HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
BỘ MÔN KINH TẾ
HỌC PHẦN: KINH TẾ
PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN: BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG PHÂN PHỐI THU NHẬP Ở VIỆT
NAM
NHÓM THẢO LUẬN: 04
NHÓM LỚP: 04
PHÒNG HỌC:
NHÓM TRƯỞNG: Vũ Hải Hưng
THÀNH VIÊN THAM GIA:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Trần Phương Thảo
Phạm Thu Hương
Đinh Thị Mỹ Linh
Đào Thị Thái
Lê Thị Thu Hoài
Hoàng Thị Tâm Thủy
BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG PHÂN PHỐI THU NHẬP Ở VIỆT NAM
A. MỞ ĐẦU
Nhìn lại chặng đường gần 30 năm đổi mới, chúng ta hẳn sẽ rất tự hào với những
thành tựu đáng kể Việt Nam đã đạt được. Tăng trưởng bình quân 7% trong những năm
của thập kỉ 90, khoảng 7,8% giai đoạn từ 2000 – 2006, đạt 8,47% sau khi chính thức
gia nhập Tổ chức kinh tế thế giới (WTO) đầu năm 2007, và vẫn ở mức cao là 6,23%
vào năm 2008 trong điều kiện suy thoái kinh tế thế giới. Cùng với quá trình phát triển
kinh tế, đời sống người dân Việt Nam đã được cải thiện, vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế được nâng cao. Ngân hàng thế giới (World Bank – WB) coi Việt Nam
như một “câu chuyện thành công”, một hình mẫu trong chiến lược xóa đói giảm nghèo.
Tuy nhiên đó hẳn đã là sự phát triển bền vững. Trong vô số những lạc quan về bức
tranh màu hồng đấy, không phải không có những lo lắng. Một trong những quan ngại
lớn nhất của Việt Nam là vấn đề phân phối thu nhập mà cụ thể là sự bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập ở Việt Nam. Xung quanh vấn đề này, ngày càng xuất hiện những
câu hỏi kiểu như: “Liệu sự tăng trưởng nhanh trong thời gian qua có phải trả giá bằng
bất bình đẳng gia tăng? Sự gia tăng bất bình đẳng có thể gây cản trở cho tăng trưởng
trong thời gian tới như thế nào? Hay ý nghĩa thực sự của thành tích giảm nghèo trong
thời gian qua là gì?...”
Không chỉ ở Việt Nam, mà các nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển, vấn
đề này cũng đang trở nên cấp thiết song song với việc tăng trưởng kinh tế. Sau một thời
kì dài mải mê với việc tăng trưởng kinh tế, nhiều nước đã giật mình nhận ra rằng một bộ
phận không nhỏ dân cư của nước họ không được hưởng lợi gì từ việc tăng trưởng kinh
tế. Và lúc đó các nước đã bắt đầu quan tâm hơn tới vấn đề phân phối thu nhập. Tuy vậy
vấn đề về phân phối thu nhập đã được nhiều nhà kinh tế học quan tâm và đề cập đến từ
rất sớm trong các lý thuyết kinh tế của mình như: Công trình “Wealth of Nations”
(1776) của Adam Smith, lý thuyết phân phối thu nhập của David Ricardo (1817), tác
phẩm “Tư Bản” (1867) của Karl Marx và Frederich Engels,… Và nó đã không ngừng
được phát triển với sự đóng góp, bổ sung, hoàn thiện của các học giả, các nhà kinh tế
trên thế giới cho đến ngày nay.
Phân phối thu nhập là một bộ phận của phân phối, gắn liền với sự phân phối sản
phẩm đầu ra được biểu hiện dưới các hình thái thu nhập. Thực tiễn cho thấy phân phối
thu nhập đóng vai trò rất quan trọng trong mọi xã hội cũng như trong mọi hình thái kinh
tế vì phân phối thu nhập hỗ trợ cho tiêu dùng và quá trình tái sản xuất, đảm bảo cho sự
tồn tại của loài người. Một vấn đề nảy sinh từ kết quả của quá trình phân phôi thu nhập
là sự chênh lệch giàu nghèo trong xã hội. Sự chênh lệch giàu nghèo ở mức độ như thế
nào thì được coi là bất bình đẳng? Vấn đề được nhiều quốc gia chú ý quan tâm. Để hỗ
trợ đo lường phân phối thu nhập nhằm xác định mức độ bất bình đẳng, các nhà kinh tế
thường sử dụng hệ số GINI. Hệ số Gini có thể tính theo thu nhập hoặc chi tiêu. Giá trị
của hệ số Gini nằm trong khoảng từ 0 đến 1, giá trị càng cao thì mức độ bất bình đẳng
càng lớn. Những quốc gia có hệ số Gini từ 0,5 trở lên thì được coi là có mức độ bất bình
đẳng cao, còn trong khoảng từ 0,2 đến 0,35 thì phân phối tương đối công bằng.
Như vậy để tìm hiểu về sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của Việt Nam,
chúng ta sẽ xem xét trên hai khía cạnh là sự chênh lệch giàu nghèo và hệ số Gini, để từ
đó rút ra nguyên nhân của tình trạng và đưa đến giải pháp cho vấn đề.
B. THỰC TRẠNG
Thực trạng bất bình đẳng phân phối thu nhập trong sự phát triển kinh tế tại Việt
Nam (sử dụng hệ số GINI làm thước đo)
Tổng quan:
Biểu đồ sự thay đổi hệ số GINI của cả nước giai đoạn 2002 – 2010
Xét chung cho cả nước thì Việt Nam có hệ số Gini nằm trong khoảng từ 0,35 đến
0,4, vẫn chưa đáng lo ngại, tuy nhiên ta có thể thấy hệ số Gini đang có xu hướng tăng
trong tương lai.
Trong khu vực các nước Asean, các nước có nền kinh tế phát triển nhất lại có sự bất
bình đẳng cao nhất như Thái Lan là 0,4 (năm 2009) và Indonexia là 0,462 (năm 2009),
các nước kém phát triển hơn như Campuchia lại có hệ số Gini thấp hơn là 0,36 (năm
2009).
Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc trong năm 2009, công bố bản báo cáo về
khoảng cách thu nhập của thế giới thì Đan Mạch là một trong những nền kinh tế phát
triển nhất thế giới và đồng thời cũng có khoảng cách thu nhập thấp nhất thế giới. Hệ số
Gini của quốc gia Bắc Âu này chỉ là 0,247. Đông Âu là khu vực có khoảng cách thu
nhập thấp nhất, hệ số Gini của các quốc gia này thường ở mức dưới 0,3 như: Ucraina là
0,264; Belarus là 0,277; Serbia là 0,278… Tại Châu Á quốc gia có khoảng cách giàu nghèo thấp nhất là Nhật Bản với hệ số Gini là 0,249. Các nước có khoảng chênh lệch
lớn nhất hầu hết thuộc về khu vực Châu Phi, các nước này thường có hệ số Gini trên 0,5
như Zambia là 0,57 và Namibia sự bất bình đẳng thậm chí lên tới 0,7.
Như vậy so với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới thì con số 3,98
của Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2010 nằm ở vị trí trung bình, sự bất bình đẳng của
Việt Nam là ở mức vừa phải (tương đối công bằng) đó có thể nói là điều tuyệt vời với
một quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên sự bất bình đẳng lại đang có xu hướng tăng và
hơn nữa hệ số Gini bình quân chung đã nói nên tất cả khi: CIEM (Viện nghiên cứu
Quản lí Kinh tế Trung ương) dẫn báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
công bố giữa năm 2011 cho biết, số hộ nghèo trên cả nước đã tăng lên 1 triệu hộ, tức
tăng 50% sau khi mức chuẩn nghèo được điều chỉnh từ thu nhập 200.000
đồng/người/tháng
lên
400.000
đồng/người/tháng
tại
nông
thôn;
từ
260.000đồng/người/tháng lên 500.000đồng/người/tháng tại khu vực thành thị. Theo
chuẩn nghèo mới, hộ nghèo chiếm 20% dân số. Điểm đáng lưu ý là số người có tài sản
từ 1 triệu đô la tại Việt Nam đang tăng mạnh, với mức tăng năm 2011 là 33% so với
cùng kỳ năm 2010. CIEM đã đưa thông tin này trong báo cáo về “Giảm khoảng cách
chênh lệch thu nhập” - dẫn lại kết quả khảo sát do Công ty quản lý tài sản Merrill
Lynch Global Wealth Management và hãng tư vấn Capgemini của Mỹ thực hiện về số
lượng các triệu phú đô la tại châu Á nửa đầu năm 2011. Theo số liệu của tổng cục thống
kê Việt Nam, nếu như khoảng cách thu nhập trung bình giữa người giàu và người nghèo
ở Việt Nam là 8,9 năm 2008 thì đến năm 2011 mức này là 9,2 lần.
Việc nhìn nhận sự bất bình đẳng thông qua hệ số Gini chung của cả nước như vậy
đã làm xóa nhòa những khác biệt vùng/miền, giới tính, dân tộc và trình độ học vấn giữa
các thành viên trong xã hội. Chính vì thế để nhìn nhận rõ hơn về sự bất bình đẳng ở
Việt Nam chúng ta sẽ đi xét cụ thể đối với từng nhóm dân cư, từng vùng miền và khu
vực.
1. Bất bình đẳng theo nhóm dân cư
Nước ta có nhóm thu nhập chung là: nhóm 1 là nhóm có thu nhập thấp nhất
(nhóm nghèo nhất); nhóm 2 là nhóm có thu nhập dưới trung bình; nhóm 3 là nhóm có
thu nhập trung bình; nhóm 4 là nhóm có thu nhập khá và nhóm 5 là nhóm có thu
nhập cao nhất (nhóm giàu nhất).
Nhóm
1
Nhóm
2
Nhóm
3
Nhóm
4
Nhóm
5
Chênh lệch
giữa nhóm 5 và
nhóm 1 (lần)
2002
107,7
178,3
251,0
370,5
872,9
8,1
2004
141,8
240,7
347,0
514,2
1182,3 8,3
2006
184,3
318,9
458,9
678,6
1541,7 8,4
2008
275,0
477,2
699,9
1067,4 2458,2 8,9
2010
369,4
668,8
1000,4 1490,1 3410,2 9,2
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng phân theo 5 nhóm thu nhập của cả nước giai
đoạn 2002 – 2010 (Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Từ bảng cho thấy khoảng cách chênh lệch thu giữa nhóm 20% người giàu nhất
và 20% người nghèo nhất đang ngày càng tăng. Năm 1995, chênh lệch thu nhập
giữa nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất là 7 lần, tỷ lệ này tăng dần theo các
năm, đến năm 2002 là 8,1 lần, đến năm 2010 đã tăng lên đến 9,2 lần. Theo CIEM
thì “Điều đáng lo ngại là chênh lệch có khuynh hướng tăng lên và có thể đạt đến
mức báo động trong thời gian tới nếu không có nỗ lực ngăn chặn từ bây giờ”.
2. Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập theo khu vực thành thị, nông thôn
2002
2004
2006
2008
2010
Thành thị
622
815
1058
1605
2130
Nông thôn
275
378
506
762
1071
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng phân theo khu vực thành thị, nông thôn
(đơn vị: nghìn đồng )
Ta có thể thấy về tỷ lệ thu nhập, khoảng cách thu nhập giữa người dân nông thôn và
thành thị liên tục giảm qua các năm. Thu nhập bình quân một người một tháng năm
2002 ở khu vực thành thị tương ứng gấp khu vực nông thôn là 2,26; giảm dần qua các
năm. Đến năm 2010 thu nhập bình quân của người dân thành thị là 2.130.000
đồng/người/tháng, người dân nông thôn là 1.070.000 đồng/người/tháng; gấp xấp xỉ 2
lần.
Biểu đồ sự thay đổi của hệ số GINI khu vực thành thị, nông thôn giai đoạn 2002 - 2010
Từ bảng số liệu và đồ thị ta có thể thấy thực trạng bất bình đẳng ở hai khu vực thành
thị và nông thôn đang có diễn biến rất khác nhau. Tại khu vực thành thị, hệ số GINI có
xu hướng giảm, từ 0,377 vào năm 2002 xuống còn 0,369 vào năm 2010. Mặt khác, tình
trạng bất bình đẳng phân phối thu nhập ở khu vực nông thôn lại gia tăng nhanh chóng,
hệ số GINI tăng từ 0,327 (năm 2002) lên đến 0,364 (năm 2010).
3. Bất bình đẳng theo khu vực địa lý.
Tỷ lệ nghèo luôn ở mức cao đối với nhóm đầu tiên bao gồm Tây Bắc, Tây
Nguyên và Bắc Trung bộ. Tại khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ
thuộc nhóm vùng phát triển, tỷ lệ nghèo đói là khá thấp. Các vùng ở Đông Bắc,
Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long thuộc nhóm giữa. Bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập ở 8 vùng địa lý được thể hiện rõ rệt qua sự chênh lệch
giữa các nhóm thu nhập trong chính những vùng địa lý đó.
ĐB Sông Hồng
Đông Bắc
Tây Bắc
Bắc Trung Bộ
Duyên hải NTB
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
ĐB Sông Cửu Long
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
Nhóm 4
Nhóm 5
Chênh lệch giữa
nhóm 5 và 1
(lần)
468.0
308.0
239.4
287.3
370.8
305.4
628.5
395.5
817.7
506.6
367.5
494.6
627.1
533.7
1106.0
661.5
1158.7
748.4
536.0
722.3
875.9
798.7
1582.2
936.6
1663.4
1182.7
825.5
1054.2
1256.3
1276.3
2220.4
1336.3
3732.8
2531.1
1736.3
1958.5
2682.3
2525.8
5292.9
2908.3
8.0
8.2
7.3
6.8
7.2
8.3
8.4
7.4
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng phân theo 5 nhóm thu nhập ứng với 8
vùng trên cả nước năm 2010 (Nguồn: Tổng cục thống kê)- Đơn vị tính: Nghìn
đồng
Bất bình đẳng không chỉ xuất hiện trong chính mỗi khu vực địa lý, mà nó còn thể
hiện rõ rệt thông qua sự tương quan giữa các khu vực địa lý.
ĐB
Sông
Hồng
Đông Bắc
Tây Bắc
Bắc Trung Bộ
Duyên
hải
NTB
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
ĐB Sông Cửu
Long
Năm
2002
0.360
6
0.336
7
0.340
7
0.330
8
0.324
1
0.342
0
0.392
1
0.356
1
Năm
2004
0.361
6
0.360
3
0.349
4
0.330
4
0.341
1
0.368
9
0.389
2
0.349
1
Năm
2006
0.361
6
0.369
2
0.359
9
0.343
3
0.345
1
0.378
2
0.390
3
0.351
0
Năm
2008
0.378
5
0.384
7
0.372
2
0.343
9
0.351
0
0.377
5
0.386
7
0.363
3
Năm
2010
0.37
61
0.38
80
0.37
27
0.34
51
0.36
12
0.38
11
0.38
54
0.36
53
Hệ số Gini của 8 vùng địa lý trên cả nước giai đoạn 2002 – 2010
Phân tích bảng hệ số Gini cho thấy trong giai đoạn 2002 – 2010, nhìn chung tình
trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có xu hướng gia tăng qua các năm. Trong
đó, tốc độ tăng nhanh nhất là ở khu vực Đông Bắc (1.15 lần), Duyên hải Nam Trung Bộ
và Tây Nguyên là 1.11 lần. Mức độ bất bình đẳng diễn ra nghiêm trọng nhất ở Khu vực
Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Hồng do tại 2 khu vực này có nền kinh tế phát triển,
sự phân chia nhóm ngành nghề và mức thu nhập phong phú nên có sự đa dạng trong
việc phân phối thu nhập. Tuy nhiên, ở khu vực Đông Nam Bộ, thu nhập có xu hướng
được phân phối công bằng hơn do hệ số Gini có xu hướng giảm dần.
Tuy nhiên, hệ số Gini ở 8 vùng địa lý nhìn chung dao động ở mức 0,3 – 0,4 cho thấy
bất bình đẳng ở 8 vùng này ở mức chấp nhận được, phù hợp với quy định về bất bình
đẳng của World Bank giành cho những nước đang phát triển là từ 0.3 – 0.5.
Tóm lại, những phân tích trên đây đã cho thấy thực trạng bất bình đẳng thu nhập của
các nhóm dân cư theo vùng địa lý vẫn đang diễn ra và có xu hướng ngày càng nới rộng.
Như vậy, bất bình đẳng cơ hội (thể hiện qua chỉ số chênh lệch) đã miêu tả rõ nét về
sự bất bình đẳng xã hội hơn là bất bình đẳng nói chung (thể hiện qua hệ số Gini bình
quân cả nước). Nếu thay đổi lại cách nhìn theo góc độ bất bình đẳng cơ hội sẽ cho ta
thấy bất bình đẳng ở Việt Nam chắc chắn không ở mức vừa phải (tức là không thể
tương đối công bằng) như nhận định mà là thuộc loại cao hơn trong sự so sánh với các
nước trong khu vực và trên thế giới. Và hơn nữa, sự bất bình đẳng ở Việt Nam đang có
xu hướng tăng lên.
Hiện nay không chỉ có Việt Nam mà trên toàn thế giới thì vẫn đề bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập cũng hết sức đáng lo ngại. Trung Quốc là một nước đi theo
con đường xã hội chủ nghĩa nhưng được xếp vào nhóm các nước bất bình đẳng nhất
trên thế giới. Còn với Mĩ là một nước tư bản phát triển , bất bình đẳng thu nhập không
ngừng giãn rộng, năm 2012 là năm đầu tiên thu nhập của nhóm giàu nhất nước (tức 1%
dân số) chiếm 19,3% tổng thu nhập của các hộ gia đình, vượt qua mức kỷ lục 18,7%
của năm 1927. Số liệu cũng cho thấy trong năm 2012, thu nhập trước thuế của 1% dân
số giàu nhất nước Mỹ tăng 19,6%, trong khi tốc độ tăng thu nhập của 99% dân số còn
lại chỉ đạt 1%. Dù đi theo con đường phát triển nào thì các quốc gia cũng gặp phải sự
phân hóa giàu nghèo và nó để lại rất nhiều hậu quả cả về kinh tế và xã hội nhưng đặc
biệt là về chính trị - xã hội. Ở Việt Nam: Đảm bảo công bằng xã hội là mục tiêu hàng
đầu. Nhưng chính sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đã làm xã hội có sự phân
hóa khác biệt rõ rệt giữa các tầng lớp. Như vậy sẽ làm mất đi lòng tin tuyệt đối của dân
chúng vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường XHCN mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã lựa chọn. Điển hình là vụ gây rối ở Tây Nguyên vào ngày 10/4/2004. Tây
Nguyên là vùng có thu nhập thấp, đời sống dân cư còn nghèo nàn, dân trí thấp. Lợi
dụng điểm này các thế lực phản động đã xuyên tạc các chính sách của Nhà nước ta, xúi
giục biểu tình đập phá cơ quan nhà nước, đòi lật đổ chính quyền . Chúng lôi kéo đồng
bào ta bằng biện pháp kinh tế. Ở Mỹ thì cuộc biểu tình “Chiếm lấy phố Wall” diễn ra
ngày 17/9/2011 tại New York cũng đã đi vào lịch sử. Người biểu tình Mỹ không đòi
dân chủ mà yêu cầu công bằng xã hội hơn. Đối tượng phản đối của họ là sự hung hãn và
tham lam của giới tài chính, ảnh hưởng của giới tài chính tới nền chính trị Hoa Kỳ.
C. NGUYÊN NHÂN
Để có thể giải quyết hoặc hạn chế tình trạng bất bình đẳng ở Việt Nam thì việc xác
định đúng nguyên nhân dẫn tới tình trạng đó là điều rất quan trọng. Khi nhìn nhận về
vấn đề bất bình đẳng ở Việt Nam ta có thể thấy một số nguyên nhân cơ bản như: Thay
đổi cơ chế từ quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, những tác động của thị trường
cạnh tranh; sự khác nhau giữa các vùng miền, dân tộc; sự chuyển dịch mô hình sản
xuất; định giá khác nhau cho các yếu tố đầu vào khác nhau.
Thay đổi cơ chế từ quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, những tác động tất yếu
của quy luật thị trường cạnh tranh. Trong những năm trước đây, khi chúng ta còn ở
trong cơ chế nền kinh tế tập trung – quan liêu, những đặc trưng của nền kinh tế này
không là điều kiện cho hiện tượng phân tầng trong xã hội. Công cuộc đổi mới, trước hết
là nền kinh tế định hướng theo sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường, đã thực sự mang lại những nhân tố mới, phát huy được
những nguồn lực của đất nước cho sự phát triển kinh tế xã hội, theo đó nền kinh tế dần
đi vào ổn định, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, đẩy lùi lạm phát vào những năm cuối
của thập kỷ 80, đời sống của người dân không ngừng được cải thiện…thế nhưng trong
điều kiện quá độ từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường, hiện tượng
phân tầng thường có những biểu hiện bột phát, đôi khi “thái quá” do vô số các kẽ hở,
khuyết tật trong lĩnh vực quản lý kinh tế và quản lý xã hội do còn những vùng “tranh
tối, tranh sáng” cho những sự thao túng pháp luật, đồng thời cũng là do bản chất năng
động và quy luật cạnh tranh, đào thải khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường. Trước hết,
tại sao kinh tế thị trường với khả năng mạnh mẽ của nó trong thực hiện mục tiêu tăng
trưởng lại ngày càng gây nên tình trạng phân hoá giàu nghèo. Điều này có những nhân
tố tất yếu, đồng thời cũng có những nhân tố thể hiện sự bất bình đẳng trong xã hội.
Trong tính chất của nó, nền kinh tế thị trường đề cao khả năng của chủ thể kinh tế và
thực tế không phải ai cũng có khả năng như nhau trong tiếp cận với những cơ hội mà thị
trường đem lại, trong khía cạnh này năng lực cá nhân của mỗi chủ thể và những điều
kiện bất bình đẳng trong xã hội là hai nguyên nhân quyết định đến sự thành công về
kinh tế và vươn lên so với những người khác để trở thành thành viên của nhóm giàu có
trong xã hội. Ngoài ra, bước đầu làm quen với nền kinh tế thị trường đã khiến cho sự
quản lý kinh tế, xã hội còn nhiều những hạn chế, tạo cơ hội cho một số bộ phận vươn
lên một cách bất chính và tạo khoảng cách với những nhóm xã hội khác. Ảnh hưởng từ
quá trình chuyển đổi sở hữu nhà nước sang tập thể dưới hình thức cổ phần hóa, mà thực
chất là tư nhân hóa, đã dẫn đến tình trạng quyền lợi kinh tế thường rơi vào tay những
người có chức quyền nhưng lại thiếu trách nhiệm với xã hội. Phải nói thêm nhân tố
thuộc về sự phát triển của các thể chế kinh tế thị trường. Về nguyên tắc, thì nó mang lại
cơ hội cho tất cả mọi người, nhưng thực chất, chỉ một số ít người, đặc biệt là ngay từ
thời điểm ban đầu, lanh lợi và có đủ khả năng chộp lấy được những cơ hội này. Ðiển
hình là vai trò của đất đai đối với nông dân và nông thôn và sự hoạt động biến dạng
nghiêm trọng của thị trường đất đai và bất động sản ở thành thị như là những nhân tố
quan trọng tác động đến đói nghèo và chênh lệch giàu nghèo trong xã hội. Với 79%
người nghèo sống ở nông thôn, một nguyên nhân dẫn đến sự nghèo đói là không có đất
hoặc có quá ít đất canh tác. Tỷ lệ hộ nông dân không có ruộng tăng lên và ở mức cao tại
miền Ðông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Không có đất, người nông dân
không có thu nhập ổn định, cuộc sống trở nên bấp bênh và khó khăn. Tại đồng bằng
sông Hồng, tình trạng thiếu đất rất nghiêm trọng, dẫn đến nông nhàn và thiếu việc làm
gay gắt, cũng dẫn đến đói nghèo. Sự thiếu đất hay không có đất cũng là hệ quả của
nhiều nhân tố như “đói nghèo trở lại”. Tại vùng ven đô, đất canh tác không tăng thêm
mà bị thu hẹp do đô thị hoá nhanh chóng. Tại thành thị hay khu vực sắp được đô thị
hoá, việc đầu cơ đất đai, đẩy giá đất lên mức cao nhất thế giới đã làm cho một số nhóm
người trở thành siêu tỷ phú một cách rất nhanh chóng. Do nhiều nguyên nhân khác
nhau, thu nhập từ đầu cơ đất đai, chuyển nhượng bất động sản phi chính thức chưa bị
đánh thuế thu nhập và thuế về lợi nhuận chuyển nhượng đất đai và bất động sản nên số
người này giàu lên quá nhanh, làm cho sự chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng trong
xã hội tăng lên. Thị trường bất động sản chính thức thì hầu như không hoạt động trong
khi thị trường bất động sản phi chính thức hoạt động với quy mô rất lớn không được
kiểm soát và điều tiết. Ðiều quan trọng là những người rất giàu đó không tạo thêm việc
làm cho xã hội, không góp phần đáng kể vào xoá đói giảm nghèo cho cộng đồng ở địa
phương.
Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp đi lên và đang trong quá trình công nghiệp hóa.
Tỷ trọng các ngành theo GDP năm 2012 của Việt Nam là: Nông nghiệp 21,5%, Công
nghiệp 40,7%, Dịch vụ 37,7%. Tuy nhiên 70% dân số sống ở nông thôn, gần một nửa
lao động đang làm việc ở nhóm ngành nông, lâm nghiệp- thủy sản. Nông nghiệp, nông
dân, nông thôn vẫn đóng góp quan trọng cho nền kinh tế: năm 2012 Việt Nam dẫn đầu
thế giới về xuất khẩu cà phê và gạo, kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt trên 3 tỷ USD và
kim ngạch xuất khẩu gạo là 3,67 tỷ USD,… Tuy nhiên các sản phẩm nông sản xuất
khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm thô, với giá trị không cao. Ở hầu hết các tỉnh,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa được hiểu là phát triển công nghiệp một cách ồ ạt theo
chiều rộng, làm cho tỷ trọng nhóm ngành này trong GDP tăng càng nhanh càng tốt.
Chính từ những suy nghĩ đó mà nhiều khu/cụm công nghiệp và trung tâm thương mại
được xây dựng tràn lan, không phù hợp với điều kiện tự nhiên và nguồn lực kinh tế của
các tỉnh. Điều này đặc biệt quan trọng ở các tỉnh nghèo, tỉnh miền núi, tỉnh có tiềm lực
phát triển nông nghiệp. Các tỉnh này chưa có hướng đi đúng trong việc đầu tư phát triển
công nghiệp, các ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất nông nghiệp (sản xuất giống, phân
bón, công cụ sản xuất, chế biến nông sản và thủy sản,…) chưa được chú trọng trong khi
việc phát triển các cụm công nghiệp ồ ạt đã khiến nhiều diện tích đất nông nghiệp và đất
ở bị mất đi, sản lượng nông nghiệp bị thu hẹp, ảnh hưởng đến đời sống, an sinh xã hội
và an toàn lương thực. Điều này đã khiến hoạt động sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn
ở cả đầu ra và đầu vào. Ở đầu vào, tỷ trọng vốn đầu tư vào nhóm ngành này vốn đã rất
thấp, lại tiếp tục giảm (từ 13,6% thời kỳ 1996 - 2000, xuống còn 8,3% thời kỳ 20012005, xuống 6,4% thời kỳ 2006-2010, trong đó năm 2010 còn 6,1%, năm 2011 còn 6%,
năm 2012 còn 5,2%), thấp xa so với tỷ trọng trong GDP. Như trong lĩnh vực sản xuất
phân bón, mặc dù nước ta có tiềm lực nhưng lượng phân bón thiếu hụt, cần phải nhập
khẩu là rất lớn (năm 2012 Việt Nam nhập khẩu 3,9 triệu tấn phân bón, giá trị lên tới 1,6
tỷ USD) khiến giá phân bón trong nước phải phụ thuộc rất lớn vào giá trên thị trường
quốc tế, thường sẽ bị đẩy lên khá cao, làm tăng chi phí trong sản xuất nông nghiêp.
Trong khi ở đầu ra, do ngành chế biến nông sản không phát triển, việc gắn kết giữa sản
xuất và tiêu thụ gặp khó khăn đã khiến cho giá nông sản bấp bênh. Giá lương thực năm
2012 giảm 5,66%, 7 tháng năm nay giảm tiếp 2,52%; giá thực phẩm năm 2012 chỉ tăng
0,95%, 7 tháng năm nay tăng 2,42%. Đối với xuất khẩu, mặc dù lượng sản phẩm của
nhóm ngành này đã vượt lên đứng thứ hạng cao trên thế giới, nhưng giá trị gia tăng thấp
do chưa qua chế biến hoặc mới sơ chế, giá cả xuất khẩu giảm, gây thiệt hại lớn (năm
2012 chỉ với 5 mặt hàng là hạt điều, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su do giá
giảm đã làm thiệt hại 1.931 triệu USD; 6 tháng 2013 chỉ với 4 mặt hàng cao su, hạt
điều, gạo, hạt tiêu, do giá giảm đã làm thiệt hại 332 triệu USD). Từ đó có thể thấy lợi
nhuận thu được từ việc sản xuất nông nghiệp không cao, dễ bị chi phối từ yếu tố bên
ngoài (như giá nông phẩm, phân bón,… trên thị trường quốc tế), người dân gặp nhiều
khó khăn, tỷ lệ tiết kiệm thấp hoặc bằng không dẫn tới việc tái đầu tư phát triển, mở
rộng sản xuất là rất khó. Tốc độ tăng GDP do nhóm ngành này tạo ra đang có xu hướng
giảm xuống (năm 2011 tăng 4,02%, năm 2012 tăng 2,68%, 6 tháng 2013 tăng 2,07%).
Hơn nữa hoạt động sản xuất nông nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của
thời tiết và sự biến đổi khí hậu. Khu vực miền Trung là nơi có điều kiện khí hậu tự
nhiên khắc nghiệt nhất Việt Nam, người nông dân phải chống chọi với những biến đổi
bất thường của thời tiết, là nơi thường xuyên bị những cơn bão càn quét. Cũng do điều
kiện tự nhiên, khu vực này không có các vịnh chắn gió như khu vực đồng bằng Bắc Bộ
nên bão từ biển tiến thẳng vào đất liền, không qua vật cản, sức gió mạnh, càn quét, gây
thiệt hại nặng nề cho người dân, nhất là những người nông dân. Do đó người nông dân
đã khó khăn thì sau những cơn bão lại càng khó khăn hơn, mọi của cải tích lũy thường
bị bão quấn trôi mất, người dân lại phải bắt đầu lại từ “hai bàn tay trắng”. Bên cạnh đó,
sự biến đổi khí hậu, kéo theo là hiện tượng nước biển dâng cũng đã làm cho các diện
tích đất nông nghiệp ven biển nhất là các vùng thấp như khu vực Đồng Bằng Nam Bộ bị
ảnh hưởng nặng nề. Theo khuyến cáo ở mức sơ bộ của IPCC thì khi nước biển dâng cao
1 m có tới 15-20 ngàn km2 đất tự nhiên của Đồng Bằng Nam Bộ bị ngập lụt, hàng triệu
người phải di chuyển chỗ ở, sản xuất nông nghiệp giảm sút nghiêm trọng. Điều đó đã
khiến cho hiện tượng thất nghiệp lao động trong khu vực tăng cao, làm gia tăng khoảng
cách về thu nhập giữa người dân trong cả nước.
Việt Nam là một quốc gia có diện tích trải dài từ Bắc vào Nam, với sự phân hóa rõ
rệt về đại lý và khí hậu cũng là những nhân tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng. Việt Nam là
một quốc gia nhiệt đới với những vùng đất thấp, đồi núi, nhiều cao nguyên với những
cánh rừng rậm. Đất đai có thể dùng cho nông nghiệp chiếm chưa tới 20%. Đất nước bị
chia thành miền núi và vùng đồng bằng kéo theo sự bất bình đẳng về cơ hội giữa người
dân sống ở khu vực trung du miền núi và người dân sống ở khu vực đồng bằng hay là
giữa người kinh và người dân tộc thiểu số. Nghèo của người dân tộc thiểu số là một
thách thức đặc thù và dai dẳng của Việt Nam, mặc dù mức sống của họ có được cải
thiện trong những năm gần đây song họ vẫn không tiến bộ nhanh bằng người dân tộc đa
số - người kinh. Nguyên nhân dẫn tới sự bất bình đẳng đó là người dân tộc thiểu số phải
đối mặt với nhiều khó khăn hơn người kinh trong việc tiếp cận giáo dục, dịch vụ công
cộng, tín dụng, đất đai, khó khăn về khả năng di chuyển lưu động (cơ sở hạ tầng, giao
thông vận tải chưa được đầu tư phát triển), khó khăn về liên kết thị trường cũng như
khó khăn do quan niệm dập khuôn của người kinh về người dân tộc thiểu số. Ngoài ra
làm gia tăng khoảng cách nghèo của người dân tộc thiểu số còn do chủ yếu người dân
tộc thiểu số sống tại trung du, miền núi, những vùng rất khó để phát triển công nghiệp,
ngành nghề kỹ thuật nên họ vẫn tiếp tục làm việc trong ngành nông nghiệp là chính, mà
ngành này thì có mức tăng trưởng chậm hơn với các ngành nghề khác của nền kinh tế.
Chính vì thế người dân tộc thiểu số ít có cơ hội phát triển, nhất là đối với con cái của
họ, thế hệ tương lai. Có thể là do các yếu tố chủ quan hay khách quan, trẻ em các dân
tộc thiểu số ít có điều kiện được tiếp cận với giáo dục. Theo thống kê thì tính trên tổng
số thanh thiếu niên chưa bao giờ đi học thì thanh thiếu niên dân tộc thiểu số chiếm tới
52%. Mà giáo dục và đào tạo được đánh giá là "chìa khoá của sự tiến bộ xã hội" đồng
thời là nhân tố quyết định sự thăng tiến xã hội của mỗi cá nhân, gia đình và các nhóm
xã hội. Như vậy bất bình đẳng trong tầng lớp người dân tộc thiểu số có thể được truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tuy nhiên ngay trong các dân tộc thiểu số cũng thể hiện
sự bất bình đẳng: trong số các dân tộc thiểu số lớn nhất, người Tày và người Khơ-mer
có tỷ lệ nghèo tương đối thấp, nhiều dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ
nghèo cao. Đó có thể là do phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên các vùng định cư của
các tộc người dân tộc thiểu số là khác nhau. Và ngay trong bộ phận những người dân
của dân tộc kinh cũng xảy ra tình trạng bất bình đẳng. Đó là sự bất bình đẳng giữa
người dân khu vực nông thôn – thành thị, giữa người dân các miền (Bắc , Trung, Nam).
Trong đó bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị do nguyên nhân chủ yếu là bất bình
đẳng về cơ hội. Người dân sống ở các thành thị có điều kiện thuận lợi hơn trong việc
tiếp cận giáo dục, giáo dục chất lượng cao, thị trường, tín dụng, các ngành nghề đem lại
thu nhập cao so với người dân sống ở khu vực nông thôn. Hơn nữa người dân sống ở
các khu vực nông thôn thì thường chịu thiệt hại nặng nề của sự biến đổi khi hậu, các
yếu tố thiên tai thời tiết hơn. Tuy nhiên sự bất bình đẳng giữa 2 khu vực này không
bằng giữa người kinh và người dân tộc thiểu số.
Ngoài ra việc bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở Việt Nam còn chịu ảnh
hưởng của việc định giá các yếu tố đầu vào của nền kinh tế, trong đó 2 yếu tố quan
trọng nhất là vốn và lao động. Trên thực tế, trong xã hội thông thường những người có
nhiều tài sản đều là những người giàu, thêm vào đó việc đánh giá quá cao giá cả của
những tài sản đều làm tăng không ngừng thu nhập của những người sở hữu nó. Còn đa
phần những người nghèo, đa phần họ chỉ có sức lao động, để đóng góp vào sự tăng
trưởng, chủ yếu họ chỉ có sức lao động, nhưng trong điều kiện tay nghề thấp, trình độ
thấp, lao động dư thừa, làm cho giá cả sức lao động của họ ngày càng rẻ tương đối so
với giá cả của các tài sản như vốn, đất đai nên thu nhập của họ ngày thấp hơn so với thu
nhập từ tài sản, thậm chí ngày càng thấp đi một cách tuyệt đối. Kết quả này làm gia tăng
số lượng người nghèo trong xã hội. Để giải quyết vấn đề trên Chính phủ cũng đã có
những chính sách nhằm can thiệp vào việc định giá lại các yếu tố sản xuất để đưa giá
các yếu tố về gần giá thị trường. Một trong những chính sách đã và đang được sử dụng
là chính sách tiền lương tối thiểu. Mục đích chính của lương tối thiểu là nhằm đảm bảo
mức sống cần thiết cho người lao động, đặc biệt là những lao động thu nhập thấp, ngăn
ngừa việc bóc lột lao động. Ngoài ra, lương tối thiểu còn có những tác động tích cực
khác như tăng năng suất lao động, giảm số người hưởng trợ cấp xã hội, tăng tiêu dùng
và tổng cầu. Tuy nhiên, tăng lương tối thiểu có thể dẫn đến các tác động không mong
muốn và một trong những ảnh hưởng tiêu cực đó là dẫn đến tình trạng thất nghiệp, đặc
biệt là của nhóm lao động có thu nhập thấp. Việc tăng lương tối thiểu cho người lao
động góp phần khuyến khích các nhà sản xuất chọn các công nghệ và kỹ thuật sử dụng
nhiều vốn và ít lao động, dẫn tới tình trạng số việc làm được tạo ra ít hơn và thu nhập
của nhóm người nghèo sẽ bị giảm, làm gia tăng khoảng cách về thu nhập giữa nhóm
người giàu và nhóm người nghèo.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, tuy nhiên
nguyên nhân chủ yếu, thách thức với với các nước đang phát triển là bất bình đẳng về
cơ hội. Bất bình đẳng về cơ hội dễ dẫn tới sự hình thành “cái bẫy bất bình đẳng” trong
thế hệ tương lai. Ví dụ, trẻ em sinh ra ở các gia đình nghèo không có cơ hội ngang bằng
với trẻ em trong các gia đình giàu để hưởng nền giáo dục có chất lượng. Vì vậy, những
trẻ em thuộc gia đình nghèo sẽ kiếm được ít thu nhập hơn khi chúng trưởng thành. Tức
là chúng lại rơi vào cảnh nghèo đói như thế hệ cha mẹ chúng. Cái vòng luẩn quẩn nghèo
đói vẫn tiếp tục, hay còn gọi là “bẫy nghèo đói”. Đó cũng là hiện tượng “cái bẫy bất
bình đẳng”. Cái bẫy bất bình đẳng này tồn tại dai dẳng và rất khó phá vỡ, thách thức các
quốc gia, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam.
D. KIẾN NGHỊ
Việt Nam đang trong thời kì quá độ đi lên Chủ nghĩa Xã hội, mục tiêu cơ bản mà
Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra trong đại hội các khóa là: “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”. Như vậy để đạt được mục tiêu đề ra thì ngoài việc tăng
trưởng kinh tế ổn định thì vấn đề giảm bất bình đẳng và đói nghèo là rất quan trọng. Để
đạt được công bằng, Chính phủ buộc phải sử dụng các chính sách can thiệp, tác động
đến cả nhóm người giàu và nghèo trong xã hội. Tác động đến nhóm người giàu thường
là các chính sách về thuế: thuế đầu tư, thuế tài sản, thuế thừa kế,…nhằm mục đích tái
phân phối thu nhập của người giàu. Tuy nhiên nếu những chính sách này không được sử
dụng hợp lí có thể làm triệt tiêu động lực làm giàu của những người giàu. Chính vì thế,
trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi sẽ tập trung vào những chính sách đối với nhóm
người nghèo, nhằm khuyến khích, tạo điều kiện làm giàu cho những người nghèo. Mà
giải pháp chúng tôi đưa ra ở đây là: ‘’Đem cơ hội đến cho người nghèo’’, giải pháp kết
hợp giữa tín dụng cho vay vốn phát triển và định hướng, đào tạo nghề cho những hộ
nghèo.
“Đem cơ hội đến cho người nghèo” được thực hiện thông qua việc cho vay vốn đối
với những hộ nghèo, những gia đính chính sách theo quy định của Pháp luật, để tập
trung vào việc phát triển kinh tế đảm bảo cuộc sống với ưu đãi về lãi suất cũng như thời
hạn vay. Người nghèo thường có trình độ thấp, do đó cơ hội được tiếp cận với công việc
mới có thu nhập cao là rất thấp do đó giải pháp còn đưa ra chính sách đào tạo nghề,
định hướng phát triển, hỗ trợ về chuyên môn và kĩ thuật để những hộ gia đình này sử
dụng vốn vay có hiệu quả, vươn lên làm giàu. Đồng thời giải pháp còn hướng tới đối
tượng là học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Đối tượng học sinh sinh viên là đối
tượng rất quan trọng, nếu không được giúp đỡ họ có nguy cơ sẽ tiếp nối vào cái vòng
đói nghéo của bố mẹ hay các thế hệ trước họ mà không thể dứt ra được. Chương trình
đã góp phần chia sẻ gánh nặng và giảm bớt những lo âu trăn trở của các bậc phụ huynh
hoàn cảnh khó khăn, giúp các học sinh sinh viên nghèo có thêm niềm tin, vượt khó
vươn lên thực hiện nguyện vọng chính đáng và những ước mơ cao đẹp của mình để xây
dựng tương lai tươi sáng.
Hiện tại chính sách trên đã và đang được thực hiện ở Việt Nam. Ngày 04/10/2002,
Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và
các đối tượng chính sách khác, đồng thời Thủ tướng cũng đã kí quyết định số
131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) để tổ chức thực
hiện các chương trình tín dụng chính sách đối với người nghèo và các đối tượng chính
sách khác nhằm góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo và
đảm bảo an sinh xã hội. Hoạt động của NHCSXH không vì mục đích lợi nhuận, được
nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không phải tham
gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước.
NHCSXH được thực hiện các nghiệp vụ: huy động vốn, cho vay, thanh toán, ngân quỹ
và được nhận vốn ủy thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh
tế chính trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân trong
và ngoài nước và nước ngoài đầu tư cho các chương trình dự án phát triển kinh tế xã
hội. Hiện nay NHCSXH có các chương trình cho vay vốn hướng tới các hộ gia đình
nghèo và đối tượng chính sách khác nhau cho những mục đích khác nhau. Như chương
trình cho vay hộ nghèo hướng tới các hộ gia đình đạt chuẩn nghèo do chính phủ quy
định với mục đích chính để sản xuất kinh doanh dịch vụ; chương trình cho vay học sinh
sinh viên hướng tới đối tượng là học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo học tại
các trường Đại học (hoặc tương đương Đại học), Cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp
và tại các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật
Việt Nam; chương trình cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn với
mục đích giúp các hộ gia đình giải quyết khó khăn về vốn trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, mua vật tư và trang thiết bị cũng như các yếu tố đầu vào; chương trình cho vay
giải quyết việc làm hướng tới đối tượng là các hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp sản xuất, cơ
sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật,…(gọi chung là cơ sở sản xuất kinh doanh);…
Tuy nhiên để được chấp nhận cho vay vốn thì các đối tượng phải đáp ứng được các yêu
cầu mà Ngân hàng đề ra như với hộ gia đình nghèo thì phải có tên trong danh sách hộ
nghèo của địa phương, với các hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh gặp khó khăn thì
phải có dự án vay vốn khả thi, phù hợp, được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền,…
Do nguồn vốn có hạn nên mức cho vay cũng có giới hạn, thường là tối đa 30 triệu đồng
với các hộ gia đình, 1 triệu đồng/tháng đối với HSSV và tối đa 500 triệu đồng đối vơi
cơ sở kinh doanh (với mức vay trên 30 triệu đồng phải thực hiện bảo đảm tiền vay theo
quy định). Các khoản vay cũng được tính lãi suất ưu đãi, thấp hơn nhiều so với mức lãi
suất đi vay trên thị trường, cụ thể là 0,65%/tháng (lãi vay trên thị trường thường trên
10%/năm) và với nợ quá hạn thì lãi suất được tính bằng 130% lãi suất khi vay (thời hạn
cho vay cũng tùy thuộc vào từng chương trình cho vay). Quy trình vay và cho vay được
thực hiện nghiêm ngặt theo quy định, thường phải qua các bước như: xây dựng dự án,
thẩm định dự án, quyết định cho vay và giải ngân (Quy trình có thể khác nhau tùy thuộc
vào từng chương trình cho vay).
Áp dụng giải pháp này đã và đang mang lại cho nước ta những hiệu quả tích cực và
khả quan. Chính sách tín dụng ưu đãi, năm 2011 và 2012 đã có hơn 1 triệu lượt người
ngèo được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất với mức vay bình quân 12
triệu đồng/1 lượt, tính đến 31/12/2012 có 1,9 triệu hộ gia đình được vay vốn tín dụng
học sinh, sinh viên để cho 2,3 triệu con em đi học với dư nợ khoảng 36.000 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm xuất khẩu lao động trong 2
năm có khoảng 150 ngàn lao động nghèo được đào tạo nghề miễn phí gắn với tạo việc
làm đến nay đã có trên 8.500 lao động thuộc các huyện nghèo được hỗ trợ đào tạo nghề,
giáo dục định hướng và làm việc ở nước ngoài. Chính sách đã góp phần tích cực trong
việc thực hiện mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội. Tỷ
lệ hộ nghèo trong thời kỳ 2001-2005 giảm từ 17% xuống 7%; trong thời kỳ 2005-2010
giảm từ 22% xuống 9,45% và trong thời kỳ 2011-2012 giảm từ 14,2% xuống còn 10%.
Chính sách cũng đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, gần đây
nhất là sự kiện: Chiều ngày 6 tháng 9, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng
thế giới đã ký hiệp định tín dụng trị giá 55 triệu USD cho dự án "Đổi mới sáng tạo
hướng tới người thu nhập thấp". Dự án hướng tới việc cải thiện chất lượng cuộc sống
người nghèo thông qua việc tăng cường năng lực của Việt Nam để triển khai các sáng
kiến, bao gồm cả cung cấp tài trợ, điều chỉnh, nhân rộng và thương mại hóa các công
nghệ đổi mới sáng tạo, đồng thời nâng cao năng lực đổi mới và công nghệ của của các
viện nghiên cứu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trên cơ sở những gì đã thực hiện ở Việt Nam thì giải pháp “đem cơ hội đến cho
người nghèo” sẽ có một số điểm khác biệt, nhằm khắc phục những hạn chế về chính
sách tín dụng của Ngân hàng chính sách Xã hội. Cụ thể như sau: bên cạnh những
nghiệp vụ về tín dụng do Ngân hàng chính sách Xã hội triển khai là hoạt động của ban
tư vẫn, hỗ trợ dự án. Ban này vừa có nhiệm vụ giúp đỡ người dân trong việc lập dư án
phát triển phù hợp với khả năng và nguồn vốn hỗ trợ, vừa có nhiệm vụ thẩm định dự án
một cách độc lập. Ngoài việc tư vẫn, hỗ trợ và thẩm định thì ban này còn có nhiệm vụ
hỗ trợ người dân về mặt kỹ thuật, có thể liên hệ, giới thiệu người dân tới những phòng
ban kỹ thuật phù hợp của địa phương để được giúp đỡ, liên hệ về các yếu tố đầu vào
cũng như đầu ra cho sản phẩm (nếu cần thiết). Ngoài ra thì thường là các hộ gia đình
vay vốn có trình độ học vẫn thấp nên ban này sẽ có nhiệm vụ mời các chuyên gia, các
hộ gia đình làm kinh tế giỏi về tận địa phương để tập huấn, hướng dẫn người dân về
chuyên môn cũng như kỹ thuật để phát triển kinh tế hộ gia đình. Bên cạnh đó, ban tư
vấn, hỗ trợ sẽ giới thiệu người dân tới các lớp học nghề hay đi tham gia các lớp tập
huấn phù hợp nếu cần thiết. Để đảm bảo nguồn vốn hoạt động cho Ngân hàng chính
sách xã hội thì giải pháp hướng tới việc tăng nguồn vốn bằng cách dành phần tăng thu,
tiết kiệm chi ngân sách địa phương hàng năm ủy thác cho Ngân hàng.
Giải pháp mang lại nhiều ưu điểm tích cực. Giải pháp đã góp phần xóa bỏ rào cản
bất bình đẳng về cơ hội, đem cơ hội về việc tiếp cận vốn, văn hóa, giáo dục đến cho
người nghèo và con em họ. Không những thế, giải pháp này còn mang vốn đến tiếp cận
người nghèo nhưng không để vốn đó chết mà lại tìm việc cho người nghèo giúp vốn đó
sinh lời. Khi người nghèo được tiếp cận nguồn vốn với nhiều ưu tiên đặc biệt như mức
lãi suất thấp,không được đòi hỏi thế chấp tài sản, kì hạn cho vay dài thu hồi nợ thành
nhiều kì. Do đó, nó tạo điều kiện cho người nghèo tập trung làm ăn phát triển kinh tế.
Hơn nữa, giải pháp còn là động lực giúp người nghèo vượt qua nghèo đói, tiếp cận được
với thị trường có điều kiện sản xuất kinh doanh trên nền kinh tế hội nhập. Qua đó giải
pháp không những giúp Việt Nam xóa đói giảm nghèo mà còn kích thích nền kinh tế
tăng trưởng.
Nhưng giải pháp cũng còn một số hạn chế. Lượng vốn tối đa cho mỗi cá nhân, hộ
gia đình còn thấp, chỉ đủ cho đầu tư ngắn hạn, sản xuất nhỏ, nhiều khi không đáp ứng
được nhu cầu về vốn đầu tư sản xuất của người được vay làm giảm hiệu quả sử dụng
vốn. Bên cạnh đó, tỷ lệ hộ nghèo cao mà nguồn vốn có hạn do đó vốn chưa được đến
tay toàn bộ hộ nghèo trong nước, và số vốn cho vay trên một hộ gia đình còn thấp, chưa
đáp ứng được hết nhu cầu của người dân. Cho nên nhiều hộ nghèo vẫn không tiếp cận
được vốn do trình độ dân trí kém, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng
xa. Hơn nữa, người dân phải đến tận nơi để làm thủ tục xin vay, điều này làm những
người ở xa phải mất nhiều thời gian và tiền bạc trong việc đi lại mới có thể vay được
vốn.
Giải pháp tuy còn một số hạn chế nhưng mang đến không ít cơ hội cho nền kinh tế
nước ta. Giải pháp không những giúp Việt Nam xóa đói giảm nghèo mà còn kích thích
nền kinh tế tăng trưởng, tạo động lực cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bền
vững. Số lượng lao động đã qua đào tạo tăng lên làm giảm sự thiếu hụt lao động có tay
nghề, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Do người nghèo ở Việt Nam tập trung ở các vùng nông
thôn, miền núi, không có cơ hội để tiếp cận với khoa học kỹ thuật, vì vậy khi dạy nghề
cho người nghèo hướng họ sử dụng lượng vốn một cách có hiệu quả nhất. Vốn vay
được trả theo nhiều kì, tạo điều kiện cho người vay tích lũy được một lượng tài sản sau
mỗi kì trả nợ. Từ đó họ có thể tích góp; để dành được một số tiền nhỏ mà trước đó họ
không thể nào có được. Từ đó, họ vẫn sẽ có một khoản tiết kiệm sau khi trả xong nợ và
tự tin sử dụng khoản tiền đó để tự mình thoát nghèo.
Bên cạnh đó là những thách thức lớn đối với nền kinh tế nước ta hiện nay. Phần lớn
dân nghèo ở Việt Nam ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa có dân trí không đều,
thủ tục cho vay vốn phức tạp sẽ làm người dân khó tiếp cận với vốn tín dụng. Việc khó
tiếp cận vốn tín dụng đã khiến cho người nông dân ngại vay vốn. Theo số liệu điều tra
tiếp cận nguồn lực hộ nông thôn Việt Nam(VARHS) 2006 - 2012, có 50% số hộ nông
dân được khảo sát có vay nợ, 60% trong số đó ghi nhận có vay của ngân hàng. Tuy
nhiên, quy mô vay rất thấp, chỉ chiếm 13,6% trong tổng lượng vay. Cho vay vốn không
thế chấp có thể tạo ra những kì vọng sai lầm và tăng mức độ ỷ lại ở người nghèo, họ coi
đây là một khoản trợ cấp, không có tư tưởng thoát nghèo và không nỗ lực thoát nghèo.
Chính vì thế nếu không có định hướng và kiểm soát nguồn vốn cho vay tốt dễ dẫn đến
tăng nợ xấu, làm giảm tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, nếu chỉ hỗ trợ đầu vào người nghèo
thôi thì chưa đủ. Mà phải kết hợp giữa hỗ trợ vốn và đầu tư về cơ sở hạ tầng, giao thông
vận tải cho các đại phương, nhất là vùng sâu vùng xa, phát triển thị trường, đảm bảo lưu
thông hàng hóa, hỗ trợ đầu ra cho các hộ sản xuất kinh doanh.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tiến sĩ Đỗ Văn Đức và tập thể tác giả (2011), “Kinh tế phát triển”, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội.
của
Ngân
hàng
Thế
giới
(World
Bank)
/> />Kênh thông tin kinh tế - tài chính Việt Nam />Website của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam />Đặc san Thông tin Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam số 63+64.
Website của Tổng cục Thống kê ./default.aspx?tabid=217
2. Website
3.
4.
5.
6.
7.