Tải bản đầy đủ (.docx) (95 trang)

Luận văn thạc sỹ Kế toán tài sản cố định tại công ty cổ phần phát triển đô thị từ liêm (LIDECO)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (811.54 KB, 95 trang )

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn

Vũ Thị Thanh Lan


2

MUC LỤC


3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu
BCTC
BCKQKD
CCDC
DNXL
GTGT
SXKD
TSBĐ
TSCĐ
TSCĐHH
TSCĐVH


Chú thích
Báo cáo tài chính
Báo cáo kết quả kinh doanh
Công cụ, dụng cụ
Doanh nghiệp xây lắp
Giá trị gia tăng
Sản xuất kinh doanh
Tài sản bất động
Tài sản cố định
Tài sản cố định hữu hình
Tài sản cố định vô hình


4

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Số hiệu

Tên sơ đồ

Trang

Cơ cấu TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình Công ty Cổ phần Phát
Bảng 2.1 triển Đô thị Từ Liêm và tình hình tăng giảm qua các năm

45

2011, 2012
Bảng 2.2


Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 3.1

Cơ cấu TSCĐ hữu hình của Công ty Cổ phần Phát triển Đô
thị Từ Liêm tính đến 31/12/2012
Cơ cấu TSCĐ vô hình của Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị
Từ Liêm tính đến 31/12/2012
Thời gian khấu hao TSCĐ tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô
thị Từ Liêm
Danh mục chứng từ cần có liên quan đến từng nghiệp vụ
kinh tế phát sinh

46

47
61
80

Bảng 3.2 Phương pháp tính khấu hao đối với từng loại TSCĐ

82

Hình 2.1

Phân hệ TSCĐ phần mềm kế toán Unesco

51


Hình 2.2

Màn hình nhập dữ liệu tăng TSCĐ vào phần mềm kế toán

52


5

PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kế toán là một
công việc quan trọng phục vụ cho việc hạch toán và quản lý kinh tế, nó còn có
vai trò tích cực trong việc quản lý tài sản và điều hành các hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài sản cố định (TSCĐ) là một trong những bộ phận cơ bản tạo nên cơ sở
vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, đồng thời là bộ phận quan trọng
quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất
kinh doanh.
Kế toán là một trong những công cụ hữu hiệu nằm trong hệ thống quản
lý TSCĐ của một doanh nghiệp. Kế toán TSCĐ cung cấp những thông tin hữu
ích về tình hình TSCĐ của doanh nghiệp trên nhiều góc độ khác nhau. Dựa
trên những thông tin ấy các nhà quản lý sẽ có được những phân tích chuẩn
xác để đưa ra những quyết định kinh tế.
Trong thực tế, hiện nay, ở Việt Nam, trong các doanh nghiệp, mặc dù đã
nhận thức được tác dụng của TSCĐ đối với quá trình sản xuất kinh doanh
nhưng đa số các doanh nghiệp vẫn chưa có những kế hoạch, biện pháp quản
lý, sử dụng đầy đủ, đồng bộ và chủ động cho nên TSCĐ sử dụng còn lãng phí,

chưa phát huy được hết hiệu quả kinh tế của chúng và như vậy là lãng phí vốn
đầu tư đồng thời ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Bắt nhịp với yêu cầu đổi mới theo hướng xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu,
hệ thống kế toán Việt Nam đã được cải cách toàn diện. Luật kế toán số :
03/2003/QH11 ra đời ngày 17/06/2003, tiếp theo đó Nhà nước đã ban hành
các Nghị định hướng dẫn luật kế toán, xây dựng và ban hành Hệ thống chuẩn
mực kế toán doanh nghiệp. Trong đó có Chuẩn mực kế toán Tài sản cố định
hữu hình số 03 (VAS 03), Chuẩn mực kế toán Tài sản cố định vô hình số 04


6

(VAS 04) cùng với rất nhiều các thông tư như thông tư số 203/2009/TT-BTC
ngày 20/10/2009 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010, thông tư số
45/2013/TT-BTC về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định
được ban hành ngày 25/04/2013 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/6/2013,
nghị định nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quản lý sử dụng và trích khấu
hao TSCĐ đã được Bộ tài chính ban hành. Tuy nhiên, việc ban hành quá nhiều
văn bản pháp luật có quy định khác nhau, một cách chồng chéo trong một
khoảng thời gian không dài lại gây ra những bất cập trong quá trình hạch
toán TSCĐ tại doanh nghiệp.
Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm (LIDECO) là một doanh
nghiệp hoạt động đa lĩnh vực, trong đó ưu tiên tập trung phát triển vào lĩnh
vực thi công xây lắp các công trình xã hội, dân dụng, các khu đô thị và khu
công nghiệp đòi hỏi kỹ thuật cao trong phạm vi hoạt động kinh doanh của
công ty. Vì vậy TSCĐ đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh
doanh của công ty. Trong những năm qua, công ty đã mạnh dạn đầu tư vốn
vào các loại TSCĐ đồng thời từng bước hoàn thiện quá trình hạch toán kế
toán TSCĐ. Tuy vậy, Công ty vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong công tác kế

toán TSCĐ.
Từ góc độ tiếp cận đó, để góp phần thực hiện tốt công tác kế toán nói
chung, kế toán tài sản cố định nói riêng thì việc nghiên cứu, hoàn thiện kế toán
tài sản cố định tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm có ý nghĩa cả về
lý luận và thực tiễn. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán Tài
sản cố định trong việc nâng cao hiệu quả TSCĐ trong doanh nghiệp, tôi đã
chọn đề tài “Kế toán tài sản cố định tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị
Từ Liêm (LIDECO)” làm đề tài Luận văn của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tác giả đã tìm hiểu một số luận văn thạc sĩ và bài nghiên cứu khoa học
của một số tác giả về Kế toán Tài sản cố định, cụ thể như sau:


7

- Luận văn thạc sĩ “Kế toán TSCĐ tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công
ty dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí” của tác giả Trịnh Đỗ Quyên (2011)
Đại học Thương mại. Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng công tác kế toán
TSCĐ tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty dung dịch khoan và hóa phẩm
dầu khí trên góc độ kế toán tài chính. Về mặt lý luận, tác giả đã phân tích, hệ
thống hóa, làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về kế toán TSCĐ theo quan điểm
kế toán tài chính. Qua đó đánh giá được ưu nhược điểm trong công tác kế
toán TSCĐ tại các đơn vị đó, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty
dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí.
- Luận văn thạc sĩ “Kế toán TSCĐ tại Tổng công ty đầu tư phát triển hạ
tầng - UDIC” của tác giả Tạ Văn Hưng (2012) Đại học Thương mại. Đề tài đi
sâu nghiên cứu thực trạng công tác kế toán TSCĐ tại Tổng công ty đầu tư phát
triển hạ tầng – UDIC trên phương diện kế toán tài chính. Từ thực trạng đó, đề
tài đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán TSCĐ tại Tổng công ty

đầu tư phát triển hạ tầng – UDIC. Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài nghiên
cứu, tác giả vẫn chưa đề cập đến các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng TSCĐ trong các doanh nghiệp. Thực tế, việc đánh giá tình hình trang
thiết bị và hiệu quả sử dụng TSCĐ mới chỉ giúp cho các nhà quản lý nắm bắt
được tình hình sử dụng TSCĐ hiện tại của doanh nghiệp, đánh giá tính hợp lý
hay bất hợp lý trong việc đầu tư và sử dụng TSCĐ mà chưa chỉ ra được những
ảnh hưởng của nó tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Luận văn thạc sĩ “Kế toán TSCĐ tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây
dựng Thành Nam” của tác giả Nguyễn Thị Cúc (2012) Đại học Thương mại.
Luận văn đã hệ thống hóa lý luận kế toán TSCĐ trong những doanh nghiệp
dựa trên hai phương diên kế toán tài chính và kế toán quản trị, nghiên cứu
tham khảo chuẩn mực kế toán quốc tế và hệ thống kế toán TSCĐ của một số
nước trên thế giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệp đối với kế toán TSCĐ tại


8

Việt Nam. Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu thực trạng và đưa ra những đề
xuất nhằm hoàn thiện kế toán TSCĐ tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng
Thành Nam. Tác giả tiếp cận đề tài trên cả hai phương diện kế toán tài chính
và kế toán quản trị, tuy nhiên mới chỉ bước đầu tiếp cận lý thuyết kế toán
quản trị chứ chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể để hoàn thiện kế toán
TSCĐ trên góc độ này.
Nhìn chung, các đề tài đã hệ thống hóa được những lý luận cơ bản về kế
toán TSCĐ, nghiên cứu thực trạng và đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện
kế toán TSCĐ tại các doanh nghiệp nghiên cứu. Tuy nhiên, những giải pháp đề
ra chưa cụ thể để doanh nghiệp có thể áp dụng hoàn thiện. Hơn nữa, những
giải pháp đó hiện nay đã không còn phù hợp do gắn với các quy định cũ.
- Bài nghiên cứu “Bàn về chế độ kế toán, quản lý và trích khấu hao tài
sản cố định” của tác giả Lê Thị Thanh Hải, Tạp chí Khoa học thương mại số 58,

tháng 06 năm 2013. Bài viết đã đi sâu nghiên cứu, trao đổi về chế độ quản lý,
sử dụng và trích khấu hao TSCĐ theo Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25
tháng 4 năm 2013 của Bộ Tài chính, những điểm mới của thông tư 45/TT-BTC
so với Thông tư 203/2009/TT-BTC, cũng như ảnh hưởng của quy định này
đến việc xác định và kế toán TSCĐ; công cụ, dụng cụ cũng như ảnh hưởng của
những quy định này đến việc xác định và ghi nhận chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Bài viết cũng đưa ra
những quan điểm cá nhân về hướng giải quyết kế toán TSCĐ trước những
thay đổi quy định trong Thông tư 45/TT-BTC.
Vì vậy, việc nghiên cứu Kế toán TSCĐ tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô
thị Từ Liêm, để nghiên cứu những giải pháp cho một doanh nghiệp cụ thể,
trong điều kiện các chính sách kế toán về TSCĐ đã có những thay đổi nhất
định, là mang tính cấp thiết.
3.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài


9

-

Mục tiêu nghiên cứu lý luận: Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về kế toán tài

-

sản cố định trong doanh nghiệp.
Mục tiêu thực tiễn:
+ Khảo sát thực trạng kế toán tài sản cố định tại Công ty Cổ phần Phát
triển Đô thị Từ Liêm. Đề tài tập trung nghiên cứu việc tuân thủ những qui định

của chuẩn mực và chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành về Tài sản cố định
tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm.
+ Đưa ra một số những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán
TSCĐ tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm.
Xuất phát từ những mục tiêu đó, trong quá trình nghiên cứu, tác giả chú
trọng vào việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

1.

Công tác kế toán tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm hiện nay đã
đáp ứng được yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin kịp thời, nhanh chóng và
chính xác cho các nhà quản lý chưa?
Mục tiêu của câu hỏi này là nhằm tìm hiểu mức độ đáp ứng của kế toán
tại doanh nghiệp với yêu cầu quản lý nội tại trong điều kiện chính sách kế toán
phải tuân thủ Luật kế toán hiện hành, chế độ kế toán Nhà nước, các vấn đề bất
cập, cần hoàn thiện trong chính sách quản lý, chính sách kế toán cũng như

thực tiễn phần hành kế toán TSCĐ tại doanh nghiệp.
2. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kế toán TSCĐ tại doanh nghiệp.
Mục tiêu của câu hỏi này là từ thực trạng kế toán TSCĐ đã nghiên cứu
tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm, tác giả sẽ đề xuất những giải
pháp gì nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại Công ty.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu
Kế toán tài sản cố định bao gồm TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình tại
Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm.
-

Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về phần hành

kế toán Tài sản cố định bao gồm kế toán tài sản cố định hữu hình và kế toán


10

tài sản cố định vô hình tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm theo
quan điểm kế toán tài chính.
+ Về mặt không gian: tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm.
+ Về mặt thời gian: Đề tài sử dụng số liệu trong các năm tài chính
2011, 2012, 2013 tại doanh nghiệp được khảo sát để minh họa.
5.

Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập thông tin có vai trò rất quan
trọng trong việc hình thành luận cứ để chứng minh luận điểm khoa học. Độ tin
cậy của toàn bộ công trình nghiên cứu phụ thuộc vào thông tin mà người
nghiên cứu thu thập được. Có nhiều phương pháp thu thập thông tin. Trong
luận văn của mình, để thu thập được dữ liệu, tôi đã sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp quan sát:
Đây là phương pháp thu thập thông tin thông qua việc sử dụng các giác
quan và các thiết bị hỗ trợ để ghi nhận các hiện tượng hoặc hành vi của con
người phục vụ cho công tác nghiên cứu một vấn đề khoa học. Phương pháp
này thích hợp cho các tình huống khi các phương pháp khác không thu thập
được các thông tin chính xác hoặc không lấy được đầy đủ thông tin. Mục đích
của việc quan sát này là khảo sát trực tiếp thực trạng kế toán TSCĐ tại Công
ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm và so sánh với các kết quả của các
phương pháp khác.
Sử dụng phương pháp quan sát, tác giả đã tiến hành quan sát kế toán
TSCĐ tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm. Quan sát trình tự lập,
luân chuyển, biểu mẫu chứng từ kế toán TSCĐ, vận dụng hệ thống tài khoản kế

toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống Báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị,
kiểm tra công tác kế toán TSCĐ và ứng dụng tin học vào công tác kế toán.
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Nghiên cứu tài liệu giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc của vấn đề
nghiên cứu. Từ kết quả phân tích tư liệu, ta hệ thống hóa được những vấn đề
nghiên cứu cơ bản của đề tài luận văn, xác định được những khái niệm cơ bản,


11

những vấn đề lý luận quan trọng của đề tài làm cơ sở cho việc điều tra thực
tiễn. Mục đích của việc nghiên cứu tài liệu là để thu thập những kiến thức từ
bao quát tới chuyên sâu một cách chính xác về những vấn đề lý luận chung kế
toán TSCĐ trên góc độ kế toán tài chính. Tác giả thực hiện phương pháp này
thông qua việc nghiên cứu các giáo trình chuyên ngành, chuẩn mực kế toán
Việt Nam, chuẩn mực kế toán Quốc tế, chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành,
tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài nghiên
cứu.
+ Phương pháp phỏng vấn:
Đây là phương pháp nghiên cứu khoa học thu nhận thông tin qua hỏi –
trả lời giữa nhà nghiên cứu với các cá nhân khác nhau về vấn đề quan tâm.
Phương pháp này thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu trong xã hội học, giáo
dục học và tâm lý học. Khi có số lượng người được hỏi lớn, phương pháp
phỏng vấn cho phép rút ra những kết luận hay, có giá trị về phương diện khoa
học. Phương pháp phỏng vấn này vô cùng hữu ích trong các tình huống cần
thông tin đủ sâu mà phương pháp điều tra khảo sát qua bảng câu hỏi không
thực hiện được. Tính linh hoạt trong câu hỏi và câu trả lời giúp người phỏng
vấn có được các thông tin rất quý báu, phong phú phục vụ cho việc nghiên cứu
các vấn đề.
Tác giả đã phỏng vấn trực tiếp các nhà quản lý, nhân viên kế toán TSCĐ

của Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm về những vấn đề liên quan đến
phần hành kế toán TSCĐ tại Công ty. Qua đó, tác giả thu thập được những tài
liệu, số liệu phục vụ cho việc thực hiện đề tài.
Bảng câu hỏi phỏng vấn tác giả đã sử dụng để thu thập thông tin (Phụ lục
0.1).
- Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu:
Sau khi thu thập dữ liệu bằng các phương pháp nêu trên, tác giả tiến
hành hệ thống hóa, xử lý và cung cấp thông tin bằng phương pháp phân tích


12

dữ liệu. Mục đích của phương pháp này là phân tích các thông tin đầu vào đã
hu thập để đưa ra các thông tin, các kết luận phù hợp.Từ những tài liệu, thông
tin thu thập dược từ phương pháp quan sát và phương pháp phỏng vấn cùng
những kiến thức đã có được từ nghiên cứu tài liệu, tác giả đã tiến hành hệ
thống hóa, tổng hợp và phân tích số liệu, thông tin để rút ra những kết luận về
kế toán TSCĐ tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm.
Bằng phương pháp này bài viết phản ánh đầy đủ, đúng đắn tình hình thực
hiện kế toán TSCĐ tại công ty, rút ra các kết luận phù hợp để làm cơ sở đưa ra
các giải pháp hoàn thiện kế toán TSCĐ tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ
Liêm.
6.

Kết cấu của luận văn
Luận văn thạc sĩ của tác giả có kết cấu 3 chương:
Chương I: Một số lý luận cơ bản về kế toán TSCĐ trong doanh nghiệp.
Chương II: Thực trạng kế toán TSCĐ tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô
thị Từ Liêm.
Chương III: Các kết luận, đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán TSCĐ tại

Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm.


13

CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TSCĐ
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Lý luận chung về TSCĐ trong doanh nghiệp
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về Tài sản cố định
Trước hết, cần hiểu khái niệm tài sản nói chung, tài sản được đề cập
theo VAS 01 thì: “Được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy
móc thiết bị, vật tư, hàng hóa hoặc không biểu hiện dưới hình thái vật chất
như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong
tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp”. Ngoài ra chuẩn mực
cũng đề cập “tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các tài sản không thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu
được lợi ích kinh tế trong tương lai.
Như vậy, tài sản nói chung được hiểu là những nguồn lực thuộc quyền
kiểm soát của doanh nghiệp, có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
Thứ hai, về khái niệm TSCĐ:
Theo thông lệ quốc tế, TSCĐ là những tài sản có thời gian hữu ích ít
nhất 1 năm được sử dụng cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp và không có
ý định bán lại cho khách hàng.
Tài sản cố định trong doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, thời
gian sử dụng dài và giá trị được chuyển dịch dần dần vào gia trị sản phẩm,
dịch vụ. [PGS.TS Nghiêm Văn Lợi, Giáo trình Kế toán tài chính, 2009, trang 93,
NXB Tài Chính].


14


TSCĐ trong doanh nghiệp bao gồm TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình,
trong đó:
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 03 “Tài sản cố định hữu hình”,
Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh
nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với
tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 04 “Tài sản cố định vô hình”, Tài
sản cố định vô hình: Là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định
được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh,
cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi
nhận TSCĐ vô hình.
Khái niệm nguyên giá TSCĐ: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam,
nguyên giá TSCĐ là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được
TSCĐ tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Phần lớn các khái niệm TSCĐ cho rằng TSCĐ là những tài sản có giá trị
đủ lớn, có thời gian sử dụng lâu dài và được đầu tư, sử dụng để mang lại lợi
ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. Mỗi quốc gia tùy vào trình độ
phát triển kinh tế, trình độ quản lý và sức mua của đồng tiền ở những thời
điểm khác nhau để quy định giá trị tối thiểu để ghi nhận TSCĐ.
Như vậy, có thể hiểu TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu và những
tài sản khác có giá trị lớn, có thời gian sử dụng hữu ích ít nhất 1 năm, phục vụ
sản xuất trong một thời kỳ dài, tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, giá trị TSCĐ giảm dần và được chuyển vào giá trị sản phẩm
dưới hình thức khấu hao.
1.1.2. Đặc điểm TSCĐ
TSCĐ trong doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
- TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn thuộc quyền quản lý, sử dụng của
doanh nghiệp. Xuất phát từ đặc điểm này, doanh nghiệp cần theo dõi, quản lý



15

chặt chẽ TSCĐ cả về hiện vật và chất lượng, tránh hiện tượng mất mát hay không
sử dụng được làm ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Đồng thời,
doanh nghiệp cũng cần lựa chọn hoạt động đầu tư TSCĐ phù hợp với nhu cầu,
đặc điểm hoạt động SXKD cũng như khả năng tài chính của doanh nghiệp.
- TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh hoặc nhiều năm
hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp cần quan tâm đến việc bảo
vệ, sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ để TSCĐ hoạt động hiệu quả nhất và lựa chọn
phương pháp khấu hao TSCĐ phù hợp với từng loại TSCĐ và đặc điểm của
doanh nghiệp nhằm đánh giá sát nhất mức độ hao mòn để thu hồi giá trị đã
đầu tư của TSCĐ.
- Giá trị của TSCĐ sẽ bị hao mòn dần và sẽ chuyển dịch từng phần vào
chi phí sản xuất kinh doanh thông qua việc doanh nghiệp trích khấu hao.
- TSCĐ hữu hình giữ nguyên hình thái ban đầu cho đến khi bị hư hỏng,
còn TSCĐ vô hình không có hình thái vật chất nhưng lại có chứng minh sự hiện
diện của mình qua Giấy chứng nhận, giao kèo, các giấy tờ có liên quan khác.
- TSCĐ là bộ phận quan trọng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài
sản của doanh nghiệp. TSCĐ có vai trò quan trọng trong việc phản ánh tình
hình tài chính của doanh nghiệp và ảnh hưởng đáng kể đến thông tin trình
bày trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Chính vì vậy, doanh nghiệp cần quan tâm quản lý tốt và tổ chức hạch toán kế
toán TSCĐ phù hợp nhằm nâng cao hiệu năng công tác quản lý và hiệu quả
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.3. Phân loại TSCĐ
1.1.3.1. Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện
Theo cách phân loại này, tài sản cố định được chia thành hai loại:



16

- Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất do
doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù
hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình. Cụ thể như sau:
+

Nhà cửa, vật kiến trúc: là những tài sản cố định được hình thành sau quá
trình thi công, xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước,

sân bãi, các công trình trang trí nhà cửa, đường sá, cầu cống, đường sắt ...
+ Máy móc thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: máy móc chuyên dùng, thiết bị
công tác, dây chuyền công nghệ ...
+ Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện gồm những
phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường không, đường ống
và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, đường ống, băng tải ..
+ Thiết bị dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong quản lý hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: máy vi tính, thiết bị điện tử,
dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng sản phẩm, máy hút ẩm ...
+ Cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm như vườn cà phê, cao su ...
súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm như voi ngựa, trâu, bò ...
+ Các loại tài sản cố định hữu hình khác: Là những loại tài sản cố định khác
ngoài 5 loại trên như: tranh, ảnh, tác phẩm nghệ thuật ...
- Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản cố định không có hình
thái vật chất cụ thể như: chi phí về đất sử dụng, chi phí thành lập doanh
nghiệp, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí về bằng phát minh, sáng chế, bản
quyền tác giả; chi phí về quyền tác giả, nhận chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu
hàng hóa, phần mềm máy vi tính, giấy phép và giấy phép nhượng quyền...
Phân loại TSCĐ theo tiêu thức này giúp cho người quản lý có một cách

nhìn tổng quát về cơ cấu TSCĐ của doanh nghiệp. Đây là một căn cứ quan trọng
để ra các quyết định đầu tư hoặc điều chỉnh phương hướng đầu tư cho phù hợp
với đặc điểm SXKD, giúp doanh nghiệp có các biện pháp quản lý tài sản hiệu quả.
1.1.3.2. Phân loại tài sản cố định theo quyền sở hữu


17

Theo cách phân loại này, tài sản cố định trong doanh nghiệp được
chia ra thành hai loại: Tài sản cố định hiện có và tài sản cố định đi thuê:
- Tài sản cố định tự có: Là những tài sản cố định được mua sắm,
xây dựng hoặc hình thành từ nguồn vốn của doanh nghiệp, do ngân sách cấp,
do nhận vốn liên doanh, góp cổ phần, do đi vay của ngân hàng, bổ sung từ các
quỹ...
- Tài sản cố định đi thuê, bao gồm:
+ Tài sản cố định thuê hoạt động: là những tài sản cố định đi thuê
của các đơn vị khác để sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng
đã ký.
+ Tài sản cố định đi thuê tài chính: Thực chất là một dạng thuê vốn,
là những tài sản cố định mà doanh nghiệp có quyền sử dụng và kiểm soát lâu dài,
còn quyền sở hữu có thể thuộc về doanh nghiệp khi đã trả hết nợ theo hợp đồng
đã ký.
Phân loại TSCĐ theo tiêu thức này có ý nghĩa lớn với công tác quản lý
tài sản. Đối với những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của đơn vị thì đơn vị phải có
các biện pháp quản lý riêng, doanh nghiệp có toàn quyền sử dụng, định đoạt
đối với tài sản. Đối với TSCĐ không thuộc quyền sở hữu của đơn vị thì đơn vị
phải dựa trên hợp đồng thuê, phối hợp với bên cho thuê tài sản để thực hiện
quản lý, sử dụng tài sản.
1.1.3.3. Phân loại tài sản cố định theo nguồn hình thành
Theo cách phân loại này, tài sản cố định của doanh nghiệp được

chia thành các loại sau:
- Tài sản cố định thuộc nguồn ngân sách cấp.
- Tài sản cố định thuộc nguồn vốn liên doanh, liên kết.
- Tài sản cố định thuộc nguồn vốn cổ phần
- Tài sản cố định thuộc nguồn vốn tự bổ sung của doanh nghiệp.
- Tài sản cố định thuộc nguồn vốn vay.


18

Cách phân loại này giúp người quản lý thấy được TSCĐ của doanh
nghiệp được hình thành từ nguồn nào, từ đó có những quyết định sử dụng
nguồn vốn đầu tư cho TSCĐ và có biện pháp theo dõi, quản lý và sử dụng TSCĐ
sao cho có hiệu quả nhất.
1.1.3.4. Phân loại tài sản cố định theo công dụng và tình hình sử dụng
Theo cách phân loại này tài sản cố định trong DN được chia thành ba
loại:
- Tài sản cố định dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh. Là những
tài sản hữu hình, vô hình được sử dụng vào các hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
- Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi. Là những tài sản cố
định được sử dụng cho các mục đích phúc lợi.
- Tài sản cố định chờ xử lý. Là những tài sản cố định bị hư hỏng chờ thanh
lý, tài sản cố định không cần dùng, tài sản cố định đang tranh chấp chờ giải
quyết.
Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu TSCĐ theo
mục đích sử dụng của nó, từ đó có biện pháp quản lý TSCĐ theo mục đích sử
dụng sao cho có hiệu quả nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tính toán khấu
hao chính xác.
1.1.4. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán TSCĐ

Yêu cầu chung của công tác quản lý TSCĐ ở các doanh nghiệp là phải
phản ánh kịp thời số hiện có, tình hình biến động của từng thứ, từng loại, từng
nhóm TSCĐ trong toàn doanh nghiệp cũng như trong từng đơn vị sử dụng,
đảm bảo an toàn về hiện vật, khai thác sử dụng đảm bảo hết công suất, có
hiệu quả.
Việc quản lý TSCĐ phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu như sau:
Thứ nhất, phải quản lý được toàn bộ TSCĐ hiện có ở doanh nghiệp cả về
hiện vật và giá trị.


19

Việc quản lý TSCĐ về mặt giá tị thể hiện ở việc doanh nghiệp có phương
pháp xác định chính xác giá trị TSCĐ. Không chỉ tính đúng, tính đủ chi phí liên
quan đến việc hình thành TSCĐ mà còn phải có biện pháp phân bổ chi phí hao
mòn vào chi phí sản xuất kinh doanh một cách hợp lý. Trên cơ sở đó, doanh
nghiệp mới có thể xây dựng được kế hoạch điều chỉnh tăng hoặc giảm TSCĐ
theo từng loại cho phù hợp với yêu cầu hoạt động của doanh nghiệp. Việc
quản lý TSCĐ về mặt giá trị theo các chỉ tiêu: Nguyên giá TSCD, giá trị hao
mòn TSCĐ, giá trị còn lại TSCĐ.
Việc quản lý TSCĐ về mặt hiện vật, thể hiện ở 2 khía cạnh: Lượng – bộ
phận quản lý TSCĐ phải đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin về công suất , đáp
ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chất lượng – việc bảo quản
TSCĐ phải đảm bảo cho TSCĐ được bảo vệ tránh mất mát, hỏng hóc làm giảm
giá trị TSCĐ. Để làm được điều này doanh nghiệp cần xây dựng nội quy bảo quản
và sử dụng TSCĐ, xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật đối với từng loại TSCĐ.
Thứ hai, phải quản lý quá trình thu hồi vốn đầu tư TSCĐ. Đây là yêu cầu
quản lý rất quan trọng và áp dụng phương pháp nào để thu hồi vốn cho các
TSCĐ trong doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến việc đánh giá tài sản trong quá
trình sử dụng, ảnh hưởng đến việc phân bổ chi phí sử dụng từ đó ảnh hưởng

đến chi phí của hoạt động SXKD, đến thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Vì
thế, ngay từ khi đầu tư hình thành TSCĐ, doanh nghiệp phải xác định các yếu
tố như giá trị phải thu hồi, thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ từ đó xây dựng
dược phương pháp khấu hao SCĐ một cách hợp lý. Mặt khác trong quá trình
sử dụng TSCĐ phải xem xét mức khấu hao có phù hợp với thực tế sử dụng và
hiện trạng tài sản hay không, có biện pháp điều chỉnh kịp thời phương pháp
khấu hao cũng như mức khấu hao theo yêu cầu quản lý.
Thứ ba, phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu quản lý và đánh giá hiệu quả sử
dụng TSCĐ phù hợp. Do chi phí đầu tư TSCĐ là không nhỏ, quá trình sử dụng
TSCĐ lại tương đối dài nên việc xây dựng hệ thống các chỉ tiêu quản lý và


20

đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ sẽ giúp nhà quản lý trả lời những câu hỏi cơ
bản như: việc sử dụng tài sản đã hiệu quả chưa? Cơ cấu tài sản hiện tại có
phát huy được năng lực của tài sản hay không?... Nếu xét thấy tài sản sử dụng
không hiệu quả, không thích ứng với hoạt động của doanh nghiệp hoặc tài sản
trở nên lạc hậu, doanh nghiệp sẽ phải tiến hành thanh lý, nhượng bán để đàu
tư thay thế bằng tài sản khác.
Từ yêu cầu quản lý đặt ra cho kế toán TSCĐ những nhiệm vụ sau:
Tổ chức kế toán ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu một cách đầy đủ,
kịp thời về số lượng, hiện trạng và giá trị tài sản cố định hiện có, tình hình
tăng, giảm và di chuyển tài sản cố định, kiểm tra việc bảo quản, bảo dưỡng và
sử dụng tài sản cố định.
- Kế toán tính toán và phân bổ chính xác mức khấu hao tài sản cố định
vào chi phí sản xuất kinh doanh theo mức độ hao mòn của tài sản cố định và
chế độ qui định.
- Tham gia lập dự toán sửa chữa lớn tài sản cố định, giám sát việc
sửa chữa tài sản cố định.

- Kế toán hướng dẫn, kiểm tra các phân xưởng, phòng, ban thực hiện
đầy đủ các chứng từ ghi chép ban đầu về tài sản cố định, mở các sổ sách cần
thiết và hạch toán tài sản cố định đúng chế độ, đúng phương pháp.
- Kế toán tham gia kiểm kê và đánh giá lại tài sản cố định theo quy định
của nhà nước, lập các báo cáo về tài sản cố định của doanh nghiệp; tiến hành
phân tích tình hình trang bị, huy động, bảo quản và sử dụng tài sản cố định
nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của tài sản cố định.
1.2. Kế toán Tài sản cố định trong doanh nghiệp


21

1.2.1. Quy định kế toán TSCĐ
Theo quy định trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 03: Tài sản cố
định hữu hình và VAS 04: Tài sản cố định vô hình:
1.2.1.1. Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ
Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải chắc chắn thu được lợi
ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; nguyên giá tài sản phải
được xác định một cách đáng tin cậy; có thời gian sử dụng ước tính trên 1
năm và có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
Một tài sản vô hình được ghi nhận là TSCĐ vô hình phải chắc chắn thu
được lợi ích kinh tế trong tương lai do tài sản đó mang lại; nguyên giá tài sản
phải được xác định một cách đáng tin cậy; có thời gian sử dụng ước tính trên
1 năm và có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
1.2.1.2. Ghi nhận giá trị ban đầu của TSCĐ


Ghi nhận giá trị ban đầu của TSCĐHH: TSCĐHH phải được ghi nhận ban đầu
theo nguyên giá. TSCĐHH trong doanh nghiệp có thể được hình thành theo
nhiều phương thức và từ nhiều nguồn khác nhau. Tùy vào từng hình thức đầu

tư để có được TSCĐHH thì nguyên giá của TSCĐHH sẽ được xác định theo
từng nội dung cụ thể, nhưng dù là được hình thành theo phương thức nào thì
nguyên giá TSCĐHH vẫn phải được xác định dựa trên nguyên tắc: Nguyên giá
TSCĐHH là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã chi trả để có được TSCĐHH

vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
• Ghi nhận chi phí của TSCĐVH: Theo chuẩn mực kế toán số 04 (VAS 04) chi phí
liên quan đến TSCĐVH phải được ghi nhận là chi phí SXKD trong kỳ hoặc chi
phí trả trước, trừ trường hợp chi phí hình thành một phần nguyên giá
TSCĐVH hình thành trong quá trình sáp nhập doanh nghiệp có tính chất mua
lại nhưng không đáp ứng được định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận là TSCĐVH
thì chi phí đó hình thành một bộ phận của lợi thế thương mại vào ngày quyết
định sáp nhập doanh nghiệp.


22

1.2.1.3. Chi phí phát sinh sau ghi nhận giá trị ban đầu của TSCĐ
- Đối với TSCĐHH: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03 (VAS 03):
+ Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu hình được ghi
tăng nguyên giá của tài sản nếu các chi phí này chắc chắn làm tăng lợi ích
kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản đó. Các chi phí phát sinh không thỏa
mãn điều kiện trên phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong
kỳ.
+ Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu hình được ghi
tăng nguyên giá của tài sản nếu chúng thực sự cải thiện trạng thái hiện tại so
với trạng thái tiêu chuẩn ban đầu của tài sản đó, như: thay đổi bộ phận của
TSCĐ hữu hình làm tăng thời gian sử dụng hữu ích, hoặc làm tăng công suất
sử dụng của chúng; cải tiến bộ phận của TSCĐ hữu hình làm tăng đáng kể
chất lượng sản phẩm sản xuất ra hoặc áp dụng quy trình công nghệ sản xuất

mới làm giảm chi phí hoạt động của tài sản so với trước.
+ Chi phí về sửa chữa và bảo dưỡng TSCĐ hữu hình nhằm mục đích khôi
phục hoặc duy trì khả năng đem lại lợi ích kinh tế của tài sản theo trạng thái
hoạt động tiêu chuẩn ban đầu được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh
trong kỳ.
+ Việc hạch toán các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu
hình phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể và khả năng thu hồi các chi phí
phát sinh sau. Khi giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình đã bao gồm các khoản
giảm về lợi ích kinh tế thì các chi phí phát sinh sau để khôi phục các lợi ích
kinh tế từ tài sản đó sẽ được tính vào nguyên giá TSCĐ nếu giá trị còn lại của
TSCĐ không vượt quá giá trị có thể thu hồi từ tài sản đó. Trường hợp trong
giá mua TSCĐ hữu hình đã bao gồm nghĩa vụ của doanh nghiệp phải bỏ thêm
các khoản chi phí để đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng thì việc vốn
hóa các chi phí phát sinh sau cũng phải căn cứ vào khả năng thu hồi chi phí. Ví
dụ khi mua một ngôi nhà đòi hỏi doanh nghiệp phải sửa chữa trước khi sử


23

dụng thì chi phí sữa chữa ngôi nhà được tính vào nguyên giá của tài sản nếu
giá trị đó có thể thu hồi được từ việc sử dụng ngôi nhà trong tương lai.
+ Trường hợp một số bộ phận của TSCĐ hữu hình đòi hỏi phải được
thay thế thường xuyên, được hạch toán là các TSCĐ độc lập nếu các bộ phận
đó thỏa mãn đủ bốn (4) tiêu chuẩn quy định cho TSCĐ hữu hình. Ví dụ máy
điều hòa nhiệt độ trong một ngôi nhà có thể phải thay thế nhiều lần trong suốt
thời gian sử dụng hữu ích của ngôi nhà đó thì các khoản chi phí phát sinh
trong việc thay thế hay khôi phục máy điều hòa được hạch toán thành một tài
sản độc lập và giá trị máy điều hoà khi được thay thế sẽ được ghi giảm.
+ Sau khi ghi nhận ban đầu, trong quá trình sử dụng, TSCĐ hữu hình
được xác định theo nguyên giá, khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại. Trường hợp

TSCĐ hữu hình được đánh giá lại theo quy định của Nhà nước thì nguyên giá,
khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại phải được điều chỉnh theo kết quả đánh giá
lại. Chênh lệch do đánh giá lại TSCĐ hữu hình được xử lý và kế toán theo quy
định của Nhà nước.
- Đối với TSCĐVH: Theo chuẩn mực kế toán Viêt Nam số 04 (VAS 04):
+ Chi phí liên quan đến TSCĐ vô hình phát sinh sau khi ghi nhận ban đầu
phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi thỏa mãn
đồng thời 2 điều kiện sau thì được tính vào nguyên giá TSCĐ vô hình: chi phí
này có khả năng làm cho TSCĐ vô hình tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai
nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu; chi phí được đánh giá một
cách chắc chắn và gắn liền với một TSCĐ vô hình cụ thể.
+ Chi phí liên quan đến TSCĐ vô hình phát sinh sau khi ghi nhận ban đầu
được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi các chi phí này
gắn liền với một TSCĐ vô hình cụ thể và làm tăng lợi ích kinh tế từ các tài sản
này.
+ Chi phí phát sinh sau khi ghi nhận ban đầu liên quan đến nhãn hiệu
hàng hóa, quyền phát hành, danh sách khách hàng và các khoản mục tương


24

tự về bản chất (kể cả trường hợp mua từ bên ngoài hoặc tạo ra từ nội bộ
doanh nghiệp) luôn được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
+ Sau khi ghi nhận ban đầu, trong quá trình sử dụng, TSCĐ vô hình
được xác định theo nguyên giá, khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại.
1.2.1.3. Khấu hao TSCĐ
Giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệ
thống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng. Phương pháp khấu hao
phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp. Số khấu
hao của từng kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ

khi chúng được tính vào giá trị của các tài sản khác, như: Khấu hao TSCĐ hữu
hình dùng cho các hoạt động trong giai đoạn triển khai là một bộ phận chi phí
cấu thành nguyên giá TSCĐ vô hình (theo quy định của chuẩn mực TSCĐ vô
hình), hoặc chi phí khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho quá trình tự xây dựng
hoặc tự chế các tài sản khác.
Lợi ích kinh tế do TSCĐ hữu hình đem lại được doanh nghiệp khai thác
dần bằng cách sử dụng các tài sản đó. Tuy nhiên, các nhân tố khác, như: Sự lạc
hậu về kỹ thuật, sự hao mòn của tài sản do chúng không được sử dụng thường
dẫn đến sự suy giảm lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp ước tính các tài sản đó sẽ
đem lại. Do đó, khi xác định thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình phải
xem xét các yếu tố sau:
(a) Mức độ sử dụng ước tính của doanh nghiệp đối với tài sản đó. Mức
độ sử dụng được đánh giá thông qua công suất hoặc sản lượng dự tính;
(b) Mức độ hao mòn phụ thuộc vào các nhân tố liên quan trong quá
trình sử dụng tài sản, như: Số ca làm việc, việc sửa chữa và bảo dưỡng của
doanh nghiệp đối với tài sản, cũng như việc bảo quản chúng trong những thời
kỳ không hoạt động;


25

(c) Hao mòn vô hình phát sinh do việc thay đổi hay cải tiến dây truyền
công nghệ hay do sự thay đổi nhu cầu của thị trường về sản phẩm hoặc dịch
vụ do tài sản đó sản xuất ra;
(d) Giới hạn có tính pháp lý trong việc sử dụng tài sản, như ngày hết hạn
hợp đồng của tài sản thuê tài chính.
Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình do doanh nghiệp xác định
chủ yếu dựa trên mức độ sử dụng ước tính của tài sản. Tuy nhiên, do chính
sách quản lý tài sản của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng hữu ích ước tính
của tài sản có thể ngắn hơn thời gian sử dụng hữu ích thực tế của nó. Vì vậy,

việc ước tính thời gian sử dụng hữu ích của một TSCĐ hữu hình còn phải dựa
trên kinh nghiệm của doanh nghiệp đối với các tài sản cùng loại.
- Phương pháp tính:
Ba phương pháp khấu hao TSCĐ hữu hình, gồm:
+ Phương pháp khấu hao đường thẳng;
Phương pháp này còn gọi là phương pháp khấu hao theo thời gian sử
dụng, hay phương pháp tuyến tính. Theo phương pháp này thì mức khấu hao
hàng năm là bằng nhau và được xác định như sau:
Tài sản cố định trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương
pháp khấu hao đường thẳng như sau:
- Xác định mức trích khấu hao trung bình hàng năm cho tài sản cố định
theo công thức dưới đây:
Mức trích khấu hao trung bình
hàng năm của TSCĐ

Nguyên giá của TSCĐ
=

Thời gian trích

khấu hao
Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là đơn giản, dễ tính. Mức khấu
hao được phân bổ vào giá thành này một cách đều đặn làm cho giá thành ổn
định. Tuy nhiên phương pháp này không phản ánh đúng giá trị hao mòn tài


×