Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tổng cục Thủy sản
Trung tâm Thông tin Thủy sản
CHUYÊN ĐỀ:
“Tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi năm 2013”
Người thực hiện: Kiều Ngọc Hà
Năm 2013
1
MỤC LỤC
1. Khái quát tình hình nuôi trồng thủy sản và diễn biến dịch bệnh thủy sản năm 2013 .....1
1.1. Tổng quan về tình hình nuôi trồng thủy sản năm 2013 ...............................................1
1.2. Tình hình dịch bệnh thủy sản năm 2013 ......................................................................2
1.2.1. Dịch bệnh thủy sản nói chung...................................................................................2
1.2.2. Tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi tại một số địa phương ........................................2
1.2.3. Dịch bệnh trên tôm nuôi nước lợ ..............................................................................3
1.2.3.1. Bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) ......................................................................3
1.2.3.2. Bệnh đốm trắng ......................................................................................................4
1.2.3.3. Các bệnh khác ........................................................................................................5
2. Công tác chỉ đạo, điều hành phòng chống dịch bệnh trên tôm nuôi năm 2013 của Chính
phủ và các địa phương .......................................................................................................5
2.1. Chỉ đạo điều hành của Chính phủ và Bộ NN&PTNT .................................................5
2.2. Hoạt động phòng chống dịch trên cả nước ..................................................................6
2.2.1. Các tỉnh phía Nam ....................................................................................................6
2.2.2. Các tỉnh phía Bắc ......................................................................................................6
2.2.3. Công tác phòng chống dịch bệnh tại một số địa phương ..........................................7
2.3. Những khó khăn còn tồn tại .........................................................................................10
3. Một số biện pháp phòng chống dịch bệnh trên tôm nuôi nước lợ ...................................11
3.1. Bồi dưỡng kiến thức về nuôi trồng thủy sản và cách phòng trị các bệnh thường gặp trên
tôm nuôi nước lợ ..................................................................................................................11
3.2. Xử lý môi trường ao nuôi trước – trong khi thả nuôi ..................................................13
3.3. Đảm bảo chất lượng con giống ....................................................................................14
3.4. Tiêm vắc – xin và sử dụng chế phẩm sinh học an toàn ...............................................14
3.5. Nuôi ghép tôm với các loài khác .................................................................................14
4. Kết luận ...........................................................................................................................15
Danh mục tài liệu tham khảo ..............................................................................................17
2
1. Khái quát tình hình nuôi trồng thủy sản và diễn biến dịch bệnh thủy sản năm
2013
1.1. Tổng quát về tình hình nuôi trồng thủy sản năm 2013
Năm 2013 là năm phục hồi sản xuất nuôi tôm nước lợ, được mùa, được giá, và kiểm
soát tốt dịch bệnh. Đã xác định được hướng phát triển rõ ràng đối với nuôi tôm nước lợ, đặc
biệt là tôm thẻ chân trắng. Tuy nhiên, vụ nuôi tôm nước lợ năm nay vẫn còn nhiều khó khăn
bất lợi: thời tiết diễn biến bất thường như nắng nóng, nhiệt độ tăng cao, xâm nhập mặn lấn
sâu vào nội địa gây bất lợi cho nuôi trồng thủy sản cả nước. Dịch bệnh thủy sản diễn biến
phức tạp. Mặc dù đã được xác định nguyên nhân bệnh hoại tử gan tụy cấp trên tôm nuôi,
nhưng dịch bệnh vẫn xảy ra, gây thiệt hại cho người nuôi ở nhiều địa phương. Chất lượng các
yếu tố đầu vào giảm sút, giá thức ăn và tôm giống tăng cao gây bất lợi cho nuôi trồng thủy
sản. Người nuôi khó khăn và thiếu vốn sản xuất, hộ nuôi và doanh nghiệp sản xuất, chế biến
thủy sản bị hạn chế trong tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ ngân hàng theo chỉ đạo của Thủ
tướng Chính phủ. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của các Bộ, ngành cùng lãnh đạo các
địa phương, sự cần cù của bà con ngư dân, năm 2013 đã đạt kết quả đáng kể.
Tính đến hết tháng 11/2013, diện tích nuôi tôm của cả nước đạt 652.612 ha, bằng
99,3% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó diện tích nuôi tôm sú là 588.894 ha, nuôi tôm thẻ
chân trắng 63.719 ha. Sản lượng thu hoạch tôm là 475.854 tấn, bằng 138,7% cùng kỳ, trong
đó sản lượng tôm sú là 232.853 tấn, tôm chân trắng là 243.001 tấn.
Tính đến 30/10/2013 đã hoàn thành 100% kế hoạch năm 2013 về diện tích thả nuôi
tôm, trong đó diện tích thả nuôi tôm chân trắng đạt 150% kế hoạch. Về chỉ tiêu sản lượng đạt
74,9% kế hoạch năm 2013, trong đó tôm chân trắng đạt 98,7%, tôm sú đạt 61,6%. Đồng bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL) là địa phương có diện tích nuôi tôm nước lợ lớn nhất cả nước,
chiếm 92,5% về diện tích và 79,8% về sản lượng. Sản lượng và diện tích nuôi tôm sú ở khu
vực này chiếm 95%, tôm thẻ chân trắng chiếm khoảng 70% về diện tích và 65% sản lượng.
Mặc dù ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh trong năm 2012 và diễn biến thời tiết đầu
năm 2013 có nhiều điểm bất lợi, những tháng đầu năm, việc thả nuôi có sự cầm chừng, đến
giữa năm, do giá tôm nguyên liệu tăng nên người dân đã tăng vụ, đầu tư nuôi tôm và thu
được hiệu quả rất cao. Diện tích nuôi tôm cũng tăng nhanh. Tôm chân trắng hiện đang được
thả nuôi với diện tích và sản lượng ngày càng tăng, vượt mức kế hoạch. Điển hình tại Bạc
Liêu, diện tích nuôi tôm chân trắng đã đạt 479,8% so với cùng kỳ năm 2012 và bằng 472,7%
so với kế hoạch.
Ngoài 2 vụ tôm chính, một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) còn tiếp
tục nuôi tôm vụ 3 (tôm trái vụ) để tận dụng cơ hội giá cao. Có 12/30 tỉnh có nuôi tôm trái vụ
với diện tích đạt 11.959 ha, trong đó tôm sú là 5.614,3 ha (chiếm khoảng 1% diện tích thả
nuôi), tôm thẻ chân trắng là 6.344,7 ha (chiếm khoảng 10% diện tích). Sản lượng nuôi tôm
trái vụ ước đạt 45.700 tấn. Diện tích nuôi tôm trái vụ tại các địa phương ngày càng tăng, chủ
yếu là tôm chân trắng với nhiều hình thức nuôi khác nhau. Diện tích nuôi tôm trái vụ tại một
số địa phương như sau:
Tại Bạc Liêu, diện tích nuôi thâm canh, bán thâm canh tôm sú ngoài khung lịch mùa
vụ là 2.924 ha (chiếm 25,9% diện tích thả), tôm chân trắng ngoài khung thời vụ là 27 ha
(chiếm 0,6% diện tích thả); Tại Trà Vinh, có 39,9 ha tôm sú và 174,98 ha tôm thẻ chân trắng
nuôi ngoài khung lịch mùa vụ; Tại Sóc Trăng, có 4,245 ha, trong đó tôm thẻ là 2.476 ha tôm
nuôi ngoài khung lịch thời vụ. Riêng các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, do bị ảnh hưởng bởi mùa
mưa lũ, nhiều vùng nuôi tôm rừng, tôm lúa thả giống quanh năm nên diện tích nuôi tôm thâm
canh, bán thâm canh trái vụ không đáng kể.
Nuôi tôm trái vụ có độ rủi ro cao, sản lượng không cao, tuy nhiên giá bán lại cao hơn
và người nuôi vẫn thu được lợi nhuận. Với lợi thế của việc đưa tôm thẻ chân trắng vào nuôi
3
vụ 3 ở các địa phương có đủ điều kiện đã tạo ra sản lượng hàng hóa lớn, bước đầu tháo gỡ
khó khăn cho người nuôi tôm sau nhiều vụ thất thu.
1.2. Tình hình dịch bệnh thủy sản năm 2013
1.2.1. Dịch bệnh thủy sản nói chung
Nhìn chung trong 10 tháng đầu năm 2013, dịch bệnh trên các loài thủy sản vẫn diễn ra
rải rác, không phát triển thành dịch (trừ tôm nuôi). Thiệt hại chủ yếu do biến động thời tiết, ô
nhiễm môi trường. Mặt khác, khi môi trường không thuận lợi, thủy sản bị giảm sức đề kháng
và dễ bị mầm bệnh, vi khuẩn phát triển và gây bệnh. Để hạn chế thiệt hại do dịch bệnh, các
địa phương đã chủ động xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh, đẩy mạnh việc giám sát
vùng nuôi nhằm phát hiện sớm, kịp thời nguồn bệnh, đồng thời xác định chính xác các yếu tố,
nguy cơ làm dịch bệnh phát triển nhanh để đưa ra biện pháp phòng chống bệnh chính xác, kịp
thời và hiệu quả. Ngoài ra, các địa phương cũng tăng cường công tác hướng dẫn người nuôi
các biện pháp phòng chống dịch bệnh, tạo sự chủ động ứng phó cho người nuôi.
1.2.2. Tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi tại một số địa phương:
Ninh Thuận: Tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi năm 2013 có giảm so với các năm
trước. Nguyên nhân do người nuôi đã tuân thủ các khuyến cáo của ngành về mật độ, diện tích
thả, quy trình nuôi phòng bệnh, chính sách hỗ trợ phòng chống dịch bệnh thủy sản. Ngoài ra,
người nuôi cũng có kinh nghiệm trong việc đối phó với bệnh hoại tử gan tụy cấp tính – căn
bệnh gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi tôm trong những năm trước. Tuy nhiên, trong năm 2013,
dịch bệnh trên tôm vẫn diễn ra rải rác trong suốt các vụ. Diện tích ao nuôi bị bệnh trong 10
tháng đầu năm 2013 là 86ha, chiếm 10,19% diện tích ao nuôi toàn tỉnh, giảm 70,3% so với
cùng kỳ năm 2013. Bệnh xảy ra trên cả 2 đối tượng tôm nuôi chính là tôm sú và tôm thẻ chân
trắng, chủ yếu mặc bệnh hoại tử gan tụy cấp (78,9 ha, chiếm 91% diện tích bị bệnh). Ngoài ra
còn có một số bệnh khác như bệnh thân đỏ đốm trắng, bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu
mô.
Cà Mau: Dịch bệnh trên tôm nuôi trong năm 2013 diễn ra ở cả 2 mô hình nuôi công
nghiệp (906,045 ha, trong đó bệnh đốm trắng là 134,082 ha, bệnh hoại tử gan tụy cấp và các
bệnh khác là 771,963 ha) và nuôi quảng canh cải tiến, quảng canh truyền thống (12.356 ha).
Chỉ tính riêng 11 tháng đầu năm 2013, diện tích nuôi tôm công nghiệp bị dịch bệnh bằng
35% diện tích thả nuôi của toàn tỉnh, tăng 1,5 lần so với cùng kỳ năm trước. Diện tích tôm thẻ
chân trắng bị bệnh là 850 ha, tôm sú là 9.011 ha. Do các địa phương nuôi tôm công nghiệp
chủ yếu thả nuôi tôm thẻ chân trắng nên trong năm nay, diện tích thả nuôi tôm sú có giảm so
với các năm trước. Bởi vậy, diện tích tôm thẻ chân trắng bị bệnh cũng tăng cao hơn so với
những năm trước và so với diện tích tôm sú bị bệnh. Đầm Dơi là huyện bị thiệt hại nặng nhất
trên địa bàn tỉnh, chiếm 51,4% diện tích tôm nuôi bị bệnh.
Bến Tre: Theo Chi cục Nuôi trồng thủy sản Bến Tre, tổng diện tích nuôi trồng thủy
sản toàn tỉnh đạt 43.556ha, trong đó diện tích nuôi tôm biển chiếm 32.106ha (tôm thâm canh,
bán thâm canh 5.500ha; tôm sú 1.250ha, tôm thẻ chân trắng 4.250ha; tôm nuôi thả giống vụ 2
có diện tích khoảng 1.911ha). Tuy nhiên, dịch bệnh xảy ra liên tục với tổng diện tích thiệt hại
1.575,4ha, chiếm 18% diện tích thả nuôi. Tôm chết trong giai đoạn từ 25-45 ngày tuổi, chủ
yếu do bệnh Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính và bệnh đốm trắng. Các xã có diện tích tôm
chết nhiều là Thạnh Phước, Định Trung, Thạnh Trị (Bình Đại). Tại huyện Bình Đại, thời tiết
không thuận lợi khiến dịch bệnh đốm trắng, hội chứng hoại tử gan cấp tính xảy ra tại 230,8ha
tôm nuôi trên tổng diện tích hơn 1.000ha tôm thâm canh và bán thâm canh của toàn huyện,
trong đó, tôm sú thiệt hại 39,96ha và tôm thẻ chân trắng thiệt hại 190,84ha.
Khánh Hòa: Tôm hùm là đối tượng nuôi chính ở Khánh Hòa. Trong 10 tháng đầu
năm 2013, hiện tượng tôm hùm chết do các bệnh thông thường như bệnh sửa, đen mang, đỏ
thân, long và hở đầu xảy ra rải rác tại các vùng nuôi trong tỉnh. Số lượng lồng nuôi tôm bị
4
bệnh của tỉnh Khánh Hòa là 11.427 lồng, sản lượng thiệt hại khoảng 30 tấn. Hiện tượng tôm
hùm chết thường diễn ra từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm, khi thời tiết nắng nóng, nhiệt độ
lên cao khi gió mùa Tây Nam thổi. Ngoài ra, tỉnh cũng có 295 ha tôm nuôi nước lợ bị dịch
bệnh, trong đó có 35 ha nuôi tôm sú và 260 ha nuôi tôm thẻ chân trắng. Bệnh đốm trắng xảy
ra trên 40,5 ha tôm nuôi, bệnh hoại tử gan tụy xảy ra trên 33 ha tôm nuôi.
Quảng Ninh: Từ ngày 26/6/2013, dịch bệnh bắt đầu xuất hiện khi có những dấu hiệu
tôm bị chết hàng loạt ở một số đầm nuôi khu vực xã Hải Lạng. Xã Hải Lạng có 611 ha diện
tích nuôi tôm, chủ yếu là nuôi theo hình thức quảng canh. Dịch bệnh xuất hiện đã gây thiệt
hại cho 311/329 hộ nuôi trồng thủy sản với tổng diện tích 572,6 ha, ảnh hưởng lớn tới năng
suất và hiệu quả nuôi tôm sú, ước tính thiệt hại khoảng 10,3 tỷ đồng. Do dịch bệnh diễn ra
đúng lúc thời tiết liên tục diễn biến bất thường, mưa nắng đan xen khiến dịch bệnh ngày càng
lan rộng và tiến triển theo chiều hướng phức tạp.
Trà Vinh: Vụ nuôi tôm năm 2013 ở vùng ngập mặn ven biển tỉnh Trà Vinh có gần
20.500 hộ, thả nuôi khoảng 1,5 tỷ con tôm sú và tôm thẻ chân trắng giống trên diện tích gần
20.000ha mặt nước. Chỉ trong tháng 4, toàn tỉnh Trà Vinh đã có 570 ha tôm nuôi bị thiệt hại
với 105 triệu con tôm giống, chủ yếu trong giai đoạn từ 20-60 ngày tuổi. Đến cuối tháng 5,
các hộ nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng ở vùng ngập mặn ven biển huyện Cầu Ngang, "vựa
tôm" nổi tiếng của tỉnh Trà Vinh tiếp tục phải đối mặt với tình trạng tôm nuôi bị chết trên
diện rộng. Theo thống kê bước đầu, toàn huyện hiện có hơn 1.652 ha của 2.854 hộ thả nuôi
356 triệu con tôm giống bị thiệt hại, chiếm hơn 50% lượng giống thả nuôi. Tôm nuôi bị chết
thường ở giai đoạn rất sớm, do nhiễm các loại bệnh: đốm trắng, hội chứng hoại tử gan tuỵ,
hoại tử dưới vỏ và cơ quan tạo máu (IHHNV), đầu vàng… Đây là năm thứ hai liên tiếp, tôm
nuôi ở huyện Cầu Ngang bị thiệt hại nặng và hiện tượng tôm chết vẫn có chiều hướng lây lan
trên diện rộng. Trong số gần 600 hộ thả nuôi, đã có hơn 320 hộ bị thiệt hại với lượng giống
thả nuôi khoảng 25 triệu con. Riêng ấp Cà Tum (xã Vinh Kim) tôm nuôi gần như bị chết sạch
Tính từ đầu vụ, toàn tỉnh có hơn 6.048 ha ao nuôi có tôm bị chết, với khoảng 255 triệu con
giống, chiếm gần 30% tổng diện tích thả nuôi. Tôm sú là đối tượng nuôi bị thiệt hại nặng nhất
(5.606 ha). Diện tích tôm thẻ chân trắng bị bệnh là 442 ha. Bệnh hoại tử gan tụy xuất hiện
trên 3.432,3 ha; bệnh đốm trắng trên 5.727,3 ha.
Quảng Trị: Bắt đầu từ ngày 24/4/2013, nhiều hồ nuôi ở xã Vĩnh Sơn đã xuất hiện
tôm chết hàng loạt. Tính đến ngày 8/5, tại Quảng Trị, dịch bệnh trên tôm đã xảy ra ở các xã
Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Linh; xã Triệu An và Triệu Lăng, huyện Triệu Phong, với diện tích
nhiễm bệnh hơn 16 ha. Trong đó, diện tích bị bệnh đốm trắng 1,8 ha, bệnh đầu vàng 1,1 ha và
cảm nhiễm hội chứng hoại tử gan tụy 13,12 ha. Tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, có
chiều hướng gia tăng, chủ yếu gây chết ở tôm sau khi thả nuôi từ 15 - 60 ngày, gây thiệt hại
lớn cho người nuôi tôm. Đến hết tháng 5/2013, toàn xã Vĩnh Sơn có gần 62 ha tôm bị nhiễm
bệnh và chết, đặc biệt ở các thôn như Phan Hiền, Huỳnh Thượng diện tích tôm chết nhiều
nhất; riêng xã Vĩnh Lâm có 38 ha. Xã Trung Hải (Gio Linh) có 7/42 ha tôm bị bệnh chết.
Nguyên nhân là do khâu cải tạo ao hồ chưa kỹ, con giống thả nuôi có nguồn gốc không rõ
ràng, các hộ nuôi tôm thả quá gần nhau cùng với sự biến động thời tiết thất thường nên dịch
bệnh vẫn tiếp tục lây lan. Hết 11 tháng, toàn tỉnh có 70,5 ha tôm bị bệnh hoại tử và 32,7 ha
tôm bị bệnh đốm trắng.
1.2.3. Dịch bệnh trên tôm nuôi nước lợ
1.2.3.1. Bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPNS)
Trong 10 tháng đầu năm 2013, dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm đã xuất
hiện tại 192 xã của 57 huyện thuộc 18 tỉnh, thành phố trong cả nước. Tổng diện tích nuôi tôm
có bệnh là 5.705 ha, bao gồm 2.423 ha nuôi tôm thẻ chân trắng và 3.282 ha nuôi tôm sú. So
với cùng kỳ năm 2012, số địa phương mắc dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính năm 2013 tăng
lên nhưng tổng diện tích bị bệnh lại giảm đáng kể, chỉ bằng 20% so với năm 2012.
5
Dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính diễn ra vào hầu hết các tháng trong năm, nhưng tập
trung vào giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 8. Nguyên nhân là do đây là khoảng thời gian nuôi
tôm chính vụ. Dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính năm 2013 có xu hướng xuất hiện sớm hơn
khoảng 1 tháng so với năm ngoái do năm nay, người nuôi thả tôm sớm hơn (ngay sau tết âm
lịch). Dịch bệnh diễn ra ở hầu hết các vùng trọng điểm nuôi tôm, trong đó, các tỉnh nuôi tôm
chủ yếu ở ĐBSCL bị thiệt hại nặng nề nhất. Năm nay, dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xuất
hiện trên cả 2 đối tượng nuôi chính là tôm sú và tôm thẻ chân trắng sau khi thả nuôi dưới 35
ngày. Diện tích nuôi tôm thẻ bị bệnh trong năm nay chiếm 42,47% và diện tích tôm sú bị
bệnh là 55,53%. So với năm 2012, tỷ lệ diện tích tôm sú bị bệnh đã giảm đáng kể (92,36%
năm 2012) song tỷ lệ diện tích tôm thẻ chân trắng lại có chiều hướng tăng cao (7,46% năm
2012 so với 42,47% năm 2013). Nguyên nhân chủ yếu là do trong năm nay, diện tích thả nuôi
tôm thẻ chân trắng của bà con tăng cao, do đó tỷ lệ diện tích tôm nuôi bị bệnh cũng tăng theo.
Từ các kết quả nghiên cứu bệnh hoại tử gan tụy cấp, một số biện pháp phòng bệnh đã
được đề ra là:
- Tác nhân gây bệnh: Ngoài vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus, vi khuẩn Vibrio
vulnificus có vai trò nhất định trong việc gây ra bệnh hoại tử gan tụy cấp trên tôm nuôi.
- Các yếu tố môi trường như nhiệt độ cao (>27oC), pH>8, độ mặn cao (từ 25 – 35o/00,
hàm lượng H2S cao đều là những yếu tố đóng vai trò quan trọng đối với bệnh hoại tử gan tụy
cấp trên tôm nuôi.
- Kết quả kiểm tra, giám sát cho thấy tỷ lệ tôm nhiễm vi khuẩn Vibrio khá cao, đối
tượng nhiễm khuẩn đa dạng, trong đó đã kiểm soát được hàm lượng vi khuẩn Vibrio trong
nguồn nước cấp cho trại giống, nguyên nhân nhiễm Vibrio ở tôm giống chủ yếu do quá trình
sản xuất.
- Bệnh có thể xảy ra quanh năm, nhưng thời gian bùng phát bệnh mạnh nhất là từ cuối
tháng 3 đến tháng 7.
- Hầu hết tôm mắc bệnh đều có hiện tượng kháng kháng sinh.
1.2.3.2. Bệnh đốm trắng
Trong 10 tháng đầu năm 2013, dịch bệnh đốm trắng trên tôm nuôi đã xuất hiện tại 278
xã của 93 huyện thuộc 28 tỉnh, thành phố trên cả nước. Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản
mắc bệnh là 12.242 ha, bao gồm 6.917 ha nuôi tôm thẻ và 10.929 ha nuôi tôm sú. So với 10
tháng đầu năm 2012, dịch bệnh đốm trắng tăng 4.085 ha. Số lượng xã, huyện, tỉnh có dịch
cũng tăng so với cùng kỳ năm 2012.
Tại Cà Mau, diện tích tôm thẻ chân trắng bị mắc bệnh đốm trắng là 134,082 ha, chiếm
14,7% tổng diện tích tôm bệnh, bằng 4,97% diện tích thả nuôi tôm của toàn tỉnh, song có
giảm 106,118 ha so với cùng kỳ năm 2012.
Dịch đốm trắng xuất hiện ở hầu hết các tháng trong năm, nhưng tập trung vào các
tháng 4 – 7. Nguyên nhân là do khoảng thời gian này là mùa nuôi tôm chính vụ. So với số
liệu năm 2012, số lượng xã và tổng diện tích nuôi tôm bị dịch trong năm nay cao hơn nhiều
so với năm 2012 (số lượng xã gấp 2,4 lần, tổng diện tích gấp 1,5 lần). Năm nay, dịch xuất
hiện ở hầu hết các vùng trọng điểm nuôi tôm, trong đó khu vực ĐBSCL bị thiệt hại nặng
nhất. Mức độ thiệt hại của các địa phương này cũng cao hơn nhiều so với năm 2012. Dịch
xuất hiện trên cả hai đối tượng tôm nuôi nước lợ chính là tôm sú và tôm thẻ chân trắng. Cụ
thể, diện tích tôm sú mắc bệnh trong năm nay chiếm 37,01% tổng số diện tích mắc bệnh. Con
số này của tôm thẻ chân trắng là 58,76%. Tỷ lệ tôm sú mắc bệnh trong năm nay có giảm
(87,61% năm 2012) song diện tích tôm thẻ chân trắng lại tăng lên (15,39%). Nguyên nhân
cũng tương tự với bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính, do năm nay, ngư dân thả nuôi tôm thẻ chân
trắng với diện tích tăng cao nên tỷ lệ tôm nuôi bị bệnh cũng tăng cao hơn so với năm ngoái.
6
1.2.3.3. Các bệnh khác
Đối với tôm hùm, trong năm 2013, các bệnh chủ yếu xảy ra trên tôm hùm là bệnh sữa,
bệnh đen mang, đỏ thân và trong những tháng cuối năm đã xuất hiện bệnh mới khiến tôm
hùm rụng chân. Một số địa phương có tôm hùm bị bệnh là Phú Yên (15% lồng tôm bị bệnh),
Bình Định (3,5%), Khánh Hòa (11%). Riêng tại Khánh Hòa, từ tháng 7/2012 đến nay, tôm
hùm bị bệnh với các dấu hiệu lạ như thối chân, rụng chân (chân tôm ban đầu sưng to, tổn
thương, hoại tử và có mùi thối). Khi quan sát bằng mắt thường cũng có thể nhận thấy nhiều
sinh vật nhỏ ký sinh trên tôm. Số lượng tôm bệnh tăng cao vào các tháng 5, 6 với số lượng từ
5 – 15 con tôm bị bệnh trên mỗi lồng nuôi (mật độ nuôi trung bình khoảng 70 – 80 con/lồng).
Hiện nay, dịch bệnh trên tôm hùm đã giảm nhiều. Tỷ lệ lồng có tôm bị bệnh chỉ còn
dưới 10%, với số lượng từ 1 – 2 tôm bệnh/lồng. Kết quả phân tích xét nghiệm ban đầu cho
thấy sự xuất hiện nhiều tác nhân như nấm Fusarium sp, nhiễm Vibrio trong các cơ quan nội
tạng (gan, tụy) với 2 loài chủ yếu là Vibrio alginolyticus và V.Vulnificus, ký sinh trùng thuộc
ngành trùng lông bơi Ciliphora. Tuy nhiên, để xác định rõ nguyên nhân gây bệnh, Cục Thú y
đã chỉ đạo Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương và Cơ quan Thú y vùng VI lấy mẫu xét
nghiệm trong nước, đồng thời gửi mẫu ra nước ngoài để phân tích tìm nguyên nhân gây bệnh.
Ngoài ra, trong năm 2013 còn ghi nhận báo cáo bệnh đầu vàng (YHD), bệnh hoại tử
dưới vỏ và cơ quan tạo máu (IHHNV), bệnh phân trắng và một số bệnh khác trên tôm nuôi.
Tuy nhiên, diện tích tôm bị các bệnh này không nhiều, dao động từ 15 – 786 ha (nặng nhất là
bệnh hoại tử dưới vỏ và cơ quan tạo máu).
2. Công tác chỉ đạo, điều hành phòng chống dịch bệnh trên tôm nuôi năm 2013
của Chính phủ và các địa phương
2.1. Chỉ đạo điều hành của Chính phủ và Bộ NN&PTNT (Cục Thú y – Tổng cục
Thủy sản)
Hệ thống quản lý nhà nước về công tác thú y thủy sản ở nước ta hiện nay được chia
thành 2 cấp: Trung ương và địa phương. Cấp Trung ương bao gồm Cục Thú y, các trung tâm
chuyên ngành, cơ quan Thú y vùng, Chi cục Kiểm dịch động vật thuộc Cục Thú y. Tại hầu
hết các địa phương, công tác thú y thủy sản do các Chi cục Thú y quản lý.
Bộ NN&PTNT cùng Cục Thú y đã ký ban hành, triển khai nhiều văn bản liên quan
đến công tác phòng chống dịch bệnh thủy sản nói chung, trong đó có dịch bệnh trên tôm nuôi.
Một số văn bản cụ thể là:
+ Công văn số 195/TCTS-NTTS ngày 21/01/2013 gửi các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương triển khai một số giải pháp phòng chống dịch bệnh trên tôm nuôi nước lợ:
Công văn chỉ đạo Sở NN&PTNT thực hiện các giải pháp giảm thiểu dịch bệnh trong
nuôi tôm, bao gồm cả việc tăng cường kiểm tra chất lượng thức ăn, sản phẩm xử lý, cải
tạo môi trường dùng trong nuôi trồng thủy sản.
+ Công văn số 1182/BNN-TCTS ngày 09/4/2013 của Bộ NN&PTNT về chỉ đạo
phòng chống dịch bệnh cho tôm và nghêu nuôi năm 2013: Công văn chỉ đạo các địa
phương đồng thời với việc tăng cường chỉ đạo phòng chống dịch bệnh trong quá trình
nuôi là tăng cường kiểm tra chất lượng vật tư dùng trong nuôi trồng thủy sản như thức ăn
thủy sản, chế phẩm sinh học, chất xử lý, cải tạo môi trường, giống thủy sản.
+ Công văn số 1510/TB-TY-TS ngày 05/9/2013 về việc thống nhất quy trình thu
mẫu, giám sát dịch bệnh, xét nghiệm vi rút IHHNV trên tôm sú nuôi xuất khẩu sang
Trung Quốc.
+ Công văn số 1626/TY-TS ngày 24/9/2013 về việc triển khai các biện pháp phòng
chống dịch bệnh trên tôm hùm.
7
+ Công văn số 2789/TCTS-NTTS ngày 23/10/2013 của Tổng cục trưởng Tổng cục
Thủy sản chỉ đạo địa phương tăng cường giám sát nuôi tôm nước lợ năm 2013, nuôi tôm
theo quy hoạch.
Công tác phòng chống dịch bệnh thủy sản là một trong những nhiệm vụ được lãnh
đạo Bộ NN&PTNT rất chú trọng. Dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, từ tháng 8
đến tháng 10/2013, Cục Thú y đã thành lập 8 đoàn công tác kiểm tra công tác phòng chống
dịch bệnh tại một số địa phương trọng điểm nuôi thủy sản trên cả nước. Ngoài ra, lãnh đạo
Cục Thú y, các Cơ quan Thú y vùng cũng thường xuyên kiểm tra, đôn đốc công tác phòng,
chống dịch tại các tỉnh trọng điểm nuôi trồng thủy sản. Trong quá trình công tác, đoàn kiểm
tra đã phát hiện nhiều tồn tại, bất cập trong công tác phòng chống dịch bệnh, quản lý kiểm
dịch con giống thủy sản, hệ thống chẩn đoán, xét nghiệm, đồng thời đưa ra những góp ý,
hướng dẫn để các cơ quan liên quan của địa phương có thể khắc phục những tồn tại, bất cập.
Bộ NN&PTNT chỉ đạo các địa phương chỉ nên thả nuôi tôm từ đầu tháng 5 đến hết
tháng 9 dương lịch để hạn chế dịch bệnh, giảm thiểu rủi ro trong nuôi tôm. Trên cơ sở này,
các địa phương sẽ căn cứ vào tình hình thời tiết, điều kiện thổ nhưỡng của từng vùng mà có
kế hoạch sản xuất phù hợp.
2.2. Hoạt động phòng chống dịch trên cả nước
2.2.1. Các tỉnh phía Nam
Năm 2013 đã từng bước kiểm soát được dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp tính, góp phần
quan trọng vào sự thành công của vụ nuôi tôm. Tuy nhiên, năm nay do thời tiết không thuận
lợi, đầu năm nắng nóng bất thường ở các tỉnh ĐBSCL, do đó dịch bệnh trên tôm vẫn xảy ra ở
nhiều vùng nuôi, gây thiệt hại cho người nuôi tôm. Các bệnh phổ biến như đốm trắng, đầu
vàng, hoại tử gan tụy vẫn chưa được kiểm soát tốt. Cả nước có khoảng 68.099 ha tôm nuôi bị
bênh (chiếm 10,4% diện tích tôm nuôi), bằng 84,7% so với năm 2012, trong đó diện tích tôm
sú bị bệnh là 57.013 ha, tôm thẻ chân trắng là 11.086 ha. Tại các địa phương, bệnh đốm trắng
chiếm chủ yếu (14.436 ha, chiếm 2,2% diện tích thả nuôi, bằng 165,33% so với năm 2012),
bệnh hoại tử gan tụy cấp là 6.842,2 ha, chiếm 1% diện tích nuôi, bằng 24,4% so với cùng kỳ
năm 2012. Một số địa phương đã kiểm soát tốt hội chứng hoại tử gan tụy ở tôm nuôi.
2.2.2. Các tỉnh phía Bắc
Trước tình hình dịch bệnh diễn ra, Chi cục Thú y và Chi cục Nuôi trồng thủy sản các
tỉnh đã tích cực phối hợp với các phòng nông nghiệp huyện tập trung lấy mẫu bệnh xét
nghiệm, chỉ đạo, hướng dẫn các hộ nuôi biện pháp xử lý dịch bệnh, thu gom xác tôm chết và
tiêu hủy theo đúng quy trình kỹ thuật. Tỉnh Thái Bình đã hỗ trợ 3,5 tấn hóa chất Chlorine để
các hộ nuôi có tôm chết do vi rút đốm trắng xử lý môi trường ao nuôi. Chi cục Thú y tỉnh
Quảng Ninh cũng hỗ trợ trên 8 tạ thuốc Vitaco để khử trùng nước và ngăn ngừa dịch bệnh
phát sinh. Cùng với nỗ lực của địa phương, Thủ tướng chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn xuất cấp (không thu tiền) hóa chất Chlorine để hỗ trợ cho các địa
phương bị thiệt hại khử dùng, dập dịch, cụ thể: cấp 20 tấn cho Ninh Bình, 20 tấn cho tỉnh
Thái Bình để phòng, chống dịch bệnh trên tôm nuôi.
Để phòng - chống dịch hiệu quả, các Chi cục Thú y đã cử cán bộ xuống tận địa
phương hướng dẫn các chủ hộ có tôm nuôi bị chết khoanh vùng để xử lý ao đầm. Đối với ao
nuôi có tỷ lệ tôm chết thấp, các hộ có thể xử lý ao nuôi bằng Vicato dạng viên sủi với nồng
độ 5-10ppm để tiếp tục nuôi tôm còn sống. Với những ao có tỷ lệ tôm chết cao, không còn
khả năng khắc phục, các hộ phải tiêu hủy toàn bộ ao tôm bị nhiễm bệnh bằng hóa chất
Chlorine (nồng độ 30ppm); giữ nguyên nước trong ao sau 7 đến 10 ngày mới được tháo nước
ra ngoài để cải tạo ao và thả lại tôm theo đúng quy trình không để bệnh dịch lây lan ra diện
rộng. Các hộ nuôi cũng được khuyến cáo không nên tiếp tục thả tôm và cua giống trên các
diện tích bị nhiễm virut đốm trắng. Thay vào đó, nên thả các loại cá thích hợp trong thời gian
8
xử lý mầm bệnh để thay đổi môi trường ao nuôi, giúp tiêu diệt mầm bệnh trong ao. Bên cạnh
đó, người dân cũng cần xác định được nguồn gốc số lượng tôm giống trước khi nuôi thả để
đảm bảo sức khỏe, cũng như phòng tránh dịch, bệnh cho tôm. Về phía các cơ quan chức
năng, cần rà soát lại toàn bộ diện tích ao, đầm nuôi thủy trồng sản, khoanh vùng nuôi tôm tập
trung.
Các sở NN&PTNT cũng tích cực kiểm tra, giám sát công tác nuôi tôm tại các địa
phương, chủ động phòng ngừa và sớm phát hiện dịch để có biện pháp xử lý kịp thời, tránh để
dịch bệnh bùng phát mạnh. Cán bộ các chi cục thú y cũng tổ chức những chuyến tập huấn kỹ
thuật nuôi tôm cho bà con, khuyến cáo bà con nên thả nuôi với mật độ vừa phải, nuôi xen
canh các đối tượng để ngăn chặn mầm bệnh tích tụ trong môi trường ao nuôi. Ngoài sự hỗ trợ
của ngành nông nghiệp, các địa phương về kỹ thuật canh tác thì sự chủ động, tuân thủ các
quy định về lịch xuống giống của bà con là rất quan trọng, quyết định thành công của cả vụ
nuôi. Trong tháng đầu, nếu gây màu tốt cũng không cho ăn. Nếu điều kiện môi trường quản
lý tốt nên nuôi rải vụ.
2.2.3. Công tác phòng chống dịch bệnh tại một số địa phương
Tại Ninh Bình, sau khi phát hiện tình trạng tôm nuôi bị nhiễm bệnh, chết hàng loạt,
Chi cục Thú y đã phối hợp với Chi cục Thủy sản, Phòng NN & PTNT huyện Kim Sơn tuyên
truyền, hướng dẫn cho các hộ nuôi tôm thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh, kiểm
dịch con giống, vệ sinh ao đầm, thức ăn chăn nuôi cho tôm. Sau khi được Chính phủ hỗ trợ
20 tấn hóa chất Chlorine, Chi cục Thú y tỉnh Ninh Bình đã hướng dẫn các hộ nuôi tôm sử
dụng hóa chất để khử trùng tiêu độc môi trường, ngăn ngừa dịch bệnh tại các ao đầm nuôi
tôm. Nhờ đó, hạn chế được những thiệt hại do dịch bệnh gây ra đối với các hộ nuôi tôm trên
địa bàn tỉnh. Chi cục Thú y tỉnh Ninh Bình cũng ghi nhận dịch bệnh trên tôm bắt đầu xuất
hiện rải rác ở huyện Kim Sơn từ cuối tháng 5. Sang tháng 6, diện tích bị bệnh đã lên đến trên
100ha. Chi cục Thú y tỉnh, đã tiến hành lấy 9 mẫu tôm gửi lên Trung tâm Chẩn đoán Thú y
Trung ương để kiểm tra, xác định nguyên nhân gây ra hiện tượng tôm chết. Kết quả có 7/9
mẫu dương tính với bệnh đốm trắng, 6/9 mẫu dương tính với bệnh hoại tử gan tụy.
Tại Hà Tĩnh, để ngăn chặn dịch bệnh bùng phát và lây lan trên diện rộng, đồng thời
chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh cho nuôi tôm vụ 2, công tác phòng chống
dịch bệnh rất được chú ý. Tại các huyện, thành phố ven biển, thành lập các đoàn công tác, cử
các cán bộ về các vùng nuôi kiểm tra, chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh, hướng dẫn
các biện pháp phòng, chống dịch bệnh cho bà con nông dân. Bên cạnh đó, việc kiểm tra
nguồn tôm giống được thả nuôi tại địa phương cũng được các ban ngành giám sát chặt chẽ,
tránh việc vận chuyển và sử dụng tôm giống không đạt chất lượng, chưa qua kiểm dịch. Đối
với những địa phương đã xảy ra dịch, công tác giám sát, khoanh vùng dịch được đặc biệt chú
ý, đặc biệt nghiêm cấm xả nước ao nuôi và tôm bị bệnh chưa qua xử lý ra ngoài môi trường,
tổ chức xử lý dập dịch kịp thời bằng hóa chất Chlorine, không để dịch lây lan ra diện rộng.
Chi cục nuôi trồng thủy sản tăng cường hướng dẫn quy trình kỹ thuật nuôi, quản lý chất
lượng môi trường trong nuôi tôm theo quy định, đồng thời thông tin kịp thời và phối hợp với
Chi cục Thú y trong công tác phòng chống dịch bệnh.
Sau khi phát hiện dịch, Chi cục Thú y tỉnh đã phân công cán bộ trực tiếp phối hợp với
các địa phương kiểm tra, lấy mẫu bệnh phẩm xác minh dịch bệnh, hướng dẫn, giám sát, đôn
đốc thực hiện các biện pháp phòng chống. Trong đó, tập trung khoanh vùng dịch, tiến hành
tiêu hủy toàn bộ ao tôm bằng hóa chất Chlorine (nồng độ 30 ppm); quản lý chặt nước trong
ao sau 7 - 10 ngày mới được thải nước đi; cải tạo ao nuôi để thả lại tôm vụ mới, hoặc chuyển
đổi nuôi đối tượng khác.
Ngoài ra, ngành chuyên môn cũng hướng dẫn việc kiểm soát thu hoạch tôm trong
vùng dịch, khắc phục một số yếu tố môi trường nước ao nuôi đối với tôm chết do một số chỉ
9
tiêu môi trường vượt ngưỡng cho phép, xử lý chế phẩm sinh học, Zeolite... khi đáy ao ô
nhiễm, khử trùng nguồn nước bằng Chlorine, BKA, BKC...
Ngày 17/7, Chi cục Thú y tỉnh đã tiếp nhận 10 tấn hóa chất Chlorine do tỉnh cấp để
phòng chống dịch bệnh thủy sản. Số hóa chất trên do Ấn Độ sản xuất với tổng trị giá hơn 400
triệu đồng trích từ ngân sách của tỉnh. Số hóa chất trên sẽ kịp thời cung ứng cho các vùng
nuôi trồng thủy sản đã xẩy ra dịch bệnh nhằm xử lý môi trường ao nuôi để người dân tiếp tục
thả nuôi vụ tiếp theo.
UBND tỉnh đã tập trung cao trong chỉ đạo và triển khai kịp thời các biện pháp bao
vây, khống chế nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan nhưng đến nay diễn biến dịch bệnh vẫn
phức tạp và có chiều hướng lây lan nhanh ra diện rộng. Mặc dù UBND tỉnh đã chủ động trích
kinh phí mua hóa chất xử lý môi trường, tiêu hủy mầm bệnh nhưng so với tình hình thực tế
(27,7 ha diện tích ao nuôi xảy ra dịch, 30 ha kênh mương nằm trong vùng dịch chưa được xử
lý) thì nhu cầu hóa chất Chlorine phục vụ phòng, chống dịch bệnh thủy sản vẫn rất lớn (60
tấn)
Nhằm ngăn chặn dịch bệnh bùng phát, lây lan trên diện rộng, hạn chế thấp nhất thiệt
hại cho vụ nuôi tôm xuân hè và chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh cho nuôi
tôm vụ 2, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Giám đốc Sở NN&PTNT, Chủ tịch UBND các huyện
ven biển và thành phố tiếp tục chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc việc tăng cường phòng
chống dịch bệnh trên tôm nuôi, đồng thời tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp cấp bách.
Cụ thể, UBND các huyện ven biển và thành phố Hà Tĩnh cần tập trung triển khai
quyết liệt các biện pháp phòng chống dịch bệnh, thành lập các đoàn công tác, phân công cán
bộ về các vùng nuôi kiểm tra, chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh; chỉ đạo UBND các
xã/phường/thị trấn giám sát chặt chẽ diễn biến dịch bệnh, tổ chức khoanh vùng dịch, nghiêm
cấm xả nước ao nuôi và tôm bị bệnh chưa qua xử lý ra ngoài môi trường, chỉ đạo thu hoạch
nhanh tại các ao bị dịch có tôm đã lớn trong vòng 1 - 3 ngày; tuyệt đối không tháo xả bớt
nước để thu hoạch, không để nước và tôm nuôi bị bệnh rơi vãi ra môi trường xung quanh; tổ
chức xử lý dập dịch kịp thời bằng hóa chất Chlorine, không để dịch lây lan ra diện rộng;
UBND các huyện ven biển và thành phố Hà Tĩnh cũng cần chỉ đạo các phòng, ban chuyên
môn tăng cường công tác kiểm tra nắm chắc tình hình, hướng dẫn các biện pháp phòng,
chống dịch; thu mẫu tôm xét nghiệm xác định bệnh đối với những ao có tôm chết nhưng triệu
chứng chưa rõ ràng; kiểm tra, chấn chỉnh, xử lý kịp thời các hành vi dấu dịch, khai báo dịch
chậm, xả nước và tôm bệnh ta môi trường chưa qua xử lý, vận chuyển và sử dụng giống tôm
chưa qua kiểm dịch, xem xét thuy hồi quyền thuê đất nuôi tôm và xử lý nghiêm theo quy định
đối với các trường hợp cố tình vi phạm...
Về phía Sở NN&PTNT, chỉ đạo Chi cục Thú y tỉnh tiếp tục kiểm tra, giám sát, tuyên
truyền và hướng dẫn các biện pháp phòng chống dịch bệnh; tăng cường kiểm dịch, kiểm tra
điều kiện vệ sinh thú y các cơ sở sản xuất, kinh doanh con giống, kinh doanh thuốc thú y thủy
sản và cơ sở nuôi tôm thâm canh tập trung; cung ứng kịp thời hóa chất Chlorine phục vụ công
tác xử lý dịch bệnh. Chỉ đạo Chi cục nuôi trồng thủy sản tăng cường hướng dẫn thực hiện tốt
quy trình kỹ thuật nuôi, quản lý chất lượng môi trường trong nuôi tôm theo quy định, đồng
thời thông tin kịp thời và phối hợp với Chi cục Thú y trong công tác phòng chống dịch bệnh
Bên cạnh đó, ngành chức năng và các địa phương cũng tăng cường tuyên truyền các
biện pháp phòng ngừa tại các vùng chưa xẩy ra dịch bệnh; người nuôi tôm tuân thủ các biện
pháp phòng chống dịch, cùng nhau bảo vệ môi trường vùng nuôi, tránh lây lan từ hộ này sang
hộ khác.
Tại tỉnh Cà Mau, trước tình hình dịch bệnh diễn ra nghiêm trọng, ngành chức năng
huyện Cái Nước đã nhanh chóng hỗ trợ hóa chất giúp bà con nông dân xử lý nguồn nước
trong ao đầm nuôi tôm, để tiêu diệt mầm bệnh trước khi thải ra môi trường bên ngoài, nhằm
khống chế và ngăn ngừa không để dịch bệnh trên tôm nuôi phát sinh lây lan ra diện rộng, góp
10
phần bảo vệ diện tích nuôi tôm của bà con trong khu vực. Tổng lượng hóa chất Chlorine
huyện Cái Nước hỗ trợ cho bà con nông dân nuôi tôm công nghiệp bị thiệt hại lên tới gần 14
tấn, trị giá hàng trăm triệu đồng để đảm bảo phục vụ kịp thời cho nuôi tôm công nghiệp khi bị
thiệt hại.
Cùng với việc hỗ trợ hóa chất, Chi cục Thú y và Chi cục Nuôi trồng cũng tăng cường
tầng suất thu mẫu để kiểm soát dịch bệnh, tăng cường khảo sát các nguồn nước để phân tích
các chỉ số lý hoá cơ bản phục vụ cho người nuôi tôm. Công tác tập huấn kỹ thuật, tuyên
truyền, đôn đốc người nuôi tôm thực hiện theo đúng lịch thời vụ của ngành chức năng cũng
được Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tích cực thực hiện. Ngoài ra, các cơ quan chức
năng cũng tăng cường tập trung kiểm tra chất lượng các yếu tố đầu vào như vật tư nông
nghiệp, thuốc thú y thuỷ sản, thức ăn, đặc biệt là chất lượng giống.
Ngay sau khi có thông tin về hiện tượng tôm chết hàng loạt, Chi cục Thú y tỉnh
Quảng Ninh đã nhanh chóng phối hợp với huyện Tiên Yên tiến hành lấy mẫu xét nghiệm,
kiểm tra xác định nguyên nhân, đề nghị UBND tỉnh công bố dịch bệnh để các hộ nuôi trồng
chủ động đối phó với dịch. Chi cục cũng cử đoàn công tác làm việc với xã Hải Lạng, yêu cầu
các hộ nuôi tôm thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh như khoanh vùng dịch, đóng
cổng ao nuôi, không xả thải nước ao nuôi chưa qua xử lý ra môi trường ngoài, thu hoạch và
xử lý tôm bệnh theo đúng quy định.
Chi cục Thú y tỉnh đã cấp 7 tấn hóa chất VICATO trị giá 650 triệu đồng, chia làm 2
đợt cho các hộ nuôi tôm để xử lý nước và môi trường ao nuôi. Đến ngày 14/8/2013, những ổ
dịch cuối cùng trên địa bàn xã đã được xử lý bằng hóa chất VICATO. Để đảm bảo tốt công
tác phòng chống dịch bệnh, không để dịch bệnh có cơ hội bùng phát trở lại, xã Hải Lạng tiếp
tục tiến hành cấp phát tiếp đợt 2 và theo dõi, giám sát việc sử dụng hóa chất phòng chống
dịch đúng liều lượng, đúng đối tượng. Ngày 11/9/2013, công tác thẩm định kết quả phòng
chống dịch tại Tiên Yên đã được tiến hành. Kết quả cho thấy, tính đến thời điểm thẩm định
đã qua 21 ngày nhưng trên địa bàn xã Hải Lạng không phát sinh thêm ổ dịch mới. Việc phòng
chống dịch được thực hiện tốt, dịch bệnh được khống chế, các nguồn lợi trong ao đầm phát
triển bình thường.
Tại huyện Cầu Ngang (Trà Vinh), nhằm khống chế dịch bệnh, phòng Nông nghiệp
Phát triển Nông thôn huyện tiếp tục tăng cường cán bộ kỹ thuật xuống bám cơ sở phối hợp
với chính quyền địa phương triển khai thực hiện các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ đàn
tôm nuôi; khuyến cáo các hộ nuôi theo dõi chặt chẽ sức khoẻ tôm, thường xuyên bổ sung
vitamin, men tiêu hoá để tăng sức đề kháng, ổn định đường ruột tôm nuôi… Riêng các hộ
nuôi bị dịch bệnh, huyện sẽ hỗ trợ chlorine để xử lý mầm bệnh trong ao nuôi, đồng thời, đề
nghị các ngành, các cấp có liên quan có chính sách hỗ trợ, khoanh giãn nợ… để các hộ nuôi
tôm bị thiệt hại có điều kiện đầu tư cải ao đầm, tiếp tục thả giống.
Để tránh dịch bệnh lây lan cho vụ tôm mới, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
tỉnh Trà Vinh đã cử cán bộ kỹ thuật xuống tận địa bàn giúp các hộ dân có ao tôm bị chết xử
lý môi trường để nuôi tái vụ, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, kiểm dịch chặt chẽ đối
với tôm giống. Tuy nhiên, đáng lo ngại là tình hình dịch bệnh hiện chưa được khống chế.
Trong khi đó ngành nông nghiệp địa phương hiện không còn nguồn hóa chất Chlorine dự trữ
để cấp cho các hộ nuôi tôm bị thiệt hại cải tạo lại ao nuôi và ngăn ngừa mầm bệnh lây sang
các ao nuôi khác, nên khả năng lây bệnh ở tôm nuôi là rất lớn.
Trước những bất lợi môi trường, thời tiết, dịch bệnh trên tôm nuôi đầu vụ năm 2013,
tại Trà Vinh, UBND tỉnh còn khuyến khích nông dân tích cực tham gia mua bảo hiểm nông
nghiệp trên tôm sú. Đây là lần đầu tiên tỉnh Trà Vinh thực hiện chương trình hỗ trợ nông dân
nuôi tôm mua bảo hiểm tôm sú nhằm chia sẻ khó khăn cho người nuôi trước tác động của
biến đổi khí hậu, điều kiện môi trường ngày một bất lợi, dịch bệnh tôm tràn lan.
11
Ngay khi nhận được thông tin dịch bệnh xuất hiện, lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Trị
cùng lãnh đạo các sở NN&PTNT, Tài nguyên & Môi trường, Tài chính đã tiến hành kiểm tra
tình hình dịch bệnh trên tôm tại Vĩnh Sơn (Vĩnh Linh) và Trung Hải (Gio Linh). Bên cạnh
đó, Chi cục Thú y tỉnh Quảng Trị cũng nhanh chóng tiến hành xét nghiệm mẫu bệnh để tìm ra
nguyên nhân và tiến hành phun hóa chất Clorine khử trùng các ao nuôi tôm bị nhiễm bệnh
trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên do chưa có đủ kinh phí mua hóa chất cùng với dịch bệnh chưa rõ
nguyên nhân đã gây ra những khó khăn cho công tác phòng ngừa dịch bệnh.
Chi cục Thú y tỉnh Quảng Trị đã chỉ đạo các địa phương hướng dẫn người nuôi tôm
phòng chống dịch bệnh như xử lý nguồn nước tại ao nuôi và nước thải từ ao nuôi ra ngoài
đúng quy trình; chỉ thả nuôi con giống có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm dịch, đạt chất lượng;
không vận chuyển tôm ra vào vùng có dịch bệnh. UBND tỉnh Quảng Trị cũng cấp kinh phí
562 triệu đồng từ ngân sách dự phòng địa phương năm 2013 cho Chi cục Thú y tỉnh mua hóa
chất phòng, chống dịch bệnh trên tôm nuôi. Ngoài ra, tỉnh Quảng Trị cũng nhận được 30 tấn
hóa chất sát trùng Chlorine từ nguồn dự trữ quốc gia của Chính phủ để phòng, chống dịch
bệnh tôm nuôi.
2.3. Những khó khăn còn tồn tại
Quy hoạch nuôi trồng thủy sản
Hầu hết các địa phương còn thiếu quy hoạch về nuôi trồng thủy sản. Do đó, nhiều
người dân tự ý chuyển đổi diện tích nông nghiệp sang nuôi thủy sản. Nhưng do đầu tư cơ sở
hạ tầng, kỹ thuật chưa đồng bộ nên khi dịch bệnh xảy ra, người dân không còn khả năng phục
hồi và tái sản xuất. Số lượng hộ nuôi thủy sản quy mô nhỏ lẻ còn cao, ý thức phòng chống
dịch bệnh còn hạn chế, chưa chú trọng công tác xử lý nguồn nước cấp và nước thải của các
ao nuôi nên dịch bệnh vẫn có điều kiện lây lan ra môi trường bên ngoài và dễ dàng bùng phát
thành dịch lớn. Tại một số tỉnh như Bến Tre, Vĩnh Long, Tiền Giang, Trà Vinh, một số vùng
nuôi tôm không nằm trong quy hoạch, công trình nuôi tôm thiếu ao lắng, tình trạng xả thải
nước chưa qua xử lý từ ao nuôi ra môi trường bên ngoài vẫn còn khá phổ biến.
Mặc dù ngành Nông nghiệp tỉnh Bình Định khuyến cáo nên thả tôm nuôi từ 1-2
vụ/năm, nhưng thực tế có khoảng 70% diện tích được người dân thả nuôi từ 2 vụ trở lên, 30%
diện tích nuôi tôm 1 vụ/năm. Điều đáng lo ngại là dịch bệnh tôm nuôi năm nay đến sớm hơn
các năm trước và diễn biến khá phức tạp. Hội chứng tôm chết sớm cũng đã xuất hiện ở nhiều
nơi, gây thiệt hại cho người nuôi tôm. Các tác động sinh lý học của bệnh EMS xuất hiện giới
hạn ở gan, tụy của tôm. Ở giai đoạn cuối của bệnh gây chết cao, sự nhiễm khuẩn phát sinh
tiếp tục gây tổn thương gan, tụy. Tỉ lệ tôm chết có thể lên đến 100% ở các ao nuôi bị nhiễm
bệnh nặng. Hiện vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu để xử lý hội chứng tôm chết sớm.
Kế hoạch phòng chống dịch bệnh
Một số địa phương xây dựng kế hoạch chưa cụ thể, kinh phí cho công tác này còn hạn
chế. Mới chỉ có một số địa phương có phòng xét nghiệm hoặc có nhưng chưa được công nhận
đủ năng lực xét nghiệm các chỉ tiêu bệnh thủy sản nên việc triển khai công tác giám sát,
phòng chống dịch bệnh không chủ động. Bên cạnh đó, một số tỉnh chỉ tập trung vào công tác
chống dịch mà chưa chú ý đến công tác phòng dịch, giám sát và cảnh báo dịch bệnh cho
người dân. Công tác chẩn đoán, xét nghiệm bệnh thủy sản chưa được đầu tư đúng mức, kinh
phí đào tạo, tập huấn, tuyên truyền cũng còn nhiều hạn chế.
Chỉ đạo phòng chống dịch
Nhìn chung đội ngũ cán bộ làm công tác thú y cơ sở ở các xã chưa được huy động
hoặc chưa tập trung để triển khai các công việc quan trọng như theo dõi, thống kê diện tích
nuôi trồng thủy sản, diện tích bị bệnh, chủ động giám sát phát hiện dịch bệnh, triển khai các
biện pháp phòng – chống khi có dịch xảy ra. Nguyên nhân do kinh phí trả thù lao cho lực
lượng này còn quá thấp nên chưa chuyên tâm vào công tác được giao. Đội ngũ thú y xã chưa
12
được trang bị đầy đủ các kiến thức chuyên môn nghiệp vụ về thú y thủy sản, do đó hoạt động
còn thiếu hiệu quả.
Công tác báo cáo và phân tích dịch tễ
Công tác báo cáo và phân tích số liệu thống kê của ta còn thiếu, yếu, chậm và không
đầy đủ, do vậy việc tổng hợp, phân tích số liệu gặp rất nhiều khó khăn. Đặc biệt các địa
phương chưa chuyển công tác thú y thủy sản về cho chi cục Thú y còn tình trạng ghi chép lộn
xộn, thiếu số lượng và chất lượng thông tin rất thấp. Có trường hợp các địa phương chỉ báo
cáo khi dịch bệnh xảy nghiêm trọng nên công tác xử lý thông tin và đưa ra biện pháp ứng phó
thường chậm trễ, khó có hiệu quả. Do địa hình phức tạp, nguồn nhân lực lại mỏng và thiếu
kiến thức chuyên môn nên công tác giám sát, thống kê báo cáo dịch bệnh ở các tỉnh ĐBSCL
còn rất yếu.
Kiểm dịch giống thủy sản
Hiện nay vẫn còn một số địa phương đang căn cứ kết quả kiểm tra cảm quan hoặc kết
quả xét nghiệm của cơ quan khác (do người nuôi trực tiếp gửi xét nghiệm) để cấp giấy chứng
nhận kiểm dịch. Phần lớn các cơ sở nuôi tôm công nghiệp, quy mô lớn thì tôm giống được
mua về chủ yếu tại các tỉnh miền Trung như Ninh Thuận, Bình Thuận thông qua các đại lý
cung cấp tôm giống của các công ty lớn, có uy tín như CP, Uni-President… hoặc chủ hộ nuôi
tự đi mua. Tuy nhiên, nhiều cơ sở nuôi tôm, đặc biệt là cơ sở nuôi tôm quảng canh cải tiến và
quảng canh truyền thống thường mua con giống từ các cơ sở sản xuất giống nhỏ lẻ, tôm bố
mẹ không đảm bảo chất lượng hoặc nguồn gốc không rõ ràng. Một số trại giống, cơ sở kinh
doanh giống sử dụng phiếu kết quả kiểm nghiệm do phòng thí nghiệm thuộc ngành y tế xét
nghiệm để làm bằng chứng cho thấy tôm giống được nhập về đã an toàn về bệnh. Tuy nhiên,
sau khi mua tôm giống về thả được một thời gian (2-3 tuần) thì tôm phát bệnh, gây thiệt hại
cho người nuôi. Đối với tôm hùm giống được khai thác từ biển hoặc thu mua từ các vùng
nuôi trong tỉnh đều không có giấy chứng nhận kiểm dịch.
Một điểm đáng lưu ý là tuy các lô giống nhập trại có giấy chứng nhận kiểm dịch do
Chi cục Thú y cấp nhưng còn một số sai sót như xét nghiệm vi khuẩn Vibrio bằng phương
pháp cảm quan nên các hoạt động lấy mẫu, xét nghiệm và cấp giấy chỉ diễn ra trong 1 ngày.
Đặc biệt có nhiều trường hợp, mặc dù tôm giống đã được kiểm dịch nhưng thả nuôi vẫn chết.
Khi có dịch bệnh xảy ra, người nuôi không báo cho cán bộ thú y mà thường tự xử lý.
Tại một số địa phương, mặc dù cơ quan chức năng đã đã tăng cường công tác kiểm
dịch tôm giống trước khi thả nuôi, khuyến cáo người nuôi tôm chỉ sử dụng tôm giống đạt chất
lượng và có nguồn gốc rõ ràng, hạn chế sử dụng kháng sinh, hóa chất, áp dụng các biện pháp
an toàn sinh học (VietGAP) để giảm thiểu dịch bệnh, bảo vệ môi trường và đảm bảo an toàn
vệ sinh thực phẩm, song dịch bệnh trên tôm nuôi vẫn diễn biến khá phức tạp, ảnh hưởng đến
năng suất và thu nhập của người nuôi tôm.
Tuy nhiên, cũng phải nhắc đến một phần nguyên nhân do sự chủ quan của chính
người dân trong công tác kiểm dịch giống thủy sản. Trường hợp Đề án thí điểm xét nghiệm
tôm miễn phí cho hộ nghèo, cận nghèo được triển khai từ năm 2012 tại Cà Mau chỉ nhận
được 3 mẫu tôm của 3 người dân đến xét nghiệm với tổng chi phí trên 1,4 triệu đồng là minh
chứng rõ ràng cho tình trạng này.
3. Một số biện pháp phòng chống dịch bệnh trên tôm nuôi nước lợ.
3.1. Bồi dưỡng kiến thức về nuôi trồng thủy sản và cách phòng trị các bệnh thường
gặp trên tôm nuôi nước lợ
Trước tình trạng nuôi tôm tự phát, manh mún, không tuân thủ theo quy trình kỹ thuật
góp phần giúp tình hình dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp, nhiều địa phương đã chú
trọng đến công tác tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức về nuôi trồng thủy sản cho bà con nông
13
dân. Chi cục Thú y Bình Định đã tăng số lượng các lớp tập huấn kỹ thuật và tổ chức tọa đàm
trực tiếp cho người nuôi tôm trong toàn tỉnh nắm bắt được những điều kiện khó khăn về thời
tiết khí hậu và chỉ ra cho người nuôi thấy được những nguyên nhân gây ra bệnh dịch ở tôm
nuôi trong năm 2012, từ đó rút kinh nghiệm và đề ra biện pháp khắc phục. Bên cạnh đó, Chi
cục Thú y cũng chỉ đạo các Trạm Thú y huyện tăng cường làm việc với chính quyền địa
phương về công tác tuyên truyền công tác phòng, chống dịch bệnh cho bà con nông dân.
Trong số các biện pháp kỹ thuật then chốt của nuôi trồng thủy sản, quản lý việc cho
tôm ăn cũng là một biện pháp nâng cao giá trị và năng suất nuôi tôm. Trung bình, lượng thức
ăn sử dụng trong mỗi vụ nuôi tôm dao động từ 19 tấn đến 26 tấn/ha, chiêm tới 50% chi phí
nuôi tôm. Do đó, việc quản lý thức ăn không tốt không chỉ làm tăng cao chi phí vụ nuôi tôm
mà còn gây ra nhiều tác hại về biến đổi môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe tôm nuôi, là
nguồn gốc phát sinh nhiều dịch bệnh nguy hiểm.
Mỗi đối tượng tôm nuôi lại có một yêu cầu riêng đối với chế độ cho ăn. Do tôm thẻ
chân trắng có nhu cầu đạm trong thức ăn thấp hơn tôm sú (chỉ khoảng 32 – 35%), do đó, khi
nuôi tôm chân trắng bằng thức ăn có hàm lượng đạm cao (40 – 45%), tôm sẽ có tốc độ tăng
trưởng cao với thời gian nuôi ngắn hơn, tuy nhiên, ao nuôi lại bị ô nhiễm nhiều hơn và người
nuôi cũng cần phải có trình độ quản lý ao nuôi cao hơn. Không chỉ có vậy, tôm chân trắng có
thể ăn liên tục trong ngày, thậm chí ăn các loại thức ăn lơ lửng trong nước. Sức ăn của tôm
chân trắng cũng phụ thuộc vào hàm lượng ô-xy hòa tan, nhiệt độ trong nước. Vì thế, việc theo
dõi, điều chỉnh lượng thức ăn cần được thực hiện hàng ngày và theo từng giai đoạn nuôi tôm.
Trong tháng đầu, người nuôi tôm rất khó để xác định được lượng thức ăn cần thiết
cho tôm. Phần lớn hiện tượng thừa thức ăn thường xảy ra vào tháng đầu thả tôm do người
nuôi nghĩ rằng nếu không cho ăn đủ, tôm sẽ chậm lớn và không có khả năng tăng trưởng tốt.
Tuy nhiên, dư thừa thức ăn khiến môi trường ao nuôi bị biến động nhanh chóng, tảo lam, dịch
bệnh, khí độc tích tụ cũng nhanh chóng diễn ra. Bởi vậy, để cho ăn đạt hiệu quả cao, trong
tháng đầu, người nuôi nên chia nhỏ bữa ăn cho tôm, khoảng 4 – 5 cữ/ngày để tôm quen với
môi trường mới. Sang những tháng tiếp theo, việc cho ăn sẽ được tính theo tổng trọng lượng
đàn tôm. Số lượng bữa ăn được giảm xuống còn 3 – 4 cữ/ngày và không cho ăn đêm nếu hệ
thống cung cấp ô-xy không được tốt.
Sử dụng thức ăn tốt, là loại thức ăn đầy đủ các dưỡng chất cho tôm (một số vitamin và
khoáng cần bổ sung thêm vì bị mất trong quá trình chế biến), phù hợp với các giai đoạn phát
triển của tôm, được sản xuất và bảo quản tốt, tuyệt đối không sử dụng thức ăn không rõ
nguồn gốc, bao bì rách, vón cục, quá hạn dùng… Nên dùng một nhãn thức ăn trong suốt vụ
nuôi, nếu phải thay đổi thì làm từ từ vì tôm có thể bỏ ăn.
Nếu màu nước ngày càng sậm hơn, báo hiệu thức ăn đang dư, cần giảm ngay thức ăn
cho các bữa vào hôm sau và chài kiểm tra lại. Theo dõi độ pH, ô-xy hòa tan trong ao. Nếu pH
ngày càng tăng, biên độ dao động sáng, chiều càng lớn, lượng oxy hòa tan buổi sáng giảm,
buổi chiều lại tăng cao hơn… chắc chắn thức ăn đang dư, giảm ngay 30% thức ăn vào hôm
sau và dùng chài kiểm tra lại. Theo dõi chu kỳ lột xác của tôm. Tôm thường lột xác đồng loạt
vào những ngày mưa hay ngày nước lớn, lúc đó ao tôm có nhiều váng nhớt, pH giảm, trong
vó có thể thấy tôm lột thì cần chủ động giảm thức ăn ngay rồi sau đó tăng lại.
Người nuôi tôm cũng cần thường xuyên kiểm tra sự xuất hiện của các đối tượng như
cua, còng trong khu vực ao nuôi, nếu phát hiện thì phải loại bỏ ngay bằng cách thu gom lại và
xử lý ở vị trí cách xa ao nuôi, ao lắng và kênh cấp nước. Bên cạnh đó, cần xua đuổi, canh giữ
chim, cò ăn tôm; thường xuyên liên lạc và nắm bắt các thông tin diễn biến về dịch bệnh; quan
trắc cảnh báo môi trường trong khu vực để có biện pháp phòng ngừa thích hợp như thay
nước, tăng tần suất kiểm tra tôm nuôi. Tuyệt đối không lấy nước không đảm bảo các yếu tố
về môi trường, nguồn nước bị nhiễm dịch bệnh vào ao nuôi tôm. Những ao nuôi khi phát hiện
tôm có dấu hiệu không bình thường như tôm ăn nhiều hơn một cách bất thường hoặc giảm
14
ăn, có đốm trắng trên vỏ, đỏ thân, đen mang, bơi lờ đờ, không định hướng… cần báo ngay
với cán bộ khuyến ngư, thú y nơi gần nhất để lấy mẫu xét nghiệm, nhằm xác định nguyên
nhân gây bệnh và xử lý kịp thời. Thời tiết nắng nóng kéo dài ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến hoạt
động đầu tư chăm sóc tôm nuôi, bởi vậy người nuôi tôm cần phải thường xuyên theo dõi,
kiểm tra tình hình sinh trưởng của tôm nuôi để có biện pháp chăm sóc tốt hơn.
3.2. Xử lý môi trường ao nuôi trước – trong khi thả nuôi
Điểm yếu cố hữu của nghề nuôi tôm nước lợ tồn tại suốt thời gian qua ở nhiều địa
phương của nước ta là hạ tầng sơ sài: không có ao xử lý nước cấp, nguồn nước cấp; nước
thoát nằm gần nhau nên khi bệnh xảy ra không thể khống chế, dịch bệnh lây lan nhanh. Các
dịch bệnh đốm trắng, taura… liên tục xảy ra suốt thời gian qua gây mất mùa, thua lỗ. Ước
tính, cứ 10 tấn tôm mà nông hộ thu hoạch được trên 1ha diện tích phải thải ra ao nuôi 7 tấn
chất thải. Tuy nhiên, các hộ nuôi chưa chú trọng đầu tư hệ thống xử lý chất thải mà xả thẳng
ra môi trường gây mặn hóa nguồn nước ngầm. Hiện tượng này là “môi trường” thuận lợi cho
bệnh và dịch bệnh phát tán trên tôm nuôi.
Dù chính vụ hay trái vụ tôm đều bị bệnh như nhau, nhất là đối với bệnh EMS, vấn đề
là người nuôi phải đầu tư chiều sâu và áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới như thế nào để
hạn chế hay vượt qua được bệnh EMS. Để giảm thiểu những thiệt hại do dịch bệnh gây ra,
người nuôi phải có đầy đủ trang - thiết bị (như máy sục khí), có ao ương tôm trước khi thả
nuôi mật độ thưa và trong quy trình nuôi phải có ao lắng, ao xử lý nước, thường xuyên khống
chế tảo trong ao nuôi. Mô hình thử nghiệm nhà ương giống có mái che trước khi thả nuôi
bước đầu cho thấy có thể hạn chế được bệnh. Mặt khác, một số công ty, cơ sở nuôi tôm lớn
có tiềm lực kinh tế đang xúc tiến mô hình nuôi BioFloc trong nhà có mái che để ngăn chặn
mầm bệnh lây lan.
Cần tẩy dọn ao triệt để trước khi tiến hành nuôi, xây dựng ao chứa lắng, ao xử lý nước
riêng biệt, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật diệt giáp xác. Để đảm bảo tôm nuôi phát
triển tốt, không xảy ra dịch bệnh, các ao nuôi cần kiểm tra môi trường nước, khống chế mật
độ vi khuẩn Vibrio/ml nước trước khi thả nuôi, luôn đảm bảo oxy hòa tan cao, duy trì độ mặn
và nhiệt độ nước không quá cao, độ pH trong ao nuôi đảm bảo từ 7,8 - 8,2. Mực nước trong
ao nuôi cũng phải ở mức thích hợp: từ 1,2 - 1,4m, luôn tiến hành định kỳ diệt khuẩn trong ao
nuôi. Các ao nuôi khi có tôm bệnh phải tẩy trùng triệt để, khoanh vùng, cách ly, không xả
nước thải, tôm chết ra ngoài môi trường.
Bên cạnh thiệt hại do các bệnh thường gặp như bệnh đốm trắng, bệnh hoại tử gan tụy,
trong quá trình nuôi tôm còn bị thiệt hại do khí độc trong ao (mêtan, nitríc…). Do đó, người
nuôi tôm cần kiểm tra hàm lượng khí độc, mật số Vibrio trong ao và cả trên tôm post trước
khi thả nuôi, khống chế mật số Vibrio luôn nằm trong ngưỡng cho phép. Dùng men vi sinh để
khống chế hoặc sử dụng kháng sinh trong 40 ngày đầu tiên vẫn cho hiệu quả. Khi phát hiện
tôm bắt đầu thiệt hại, cần kiểm tra, xét nghiệm mẫu để xác định nguyên nhân và sớm có giải
pháp thích ứng. Do đó, các quy trình nuôi hiện nay cần phải linh hoạt với điều kiện biến đổi
của môi trường để có sự thích ứng cao mới hy vọng thành công.
Nhằm chủ động phòng, chống dịch bệnh, hạn chế thấp nhất dịch bệnh tôm nuôi, bà
con nuôi tôm được khuyến cáo nên cải tạo ao nuôi chu đáo, đúng quy trình; thả tôm nuôi với
mật độ từ 80-120 con/m2 đối với nuôi tôm trên cát, vùng đầm, đìa thả tôm nuôi với mật độ từ
60-80 con/m2 là phù hợp. Trước khi thả tôm nuôi phải theo dõi quan trắc môi trường đã được
Chi cục thông báo để biết được thời điểm nào lấy nước vào để thả tôm nuôi là thích hợp nhất.
Bên cạnh đó, phải thường xuyên theo dõi các yếu tố môi trường trong ao nuôi, để có biện
pháp điều chỉnh, xử lý kịp thời.
15
3.3. Đảm bảo chất lượng con giống
Một biện pháp để hạn chế bệnh chết sớm, hoại tử gan tụy là ương tôm giống trước khi
thả nuôi. Bắt đầu từ mô hình thành công ở Thái Lan, việc ương tôm giống đã được chú ý hơn.
Thay vì thả trực tiếp tôm giống từ trại giống xuống ao nuôi, người nuôi tôm ương tôm giống
trong bể xi măng hoặc composite, từ 10-25 ngày bằng nguồn nước ao nuôi. Điều này sẽ giảm
thiệt hại nếu như tôm giống bị chết, người nuôi tôm không mất công xả ao đi và cải tạo lại.
Các hộ nuôi cần chọn tôm giống sạch bệnh, được kiểm dịch, không mang các tác nhân
gây bệnh hoại tử gan tụy, không có dấu hiệu bất thường ở gan tụy. Các post tôm giống cũng
cần phải được thả nuôi thích hợp: thả giống cỡ post 12 trở lên đối với tôm thẻ và post 15 trở
lên đối với tôm sú. Khi nuôi, nên thả nuôi mật độ dày (tôm sú 10 - 15 con/m2, tôm thẻ 30 60 con/m2 đối với tôm nuôi vùng triều).
3.4. Tiêm vắc – xin và sử dụng chế phẩm sinh học an toàn
Trên thế giới tiêm vắc - xin là một trong những biện pháp quan trọng để giảm thiểu
thiệt hại do dịch bệnh gây ra trên các đối tượng thủy sản. Tuy nhiên, do chưa có thói quen sử
dụng vắc – xin trong nuôi trồng thủy sản cũng như chi phí đầu tư cao, đẩy giá thành sản xuất
lên cao nên nhiều hộ nuôi thủy sản ở nước ta còn chưa mặn mà với biện pháp này.
Ngoài việc sử dụng vắc – xin, người nuôi cần sử dụng chế phẩm sinh học có chất
lượng để khống chế, lấn áp vi khuẩn (đặc biệt là khuẩn Vibrio) trong ao nuôi. Nuôi tôm
không sử dụng bất kỳ loại hóa chất nào, chỉ sử dụng hoàn toàn bằng chế phẩm vi sinh; không
nuôi tôm liên tiếp nhiều vụ, cần phải có thời gian cách ly nhất định; cải tạo ao thật kỹ, thường
xuyên theo dõi mật độ tảo trong ao nuôi để điều chỉnh kịp thời. Tuy nhiên, do hiện nay trên
thị trường quá nhiều loại chế phẩm vi sinh khiến người nuôi không biết chọn lựa nhãn hiệu
sản phẩm nào là chất lượng và kinh tế nhất. Do đó, cơ quan chức năng cần tăng cường quản
lý các chế phẩm này và chất lượng con giống giúp người nuôi tôm. Bà con nuôi tôm nên tăng
cường sử dụng các chế phẩm sinh học, hạn chế dùng hóa chất diệt khuẩn, nhằm ổn định môi
trường ao nuôi. Đồng thời, cho tôm nuôi ăn đúng khẩu phần, bổ sung các loại vitamin,
khoáng chất, vi lượng để tăng cường sức đề kháng cho tôm nuôi.
3.5. Nuôi ghép tôm với các loài khác
Phương pháp hiện nay được nhiều nhà khoa học quan tâm đó là nuôi ghép tôm với
một số đối tượng khác, chẳng hạn như cá rô phi sẽ giảm được thiệt hại do bệnh gan tụy gây
ra. Ông Jeffrey K.C.Lee, Giám đốc trại tôm thẻ chân trắng giống ở Kuantan, Pahang
(Malaysia) cho biết, một số người nuôi tôm ở đây đã sử dụng nước từ ao nuôi cá măng biển
(milkfish) và cá rô phi bơm sang ao nuôi tôm đã hạn chế được thiệt hại do bệnh gây ra và đã
thành công. Việc nuôi ghép giữa tôm sú, tôm thẻ chân trắng với cá rô phi hay cua không phải
là vấn đề mới, ở nước ta cũng nhiều mô hình thành công từ nuôi ghép giữa tôm và các đối
tượng khác.
Trong tình hình dịch bệnh hiện nay, theo Tiến sĩ Donald Lightner – chuyên gia nghiên
cứu bệnh tôm hàng đầu thế giới, nuôi đa canh có sự an toàn về dịch bệnh cao hơn hẳn nuôi
đơn canh. Bởi vì, nuôi tôm đơn canh sẽ làm mất yếu tố cân bằng vốn có trong tự nhiên.
Thông thường, các loài sinh vật khác sẽ tiêu diệt các loài thiên địch có hại để bảo vệ sự cân
bằng. Chúng sẽ ăn các vi khuẩn có hại cho tôm và tôm không ăn phải những loài vi khuẩn có
hại này. Nếu nuôi tôm đơn canh thì tôm ăn cả những vi khuẩn có hại nên dễ bị mắc bệnh.
Tuy nhiên, một vấn đề kỹ thuật mà người nuôi tôm hay gặp phải đó là nuôi đa canh
giữa tôm với cá rô phi, cua như thế nào cho hiệu quả bởi nếu nuôi không đúng kỹ thuật thì cá
và cua sẽ ăn hết tôm trong ao. Bên cạnh đó, nuôi đa canh sẽ đạt năng suất thấp hơn nuôi đơn
canh nên trước mắt đây chỉ là giải pháp tạm thời.
16
Thời gian qua, Hội chứng tôm chết sớm (EMS) hay còn gọi là Hội chứng hoại tử gan
tụy cấp (AHPNS) đang là căn bệnh khiến nông dân nuôi tôm lo lắng nhất. Mặc dù đã tìm ra
nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây ra, song đến nay, giải
pháp phòng chống đối với dịch bệnh này vẫn chưa được công bố chính thức. Tuy nhiên, tin
vui cho người nuôi tôm khi mô hình nuôi tôm kết hợp với các loài thủy sản khác, đặc biệt là
cá rô phi đã được chứng minh là có tác dụng trong việc giảm thiểu việc dịch bệnh phát sinh,
mở ra nhiều cơ hội mới cho vùng nuôi tôm bị dịch bệnh. Tuy nhiên, trên thực tế phương pháp
nuôi này chưa mang lại hiệu quả cao do tôm bị cá rô phi ăn thịt làm hao hụt một phần, cộng
với việc cá rô phi cạnh tranh thức ăn với con tôm. Do đó, nhóm nghiên cứu đang tìm cách
khắc phục những hạn chế và phương pháp này sẽ được công bố sau khi hoàn thành giai đoạn
thử nghiệm.
Công ty CP thủy sản Minh Phú cũng đang áp dụng mô hình tương tự. Hiện doanh
nghiệp này đang thả nuôi khoảng 100 hecta tôm theo phương pháp nuôi tôm kết hợp với cá rô
phi. Bước đầu cho thấy tỷ lệ tôm chết ít hơn so với trước đây và doanh nghiệp đã khắc phục
được một phần hiện tượng cá rô phi ăn tôm cũng như cạnh tranh thức ăn với tôm nuôi chung
ao.
Theo GS. Kevin Michael Fitzsimmon, giám đốc Cơ quan hợp tác nông nghiệp quốc
tế, ĐH Arizona (Mỹ), hiệu quả của giải pháp nuôi ghép, nuôi kết hợp đã được chứng minh ở
các vùng nuôi tôm tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Đông Nam Á, các nước như Indonesia
đã áp dụng mô hình tôm - cá rô phi, Thái Lan đã áp dụng mô hình tôm - cá măng và cua lột,
Philippines đã áp dụng mô hình nuôi tôm kết hợp cá rô phi giúp giảm thiểu mầm bệnh và nhờ
đó khôi phục lại nghề nuôi tôm.
Trước những băn khoăn về hiệu quả của mô hình nuôi kết hợp vì cho rằng năng suất
nuôi không cao và chi phí đầu tư thức ăn sẽ tăng, từ đó dẫn đến hiệu quả nuôi kém, GS.
Kevin Michael Fitzsimmon cho biết, mô hình này không chỉ giúp giảm mầm bệnh trong môi
trường ao nuôi mà năng suất các sản phẩm tạo ra từ mô hình rất ấn tượng. Cụ thể, mô hình
thử nghiệm (trong điều kiện hoàn hảo) nuôi tôm thẻ chân trắng từ nguồn nước ao nuôi cá rô
phi tại Thái Lan cho năng suất tôm nuôi lên đến 20 tấn/ha và cá rô phi đến 60 tấn/ha. Trong
giải pháp kỹ thuật nuôi ghép hay nuôi kết hợp, người nuôi có thể sử dụng nhiều đối tượng
nuôi khác nhau nhưng có tác dụng hỗ trợ nhau như: tôm, cá, cua, tảo biển… để đưa vào mô
hình nuôi. Hiện nay, trên thế giới đang áp dụng nhiều cách nuôi ghép, nuôi kết hợp như: nuôi
cá trong ao lắng, nuôi cá lồng trong ao tôm, nuôi cá thả chung với tôm trong ao, hoặc mô
hình kết hợp dùng nước nuôi cá rô phi để nuôi tôm, rồi lấy nước nuôi tôm để trồng rong biển.
Tại Việt Nam, một số bà con nuôi tôm cũng đã dùng cá rô phi để xử lý nước trong ao lắng
cung cấp nước cho ao tôm ang lại hiệu quả cao. Cá rô phi có tập tính đảo trộn các tầng nước
trong ao, giúp đáy ao và nguồn nước ao nuôi tốt hơn. Cá rô phi cũng ăn mùn bã hữu cơ trong
ao, từ đó giúp giảm lượng chất thải trong ao nuôi, hạn chế sự phát triển của vi khuẩn có hại,
kích thích sự phát triển các loại tảo có lợi. Ngoài ra, cá rô phi còn có tác dụng tiêu diệt một số
vật chủ trung gian mang mầm bệnh và ăn cả xác tôm chết, từ đó giúp hạn chế sự lây lan mầm
bệnh trong ao nuôi.
4. Kết luận
Năm 2013 được cảnh báo là một năm khó khăn cho ngành sản xuất nông nghiệp nói
chung và ngành nuôi trồng thủy sản nói riêng. Với điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp, trời
nắng nóng kéo dài, lượng nước ngọt ở các hồ khô cạn, không đủ cung cấp cho nuôi trồng
thủy sản nói chung và nuôi tôm nói riêng. Trong quá trình nuôi, đặc biệt là nuôi tôm sú, tôm
thẻ chân trắng rất cần nước ngọt để giảm độ mặn, kích thích tôm lột xác, tăng trưởng và giảm
dịch bệnh.
Công tác phòng chống dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản là một khâu then chốt, góp
phần quyết định sự thành bại của vụ nuôi. Trong những năm vừa qua, dịch bệnh liên tục xảy
17
ra ở một số vùng nuôi thủy sản tập trung ở nước ta. Do đó, công tác phòng, chống dịch càng
phải được quan tâm, chú ý. Khi dịch bệnh xảy ra, nếu không kịp thời xử lý dịch bệnh, nhất là
việc thu dọn xác tôm chết không triệt để, không xử lý hoá chất tại các ao có tôm bị bệnh theo
hướng dẫn của các cơ quan chức năng thì nguy cơ phát tán, lây lan dịch bệnh cho các ao nuôi
tôm khác trong vùng và lây sang các xã có nuôi tôm khác là rất cao, hậu quả sẽ rất nghiêm
trọng. Do vậy, các hộ ngư dân cũng phải chủ động phòng ngừa dịch bệnh, đầu tư cải tạo ao
đầm, chuyển đổi vật nuôi thích hợp. Đặc biệt trước khi xử lý dứt điểm nguồn bệnh, không
nên đưa tôm giống vào thả nuôi, tránh tình trạng lỗ chồng lỗ. Đồng thời, các bên liên quan
bao gồm cơ quan chức năng và người nuôi cần phải phối hợp chặt chẽ với nhau để tìm ra biện
pháp tối ưu hóa giá trị ngành nuôi trồng thủy sản nói chung, nuôi tôm nói riêng.
18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Báo cáo Hội nghị tổng kết nuôi tôm các tỉnh phía Nam năm 2013 và triển khai kế hoạch
năm 2014.
2, Báo cáo Hội nghị Phòng chống dịch bệnh thủy sản năm 2013 và xây dựng kế hoạch năm
2014.
Danh mục trang web tham khảo
/> /> /> /> /> /> /> /> /> /> /> />uage/en-US/Default.aspx
/> /> /> /> /> /> /> />%C3%B2ngch%E1%BB%91ngd%E1%BB%8Bchb%E1%BB%87nhtr%C3%AAnt%C3%
B4mnu%C3%B4i.aspx
/>19
/>AMzFkOGVkM2UtYmM3OC00NTM3LWExMWQtMjAyOWVjMWQ4YjcyMKTJpizx1X
v1exjWB3NkUsz0O_w1))/ShowArticle.aspx?ID=28970&AspxAutoDetectCookieSupport=1
/> /> /> /> />
20