển về không gian, do đó lĩnh
vực giao thông luôn gắn liền với hoạt động du lịch. Những điểm đến có giao thông

thuận lợi sẽ làm cho điểm du lịch phát triển, ngược lại những điểm đến có giao
thông cách xa với các thị trường nguồn khách trong nước, quốc tế và giao thông đi
lại không thuận tiện sẽ làm cho điểm đến du lịch này bị hạn chế và khó phát triển.
- Nơi ăn nghỉ: Các dịch vụ lưu trú và ăn uống của các điểm đến không chỉ
cung cấp nơi ăn nghỉ mang tính vật chất mà còn tạo được cảm giác chung về sự đón
tiếp nồng nhiệt và ấn tượng khó quên về các món ăn hoặc đặc sản địa phương. Do
đó các doanh nghiệp kinh doanh du lịch luôn phải tạo sự đa dạng về các loại hình
cơ sở để luôn thích nghi và thay đổi để đáp ứng mong muốn của thị trường.
- Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ: Du khách đòi hỏi một loạt các tiện nghi,
phương tiện và các dịch vụ hỗ trợ tại điểm du lịch. Khi quy mô của điểm đến du lịch
tăng lên thì một loạt các tiện nghi và dịch vụ cần thiết cho du khách sũng sẽ tăng
theo. Do đó, ở một số điểm đến có thể dễ dàng nhận thấy có một khu kinh doanh
thương mịa, dịch vụ và giải trí tập trung tại một hoặc một số khu vực nhất định.
- Các hoạt động bổ sung: Điều cần thiết ở hầu hết các điểm đến là phải cung
cấp một số hoạt động cho du khách để bổ sung cho các điểm hấp dẫn chính. Do kết
hợp các điểm hấp dẫn với các hoạt động bổ sung mà một khu vực có thể tự tạo nên
sự hấp dẫn đối với khách du lịch. Sự tồn tại của các nhà hàng có món ăn ngon, các
điểm picnic có phong cảnh đẹp, các sân chơi cho trẻ nhỏ và các câu lạc bộ sẽ cải
thiện chuyến viếng thăm và làm cho cả gia đình hoặc cả đoàn du lịch thú vị hơn.
Các điểm hấp dẫn du lịch, giao thông đi lại, nơi ăn nghỉ các tiện nghi dịch vụ
hỗ trợ và các hoạt động bổ sung là những tiêu chuẩn cho sự tồn tại của một điểm
đến du lịch. Tùy thuộc vào mỗi cá nhân, các yếu tố này có rất nhiều cách kết hợp
khác nhau ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, tất cả các điểm du lịch nói chung
đều cần phải có năm yếu tố cấu thành nói trên.
Một điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch
quốc gia [26]:
- Có TNDL đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch;
- Có kết cấu hạ tầng và DVDL cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít
nhất một trăm nghìn lượt khách tham quan một năm;
Một điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch

địa phương [26]:
- Có TNDL hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch;


9
- Có kết cấu hạ tầng và DVDL cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít
nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm.
1.1.1.3. Đặc điểm của điểm du lịch
Các điểm du lịch rất đa dạng nhưng chúng thường có các đặc điểm chung
như sau:
- Được thẩm định về văn hóa: Du khách thường được cân nhắc một điểm du
lịch có hấp dẫn và đáng đầu tư thời gian, tiền bạc, đến viếng thăm hay không, như
vậy điểm du lịch là kết quả của sự thẩm định về văn hóa của khách du lịch.
- Tính không tách biệt: Du lịch được tiêu thụ ở nơi mà nó được sản xuất ra – các
du khách phải hiện hữu tại điểm du lịch để thu nhận được các kinh nghiệm du lịch.
- Tính đa dụng: Các tiện nghi ở điểm du lịch thường phục vụ cư dân tại địa
phương quanh năm, nhưng vào một số thời gian nhất định hoặc cả năm, lại có
những người sử dụng tạm thời các tiện nghi này đó là khách du lịch hoặc khách
tham quan.
- Tính bổ sung: Các yếu tố cấu thành điểm du lịch có mối quan hệ mật thiết
với nhau. Chất lượng của mỗi yếu tố này và việc cung cấp dịch vụ của chúng cần có
sự tương đồng và bổ sung lẫn nhau một cách hợp lý.
1.1.2. Cầu du lịch, cung du lịch, quan hệ cung cầu và thị trường du lịch
1.1.2.1. Cầu du lịch
Cầu du lịch là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà con người mua và tiêu dùng
trong quá trình đi du lịch được giới hạn trong một phạm vi thời gian và không gian
nhất định [23, tr.77].
Cầu du lịch được cấu thành bởi hai nhóm:
- Cầu về DVDL: Bao gồm cầu về các loại dịch vụ chính (dịch vụ vận
chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống); dịch vụ đặc trưng (dịch vụ tham quan,

giải trí); và dịch vụ bổ sung (thông tin liên lạc, dịch vụ làm visa, đặt chỗ, mua vé
máy bay, thể thao, chăm sóc sức khoẻ).
- Cầu về hàng hoá vật chất: Bao gồm hàng lưu niệm và hàng có giá trị kinh tế
mà khách du lịch thường kết hợp mua sắm trong quá trình đi du lịch.
Cầu trên thị trường du lịch có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, cầu du lịch chủ yếu là cầu về dịch vụ, ngày nay có sự thay đổi
trong xu hướng sử dụng các DVDL, dịch vụ thiết yếu có xu hướng giảm đi trong
khi đó các dịch vụ bổ sung lại tăng lên đáng kể.


10
Thứ hai, cầu du lịch rất đa dạng và phong phú vì nó phụ thuộc vào nhận thức,
ý thích, tâm lý của từng cá nhân, nhóm người... và khi điều kiện phát triển thì nhu
cầu du lịch ngày càng cải thiện dẫn đến nhu cầu và mong muốn của khách ngày
càng tăng.
Thứ ba, cầu du lịch có tính linh hoạt cao. Đặc điểm này thể hiện ở chỗ cầu du
lịch có thể dễ dàng bị thay thế bởi cầu về hàng hoá và dịch vụ khác. Cầu du lịch
phân tán và cách xa cung về mặt không gian, ở đâu có dân cư là ở đó có cầu du lịch,
trong khi đó cung du lịch lại được xác định từ trước, thường nằm cách xa cầu.
Thứ tư, cầu du lịch mang tính chu kỳ: Đặc điểm này của cầu du lịch được
quyết định bởi mối quan hệ giữa nhu cầu du lịch với thời gian rỗi của con người gắn
với các kỳ nghỉ phép hàng năm, với khả năng tài chính và tâm lý của họ.
Ngoài ra, cầu du lịch còn có tính tổng hợp và đồng bộ, cầu du lịch có tính lặp
lại, cầu du lịch có tính lan truyền,…
1.1.2.2. Cung du lịch
Cung du lịch là một phạm trù kinh tế xuất hiện trong mối quan hệ hàng hóa
tiền tệ. Để tạo ra thị trường du lịch, cầu là thành phần thứ nhất, còn cung là thành
phần thứ hai, cung du lịch có ý nghĩa thỏa mãn nhu cầu có khả năng thanh toán về
du lịch – hàng hóa du lịch.
Như vậy, cung du lịch là lượng hàng hóa và dịch vụ mà người bán là các tổ

chức và cá nhân KDDL có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau cho
khách du lịch trong một thời gian và không gian nhất định [23, tr.94]
Cung du lịch được cấu thành từ một số yếu tố sau: TNDL, CSVCKT và
CSHT du lịch, dịch vụ và hàng hóa du lịch.
Cung trên thị trường du lịch có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, Cung du lịch chủ yếu là cung dịch vụ. Điều này là do nhu cầu du
lịch được thoả mãn của yếu thông qua các dịch vụ (hơn 80% tiêu dùng du lịch là
tiêu dùng dịch vụ ), mà dịch vụ lại không tồn tại ở dạng hiện vật, chúng không thể
đem trưng bày trực tiếp như các hiện vật cụ thể. Đặc trưng này làm cho cung du lịch
chỉ tham gia vào thị trường du lịch một cách gián tiếp, gắn với cơ sở sản xuất ra
chúng và thông qua các thông tin về chúng.
Thứ hai, cung du lịch thường có tính cố định. Cung du lịch rất khó thay đổi
tương ứng với sự biến động của thị trường du lịch do sự thay đổi của cầu du lịch
cũng như giá cả của dịch vụ gây ra.


11
Thứ ba, cung du lịch có tính chuyên môn hoá theo từng lĩnh vực. Cung du
lịch bao gồm những dịch vụ và hàng hoá rất khác nhau theo sự chuyên môn hoá
ngành nghề để tạo ra dịch vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, hướng dẫn, vui chơi,
giải trí... và ở mỗi loại hình lại có sự chuyên môn hoá sâu hơn làm cho dịch vụ hàng
hóa của cung trong thị trường du lịch xem như là một yếu tố mở rộng thị trường.
Thứ tư, Quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu thụ DVDL diễn ra đồng thời một lúc
và tại một địa điểm cụ thể mà không có sự tách biệt về mặt không gian và thời gian.
Ngoài ra, cung du lịch còn có một số đặc điểm khác: có tính chất phong phú
và đa dạng, có tính thời vụ,…
1.1.2.3. Quan hệ cung cầu du lịch
Quan hệ cung cầu du lịch là mối quan hệ cơ bản của thị trường du lịch.
Thông qua vai trò xúc tác của giá cả hàng hóa và DVDL, mối quan hệ cung cầu du
lịch được thực hiện. Mặt khác, mối quan hệ cung cầu du lịch cũng làm ảnh hưởng

đến giá cả thị trường du lịch.
Cung, cầu, giá cả của hàng hoá du lịch có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Giá
cả hàng hóa và DVDL là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá và DVDL trên
thị trường. Trên thị trường du lịch, người mua đại diện cho cầu du lịch, người bán
đại diện cho cung du lịch. Trên thị trường, người mua và người bán thoả thuận với
nhau số lượng, cơ cấu, chất lượng hàng hoá, DVDL và giá cả của các hàng hoá,
DVDL đó. Tại điểm lượng cung và lượng cầu bằng nhau được gọi là điểm cân
bằng; giá cả tương ứng tại đó gọi là giá cân bằng và trạng thái có lượng cung, lượng
cầu bằng nhau, giá cả là giá cân bằng gọi là trạng thái cân bằng thị trường. Khi giá
cả tăng, cung tăng vượt cầu. Sự dư thừa cung sẽ đưa giá cả trở lại giá cân bằng.
Ngược lại, khi giá cả giảm, cầu vượt cung giá cả có xu hướng tăng, trở lại giá cân
bằng. Cứ như vậy, trạng thái cân bằng được xác định với giá cả cân bằng và sản
lượng cân bằng. Cung, cầu luôn vận động, biến đổi trên thị trường. Mối quan hệ tác
động qua lại giữa cung, cầu về số lượng hàng hoá, DVDL với giá cả thị trường hình
thành nên quy luật cung, cầu. Quy luật cung cầu có tác dụng điều tiết sản xuất và
tiêu dùng, biến đổi dung lượng, cơ cấu thị trường du lịch và quyết định giá cả thị
trường du lịch.
1.1.2.4. Thị trường du lịch
a. Khái niệm và phân loại thị trường du lịch


12
Trong kinh tế học có rất nhiều khái niệm khác nhau về thị trường, nói chung
có thể hiểu: Thị trường là nơi thực hiện trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nơi tập trung
cung và cầu về một loại hàng hóa và dịch vụ nào đó.
Trong hoạt động KDDL tồn tại các DVDL khác nhau, người mua và người
bán, quá trình mua bán ấy chỉ có thể diễn ra trên thị trường. Như vậy trong du lịch
cũng tồn tại thị trường.
Thị trường du lịch là nơi “gặp gỡ” giữa cung và cầu, phù hợp về chủng loại,
chất lượng, số lượng, thời gian cung cấp cũng như các loại dịch vụ phục vụ khách

trong lĩnh vực du lịch. Vậy có thể hiểu: “Thị trường du lịch là một bộ phận cấu
thành của thị trường hàng hóa và dịch vụ nói chung, là lĩnh vực thực hiện trao đổi,
mua bán các hàng hóa và DVDL nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch” [23,
tr.119].
Thị trường du lịch bao gồm 3 yếu tố cơ bản:
- Chủ thể trao đổi: khách du lịch và các nhà cung ứng du lịch;
- Đối tượng trao đổi: hàng hóa và dịch vụ du lịch;
- Các điều kiện trao đổi: tiền tệ, thời gian, địa điểm.
Có rất nhiều tiêu thức phân loại thị trường du lịch, sau đây là một số tiêu
thức phân loại tiêu biểu:
* Căn cứ vào lãnh thổ của một quốc gia
- Thị trường du lịch quốc tế: là thị trường mà ở đó cung thuộc một quốc gia,
còn cầu thuộc một quốc gia khác. Trên thị trường du lịch quốc tế, các DNDL của
một quốc gia kết hợp với DNDL nước khác đáp ứng nhu cầu du lịch của công dân
nước ngoài. Quan hệ tiền - hàng được hình thành và thực hiện vượt qua biên giới
quốc gia.
- Thị trường du lịch nội địa: là thị trường mà ở đó cung và cầu du lịch đều
nằm trong biên giới lãnh thổ của một quốc gia. Trên thị trường nội địa, mối quan hệ
nảy sinh do việc thực hiện dịch vụ hàng hoá du lịch là mối quan hệ kinh tế trong
một quốc gia; nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế của quốc gia đó và phản ánh sự
phân công lao động trong nước. Vận động tiền hàng chỉ di chuyển từ khu vực này
đến khu vực khác.
* Căn cứ vào quan hệ cung – cầu
- Thị trường gửi khách: là thị trường mà tại đó xuất hiện nhu cầu du lịch.
Khách du lịch xuất phát từ đó để đi đến nơi khác tiêu dùng các sản phẩm du lịch.


13
- Thị trường nhận khách: là thị trường mà tại đó đã có điều kiện sẵn sàng
cung ứng các dịch vụ tiêu dùng sản phẩm du lịch, đáp ứng nhu cầu du lịch của

khách nước ngoài, khách các địa phương khác đến.
* Căn cứ thực trạng thị trường du lịch
- Thị trường du lịch thực tế: Là thị trường mà dịch vụ hàng hóa du lịch thực
hiện được, đã diễn ra các hoạt động mua - bán sản phẩm du lịch.
- Thị trường du lịch tiềm năng: Là thị trường mà ở đó thiếu một số điều kiện
để có thể thực hiện được dịch vụ hàng hóa du lịch, sẽ diễn ra các hoạt động mua bán sản phẩm ở tương lai.
- Thị trường du lịch mục tiêu: Những khu vực thị trường được chọn để sử
dụng thu hút du khách trong một thời gian kinh doanh nhất định. Việc tiếp cận thị
trường mục tiêu đòi hỏi phải phân tích tiềm năng buôn bán của một hay các khu vực
thị trường, nó bao gồm việc xác định số lượng du khách hiện nay cũng như du
khách tiềm năng và đánh giá mức tiêu xài mỗi ngày của mỗi du khách.
b. Đặc điểm thị trường du lịch
Thị trường du lịch là một bộ phận của thị trường hàng hoá nói chung nên nó
có đầy đủ đặc điểm như thị trường ở các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, do đặc thù của
du lịch, thị trường du lịch có những đặc trưng riêng sau:
- Thị trường du lịch xuất hiện muộn hơn so với thị trường hàng hoá nói
chung. Nó chỉ được hình thành khi du lịch trở thành hiện tượng KT-XH phổ biến,
khi mà các nhu cầu thiết yếu của con người đã được thoả mãn và khi khách du lịch
với sự tiêu dùng của mình tác động đến sản xuất hàng hoá du lịch ở ngoài nơi mà họ
thường trú.
- Thị trường du lịch được hình thành ở cả nơi du khách xuất phát và điểm du
lịch. Tại nơi xuất phát (còn được gọi là khu vực nguồn khách), khách du lịch
thường đăng ký trước các sản phẩm du lịch nên đây còn được gọi là thị trường
khách hay thị trường cầu. Tại điểm đến du lịch du khách tiêu thụ các sản phẩm và
dịch vụ du lịch do các nhà cung ứng cung cấp nên được gọi là thị trường điểm đến
hay thị trường cung. Hai thị trường này có sự cách biệt về mặt không gian và thời
gian nhưng lại gắn bó chặt chẽ với nhau, quyết định và chi phối lẫn nhau.
- Cung và cầu trên thị trường du lịch có sự tách biệt cả về không gian lẫn thời
gian, trong đó cầu (khách du lịch) phải gặp gỡ cung (đến điểm du lịch) để thỏa mãn
nhu cầu du lịch. Việc mua bán sản phẩm du lịch chỉ được thực hiện khi người tiêu



14
dùng với tư cách là khách du lịch phải vượt qua khoảng cách từ nơi ở hàng ngày
đến các địa điểm du lịch để tiêu dùng sản phẩm du lịch.
- Chủ thể tham gia trên thị trường du lịch rất đa dạng. Về phía người bán có
sự tham gia của nhiều nghành nghề khác nhau không chỉ có ngành du lịch, về phía
người mua có cả cư dân từ nơi khác tới (khách du lịch) và có cả cư dân tại địa
phương.
- Đối tượng trao đổi trên thị trường du lịch chủ yếu là dịch vụ. Hàng hoá vật
chất cũng được mua bán trên thị trường du lịch, nhưng chiếm tỷ lệ ít hơn. Dịch vụ
vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, môi giới, hướng dẫn... là những đối
tượng mua, bán chủ yếu trên thị trường du lịch.
- Quan hệ thị trường du lịch giữa người mua và người bán thường kéo dài
hơn so với các thị trường hàng hóa khác. Quan hệ thị trường giữa người mua và
người bán DVDL sẽ bắt đầu từ khi khách du lịch quyết định mua dịch vụ đến khi
khách trở về nơi thường trú của họ.
- Thị trường du lịch mang tính thời vụ rõ rệt. Điều đó thể hiện ở chỗ cung
hoặc cầu du lịch chỉ xuất hiện trong một thời gian nhất định của một năm.
c. Chức năng của thị trường du lịch
Chức năng thực hiện và công nhận. Thị trường du lịch thực hiện giá trị hàng
hoá dịch vụ thông qua giá cả. Việc trao đổi mua bán nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch
và thực hiện giá cả, giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch. Chi phí sản xuất sản phẩm
du lịch của từng doanh nghiệp chỉ được công nhận là chi phí xã hội cần thiết khi
hành vi mua bán được tiến hành và kết thúc trên thị trường du lịch.
Chức năng thông tin. Thị trường cung cấp hàng loạt các thông tin về số
lượng, cơ cấu, chất lượng của cung và cầu du lịch, thông tin về giá cả, thông tin về
không gian, cảnh đẹp và sự thú vị của khách du lịch tới các điểm du lịch. Từ những
thông tin này sẽ giúp người bán có những quyết định đúng trong quyết định tổ chức
kinh doanh. Còn người mua có những thông tin đầy đủ và cần thiết để quyết trong

việc lựa chọn được những chuyến đi hợp nhất, sử dụng hàng hóa và dịch vụ mà
mình ưa thích, giúp khách chủ động về thời gian đi du lịch.
Chức năng điều tiết, kích thích. Thông qua các quy luật kinh tế, thị trường du
lịch tác động trực tiếp đến người sản xuất, buộc họ phải tổ chức sản xuất, liên tục
đổi mới, để tạo ra những sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của khách hàng với
những lợi thế cạnh tranh của mình. Như vậy quá trình cạnh tranh trên thị trường làm
cho sản phẩm du lịch ngày càng được nâng cao về chất lượng và giá cả hợp lý cho


15
từng đối tượng khách hàng. Cũng qua sự thay đổi nhu cầu khách hàng trên thị
trường mà các doanh nghiệp có biện pháp, phương pháp kinh doanh thích hợp nhằm
đạt được mục đích kinh doanh là lợi nhuận. Hiệu quả kinh tế đã huy động vốn nhàn
rỗi trong dân cư vào sản xuất du lịch, điều tiết nguồn vốn từ lĩnh vực khác đầu tư vào
du lịch. Khi vòng đời của sản phẩm du lịch kết thúc, nhu cầu về sản phẩm du lịch
giảm đi thì người sản xuất sẽ chuyển dịch dần vốn sang sản xuất các loại sản phẩm
khác. Thị trường đã điều tiết thu hẹp lại hoặc triệt tiêu sản xuất loại dịch vụ này.
Mặt khác thị trường du lịch tác động đến người tiêu dùng, hướng sự thoả
mãn các nhu cầu của khách du lịch đến sản phẩm du lịch đã tồn tại trên thị trường,
thúc đẩy họ tạo nguồn kinh phí cho chuyến đi, dẫn đến năng xuất của các ngành
khác sẽ nâng cao trước khi người lao động ở những ngành này đi du lịch và cả sau
khi quay về làm việc, do chất lượng cuộc sống của họ nâng cao. Chức năng điều
tiết, kích thích kinh tế, mở rộng sản xuất và tiêu dùng sản phẩm DVDL của thị
trường thông qua sử dụng hệ thống đòn bẩy kinh tế như giá cả, tỷ giá, lợi nhuận...
1.1.3. Quản lý Nhà nước đối với thị trường du lịch
1.1.3.1. Khái niệm và sự cần thiết của quản lý Nhà nước đối
với thị trường du lịch
a. Khái niệm quản lý Nhà nước đối với thị trường du lịch
Hiện nay hầu hết các quốc gia đều có các hoạt động điều tiết, quản lý nền
kinh tế thông qua những chính sách vĩ mô nhằm hạn chế những tác động tiêu cực

nảy sinh cũng như vận hành nền kinh tế theo những định hướng có lợi.
Theo quan điểm chung nhất: “Quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế quốc
dân (quản lý Nhà nước về kinh tế) là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền
của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn
lực kinh tế trong và ngoài nước.” [35, trang 19].
Như vậy, là một ngành kinh tế non trẻ trong nền kinh tế quốc dân, thị trường
du lịch lại ra đời muộn hơn so với thị trường chung nên càng cần thiết phải có sự
quản lý của Nhà nước. Trong phạm vi đề tài này, có thể hiểu, QLNN đối với thị
trường du lịch là quá trình tác động của các cơ quan QLNN lên các chủ thể, các
yếu tố của thị trường du lịch nhằm đạt tới hiệu quả cao nhất trên cả hai phương
diện kinh tế và xã hội.
QLNN đối với thị trường du lịch ở điểm du lịch là yêu cầu không thể thiếu ở
bất cứ quốc gia nào, song ở hầu hết các quốc gia đều đứng trên quan điểm định


16
hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, cho HĐDL của đất nước
phát triển.
b. Sự cần thiết của quản lý Nhà nước đối với thị trường du lịch
Ở nước ta, QLNN đối với thị trường nói chung và thị trường du lịch nói riêng
là rất cần thiết và nó thể hiện ở các mặt sau:
Nhà nước có vai trò rất lớn trong việc tạo lập một môi trường pháp lý thuận
lợi, lành mạnh, rõ ràng, bình đẳng nhưng chặt chẽ nhằm đảm bảo sự công bằng,
quyền lợi chính đáng cho các chủ thể và khách hàng tham gia thị trường du lịch. Pháp
luật chính là công cụ không thể thiếu trong quản lý kinh tế của Nhà nước đối với thị
trường du lịch và nó sẽ được cụ thể hoá thông qua các văn bản quy phạm pháp luật
mang tính quyền lực và bắt buộc các chủ thể tham gia thị trường phải tuân theo.
Bên cạnh đó thì trong quá trình hoạt động thị trường du lịch thì bên cạnh
những mặt tích cực nó có thể xuất hiện những tiêu cực gây thiệt hại cho xã hội, cho
nền kinh tế, cho chính các chủ thể tham gia thị trường bởi vì bản chất của hoạt động

kinh doanh là kiếm lời..., và chỉ có Nhà nước mới có thể ngăn chặn, điều tiết được
mà các chủ thể tham gia thị trường không thể giải quyết nổi. Mặt khác, các doanh
nghiệp trong quá trình kinh doanh phải tham gia vào nhiều mối quan hệ có liên
quan đến lợi ích, vì vậy có thể có những xung đột xảy ra. Đó là quan hệ giữa doanh
nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với người lao động, doanh nghiệp với Nhà
nước…, và những quan hệ này rất phức tạp do vậy cần thiết phải có sự điều hoà,
giải quyết từ phía Nhà nước.
Trong quá trình hoạt động của thị trường thì Nhà nước cũng có vai trò trong
việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch mà bản
thân các doanh nghiệp không tự làm được, ngoài ra Nhà nước cũng giúp cho các
chủ thể tham gia thị trường có những phương hướng đầu tư, phương hướng sản xuất
kinh doanh cụ thể đặc biệt là những doanh nghiệp tham gia vào thị trường quốc tế.
1.1.3.2. Chức năng và vai trò quản lý Nhà nước đối với thị trường du lịch
a. Chức năng quản lý Nhà nước đối với thị trường du lịch
Thứ nhất, ban hành các văn bản pháp luật về du lịch, xây dựng và thực hiện
hàng loạt các chính sách kinh tế để phát triển du lịch và xây dựng một cơ chế có
hiệu lực để đưa chính sách và thể chế quản lý vào hoạt động KDDL.
Thứ hai, tổ chức hướng dẫn thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các văn bản
pháp luật, các quy chế, các chế độ, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật, quy trình,
quy phạm trong HĐDL.


17
Thứ ba, tổ chức tuyên truyền, quảng cáo du lịch, nghiên cứu ứng dụng khoa
học; đào tạo bồi dưỡng cán bộ; hợp tác quốc tế; bảo vệ môi trường du lịch.
Thứ tư, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý các vi phạm luật trong HĐDL;
thúc đẩy thị trường du lịch nước ta phát triển theo định hướng chung của đất nước;
hạn chế, đi đến xóa bỏ hiện tượng không lành mạnh, mặt trái của thị trường đem lại
mà nhiều nước đi trước đã mắc phải trong hoạt động phát triển du lịch (mại dâm,
văn hóa đồi trụy, nghiện hút...)

b. Vai trò quản lý Nhà nước đối với thị trường du lịch
Vai trò định hướng. Vai trò định hướng của Nhà nước đối với thị trường du
lịch được thể hiện thông qua các chiến lược, kế hoạch phát triển thị trường du lịch,
phân tích và xây dựng các chính sách về thị trường du lịch, quy hoạch và định
hướng chiến lược phát triển thị trường. Đồng thời xây dựng hệ thống luật pháp có
liên quan tới du lịch và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về du
lịch, tạo ra môi trường pháp lý cho HĐDL.
Vai trò tổ chức và phối hợp. Nhà nước bằng việc tạo lập các cơ quan và hệ
thống tổ chức quản lý về thị trường du lịch, sử dụng bộ máy này để hoạch định các
chiến lược, quy hoạch, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật,... đồng thời sử
dụng sức mạnh của bộ máy tổ chức để thực hiện những vấn đề thuộc về quản lý
Nhà nước, nhằm đưa chính sách phù hợp về thị trường du lịch vào thực tiễn, biến
quy hoạch, kế hoạch thành hiện thực, tạo điều kiện cho thị trường du lịch phát triển.
Đồng thời, hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan quản lý Nhà nước về
thị trường du lịch với các cấp trong hệ thống tổ chức quản lý thị trường du lịch của
Trung ương, Tỉnh (thành phố), và quận (huyện, Thị xã).
Vai trò điều tiết. Nhà nước là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ
thể kinh doanh nói chung và KDDL nói riêng, khuyến khích và đảm bảo bằng pháp
luật cạnh tranh bình đẳng, chống độc quyền. Để thực hiện chức năng này, một mặt,
Nhà nước hướng dẫn, kích thích các doanh nghiệp du lịch hoạt động theo định
hướng đã vạch ra, mặt khác, Nhà nước phải can thiệp, điều tiết thị trường khi cần
thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Những phương pháp khuyến khích hay hạn
chế thường được sử dụng là thuế quan và các biện pháp phi thuế. Để điều tiết thị
trường du lịch, trong nhiều trường hợp Nhà nước phải sử dụng thực lực kinh tế Nhà
nước để điều hoà cung cầu, ổn định giá cả thị trường.
Vai trò kiểm tra, giám sát. Nhà nước giám sát hoạt động của mọi chủ thể
KDDL cũng như chế độ quản lý của các chủ thể đó (về các mặt đăng ký kinh doanh,


18

phương án sản phẩm, chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm, môi trường ô nhiễm, cơ
chế quản lý kinh doanh, nghĩa vụ nộp thuế...), cấp và thu hồi giấy phép, giấy hoạt
động trong HĐDL. Nhà nước có vai trò phát hiện những lệch lạc, nguy cơ chệch
hướng hoặc vi phạm pháp luật và các quy định của Nhà nước, từ đó đưa ra các
quyết định điều chỉnh thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của quản lý Nhà nước
về HĐDL.
1.1.3.3. Đặc điểm quản lý Nhà nước đối với thị trường du lịch
QLNN đối với thị trường du lịch nổi lên một số đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, Nhà nước tổ chức và quản lý các HĐDL diễn ra trong nền kinh tế thị
trường. Xuất phát từ đặc trưng của nền kinh tế thị trường là tính phức tạp, năng
động và nhạy cảm. Vì vậy, HĐDL đòi hỏi phải có một chủ thể có tiềm lực về mọi
mặt để đứng ra tổ chức và điều hành, chủ thể ấy không ai khác chính là Nhà nước vừa là người quản lý, vừa là người tổ chức HĐDL. Mặt khác để bảo đảm cho
HĐDL có tính tổ chức cao, ổn định, công bằng và có tính định hướng rõ rệt, Nhà
nước phải ban hành pháp luật, đề ra các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển du lịch... và dùng các công cụ này tác động vào lĩnh vực du lịch.
Hai là, QLNN đối với thị trường du lịch đòi hỏi phải có một bộ máy Nhà
nước mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và một đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước có trình
độ, năng lực thật sự.
Ba là, QLNN đối với HĐDL còn xuất phát từ chính nhu cầu khách quan của
sự gia tăng vai trò của hệ thống chính sách, pháp luật... trong nền kinh tế thị trường
với tư cách là công cụ quản lý.
1.2. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÔNG CỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI THỊ TRƯỜNG DU LỊCH Ở ĐIỂM DU LỊCH
1.2.1. Nội dung quản lý Nhà nước đối với thị trường du lịch ở điểm du lịch
1.2.1.1. Tạo lập môi trường pháp lý cho sự phát triển của thị trường du lịch
Môi trường pháp lý được hiểu là tổng thể các hoàn cảnh luật định được Nhà
nước tạo ra để điều tiết sự phát triển kinh tế, bắt buộc các chủ thể kinh tế thuộc các
thành phần hoạt động trong nền kinh tế thị trường phải tuân theo. Việc tạo điều kiện
và tạo lập một môi trường pháp lý thuận lợi, lành mạnh, rõ ràng, bình đẳng ở các
điểm du lịch sẽ đảm bảo công bằng, quyền lợi chính đáng cho các chủ thể và khách

hàng tham gia thị trường du lịch, đồng thời là điều kiện cơ bản để tăng trưởng và
phát triển thị trường nói chung và thị trường du lịch nói riêng.


19
Công cụ không thể thiếu trong QLNN đối với thị trường du lịch là pháp luật,
Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
trong lĩnh vực KDDL như là: Luật, văn bản dưới luật: nghị định, quy định, thông tư,
hướng dẫn... Và các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra nên nó mang
tính quyền lực và bắt buộc phải tuân theo.
Để quản lý thị trường du lịch, Nhà nước cần phải ban hành hệ thống các văn
bản quy phạm pháp luật về du lịch quy định những chuẩn mực hành vi của các chủ
thể tham gia thị trường du lịch, điều kiện thành lập doanh nghiệp kinh doanh các
loại hình dịch vụ du lịch, quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh
dịch vụ du lịch, những dịch vụ nào được phép kinh doanh, những dịch vụ nào
không được phép kinh doanh, quy định hệ thống tiêu chuẩn chất lượng như: xếp
hạng đối với khách sạn, tiêu chuẩn của khu du lịch, tuyến du lịch, điểm du lịch quốc
gia và địa phương, các văn bản quy phạm pháp luật về khen thưởng và xử lý vi
phạm quy định về du lịch, các văn bản liên quan khác. Bên cạnh việc ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật về du lịch nhà nước cũng quan tâm đến việc chỉ đạo,
hướng dẫn tổ chức thực hiện cho các cơ sở kinh doanh du lịch.
1.2.1.2. Quản lý cầu du lịch
Mục đích của quản lý cầu du lịch ở điểm du lịch là kích cầu du lịch và quản
lý cầu du lịch tại điểm du lịch. Để đạt được mục đích này, công tác quản lý cầu du
lịch cần được thực hiện với các nội dung sau:
a. Quản lý Nhà nước về hợp tác, xúc tiến và quảng bá du lịch
Thực tế, bên cạnh nỗ lực quảng bá, xúc tiến của mỗi đơn vị kinh doanh du
lịch, Nhà nước cũng có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức hợp tác; xây dựng
và quản lý các chính sách và biện pháp kích cầu du lịch. Nguyên nhân là do sản
phẩm du lịch thường gắn với hình ảnh của quốc gia nên để tạo lập và quảng bá được

hình ảnh du lịch của quốc gia trên toàn cầu một cách có hiệu quả đòi hỏi chi phí rất
lớn, bản thân mỗi cơ sở kinh doanh đơn lẻ không thể có khả năng tự tổ chức thực
hiện. Công tác quản lý Nhà nước về hợp tác, xúc tiến và quảng bá du lịch cần tập
trung vào những nội dung sau:
Tổ chức hợp tác quốc tế và trong nước để tạo điều kiện cho địa phương quản
lý điểm du lịch, các doanh nghiệp KDDL tại điểm du lịch có cơ hội giao lưu, trao
đổi thông tin nhằm hiểu biết sâu sắc hơn nhu cầu du lịch của du khách quốc tế và
nội địa, qua đó tìm kiếm các phân đoạn thị trường khách trọng điểm, các đối tác gửi
khách; tổ chức hợp tác để các địa phương quản lý điểm du lịch, các doanh nghiệp


×