Chơng trình khoa học x hội cấp nhà nớc kx 08
đề tài kx.08.05
*****
báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
đề tài khoa học x hội và nhân văn cấp nhà nớc
những vấn đề toàn cầu
trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI
m số: KX 08.05
Chủ nhiệm đề tài: GS,TS. Nguyễn Trọng Chuẩn
6134
03/10/2006
Hà nội 2006
Những ngời tham gia đề tài
I. Ban chủ nhiệm:
1.
GS,TS. Nguyễn Trọng Chuẩn
Chủ nhiệm
2.
PGS,TS. Nguyễn Đăng Thành
Phó chủ nhiệm
3.
PGS,TS. Phạm Văn Đức
Th kí
Viện Triết học
Tỉnh uỷ Nghệ An
Viện Triết học
II. Những ngời thực hiện đề tài:
4.
PGS, TSKH. Lơng Đình Hải
Viện Triết học
5.
PGS,TS. Phạm Thị Ngọc Trầm
Viện Triết học
6.
PGS,TS. Đặng Hữu Toàn
Viện Triết học
7.
TS. Nguyễn Ngọc Hà
Viện Triết học
8.
TS. Đỗ Minh Hợp
Viện Triết học
9.
Ths. Vũ Thị Kiều Phơng
Viện Triết học
10. GS,TS. Trần Hữu Tiến
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
11. CN. Nguyễn Minh Hoàn
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
12. GS. Đặng Nghiêm Vạn
Viện Nghiên cứu Tôn giáo
13. GS,TS. Phan Hữu Dật
Hội Dân tộc học Việt Nam
III. Cộng tác viên
14. PGS,TS. Vũ Văn Viên
Viện Triết học
15. PGS,TS. Nguyễn Văn Phúc
Viện Triết học
16. GS,TS. Nguyễn Văn Huyên
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
17. TS. Đặng Thái Giáp
Cục Công tác Chính trị, Bộ Công An
Tóm tắt các nội dung nghiên cứu đ đạt đợc
của đề tài kx.08.05
1. Tóm tắt các nội dung nghiên cứu đã đạt đợc:
a. Về khối lợng: Sản phẩm của đề tài gồm có: 01 bản Báo cáo tổng hợp
dày 296 trang; 01 bản Báo cáo tóm tắt dày 85 trang; 01 bản Kiến nghị
dày 8 trang.
b. Về nội dung: Đề tài đề cập đến 5 nội dung chủ yếu đợc trình bày
thành 4 chơng.
+ Chơng 1, trình bày: Các vấn đề toàn cầu và những nhân tố tác động
đến chiều hớng phát triển của các vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu
của thế kỷ XXI. Trong chơng này, đề tài đã khái quát đợc thế nào là vấn đề
toàn cầu và đa ra các tiêu chí khác nhau để phân loại các vấn đề toàn cầu. Đây
thực sự là điều cần thiết trong quá trình nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp có
tính hữu hiệu cho việc giải quyết các vấn đề toàn cầu trong thực tế. Tuy nhiên,
trong số các tác nhân tác động đến nội dung, đặc điểm, xu thế của các vấn đề
toàn cầu, đề tài chỉ tập trung phân tích 3 tác nhân chủ yếu là: kinh tế, chính trị và
khoa học kỹ thuật.
+ Chơng 2 của đề tài trình bày: Những vấn đề toàn cầu nổi lên trong
hai thập niên đầu của thế kỷ XXI. Trong chơng này, đề tài trình bày những
vấn đề toàn cầu cụ thể đang và sẽ nổi lên trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI dựa
trên cơ sở phân loại thành 3 nhóm vấn đề mà chơng 1 đã nói tới. Ưu điểm của
đề tài thể hiện không chỉ ở sự liệt kê và phân loại các vấn đề toàn cầu mà chủ yếu
là cung cấp cho ngời đọc một bức tranh tổng thể, khá đậm nét, khá phức tạp về
các vấn đề toàn cầu. Đề tài đã chỉ ra mối liên hệ, sự tác động qua lại giữa các
nhóm vấn đề toàn cầu nói chung và giữa các vấn đề toàn cầu cụ thể nói riêng.
Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nắm bắt thực chất của những vấn đề
toàn cầu cụ thể và, qua đó, có thể đa ra đợc các giải pháp cụ thể trong việc giải
quyết những vấn đề toàn cầu đang và sẽ có thể nảy sinh ở Việt Nam.
+ Chơng 3 của đề tài tập trung trình bày: Phơng thức giải quyết
những vấn đề toàn cầu và một số kinh nghiệm quốc tế. Trên cơ sở 4 nguyên
tắc chung mà tập thể tác giả đa ra, đề tài nêu ra 4 giải pháp chủ yếu trong quá
trình giải quyết các vấn đề toàn cầu. Đáng chú ý là, trong chơng này, đề tài đã
trình bày một cách tổng quát và rõ nét kinh nghiệm của một số nớc cụ thể trong
việc giải quyết các vấn đề toàn cầu. Hơn thế, qua những kinh nghiệm quốc tế
trong quá trình giải quyết những vấn đề toàn cầu cụ thể, đề tài đã rút ra đợc một
số bài học kinh nghiệm cụ thể cho khả năng giải quyết các vấn đề toàn cầu tơng
tự có thể nảy sinh trong quá trình phát triển ở Việt Nam.
+ Chơng 4 của đề tài mang tên: Việt Nam và những vấn đề toàn cầu.
Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của chơng này là sự phân tích của
đề tài về những khó khăn và thách thức mà những vấn đề toàn cầu đang và sẽ có
thể đặt ra đối với nớc ta. Trong đó, đề tài đã tập trung vào trình bày và phân tích
một cách sâu sắc 3 vấn đề có tính toàn cầu cụ thể, đang nổi lên một cách cấp
bách ở Việt Nam hiện nay. Đó là: vấn đề môi trờng; vấn đề dân số; vấn đề
phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tội phạm, tệ nạn ma tuý,
vấn đề phòng chống HIV/AIDS và các căn bệnh hiểm nghèo khác. Trên cơ sở
đó, đề tài đã đa ra và phân tích một cách cụ thể 5 hớng giải pháp chung cho
những vấn đề toàn cầu của Việt Nam. Đáng chú ý là, những giải pháp này đều
bám sát thực tiễn và nhu cầu phát triển của đất nớc.
2. Về những kết quả nghiên cứu mới của đề tài:
+ Đề tài đ nêu lên một định nghĩa về những vấn đề toàn cầu có giá
trị tham khảo hữu ích cho những nghiên cứu về những vấn đề toàn cầu.
+ Qua việc phân loại và trình bày rõ nét những vấn đề toàn cầu chủ yếu nổi
lên trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI, đề tài đ chỉ ra khá rõ nét chiều
hớng phát triển của những vấn đề đó trong hai thập niên đầu của thế kỷ
XXI. Cùng với đó, đề tài đa ra những nhận xét mang tính phê phán đối với các
phơng án không tởng hoặc không khả thi, đồng thời mạnh dạn nêu lên những
giải pháp có tính khả thi đối với việc giải quyết một số vấn đề toàn cầu cụ thể.
+ Đề tài đ nêu ra 5 hớng giải pháp cụ thể cho những vấn đề toàn cầu
ở Việt Nam, trong đó đáng chú ý là kiến nghị phải sớm thành lập các Trung
tâm nghiên cứu các vấn đề toàn cầu.
3. Về giá trị sử dụng, ứng dụng của đề tài:
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch
định các chính sách đối nội, đối ngoại, làm tài liệu tuyên truyền, giáo dục trong
hệ thống tuyên huấn, giáo dục - đào tạo và nghiên cứu để góp phần nâng cao
nhận thức về những vấn đề toàn cầu để mọi cơ quan, mọi cá nhân có ý thức đúng
đắn, có trách nhiệm xử lý, giải quyết những vấn đề toàn cầu.
Mục lục
Trang
Phần mở đầu
1
I. Tổng quan tình hình nghiên cứu .........................................................
1
II. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài .......................................
4
III. Cách tiếp cận và phơng pháp nghiên cứu .....................................
5
Phần nội dung
6
Chơng 1. Các vấn đề toàn cầu và những nhân tố
tác động đến chiều hớng phát triển của các vấn đề
toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI
6
1.1. Các vấn đề toàn cầu: lịch sử, khái niệm, phân loại .......................
6
1.2. Những nhân tố tác động đến chiều hớng phát triển của các vấn
đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI ....................
24
1.2.1. Sự biến đổi và tác động của các nhân tố kinh tế đối với
chiều hớng phát triển của các vấn đề toàn cầu ...................
26
1.2.2. Sự biến đổi và tác động của nhân tố khoa học và công nghệ
đến những vấn đề toàn cầu ...................................................
39
1.2.3. Tác động của nhân tố chính trị đối với toàn cầu hoá và các
vấn đề toàn cầu .....................................................................
47
Chơng 2. Những vấn đề toàn cầu nổi lên trong hai
thập niên đầu của thế kỷ XXI
49
2.1. Những vấn đề toàn cầu gắn liền với mối quan hệ giữa các cộng
đồng xã hội cơ bản của nhân loại ...................................................
49
2.1.1. Vấn đề chiến tranh và hoà bình ............................................
50
2.1.2. Vấn đề xung đột tôn giáo và dân tộc .....................................
61
2.1.3. Vấn đề phân hoá giàu nghèo .................................................
93
2.1.4. Vấn đề tội phạm quốc tế ........................................................ 100
2.2. Nhóm những vấn đề toàn cầu nảy sinh từ sự tác động qua lại
giữa xã hội loài ngời và giới tự nhiên ............................................ 109
2.2.1. Vấn đề ô nhiễm môi trờng sống ........................................... 110
2.2.2. Vấn đề cạn kiệt nguồn nớc ..................................................
120
2.2.3. Vấn đề năng lợng ................................................................. 126
2.3. Nhóm những vấn đề toàn cầu liên quan trực tiếp đến con ngời,
đến sự tồn tại của cá nhân con ngời .............................................
132
2.3.1. Vấn đề dân số ........................................................................
132
2.3.2. Vấn đề lơng thực, thực phẩm ............................................... 151
2.3.3. Vấn đề bệnh tật ...................................................................... 159
2.3.4. Vấn đề di dân tự do trong mỗi quốc gia và trên phạm vi
quốc tế ................................................................................... 162
Chơng 3. Phơng thức giải quyết những vấn đề toàn
cầu và một số kinh nghiệm quốc tế
181
3.1. Những nguyên tắc chung và một số giải pháp trong quá trình
giải quyết các vấn đề toàn cầu ........................................................
181
3.1.1. Những nguyên tắc chung ....................................................... 181
3.1.2. Một số giải pháp chủ yếu trong quá trình giải quyết các vấn
đề toàn cầu ............................................................................ 191
3.2. Một số kinh nghiệm từ thực tiễn của Liên Xô và Liên bang Nga.. 202
3.3. Kinh nghiệm từ thực tiễn Trung Quốc ...........................................
204
3.4. Kinh nghiệm từ thực tiễn các nớc ASEAN.................................... 207
3.5. Kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan trong việc
giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trờng ............................................ 209
Chơng 4. Việt Nam và những vấn đề toàn cầu
232
4.1. Định hớng của Đảng, Nhà nớc ta trong việc giải quyết các vấn
đề toàn cầu và những thành tựu bớc đầu ....................................
232
4.1.1. Quan điểm chung và nguyên tắc chủ đạo trong việc giải
quyết các vấn đề toàn cầu ..................................................... 232
4.1.2. Chiến lợc phát triển bền vững và những thành tựu quan
trọng về kinh tế - xã hội ........................................................
241
4.1.3. Thành tựu bớc đầu trong vấn đề bảo vệ môi trờng ............ 245
4.1.4. Tích cực tham gia đấu tranh chống tội phạm quốc tế ........... 246
4.1.5. Bảo vệ hoà bình và an ninh quốc tế ......................................
248
4.1.6. Một số thành tựu bớc đầu trong việc xoá đói giảm nghèo... 250
4.2. Những khó khăn và thách thức .......................................................
252
4.2.1. Vấn đề môi trờng ................................................................. 252
4.2.2. Vấn đề dân số ........................................................................
274
4.2.3. Vấn đề phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, đặc biệt
là tội phạm, tệ nạn ma tuý, vấn đề phòng chống HIV/AIDS
và các căn bệnh hiểm nghèo khác ......................................... 281
4.3. Một số giải pháp chung cho những vấn đề toàn cầu của Việt
Nam ...........................................................................................................
283
4.3.1. Phát triển kinh tế - xã hội và xoá đói giảm nghèo ................. 283
4.3.2. Tăng cờng cuộc đấu tranh chống tội phạm và các tệ nạn
xã hội ..................................................................................... 288
4.3.3. Thành lập các trung tâm nghiên cứu vấn đề toàn cầu, tăng
cờng công tác đào tạo và bồi dỡng đội ngũ cán bộ
chuyên trách........................................................................... 289
4.3.4. Hoàn thiện cơ chế hoạch định triển khai và hệ thống các
văn bản pháp luật và chính sách bám sát với thực tiễn cuộc
sống và phù hợp với các cam kết và thông lệ quốc tế............
291
4.3.5. Quan trọng bậc nhất là nâng cao nhận thức, ý thức và vai
trò của quần chúng nhân dân trong việc tự giác tích cực
hành động, tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu 293
Kết luận
295
Danh mục tài liệu tham khảo
297
1
Phần mở đầu
I. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Toàn cầu hoá là xu thế lớn của thế giới đơng đại, đang có ảnh hởng mạnh
mẽ đến sự phát triển của các dân tộc, các quốc gia và của toàn thể nhân loại.
Toàn cầu hoá là xu thế khách quan, do vậy nó là tất yếu và không ai có thể
lảng tránh nó hay phủ nhận nó. Tuy nhiên, toàn cầu hoá, trớc hết là toàn cầu hoá
kinh tế, là quá trình đang gây ra hiệu ứng hai mặt. Một mặt, nó tạo ra những cơ hội
to lớn cho sự phát triển. Mặt khác, nó cũng tạo nên những thách thức không nhỏ
nhất là cho các nớc kém phát triển. Đúng nh Đại hội IX của Đảng Cộng sản
Việt Nam nhận định: Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn
ngày càng nhiều nớc tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có
hợp tác, vừa có đấu tranh1. Do vậy, toàn cầu hoá vừa đang đợc sự ủng hộ mạnh
mẽ nhng cũng vừa bị nghi ngại, bị dè chừng, thậm chí bị phản đối dữ dội từ phía
các lực lợng chống toàn cầu hoá ở nhiều nớc trên phạm vi thế giới.
Việc nhận thức sâu sắc bản chất, đặc điểm và sự vận động của quá trình
toàn cầu hoá đang diễn ra, nhất là các vấn đề do nó sản sinh, sẽ giúp chúng ta
hiểu sâu hơn thời đại ngày nay, từ đó giúp chúng ta nhận ra những cái mới đang
và sẽ diễn ra theo cả hai chiều hớng tích cực và tiêu cực tác động đến công cuộc
đổi mới, đến tiến trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của nớc ta. Hơn thế
nữa, hiểu sâu, nắm vững các vấn đề toàn cầu của thời đại, dự báo chính xác về
những tác động của các vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI đối
với thế giới và đối với nớc ta trên cơ sở những phân tích và luận chứng khoa học
vững chắc về toàn cầu hoá, chúng ta sẽ đề ra đợc một chiến lợc khôn ngoan, có
hiệu quả để theo kịp nhịp độ phát triển của thế giới, mà trớc hết là tranh thủ các
cơ hội nhằm thu hẹp khoảng cách với các nớc phát triển, đồng thời giảm đến
mức tối thiểu những tác động tiêu cực của toàn cầu hoá và của các vấn đề toàn
1
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr.13.
2
cầu đối với nớc ta, góp phần cùng với cộng đồng thế giới giải quyết chúng một
cách có kết quả. Những điều vừa trình bày trên đây làm cho nhiệm vụ nghiên cứu
những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI trở nên rất cấp bách cả
về phơng diện lý luận lẫn về phơng diện thực tiễn.
Ngoài nớc:
Từ những năm 90 thế kỷ XX trở lại đây, ở tất cả các nớc lớn trên thế giới
nh Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc đều có nhiều công trình nghiên cứu
quan trọng về những vấn đề toàn cầu của thời đại, dự báo những vấn đề sẽ trở
thành những vấn đề chung của khu vực và thế giới trong thập niên cuối cùng của
thế kỷ XX, cũng nh những năm đầu của thế kỷ XXI. Trong số các công trình
đó, trớc hết phải kể đến những công trình của nhà tơng lai học ngời Mỹ Avin
Toffler nh: Thăng trầm quyền lực (Nxb Thông tin Lý luận, Thành phố Hồ Chí
Minh, 1991); Làn sóng thứ ba hay Đợt sóng thứ ba (Nxb Thông tin Lý luận, Hà
Nội, 1992; Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996); Cú sốc tơng lai (Nxb Thông
tin Lý luận, Hà Nội, 1992) và Chiến tranh chống chiến tranh, sự sống còn của
loài ngời ở buổi bình minh của thế kỷ XXI (Nxb Chính trị Quốc gia, Viện thông
tin Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995). Trong những công trình đó, Avin Toffler đã
dự báo sự xuất hiện và phát triển của kinh tế tri thức, những đặc điểm mới của
các cuộc chiến tranh; dự báo về các cuộc xung đột dân tộc, tộc ngời và tôn giáo.
Bên cạnh các công trình đó, nhiều công trình nổi tiếng khác nh: Chuẩn bị cho
thế kỷ XXI của Paul Kennedy (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995); Nhỏ là
đẹp của E.F. Schumacher (Nxb Khoa học Xã hội, Viện Thông tin Khoa học Xã
hội, Hà Nội, 1995); Bớc vào thế kỷ XXI. Hành động tự nguyện và chơng trình
nghị sự toàn cầu của David Korten (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996); Sự
đảo lộn của thế giới địa chính trị thế kỷ XXI của Marizon Tourraine (Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 1996); Khủng hoảng của chủ nghĩa t bản toàn cầu của
George Soros; Con đờng đi đến năm 2015. Hồ sơ của tơng lai của John
L.Petersen (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000); Toàn cầu hoá, tăng trởng
và nghèo đói (Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2002); Kiềm chế tham nhũng của
Rick Staphenhurst, Shar J.Kpundeh (Ngân hàng thế giới, Nxb Chính trị Quốc gia,
3
2002); Chiếc Lexus và cây Ôliu hay Toàn cầu hoá là gì? của Thomas
L.Friedman, xuất bản vào các năm 1999, 2000 và đợc dịch sang tiếng Việt
2005, Nxb. Khoa học Xã hội; v.v. đã phân tích những xu hớng lớn của thế giới
và khu vực trong thập niên cuối cùng của thế kỷ XX và dự báo những vấn đề sẽ
trở thành mối quan tâm chung của khu vực và thế giới trong những năm đầu của
thế kỷ XXI.
Tất cả các công trình đó và một số công trình khác đã đi sâu phân tích
từng vấn đề toàn cầu cụ thể nh vấn đề chiến tranh và hoà bình, vấn đề cạn kiệt
tài nguyên và ô nhiễm môi trờng, vấn đề bệnh tật, v.v. đã dự báo một số vấn đề
sẽ nảy sinh vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX và những năm đầu của thế
kỷ XXI. Mặc dù vậy, vẫn cần có thêm những công trình từ nhiều góc độ khác
nhau nghiên cứu về Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ
XXI.
Trong nớc:
Từ những năm 90 trở lại đây, ở Việt Nam đã có một số công trình
nghiên cứu về những vấn đề toàn cầu và sự tác động của nó đối với Việt
Nam trong thế kỷ XX. Những vấn đề nh: chiến tranh và hoà bình, dân số,
nghèo đói và bệnh tật, nạn cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trờng,
lơng thực và thực phẩm, tội phạm quốc tế, v.v. đã thu hút sự quan tâm và
chú ý của nhiều nhà khoa học, cũng nh của nhiều cơ quan chức năng. Một
số chuyên khảo và nhiều bài báo đã đợc công bố. Trong số đó, cần kể đến
các công trình của các tác giả nh: Đặng Ngọc Dinh. Công nghệ năm 2000
đa con ngời về đâu (Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1992); Đặng Mộng
Lân. Thế giới năm 2000 - những xu hớng kinh tế và công nghệ (Nxb Khoa
học Kỹ thuật, Hà Nội, 1992); Nguyễn Xuân Yêm. Tội phạm quốc tế những bàn tay bạch tuộc (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994); Bộ Khoa
học, Công nghệ và Môi trờng. Hiện trạng môi trờng Việt Nam năm 1996
(Hà Nội, 1996); Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trờng. Hiện trạng môi
trờng Việt Nam năm 1998 (Hà Nội, 1998); Nguyễn Trần Quế. Những vấn
4
đề toàn cầu ngày nay (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1999), Nguyễn Duy
Quý (chủ biên). Thế giới trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2002), Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến
(đồng chủ biên). Góp phần nhận thức thế giới đơng đại. Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2003, v.v.. Ngoài ra, còn có hàng loạt bài báo trên các
tạp chí chuyên ngành bàn về các khía cạnh cụ thể khác nhau của vấn đề
toàn cầu.
Tuy nhiên, hiện nay một số vấn đề toàn cầu mới đã nảy sinh, chẳng hạn,
vấn đề xung đột dân tộc, tộc ngời và tôn giáo, cần có sự nghiên cứu một cách
thấu đáo. Mặt khác, các công trình nghiên cứu về những vấn đề toàn cầu ở Việt
Nam mới chỉ dừng lại ở hiện trạng và những vấn đề đặt ra vào những năm cuối
của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI; cha có công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện và có hệ thống về những vấn đề toàn cầu trong hai thập
niên đầu của thế kỷ XXI, đặc biệt là sự tác động của chúng đến nớc ta trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
II. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
Phạm vi của các vấn đề toàn cầu là rất rộng, theo yêu cầu của chơng
trình, trên cơ sở làm rõ nội dung, thực chất của những vấn đề toàn cầu, tầm
quan trọng của việc giải quyết chúng đối với lợi ích các dân tộc và tơng lai
nhân loại đề tài tập trung làm rõ những nguyên nhân làm cho những vấn đề
toàn cầu trở nên bức xúc và phức tạp; làm rõ thời cơ và thách thức trong việc
giải quyết những vấn đề toàn cầu đối với toàn nhân loại những thập niên đầu
thế kỷ XXI; phơng thức cơ bản để giải quyết vấn đề toàn cầu, cũng nh ảnh
hởng của một số vấn đề toàn cầu bức bách nhất đối với Việt Nam và đối sách
của chúng ta.
Để thực hiện những mục đích trên đây, đề tài có nhiệm vụ:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm, lịch sử vấn đề toàn cầu và các cách phân
loại vấn đề toàn cầu.
Thứ hai, phân tích những nhân tố chủ yếu tác động đến chiều hớng
phát triển của các vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI.
5
Thứ ba, phân tích những vấn đề toàn cầu nổi lên trong hai thập niên đầu
của thế kỷ XXI (chủ yếu tập trung vào những vấn đề nh ô nhiễm môi trờng
và sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, vấn đề dân số và bệnh tật, vấn đề lơng
thực, thực phẩm và sự phân hoá giàu nghèo, v.v.).
Thứ t, trên cơ sở trình bày kinh nghiệm của một số nớc trong khu vực
và trên thế giới trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu, góp phần phân tích
các hình thức hợp tác và đấu tranh trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu.
Thứ năm, trên cơ sở phân tích tác động của những vấn đề toàn cầu đối với
sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc, làm rõ những cơ hội và
thách thức đối với Việt Nam.
Do yêu cầu của chơng trình, đề tài KX.08.05 chỉ tập trung phân tích sâu
một số vấn đề trong hệ các vấn đề toàn cầu đợc dự báo sẽ nổi lên trong hai thập
niên đầu thế kỷ XXI sẽ tác động mạnh đến nớc ta.
III. Cách tiếp cận và phơng pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng phơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
trong quá trình nghiên cứu. Cơ sở phơng pháp luận để thực hiện đề tài là quan
niệm mácxít về mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên và giữa con ngời với
con ngời trong quá trình phát triển xã hội.
Các phơng pháp sẽ sử dụng khi nghiên cứu là:
+ Phơng pháp kết hợp lôgíc với lịch sử.
+ Phơng pháp kết hợp phân tích với tổng hợp, khái quát hoá.
+ Phơng pháp dự báo khoa học.
+ Phơng pháp so sánh.
Các kỹ thuật sẽ sử dụng là:
+ Phân tích tài liệu trong và ngoài nớc hiện có có liên quan đến nội dung
của đề tài.
+ Xử lý các số liệu từ một số cuộc khảo sát đã đợc tiến hành.
6
Phần Nội dung
Chơng 1
Các vấn đề toàn cầu và những nhân tố tác động
đến chiều hớng phát triển của các vấn đề toàn cầu
trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI.
1.1. Các vấn đề toàn cầu: lịch sử, khái niệm, phân loại
Khái niệm những vấn đề toàn cầu xuất hiện phổ biến từ đầu những
năm 60 của thế kỷ XX. Cũng nh khái niệm toàn cầu hoá, khái niệm những
vấn đề toàn cầu đã đợc đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các
trờng phái khoa học, các trào lu t tởng, các bài diễn văn quan trọng của
một số nguyên thủ quốc gia, các báo cáo thờng niên của nhiều tổ chức quốc tế
khác nhau, v.v. trên khắp thế giới, kể cả những văn kiện chính thức của tổ chức
lớn nhất là Liên Hợp Quốc, suốt từ khi xuất hiện cho đến nay.
Không thể phủ nhận rằng, các công trình đó, trớc hết là các công trình
nghiên cứu, ở những mức độ khác nhau, đã có những đóng góp có giá trị nhất
định, trớc hết là giá trị cảnh báo, nhằm thức tỉnh lơng tâm con ngời về
tơng lai của nhân loại và về cách c xử đối với giới tự nhiên với t cách là cơ
sở tồn tại của chính mỗi cá nhân con ngời cũng nh của toàn thể nhân loại.
Tuy nhiên, không có một trào lu hay một trờng phái khoa học nào đã đa ra
đợc câu trả lời đầy đủ hay đề xuất các giải pháp thoả đáng cho những vấn đề
toàn cầu đợc mọi ngời chấp nhận.
Tại sao lại có tình trạng nh vậy?
Có lẽ một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng này là do sự
hạn chế của các cách tiếp cận đối với vấn đề này, mà một trong số cách tiếp cận
nh vậy chỉ xuất phát thuần túy từ góc độ kinh tế, góc độ kinh doanh, thơng mại
mà không chú ý đến góc độ quan hệ giữa các quốc gia, góc độ chính trị - xã hội.
7
Bên cạnh đó, một lý do nữa cũng hết sức quan trọng là sự khác nhau,
thậm chí đối lập nhau, về mặt lợi ích, kể cả lợi ích kinh tế lẫn lợi ích chính trị,
của các chủ thể, của các quốc gia khi phải đối mặt với những vấn đề toàn cầu
này và khi đề xuất các giải pháp, nhất là các khoản chi phí khổng lồ về mặt tài
chính, để giải quyết chúng.
Trong một bối cảnh phức tạp nh vậy thì việc xuất phát từ quan điểm
duy vật biện chứng để xem xét các vấn đề toàn cầu là hết sức cần thiết. Bởi vì,
chính quan điểm này sẽ cho phép chúng ta phân tích một cách khách quan,
toàn diện và đi sâu hơn vào thực chất của những vấn đề toàn cầu, từ đó có thể
gợi mở các phơng thức giải quyết chúng một cách có kết quả.
Chúng tôi cho rằng, để nhận thức các vấn đề toàn cầu một cách đúng
đắn, thì cần phải tiếp cận quá trình toàn cầu hoá cùng với các vấn đề toàn
cầu nh một hệ thống thống nhất, có lôgíc nội tại, bởi vì, những vấn đề toàn
cầu dù nhìn bề ngoài có nét riêng biệt về tính chất và mức độ gay gắt có thể
khác nhau, song giữa chúng lại có những điểm chung và có sự thống nhất
đáng kể. Đồng thời, khi tiếp cận các vấn đề toàn cầu và gợi mở phơng thức
giải quyết chúng thì nhất định phải vì mục tiêu phát triển bền vững của cả loài
ngời lẫn của giới tự nhiên với tính cách là cơ sở tự nhiên của tồn tại ngời.
Nhiều nhà nghiên cứu ở phơng Tây, khi viết về những vấn đề toàn cầu,
thờng gắn chúng với sự tăng trởng kinh tế và quan hệ giao lu kinh tế thuần
túy do những tiến bộ mạnh mẽ, những thành tựu to lớn của khoa học, kỹ thuật
và công nghệ hiện đại mang lại. Nói cách khác, những vấn đề toàn cầu nhiều
khi chỉ đợc ngời ta xem xét, phân tích, lý giải thuần túy từ góc độ kinh tế.
Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu khác, tuy rằng đứng trên lập
trờng mácxít, nhng lại quá nhấn mạnh và thờng xuyên chỉ gắn những vấn
đề toàn cầu với tiến trình hiện thực hoá các thành tựu của khoa học, kỹ thuật
và công nghệ trong điều kiện của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa.
Chắc chắn rằng, việc gắn những vấn đề toàn cầu của thời đại với kinh tế,
khoa học, kỹ thuật và công nghệ không những không có gì sai, mà thậm chí còn
là tất yếu. Song, theo chúng tôi, điều đó cha đủ. Bởi vì, ngoài khía cạnh liên
8
quan tới kinh tế, khoa học, kỹ thuật và công nghệ ra, những vấn đề toàn cầu
còn liên quan đến chính trị, đến rất nhiều yếu tố xã hội khác, hơn thế nữa,
chính chúng còn là các vấn đề chính trị - xã hội gay gắt, nh vấn đề chiến tranh
và hoà bình, vấn đề giảm bớt và từng bớc xoá bỏ sự bất công, sự phân cực giàu
nghèo giữa các quốc gia, vấn đề các điều kiện đảm bảo cuộc sống bình thờng
và tơng lai của cá nhân con ngời và của cả loài ngời, v.v..
Chẳng hạn, sự ra đời của hệ thống các nớc xã hội chủ nghĩa từ sau khi
chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, sự đối đầu gay gắt giữa hệ thống xã hội
chủ nghĩa và hệ thống t bản chủ nghĩa đã dẫn đến cuộc chiến tranh lạnh kéo
dài suốt trong nhiều năm của thế kỷ XX. Đồng thời, sự đe dọa của cuộc chiến
tranh nóng trong thời đại vũ khí hạt nhân, của vũ khí sinh học và hoá học đã
buộc các quốc gia, nhất là các siêu cờng, phải huy động đến mức tối đa có thể
huy động đợc những khả năng dự trữ và các nguồn tài nguyên của họ nhằm
tăng cờng cao nhất khả năng quốc phòng của họ đã thể hiện rõ Điều này.
Nói cách khác, những vấn đề toàn cầu hiện nay là sản phẩm của toàn
cầu hoá, phát sinh từ quá trình toàn cầu hoá, biểu hiện ra với tính cách là
một phức hợp của các vấn đề khoa học, kỹ thuật và các vấn đề chính trị - x
hội của thời đại chúng ta mà muốn giải quyết chúng thì cần có sự nỗ lực và
hợp tác của cộng đồng thế giới.
Trong số rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa học đứng trên quan
điểm mácxít đề cập đến những vấn đề toàn cầu cho đến nay, có thể nói, đáng
chú ý nhất là công trình của V.V.Dagơlađin và T.I.Phơrolốp có tựa đề là
"Những vấn đề toàn cầu thời hiện đại" (Mátxcơva, 1981). Theo quan điểm
của các tác giả này thì những vấn đề toàn cầu bao gồm:
"Thứ nhất, là những vấn đề thực sự đụng chạm đến lợi ích của toàn thể
loài ngời, đến tơng lai của loài ngời. Theo nghĩa đó thì có thể nói rằng,
những vấn đề toàn cầu mang tính chất nhân loại".
Thứ hai, "đó là những vấn đề bao quát chung và, trên thực tế, thực sự có
tính chất quốc tế, có nghĩa là đợc thể hiện nh một yếu tố khách quan trong
sự phát triển xã hội ở mọi khu vực chủ yếu trên trái đất".
Thứ ba, đó là "những vấn đề mà nếu không giải quyết thì sẽ có nguy cơ
đe dọa tơng lai của loài ngời, hoặc là những vấn đề phải giải quyết để đảm
bảo cho sự phát triển tiếp tục của xã hội".
9
Thứ t, đó là "những vấn đề của khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật,
những vấn đề có tính chất xã hội - chính trị mà để giải quyết chúng thì phải
hợp nhất sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại, tức là những vấn đề không
thể giải quyết ở quy mô địa phơng hay khu vực"2.
Nh vậy, có thể nói rằng, những vấn đề toàn cầu, thứ nhất, là những vấn
đề có quan hệ trực tiếp đến hoạt động sống của mọi ngời trên trái đất, không
phân biệt địa vị giai cấp, chính trị - xã hội; đến sự phát triển của toàn thể nhân
loại, đến vận mệnh của các quốc gia dân tộc. Thứ hai, những vấn đề toàn cầu
đều thể hiện là nhân tố khách quan của sự phát triển xã hội và thể hiện ở mọi
nơi trên trái đất. Thứ ba, tất cả những vấn đề toàn cầu đều đòi hỏi phải đợc
giải quyết vì nếu không đợc giải quyết thì chúng sẽ đe dọa phá hủy cơ sở tồn
tại của chính con ngời. Thứ t, việc giải quyết các vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải
có sự đầu t về phơng tiện vật chất, sự hợp tác quốc tế về mọi mặt không phân
biệt chế độ xã hội, tôn giáo, chính kiến, hệ t tởng; đòi hỏi sự nỗ lực tối đa của
cả nhân loại cả về mặt nhận thức lẫn về những hành động thực tế.
Nếu xuất phát từ các tiêu chuẩn trên, có thể nói rằng, những vấn đề toàn
cầu chủ yếu bao gồm: vấn đề chiến tranh hạt nhân, chiến tranh huỷ diệt và bảo
vệ hoà bình; vấn đề khắc phục tình trạng đói nghèo, lạc hậu và kém phát triển
của các nớc thuộc địa trớc đây; vấn đề việc làm cho mọi ngời; vấn đề bất
công trong xã hội và phân hoá giàu nghèo giữa các quốc gia; vấn đề xung đột
tộc ngời, dân tộc và tôn giáo; vấn đề khan hiếm năng lợng và bảo đảm
nguồn năng lợng; vấn đề cung cấp nguồn nớc sạch cho sản xuất và tiêu
dùng; vấn đề cung cấp lơng thực và thực phẩm cho con ngời; vấn đề sinh
thái và bảo vệ môi trờng sống; vấn đề sử dụng phức hợp và hợp lý các đại
dơng và không gian vũ trụ; các vấn đề có liên quan đến sự bùng nổ dân số
của thế giới, nhất là ở các nớc kém phát triển, và việc duy trì sự phát triển
bền vững khi khai thác các nguồn tài nguyên đáp ứng cho nhu cầu của sự
bùng nổ dân số đó; vấn đề thực phẩm biến đổi gien và an toàn thực phẩm; vấn
2
V.V.Dagơlađin, T.I.Phơrolốp. Những vấn đề toàn cầu thời hiện đại. Mátxcơva, 1981, tr. 8, 9,10 (tiếng Nga).
10
đề sức khoẻ con ngời và bệnh tật mang tính thời đại của nhân loại; vấn đề
chống các loại tội phạm quốc tế nh nạn khủng bố, sản xuất, mua bán, tiêu
thụ hảng giả và tiền giả mang tính quốc tế; nạn đầu cơ tiền tệ gây khủng
hoảng kinh tế để thu lợi; tội phạm máy tính và thông tin; nạn sản xuất và buôn
bán ma túy, tham nhũng và rửa tiền, buôn bán phụ nữ và trẻ em; nạn cớp biển
có tổ chức; v.v..
Một số tác giả khác cho rằng, hiện nay có khoảng 30 vấn đề toàn cầu nh vậy3,
hoặc Liên Hợp quốc nêu ra tổng cộng 51 nhiệm vụ (issues) đang đợc và cần giải
quyết, trong đó, ngoài những vấn đề trên còn có những vấn đề và nhiệm vụ quan
trọng nh văn hoá, giáo dục, gia đình, ngời tàn tật, quản trị, quyền con ngời, tăng
trởng bền vững, vấn đề khí hậu toàn cầu nóng lên, nạn băng tan, nạn phá rừng và
buôn bán trái phép động vật quý hiếm, v.v..4
Sở dĩ số lợng các vấn đề toàn cầu đợc nêu ra khác nhau nh vậy là do
ngời ta phân chia nhỏ chúng ra. Song, theo chúng tôi, cần phải khẳng định
rằng, dù có kể ra bao nhiêu vấn đề chăng nữa, khi đã xuất hiện rồi thì chúng
cũng không nằm tách biệt hoàn toàn với các vấn đề khác.
Chẳng hạn, khi dân số tăng nhanh thì các nớc sẽ phải khai thác đất đai
và tất cả các nguồn tài nguyên khác mạnh mẽ hơn, do vậy, tài nguyên và môi
trờng sẽ có nguy cơ bị cạn kiệt nhanh hơn, bị huỷ hoại nhiều hơn, nạn lụt lội,
nạn hạn hán, nạn hoang mạc hoá, v.v. sẽ tăng lên. Khi các nguồn tài nguyên bị
kiệt quệ, môi trờng tự nhiên bị thoái hoá hoặc nhất là bị tàn phá thì tốc độ
phát triển kinh tế sớm hay muộn cũng sẽ chậm lại, do vậy, tất yếu sẽ kéo theo
sự gia tăng nghèo đói. Nếu tình trạng nghèo đói diễn ra tràn lan và kéo dài thì
không tránh khỏi dẫn đến sự mất ổn định xã hội, đến xung đột, đến nội chiến.
Các cuộc xung đột vũ trang đẫm máu và nội chiến triền miên ở một loạt nớc
châu Phi suốt nhiều năm qua và cả hiện nay là bằng chứng dễ thấy nhất về
điều này. Đó là cha nói đến những cuộc chiến tranh do một số nớc lớn tiến
3
Xem: L.N.Samôilốp. Những vấn đề toàn cầu của tiến bộ xã hội. Mátxcơva, 1995 (tiếng Nga).
Xem: Christopher Spencer. Global Issues of the twenty-first century and Unated Nations challenges.
Google. Http://www.global-challenges.org/Jan 12 , 2006.
4
11
hành chống lại các nớc khác nhỏ hơn đợc che đậy dới nhiều chiêu bài khác
nhau nhng về thực chất cũng chỉ là do tranh giành địa vị thống trị, tranh
giành quyền lợi cùng các nguồn tài nguyên nhng lại kéo theo sự chết chóc
của những con ngời vô tội và huỷ hoại môi trờng thiên nhiên một cách
khủng khiếp không thể chấp nhận đợc.
Rõ ràng là các vấn đề sinh thái, ô nhiễm môi trờng sống, tình trạng
thiếu năng lợng, nguyên liệu cùng các nguồn nớc sạch cho sản xuất và đời
sống; sự gia tăng dân số, đói nghèo, bệnh tật và tội phạm quốc tế, v.v. mà loài
ngời hàng ngày phải đối mặt đang làm cho bối cảnh chính trị - xã hội quốc tế
trở nên gay gắt hơn và ngày càng diễn biến theo chiều hớng xấu hơn, đang
làm cho việc giải quyết những vấn đề chính trị - xã hội toàn cầu trở thành một
nhiệm vụ cấp bách hơn bao giờ hết.
Tơng tự nh vậy, sự tồn tại và sự căng thẳng của những vấn đề chính
trị - xã hội toàn cầu (chẳng hạn, các cuộc chiến tranh ở thập niên cuối thế kỷ
XX và đầu thế kỷ XXI nh cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành nhân danh Liên
Hợp Quốc ở vùng Vịnh chống Irắc (1991), cuộc chiến tranh do Mỹ đứng đầu
chống Taliban ở Apganixtan (2001) và cuộc chiến tranh của Mỹ - Anh chống
Irắc lần thứ hai lật đổ X.Hutxen (2003), v.v. làm gay gắt thêm các vấn đề sinh
thái, môi trờng, nguyên liệu, năng lợng, lơng thực, dân số, bệnh tật, an
ninh không chỉ ở các khu vực xảy ra chiến sự đó mà còn lan rộng đến cả các
khu vực khác trên thế giới; có ảnh hởng tiêu cực đến tất cả những vấn đề toàn
cầu khác mà trực tiếp và trớc hết là đến sức khoẻ và đến sự tồn tại của con
ngời, kể cả những ngời trực tiếp tham gia các cuộc chiến tranh đó.
Nh vậy, từ góc độ triết học có thể nói rằng, những vấn đề toàn cầu của
thời đại là tổ hợp các mâu thuẫn gay gắt nhất giữa giới tự nhiên với xã hội và
con ngời, giữa xã hội với con ngời và giữa các xã hội (các quốc gia) với
nhau, đụng chạm đến toàn thể thế giới và cùng với nó là các khu vực, các
quốc gia riêng biệt.
Nh trên đã nói, số lợng các vấn đề toàn cầu mà nhân loại đang phải
đối mặt và tìm cho đợc cách để giải quyết chúng là rất lớn, do vậy, cho đến
nay có nhiều cách sắp xếp và phân loại chúng. Chẳng hạn, sắp xếp theo cách
12
liệt kê các vấn đề toàn cầu mà nhân loại đang phải đối mặt nh vừa liệt kê ở
trên; cách sắp xếp theo thứ tự tầm quan trọng của chúng mà nhân loại đang
phải đối mặt, v.v.. Tiếp thu những điểm hợp lý trong quan điểm của các tác
giả đi trớc, chúng tôi phân chia những vấn đề toàn cầu mà nhân loại đã phải
đối mặt ở cuối thế kỷ XX và trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI thành những
nhóm lớn nh sau:
1. Nhóm thứ nhất bao gồm những vấn đề gắn liền với mối quan hệ giữa
các cộng đồng xã hội cơ bản của nhân loại.
Đó là mối quan hệ giữa các nhóm quốc gia có lợi ích chính trị, lợi ích
kinh tế, v.v. giống nhau hoặc tơng đối giống nhau. Đó còn là vấn đề mối
quan hệ giữa các nền văn minh khu vực, văn minh phơng Đông và văn minh
phơng Tây; vấn đề quan hệ giữa các tộc ngời, các dân tộc và các tôn giáo
trong nội bộ từng quốc gia, trong khu vực và trên toàn thế giới; vấn đề quan hệ
giữa các nớc giàu và các nớc nghèo, v.v.. Đặc biệt, thuộc vào nhóm này có
những vấn đề liên quan đến việc ngăn chặn chiến tranh, trớc hết là chiến
tranh hạt nhân, chiến tranh huỷ diệt và bảo vệ hoà bình; vấn đề thiết lập một
trật tự kinh tế thế giới mới công bằng và bình đẳng.
2. Nhóm thứ hai hợp nhất những vấn đề nảy sinh từ sự tác động qua lại
giữa xã hội loài ngời và giới tự nhiên.
Những vấn đề thuộc nhóm thứ hai này gắn liền với khả năng có hạn của
môi trờng tự nhiên khi nó phải chịu đựng sự tác động quá mạnh và thờng
xuyên do hoạt động đa dạng, nhất là hoạt động kinh tế, của con ngời gây ra.
Đó cũng chính là những vấn đề liên quan đến khả năng cung cấp năng lợng,
nhiên liệu, các nguồn dự trữ nguyên liệu, nớc sạch, v.v. đáp ứng các nhu cầu
sinh hoạt của con ngời và phục vụ cho sản xuất của xã hội. Nhóm này cũng
bao gồm các vấn đề bảo vệ thiên nhiên nói chung, bảo đảm an toàn cho trái
đất và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên nói riêng; giữ gìn môi trờng
sống của con ngời; vấn đề khai thác hợp lý và tiết kiệm các nguồn nớc ngọt,
các biển, các đại dơng; vấn đề hợp tác quốc tế để khai thác không gian vũ trụ
phục vụ cho mục đích hoà bình, v.v..
13
3. Nhóm thứ ba bao gồm những vấn đề gắn với hệ thống cá nhân con
ngời và xã hội.
Những vấn đề thuộc nhóm này liên quan trực tiếp đến từng con ngời
cụ thể, phụ thuộc vào các chính sách và khả năng thực tế của xã hội, của các
chính phủ trong việc tạo điều kiện cho sự phát triển của từng cá nhân. Chúng
bao gồm các vấn đề liên quan đến việc bảo vệ sức khỏe, chống lại bệnh tật,
nhất là những bệnh tật nảy sinh cùng với nền văn minh hiện nay của con
ngời; vấn đề giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ; vấn đề kiểm soát và giám sát số
lợng cũng nh chất lợng dân c; vấn đề bảo đảm an ninh cho con ngời;
v.v.. Tuy nhiên, các vấn đề của nhóm này có quan rất hệ mật thiết với hai
nhóm vấn đề trên.
Chúng ta xem xét cụ thể hơn một vài vấn đề quan trọng nhất trong số 3
nhóm vấn đề toàn cầu của hai thập niên đầu thế kỷ XXI.
Về nhóm vấn đề toàn cầu thứ nhất.
Nếu xét trong thế kỷ XX thì suốt một thời gian dài, trung tâm của những
vấn đề thuộc nhóm thứ nhất là sự đối đầu gay gắt giữa các cờng quốc t bản
lớn. Đỉnh cao của mâu thuẫn giữa các cờng quốc đó là cuộc chiến tranh thế giới
thứ nhất (1914 - 1918). Cuộc chiến tranh này đã lôi cuốn 65 triệu ngời tham gia
chiến đấu và cớp đi sinh mạng của gần 14 triệu ngời (có tài liệu nói 9 triệu
ngời)5. Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai còn khủng khiếp hơn khi nó lôi kéo
tới 40 nớc tham gia, huy động vào quân đội tới 110 triệu ngời và cớp đi sinh
mạng của hơn 60 triệu ngời (có tài liệu nói hơn 50 triệu)6.
Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, cục diện thế giới có những
sự thay đổi lớn, thế giới bị phân chia ra thành hai phe đối địch nhau kịch liệt,
hình thành hai hệ thống xã hội là hệ thống xã hội chủ nghĩa và hệ thống t bản
chủ nghĩa. Cuộc đối đầu giữa hai hệ thống kinh tế - xã hội và giữa hai hệ t
tởng kéo dài hơn nửa thế kỷ trong cuộc chiến tranh lạnh vô cùng căng thẳng.
5
6
Xem: Những vấn đề toàn cầu của thời hiện đại. Nxb Mtxlơ, Mátxcơva, 1981, tr. 21 (tiếng Nga).
Xem: Sđd.
14
Đây là giai đoạn mà loài ngời đã có mấy lần đứng bên miệng hố của chiến
tranh hạt nhân. Lần thứ nhất là trong cuộc khủng hoảng tên lửa mang đầu đạn
hạt nhân trên vùng biển Cuba năm 1962. Lần thứ hai vào năm 1973, trong giai
đoạn đầu của cuộc chiến tranh giữa một số nớc arập và Ixraen. Trong suốt
một thời gian dài toàn thế giới đã phải sống trong lo âu trớc sự đe dọa của
chiến tranh nguyên tử, chiến tranh hạt nhân và tên lửa đạn đạo mang vũ khí hạt
nhân. Thực tế là nền hoà bình thế giới có lúc bị nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe
dọa hết sức nghiêm trọng.
Ngời ta tính rằng, vào những năm 60 thế kỷ XX, lợng vũ khí hạt nhân
của Liên Xô và của Mỹ có thể tiêu diệt toàn thể nhân loại nhiều chục lần, còn
nếu tính bình quân chất nổ trên đầu ngời thì đã lên đến 15 tấn/ ngời. Đặc
biệt, từ những năm 80 thế kỷ XX, cuộc chạy đua vũ trang giữa hai đại cờng
quốc là Liên Xô và Mỹ trên cơ sở học thuyết quân sự tăng cờng khả năng
phòng thủ và tiêu diệt đối phơng để tồn tại với sự tổn thất ít nhất, đã đa
nớc Mỹ vào chơng trình vô cùng tốn kém và cực kỳ nguy hiểm là Cuộc
chiến tranh giữa các vì sao thời tổng thống Reagan (1983).
Tình hình hiện nay và trong hai thập niên tới đây chắc là có khác hơn,
song tính chất gay gắt của vấn đề chiến tranh công nghệ cao không hề suy
giảm. Thay thế cho thế giới hai cực đã tồn tại suốt một thời gian dài trong
tơng lai sẽ là thế giới đa cực. Nhng thật là nguy hiểm vì hiện giờ trong cái
tởng chừng nh đa cực đó đang tồn tại thế giới một cực do một siêu cờng
chi phối về mọi mặt. Siêu cờng duy nhất hiện nay là Mỹ đang nổi lên và
không một quốc gia nào, kể cả nhóm các nớc lớn, giàu có nh Liên minh
châu Âu chẳng hạn, có thể so sánh về mặt tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân
sự với nớc Mỹ.
Lúc này đây, thực tế là trên các diễn đàn quốc tế, kể cả diễn đàn lớn nhất
là Liên Hợp Quốc, nhiều thứ đang phụ thuộc vào chiến lợc quân sự mới và các
chính sách của Mỹ, vào sự định hớng của chiến lợc và các chính sách này, vào
sự chi phối của Mỹ, thậm chí Mỹ đã bất chấp cả Liên Hợp Quốc. Bên cạnh đó,
15
nhiều thứ cũng phụ thuộc vào các nớc lớn khác, vào liên minh các quốc gia khu
vực, vào việc các quốc gia khác có chịu chấp nhận sự áp đặt, cỡng ép, chỉ huy
của Mỹ không hay là tự tìm lấy sức mạnh để bảo vệ nền độc lập của mình mà
không làm cho tình hình quốc tế trở nên căng thẳng. Những diễn biến vô cùng
phức tạp, nhanh chóng và khó lờng của tình hình quốc tế hiện nay đang tác
động mạnh mẽ đến tính chất của các vấn đề toàn cầu của thời đại chúng ta.
Trớc hết, vô số những cuộc xung đột vũ trang đẫm máu kéo dài ở
nhiều nớc tại các khu vực khác nhau trên thế giới, hoặc những cuộc chiến
tranh do một số nớc lớn tiến hành chống lại các nớc có chế độ chính trị
không đợc các nớc này a chuộng, chẳng hạn, các cuộc chiến tranh chống
ápganitxtan, chống Irắc do Mỹ - Anh phát động vừa qua, đã thay thế cho nguy
cơ chiến tranh thế giới nh là hệ quả của sự đối đầu giữa hai hệ thống chính trị xã hội đối lập trớc đây. Tuy nhiên, bất chấp tính chất khu vực của chúng, các
cuộc xung đột này đều có mức độ của tính toàn cầu nhất định nào đó vì chúng
lôi kéo nhiều bên vào quỹ đạo xung đột, kể cả những bên không có quan hệ với
sự xuất hiện của chúng.
Mặc dù khả năng xảy ra các cuộc chiến tranh lớn, chiến tranh thế giới,
là rất thấp, song không nên cho rằng, nguy cơ và thảm họa của các cuộc
chiến tranh đó đã hoàn toàn bị loại trừ trong điều kiện thế giới hiện nay. Thực
tế là nhân loại đang phải đối mặt với các loại vũ khí đã đợc cải tiến đến mức
rất hoàn hảo hoặc các loại vũ khí hoàn toàn mới.
Bên cạnh các loại vũ khí thông thờng nhng có sức công phá lớn hơn
nhiều lần sức công phá của những vũ khí cùng loại trớc đây, nhiều loại vũ khí
phi truyền thống đã ra đời nhờ khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại và
chúng đã bắt đầu đợc sử dụng. Trớc hết, đó là vũ khí sinh thái. Chẳng hạn,
ngời Mỹ ngay từ năm 1961 đã sử dụng các chất diệt cỏ để phá huỷ các cánh
rừng nhiệt đới ở Đông Dơng, nhất là ở Việt Nam. Ngời ta cũng đã tạo ra động
đất, sóng thần, làm ra các trận ma khủng khiếp gây nên lụt lội, làm thay đổi khí
hậu cục bộ bằng kính hội tụ, tạo ra những lỗ thủng tầng ô dôn bằng tia lade, v.v..
16
Đó là vũ khí sinh học bằng cách tạo ra các loại bệnh gây nên bởi virus nh bệnh
đậu mùa, bệnh than. Lầu Năm Góc hiện đang có chơng trình nghiên cứu đầy
tham vọng và quái đản nhằm thay đổi vĩnh viễn đời sống chính trị thế giới7
bằng cách chế tạo vũ khí di truyền học để tạo ra loại bom mà sau khi nổ chỉ tìm
tiêu diệt những tộc ngời thuộc một nhóm gien nhất định nào đó và không có hại
đối với các loại gien đợc lựa chọn phải bảo vệ; v.v..
Các loại vũ khí khác cực kỳ nguy hiểm đối với tính mạng con ngời và
đối với cả thiên nhiên là vũ khí hoá học có khả năng không chỉ làm rối loạn hệ
thần kinh mà còn làm rối loạn cả các quá trình hoá học trong cơ thể con
ngời. Đặc biệt, vũ khí hạt nhân không những có sức huỷ diệt vô cùng lớn mà
còn gây hậu quả có tác dụng lâu dài cả đối với vốn di truyền của con ngời lẫn
đối với thiên nhiên nói chung.
Trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, chiến tranh thế giới thứ ba, theo
nhiều dự báo, khó xảy ra. Đây cũng là dự báo mà Đại hội lần thứ IX của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã đa ra: Trong một vài thập kỷ tới, ít có khả năng xảy
ra chiến tranh thế giới. Nhng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột
dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố còn
xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng8. Có mấy lý do để
dự báo rằng chiến tranh thế giới ít có khả năng xảy ra.
Trớc hết, là do từ những năm 50 thế kỷ XX đã hình thành những
phong trào, những cơ sở, những nhân tố ngăn ngừa chiến tranh và ngày nay
đang đợc củng cố vững chắc hơn. Thứ hai, ngày nay đã có thêm các chế tài,
các thể chế quốc tế ngăn chặn nguy cơ chiến tranh huỷ diệt. Thứ ba, sự tuỳ
thuộc lẫn nhau giữa các nớc, kể cả sự phụ thuộc của nớc giàu có và mạnh
nhất là Mỹ vào các nớc khác, đang tăng lên mạnh mẽ. Thứ t, đặc biệt là nếu
chiến tranh thế giới thứ ba nổ ra, với các phơng tiện chiến tranh hiện đại thì
không một nớc nào dám nói rằng mình sẽ không chịu sự tác động hoặc chịu
7
Xem: An ninh thế giới, số 356, ngày 13-11-2003, tr. 25.
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr. 65-66.
8
17
tổn thất do chiến tranh gây ra. Do vậy, các nớc cần phải tính toán thận trọng
hơn nếu không sẽ đẩy đất nớc mình cùng toàn bộ nền kinh tế thế giới đến
chỗ suy sụp rất khó cứu vãn.
Mặc dù vậy, chúng ta vẫn cần ý thức rõ rằng, những xung đột mang
tầm cỡ thế giới có thể phát sinh một cách không có chủ ý vì nhiều lý do, thậm
chí là vô cớ hoặc rất ngẫu nhiên. Chẳng hạn, do có sự bùng nổ của các mâu
thuẫn mang tính chất khu vực vì sự tranh chấp biên giới trên đất liền, lãnh hải
hoặc các đảo; vì sự tranh chấp các nguồn nớc; do mất khả năng kiểm soát đối
với kho vũ khí hạt nhân, hoặc do các tổ chức tội phạm và khủng bố quốc tế
chiếm đợc các kho vũ khí hạt nhân, các chất phóng xạ sản xuất bom bẩn, vũ
khí hoá học hoặc vũ khí sinh học, v.v..
Có thể dự báo rằng, trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, dù chiến tranh
thế giới ít có khả năng xảy ra, song nhân loại vẫn cha thật sự có nền hoà
bình bền vững. Toàn nhân loại có một nhiệm vụ vào loại trọng đại nhất trong
hai thập niên đó là ngăn chặn chiến tranh thế giới, bảo vệ hoà bình, bởi vì, hoà
bình là điều kiện tối cần thiết cho các nớc đang trong giai đoạn tiền công
nghiệp có cơ hội chuyển sang văn minh công nghiệp và từ đó từng bớc cùng
với các nớc phát triển chuyển dần sang kinh tế tri thức.
Cùng với vấn đề chiến tranh và hoà bình, vấn đề thiết lập một trật tự
kinh tế thế giới công bằng hơn ngày càng trở thành đòi hỏi bức bách, hiển
nhiên khi sự đối đầu gay gắt giữa các hệ thống kinh tế - xã hội đối lập đã giảm
đi. Điều này liên quan đến sự phát triển rất không đồng đều giữa các nớc trên
thế giới, đến sự phân cực giàu nghèo giữa các quốc gia, đến cuộc đấu tranh
chống lại tình trạng nghèo khổ không chỉ của các nớc nghèo, mà cả của một
bộ phận không nhỏ dân chúng ở các nớc đợc gọi là giàu có.
Thế giới đợc chứng kiến tình trạng thiếu việc làm trầm trọng và phổ
biến; sự bất bình đẳng trong thơng mại và kinh tế quốc tế đang đè nặng lên
những nớc kém phát triển nào lấy việc xuất khẩu nguyên liệu và sản phẩm
nông nghiệp là chính. Trớ trêu thay, chính những nớc kém phát triển này lại
18
là khu vực chủ yếu đang cung cấp nguyên liệu với giá quá rẻ mạt cho các
nớc phát triển giàu có, do vậy, tại đó các vấn đề sinh thái và môi trờng sống
cùng nhiều vấn đề khác nh đói nghèo, bệnh tật, v.v. trở nên đặc biệt nghiêm
trọng. Nếu nh hiện nay hàng năm toàn thế giới mất đi 11 triệu ha rừng do
chặt phá để lấy gỗ, lấy nguyên liệu, lấy đất canh tác, do cháy rừng hoặc do các
nguyên nhân khác; 6 triệu ha đất biến thành hoang mạc; hàng vạn loài thực
vật và động vật đã bị tiêu diệt, hàng trăm loài động vật và thực vật quý hiếm
đang có nguy cơ bị tiêu diệt, v.v. thì phần lớn trong số đó đã và đang xảy ra ở
các nớc nông nghiệp, các nớc kém phát triển. Thêm vào đó, tại nhiều nớc
đang trong quá trình công nghiệp hoá vì mục đích phát triển công nghiệp mà
một số không nhỏ diện tích đất đai mầu mỡ nhất và thuận tiện nhất cho canh
tác nông nghiệp cũng đang mất đi nhanh chóng và không thể bù đắp đợc.
Hiện nay, khoảng cách giữa các nớc phát triển và bộ phận còn lại của
thế giới, giữa ngời giàu và ngời nghèo không những không giảm đi, mà trái
lại, còn doãng ra nhiều hơn và với tốc độ nhanh hơn. Con số hơn 1 tỉ ngời tại
các nớc đang phát triển trên khắp thế giới sống dới mức nghèo khổ, trong
đó có 800 triệu ngời đói ăn thờng xuyên, hơn 200 triệu trẻ em dới 5 tuổi bị
suy dinh dỡng nên không đủ trọng lợng theo quan điểm y học đã đủ nói lên
điều đó. Đáng nói hơn nữa là, nạn đói cũng đang hiện hữu tại nớc giàu có
nhất thế giới là nớc Mỹ. Theo một công trình nghiên cứu thì hiện nay ở Mỹ
có 33 triệu ngời, trong đó có 13 triệu trẻ em, đang bị đói hoặc cận kề cái đói,
7,3% số gia đình Mỹ phải dùng lơng thực kém chất lợng hoặc phải nhờ vào
hệ thống nuôi dỡng không mất tiền của Nhà nớc9. Trong khi đó số ngời
thừa cân trên toàn thế giới tăng lên đến 1,1 tỉ ngời tính từ năm 1980 đến cuối
thế kỷ XX và riêng ở nớc Mỹ có tới 2/3 số ngời lớn bị béo phì do ăn quá
nhiều đang phải chống chọi với bệnh tim mạch và các căn bệnh khác10.
Đáng chú ý là trong hai thập niên tới, theo dự đoán của FAO, do tốc độ
sản xuất lơng thực tăng chậm mà nhiều nớc hiện thời đang tự túc đợc
lơng thực thì sẽ có tới gần 90 nớc phải đối phó với việc thiếu lơng thực,
9
Hunger and Poverty Fact..P.1. ( />Food giant puts health initiative on the table. David Barboza. The New York Times. July 2.2003,
( />
10