Tải bản đầy đủ (.pdf) (25 trang)

Phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (333.57 KB, 25 trang )

Phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong điều kiện
hội nhập quốc tế : Luận văn ThS. Kinh tế: 60.31.01 / Trần
Quang Phú ; Nghd. : TS. Đào Lê Minh
1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài:
Hai mươi năm chuyển từ kinh tế tập trung bao cấp sang nền KTTT xã hội
chủ nghĩa, thị trường hàng hóa , dịch vụ ở nước ta về cơ bản đã được hình thành
và bước đầu phát triển. Song riêng đối với thị trường tài chính, đặc biệt là thị
trường chứng khoán (TTCK) vẫn còn ở trạng thái sơ khai. Từ khi hình thành
vào năm 2000, bên cạnh những sự thành công, TTCK vẫn còn những mặt hạn
chế cần khắc phục, đặc biệt trong việc xây dựng một lộ trình để hội nhập với thị
trường khu vực và thế giới. Một lộ trình hội nhập hợp lý sẽ là đòn bNy hữu hiệu
để phát triển thị trường vốn nói chung và TTCK nói riêng. Việc trở thành thành
viên chính thức của WTO vào ngày 7 tháng 11 năm 2006 giúp chúng ta tranh
thủ nguồn vốn, kỹ thuật , công nghệ của các quốc gia tiên tiến để phát triển kinh
tế, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CN H, HĐH)
gắn liền với phát triển kinh tế tri thức. N hưng quá trình hội nhập này cũng đặt
ra nhiều thách thức đối với nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng, cần phải
được phân tích và nghiên cứu thấu đáo trong điều kiện TTCK Việt N am còn
non trẻ so với thị trường của các nước khác. Với ý nghĩa đó tác giả chọn " Phát
triển thị trường chứng khoán Việt am trong điều kiện hội nhập quốc tế”
làm đề tài luận án thạc sĩ chuyên ngành KTCT.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Đã có nhiều đề tài và công trình nghiên cứu về TTCK và hội nhập của
TTCK Việt N am vào nền kinh tế khu vực và thế giới như:
Thủ tướng Chính phủ N guyễn Tấn Dũng (2006), Gia nhập WTO, cơ hội thách thức và hành động của chúng ta, Báo N hân Dân.
Bộ Tài chính, UBCKN N (2005), Chương trình hành động của Uỷ ban
Chứng khoán hà nước để phát triển thị trường chứng khoán, năm 2005.
- Bộ Tài chính, UBCKN N (1999), Đề tài cấp bộ , hững vấn đề cơ bản
trong việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt am.
- Bộ Tài chính, UBCKN N (2005), Hội nghị tổng kết công tác năm 2005,
phương hướng năm 2006 và hội nghị công chức, viên chức UBCK


,
- Bộ Tài chính, UBCKN N (1997), Một số vấn đề về phát triển cơ sở hạ
1


tầng và quản lý TTCK.
- Bộ Tài chính, UBCKN N (1999), Sở giao dịch chứng khoán Việt am Mô hình tổ chức , quản lý và giám sát.
- Bob Waner, Sự hội nhập về kinh tế và chiến lược phát triển của Việt
am. Viện chiến lược phát triển và UN DP.
- N guyễn Sơn (1998) , Lựa chọn mô hình và các bước đi thích hợp để
thành lập TTCK ở Việt am, Luận án tiến sỹ kinh tế.
- Trần Đắc Sinh (1999), Các giải pháp xây dựng và phát triển TTCK ở
Việt am, Luận án tiến sỹ kinh tế..
Tuy nhiên các công trình và đề tài trên chỉ nghiên cứu sự ra đời, điều kiện
phát triển hoặc các mặt riêng rẽ trong quá trình hội nhập của TTCK Việt N am.
Chưa có đề tài nào nghiên cứu tương đối toàn diện về xu thế phát triển của
TTCK trong điều kiện hội nhập nước ta, đặc biệt tiếp cận dưới giác độ Kinh tế
chính trị. Do đó đề tài này không trùng lặp hoàn toàn với các đề tài trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích:
Luận án làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về TTCK trong điều kiện hội nhập
của nền KTTT nước ta vào nền kinh tế khu vực và thế giới, cũng như chỉ rõ tính đặc
thù trong phát triển TTCK trong điều kiện hội nhập nền kinh tế Việt N am.
- hiệm vụ:
+ Khái quát những nét cơ bản về TTCK và đặc thù phát triển của nó trong
điều kiện hội nhập quốc tế ở Việt N am.
+ Đánh giá thực trạng hoạt động của TTCK Việt N am trong điều kiện hội
nhập quốc tế.
+ Đề xuất một số phương hướng và giải pháp đảm bảo sự phát triển bền
vững của TTCK Việt N am.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
-Đối tượng:
Luận án chỉ đi vào nghiên cứu khái quát về lý luận và thực tiễn về đặc thù
phát triển TTCK Việt N am trong điều kiện hội nhập quốc tế, không đi sâu vào
các vấn đề kỹ thuật và nghiệp vụ cụ thể của TTCK. Tuy nhiên do TTCK là một
hệ thống gắn bó với quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp, nên luận án có khảo
sát mối quan hệ này.
- Phạm vi:
+Luận án nghiên cứu quá trình phát triển của TTCK Việt N am từ giai đoạn
hình thành vào năm 2000 trở lại đây.
2


+ Luận án nghiên cứu sự hội nhập tất yếu của TTCK Việt N am dựa dựa
trên những mô hình : của các quốc gia đang phát triển trong điều kiện chuyển
đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường trong điều kiện hội nhập
quốc tế.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu của luận án chủ yếu là các phương pháp của kinh
tế chính trị của chủ nghĩa Mác- Lênin. Trong đó chú trong phương pháp vận
dụng của Đảng cộng sản Việt N am, chính sách của nhà nước Việt N am trong
phát triển TTCK. N goài phương pháp trừu tượng hóa khoa học, kết hợp với lịch
sử và logíc… luận án có sử dụng một số công cụ như bảng biểu, sơ đồ thu thập
dựa trên việc sử dụng kết quả của các công trình nghiên cứu thực nghiệm thông
qua việc khảo sát thực tế tại một số sàn giao dịch chứng khoán tại Hà nội và
Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Đóng góp mới của luận án:
Thông qua quá trình nghiên cứu kết hợp cả lý luận và thực tiễn, những
đóng góp mới của luận án thể hiện ở một số điểm cơ bản sau:
- N ghiên cứu khái quát, song có hệ thống về bản chất xu thế phát triển và

hội nhập của TTCK – một bộ phận của thị trường tài chính quốc tế.
- Luận án nghiên cứu thực trạng phát triển của TTCK của Việt N am trong
điều kiện hội nhập quốc tế, từ đó đề xuất một lộ trình hội nhập thích hợp cho
TTCK, đảm bảo sự phát triển bền vững của TTCK nước ta.
7. Bố cục của luận án:
N goài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,
nội dung của luận án gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ PHÁT TRIỂ
THN TRƯỜ G CHỨ G KHOÁ TRO G HỘI HẬP QUỐC TẾ
1.1 Một số lý luận chung về thị trường chứng khoán
1.1.1 Bản chất của thị trường chứng khoán
Hiện nay, ở nước ta đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về TTCK và bản
chất của nó, như: 1) “Thị trường chứng khoán là thị trường mua bán các loại
chứng khoán có giá”1 ; 2) “TTCK thực chất là quá trình vận động của tư bản tiền
1

Giáo trình Kinh tế chính trị Mác- Lênin” _ Bộ GD- ĐT
3


tệ. Các chứng khoán mua bán trên TTCK có thể đem lại thu nhập cho người nắm
giữ nó sau một thời gian nhất định và được lưu thông trên TTCK theo giá cả thị
trường, do đó bề ngoài nó được coi như là một tư bản hàng hóa”1; 3) “Không gian
kinh tế mà ở đó thực hiện việc phát hành và giao dịch những sản phNm tài chính
đặc biệt nêu trên (chứng khoán) được gọi là thị trường chứng khoán”2; và 4) Theo
quan niệm của giả thuyết Bước đi ngẫu nhiên “Radom walk” thì TTCK được coi
là một quá trình ngẫu nhiên, trong đó tiền bạc không tự nhiên sinh ra và không tự
mất đi mà chỉ chuyển một cách ngẫu nhiên từ người này sang người khác dưới áp
lực của tâm lý tự phát kiểu “bầy đàn”.

Kế thừa những nhân tố hợp lý của các quan điểm trên để phát triển lên,
luận văn cho rằng: TTCK là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, là
môi trường trong đó cho phép chuyển hóa trực tiếp từ quyền sở hữu tư bản
thành quyền sử dụng tư bản và tạo ra mối liên hệ chặt chẽ giữa hai quyền đó
thông qua sự vận động của các chứng khoán- một loại hàng hóa tư bản giảdưới tác động của các quy luật thị trường.
Ở khái niệm này, TTCK được xem như là một bộ phận đặc thù của thị
trường vốn, nơi giao dịch loại hàng hóa đặc biệt là chứng khoán, một loại hàng
hóa- tư bản giả. N ó còn là nơi tạo ra môi trường cho phép kết hợp sở hữu với sử
dụng tư bản với khối lượng không nhất thiết phải lớn, hình thành một loại hình
kinh doanh hiện đại dưới tác động của qui luật thị trường. Từ khái niệm này
người ta thấy rõ hơn bản chất của TTCK.
Thị trường chứng khoán có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, nó là một định chế tài chính trực tiếp. Ở TTCK , thông qua các
sàn giao dịch (SGD) chính thức hoặc không chính thức (OTC) vốn nhàn rỗi của
dân cư được đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thông
qua sự đánh giá của các N ĐT đối với doanh nghiệp, trên cơ sở công khai hóa các
hoạt động của nó trên thị trường và dưới tác động của các quy luật thị trường.
Thứ hai, TTCK là nơi các N ĐT luôn gắn được quyền sở hữu tư bản với
quyền sử dụng tư bản.
Thứ ba, trên TTCK vốn của các N ĐT tuy đang bị chôn chặt lại ở máy móc
thiết bị nhà xưởng nhưng còn tồn tại dưới các chứng chỉ có giá, là các hình thức
cổ phiếu khác nhau đại diện cho từng phần của nó với mệnh giá nhỏ lưu thông
1
2

Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán” của UBCKN N
“TTCK trong nền kinh tế chuyển đổi”, TS. N guyễn Minh Đức
4



trên TTCK cho phép các N ĐT có thể đa dạng hóa kinh doanh, từ đó tạo nên sự
linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế, làm cho
tính xã hội hóa của tư bản cao hơn.
Thứ tư, TTCK là môi trường tạo ra tính thanh khoản cao cho các luồng vốn
tồn tại dưới hình thái tư bản giả,
Thứ năm, TTCK là một môi trường thuận lợi, một kênh truyền dẫn năng
động có hiệu quả cho sự chuyển hóa tư bản từ sở hữu thuần trong tay tư nhân
thành sở hữu xã hội, làm cho tính xã hội hóa của tư bản ngày càng tăng cao.
1.1.2 Các hình thức tồn tại và chức năng của TTCK
Thị trường chứng khoán thường tồn tại dưới những hình thức sau:
Thứ nhất, căn cứ vào nguồn cung chứng khoán có thể chia TTCK thành thị
trường sơ cấp (cấp I) là thị trường nguồn cung nơi phát hành các chứng khoán
lần đầu ra lưu thông và thị trường chứng khoán thứ cấp (cấp II) là thị trường
phân phối lại các chứng khoán do thị trường cấp I phát hành.
Thứ hai, căn cứ vào phương thức tổ chức hoạt động của TTCK người ta chia
thành thị trường tập trung là thị trường mà tại đó các chứng khoán được giao
dịch, mua bán tại một địa điểm, gọi là sàn giao dịch trong sở giao dịch chứng
khoán (SGDCK) và TTCK phi tập trung (OTC) là thị trường, trong đó các giao
dịch, mua bán các chứng khoán được thực hiện trực tiếp qua quầy của các ngân
hàng, CTCK hay các tổ chức tương tự tại bất cứ địa điểm và thời gian thuận lợi.
Thứ ba, căn cứ vào nguồn gốc của các chứng khoán, người ta có thể chia
thị trường thành TTCK cơ bản là thị trường đảm bảo được chức năng và đặc
trưng chủ yếu của TTCK và TTCK phái sinh, nơi lưu hành các công cụ phái
sinh, một dạng có xuất xứ từ các hàng hoá, tài sản, tiền tệ và chứng khoán.
Thứ tư, từ nhiều giác độ tiếp cận khác nhau, người ta còn chia TTCK thành
các loại hình khác nhau: TTCK chính phủ và TTCK doanh nghiệp
Thị trường chứng khoán có các chức năng cơ bản sau:
1) TTCK là kênh thu hút rộng rãi để phân phối và phân phối lại các nguồn
vốn nhàn rỗi hoặc đang hoạt động kém hiệu quả vào các khu vực kinh tế xã hội
hoạt động có hiệu quả hơn; 2) Cung cấp cho các thực thể kinh tế xã hội môi

trường và hình thức đầu tư có hiệu quả; 3), Tạo ra một hình thức, phương tiện
giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc đánh giá hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình và giúp nhà nước điều tiết nền kinh tế; và 4), thúc đNy quá trình
TCH thị trường tài chính.
1.2 hững cấu thành và định hướng cơ bản quyết định sự phát triển
của thị trường chứng khoán Việt am trong trình hội nhập quốc tế
5


Về cấu trúc, bất kỳ một thị trường nào, kể cả TTCK cũng được tạo lập bởi
bốn cấu thành cơ bản là hàng hóa đưa ra trao đổi mua bán, cung- cầu và cơ chế
xác lập- điều tiết sự hình thành giá cả của hàng hóa đó trên thị trường.
1.2.1 Chứng khoán- một loại tư bản giả, hàng hóa đặc biệt- trong nền
kinh tế thị trường
Theo C. Mác thì “…chính những chứng khoán cũng là tư bản, và còn đại
biểu cho sở hữu lớn hơn là số tiền ứng ra…” ; “… chúng biến thành hàng hóa
mà giá cả vận động và được ấn định theo các quy luật riêng của chúng…”1
Đã là hàng hóa, các chứng khoán đều có giá trị và giá trị sử dụng.
- Về giá trị sử dụng: Giá trị sử dụng của chứng khoán là do công dụng của
nó quyết định.
Chứng khoán có các công dụng sau: 1) Chúng cho chủ sở hữu cái quyền có
thể can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào thay đổi phương hướng hoạt động của
doanh nghiệp mà chúng đại diện; 2) Các chứng khoán còn là một loại “bán tệ”
có thể thanh khoản thành tiền mặt dễ dàng; 3) Chứng khoán còn là biểu tượng
để chủ sở hữu nó có thể vinh danh là các “triệu phú” hoặc “tỷ phú”; và 4) nhờ
chứng khoán mà chủ sở hữu có quyền được nhận một phần lợi nhuận tương ứng
do hoạt động của doanh nghiệp đem lại.
- Về giá trị và các hình thái biểu hiện giá trị của chứng khoán . Chứng
khoán không có giá trị nội tại hoặc có không đáng kể. Chúng chỉ là dấu hiệu
hay “bản sao” của tư bản được các thực thể kinh tế xã hội thừa nhận.

“Giá trị thị trường của chúng được quy định khác với giá trị danh nghĩa
của chúng và không gắn liền với việc làm gia tăng giá trị đó”2. Giá trị thị trường
của chứng khoán phụ thuộc vào các yếu tố: 1) số thu nhập và tính ổn định của
thu nhập. N hư vậy, “giá trị của nó bao giờ cũng vẫn chỉ là giá trị của số thu
nhập đã được tư bản hóa, nghĩa là thu nhập tính theo một tư bản ảo tưởng trên
cơ sở tỷ suất lợi tức hiện hành”3. 2) Sự thay đổi giá cả của các chứng khoán
trong điều kiện bình thường phụ thuộc vào sự vận động của giá trị tư bản thực
tế mà chúng đại diện.
Chứng khoán tồn tại dưới các hình thức sau: Cổ phiếu, Trái phiếu, Chứng
chỉ quỹ đầu tư chứng khoán, Chứng khoán có thể chuyển đổi ,Chứng khoán
phái sinh.
1.2.2. Cầu chứng khoán và các nhân tố thúc đ y phát triển và hội nhập TTCK
1. C. Mác và Ph. Ang-ghen toàn tập, tập 25- phần I, N XBCTQG, HN .1994.
2. C. Mác và Ph. Ang-ghen toàn tập, tập 25- phần II, N XBCTQG, HN .1994
3
C. Mác và Ph. Ang-ghen toàn tập, tập 25- phần II, N XBCTQG, HN .1994
6


Cầu chứng khoán là số lượng và chủng loại chứng khoán mà N ĐT có thể
mua và sẵn sàng mua tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian
nhất định khi các điều kiện khác không đổi. Do TTCK là thị trường hai cấp: Thị
trường sơ cấp ( cấp I) và thị trường thứ cấp ( cấp II) nên cầu trên thị trường này
cũng có những đặc điểm riêng:
Một là, cầu trên thị trường cấp I là cầu thứ phát ( Derived Demand), tức là
do cầu về hàng hóa và dịch vụ của các thực thể kinh tế của tổ chức xã hội phát
hành quyết định.
Hai là, cầu chứng khoán trên thị trường thứ cấp (II) hoàn toàn chịu điều
tiết bởi các quy luật của thị trường tự do và qui luật tâm lý xã hội. Lượng cầu
chứng khoán ở đây thường là lượng cầu ảo và giao động cách rất xa lượng cầu

thực tế trên thị trường.
Trong phạm vi đối tượng nghiên cứu của luận văn, xét lượng cầu tổng thể
của các loại chứng khoán biến động theo giá chung trên thị trường trong một
khoảng thời gian nhất định, thì cầu chứng khoán là cầu về loại hàng hóa đặc
biệt không tuân theo luật cầu, tức là giá chứng khoán tăng thì cầu tăng, còn giá
giảm thì cầu giảm.
Cầu trên TTCK chịu tác động bởi các nhân tố cơ bản sau: 1) do lượng cung
về số lượng và chủng loại chứng khoán ra thị trường quyết định. Trong khi đó
cung chứng khoán lại do nhu cầu về sản xuất và tiêu dung của các thực thể kinh
tế xã hội đặt ra; 2) Do sự tích tụ và tập trung một lượng lớn tư bản nhàn rỗi
trong nền kinh tế dưới hình thái tiền tệ quy định; 3) Phụ thuộc vào kỳ vọng của
các thực thể thị trường về sự thay đổi giá cả của nó trong tương lai; 4) Chịu tác
động rất mạnh bởi cơ chế chính sách của chính phủ, như chính sách tài chính
(thuế) và chính sách tiền tệ (tín dụng).
1.2.3 Cung chứng khoán và các nhân tố thúc đ y phát triển và hội nhập
của TTCK nước ta
Cung chứng khoán là số lượng và chủng loại chứng khoán mà các thực thể
kinh tế, xã hội có khả năng bán và sẵn sàng bán tại các mức giá khác nhau trên
thị trường trong một khoảng thời gian xác định, khi các điều kiện khác không
đổi. Cung chứng khoán có các đặc thù sau:
Một là, do TTCK là một hình thức đặc thù của thị trường vốn, là thị trường
các yếu tố đầu vào của nền sản xuất, nên cung chứng khoán phụ thuộc vào năng
lực tối đa hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp và khả năng tối đa hóa lợi ích của
các thực thể xã hội.
Hai là, TTCK là thị trường hai cấp, ở mỗi loại thị trường đều có lượng
7


cung khác nhau trong một khoảng thời gian xác định. Lượng cung chứng khoán
ở thị trường cấp I là lượng cung thực, vì nó xuất phát từ nhu cầu vốn của chính

các thực thể kinh tế, xã hội.
Cung chứng khoán trên thị trường cấp II chịu chi phối bởi quy luật tâm lý
bày đàn tạo sức ép lên hành vi mua bán chứng khoán của các N ĐT, nên nó chịu
ảnh hưởng rất lớn từ sự biến động về kinh tế, chính trị và xã hội. Cung tại đây
không tuân theo luật cung, tức là giá cả tăng lên thì lượng cung chứng khoán
của một thực thể nào đó lại có thể giảm xuống do hiện tượng đầu cơ, găm giữ
hàng để tăng giá, còn tổng lượng cung của chúng trên thị trường thì không đổi.
Ba là, cung chứng khoán ra thị trường được tiến hành bằng các phương
pháp đặc biệt so với lượng cung của hàng hóa thông thường. Tức là việc cung
chúng ra thị trường phải đáp ứng được những tiêu chuNn và yêu cầu cao, cả về
định lượng và định tính.
Về định lượng, các thực thể kinh tế đó phải có quy mô nhất định, hoạt động
có hiệu quả trong một số năm liên tục, tổng giá trị phát hành phải đạt quy mô,
phải được bán cho một lượng N ĐT nhất định và các thành viên sáng lập phải
nắm một tỷ lệ vốn cổ phần trong một số năm quy định. Về định tính, các nhà
quản lý công ty phải có trình độ, kinh nghiệm cơ cấu công ty phải hợp lý và
phải vì lợi ích N ĐT, báo cáo tài chính cập nhật, minh bạch, có phương án sử
dụng vốn khả thi và phải được các tổ chức có uy tín bảo lãnh…
N guồn cung trên TTCK chịu tác động bởi các nhân tố cơ bản sau:
Thứ nhất, Cung chứng khoán trước hết phụ thuộc vào nhu cầu các hàng
hóa và dịch vụ của chính các chủ thể phát hành, thể hiện ở những mặt sau:
1) Phụ thuộc vào trạng thái phát triển của nền kinh tế; 2) Phụ thuộc vào kỳ
vọng của các thực thể kinh tế xã hội về mở rộng sản xuất và hoạt động để tối đa
hóa lợi nhuận, lợi ích; và 3) Phụ thuộc vào trạng thái, tiến trình hội nhập của
nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Thứ hai, Từ bản thân sự phát triển nội tại của TTCK
1) Sự phát triển nhanh của các SGDCK; 2) Hoàn thiện các cơ chế điều
hành ( thNm định, phát hành, bảo lãnh…); và 3) Trình độ cán bộ quản lý điều
hành TTCK và các phương tiện kỹ thuật phát hành và niêm yết, giao dịch…
Thứ ba, từ cơ chế quản lý của nhà nước và cơ chế phối hợp giữa các cơ

quan chức năng trong lĩnh vực tài chính tiền tệ.
1.2.4 Sự xác lập giá cả trên TTCK và cơ chế quản lý của nhà nước.
Chứng khoán là một loại tư bản giả, Chúng biến thành hàng hóa mà giá cả
vận động và được ấn định theo những quy luật riêng. Giá trị thị trường của
8


chúng được quy định khác với giá trị danh nghĩa của chúng và không gắn liền
với sự biến động giá trị của tư bản thực thế (mặc dầu nó gắn liền với việc làm
tăng giá trị đó)
Giá trị thị trường của chứng khoán phụ thuộc vào: 1) số thu nhập và tính
bảo đảm ổn định của thu nhập đó; 2) Phụ thuộc vào sự biến đổi tương quan của
tỷ suất lợi tức trên thị trường và lãi của doanh nghiệp; và 3) Trong các trường
hợp giá trị tư bản thực tế không đổi hoặc là quốc trái (là chứng khoán phi tư
bản) và lãi hàng năm của nó được chính phủ giữ ổn định, thì giá trị của chứng
khoán tỷ lệ nghịch với tỷ suất lợi tức.
Giá trị của chứng khoán trong mọi trường hợp vẫn chỉ là giá trị của số thu
nhập đã được tư bản hóa. Đây là căn cứ, là cái trục để giá cả thị trường của
chứng khoán xoay quanh.
Giá cả thị trường của các chứng khoán vận động trên thị trường được quy định
bởi sự tương tác giữa trạng thái của hai thị trường: thị trường tiền tệ và TTCK.
Trong thời kỳ khủng hoảng của thị trường tiền tệ, tỷ suất lợi tức trên thị
trường thay đổi nhanh chóng do lượng cung và cầu tiền không khớp nhau, đặc
biệt khi lạm phát tăng, tỷ suất lợi tức tăng cao làm cho giá cả chứng khoán giảm
sút mạnh mẽ.
Sự mất cân đối giữa cung và cầu các loại chứng khoán, đặc biệt sự mất cân
đối cung- cầu chứng khoán trên thị trường cấp II, một thị trường vô cùng nhạy
cảm và chịu tác động của tâm lý bầy đàn tạo sức ép lên hành vi mua bán chứng
khoán của các N ĐT.
Do đó, nhà nước cần điều tiết trong hình thành giá cả chứng khoán trên thị

trường.
Trên thị trường sơ cấp, hiện có hai chế độ điều chỉnh hoạt động của TTCK
là điều chỉnh theo chất lượng (Merit regulation) và điều chỉnh bằng công bố
thông tin đầy đủ (full disclousure).
Trên thị trường thứ cấp (cấp II) tại SGDCK (thị trường tập trung), sự điều
tiết của nhà nước là gián tiếp thông qua các chính sách hướng dẫn còn chủ yếu
để các qui luật thị trường và tâm lý tác động.
Điều chỉnh hình thành giá cả chứng khoán trên thị trường OTC nhờ kỹ thuật
số và cơ chế tự quản. Sự điều tiết của nhà nước ở đây chỉ là tạo ra hành lang pháp
lý chặt chẽ và tạo sự thuận lợi trong kỹ thuật cung cấp thông tin phối hợp các tác
nhân trao đổi và thanh toán, nên giá cả được hình thành tại đây được đảm bảo theo
nguyên tắc thị trường, tức là dựa trên quan hệ cung- cầu chặt chẽ hơn.
1.3 Kinh nghiệm về phát triển và hội nhập TTCK của một số quốc gia
9


chuyển đổi tương đồng với Việt am
1.3.1 Kinh nghiệm tái lập thị trường chứng khoán của các quốc gia
chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường.
Một là, Kinh nghiệm tái lập thị trường chứng khoán của Liên Bang ga
trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Để xóa bỏ cơ sở tồn tại của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp tạo lập
tiền đề cho KTTT và hội nhập vào nền kinh tế phương Tây, Chính phủ N ga đã
thông qua “liệu pháp sốc” bằng một làn sóng tư hữu hóa các doanh nghiệp nhà
nước (DN N N ), điều này cũng đồng thời tạo lập tiền đề để tái lập TTCK của N ga.
Sự tái lập và thúc đNy hoạt động của TTCK được thể hiện ở các nội dung cơ bản
sau: 1) tư hữu hóa các DN N N , được bắt đầu từ 1991; 2), để chủ động cung cấp
hàng hóa có tính khả mại và tính thanh khoản cao, lợi nhuận thu được là chắc
chắn, ngay từ 1994 Chính phủ N ga đã phát hành ra thị trường sơ cấp một lượng
chứng khoán khổng lồ thông qua chứng chỉ những khoản nợ nhà nước dài hạn

tới 76390 tỷ rúp; 3) Thúc đNy sự ra đời của các loại hình chứng khoán phái sinh
dưới hình thức hợp đồng “Future” và “ option” ngoại tệ và phát hành ra thị
trường quốc tế; 4) Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng cho TTCK; 5) Hội
nhập vào thị trường tài chính toàn cầu; và 6) Để hội nhập TTCK quốc gia vào
thị trường tài chính Châu Âu, chính phủ N ga đã chọn mô hình điều tiết kiểu
Châu Âu, trong đó mọi quá trình phát hành và kinh doanh trên TTCK đều phải
qua hệ thống ngân hàng.
Tuy nhiên, do sử dụng các “liệu pháp sốc” để chuyển đổi từ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường không phải để phát triển kinh tế
mà là để thay đổi chế độ chính trị, xóa bỏ cơ sở kinh tế của chế độ XHCN cũ
nên để lại hậu quả kinh tế xã hội rất nặng nề.
Hai là, Kinh nghiệm tái lập và phát triển thị trường chứng khoán trong
điều kiện hội nhập quốc tế của Trung Quốc.
Khác với Liên Bang N ga, Trung Quốc chuyển nền kinh tế tập trung bao
cấp sang KTTT bằng giải pháp từng bước thận trọng kiểu “dò đá qua sông”.
Theo đó chuyển một bộ phận sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân hoặc hỗn
hợp. Công cuộc tái lập và phát triển TTCK ở Trung Quốc có những nét đặc thù
cơ bản sau: 1) Chính phủ Trung Quốc thực hiện phát hành TPCP (1981) và
TPDN (1982) để dân cư làm quen với giao dịch chứng khoán. Cùng với nó
Chính phủ phát hành TPCP và TPDN ra thị trường Tây Âu và N hật Bản bằng
đồng JPY; 2)Xây dựng một hệ thống các SGDCK để phát triển TTCKTT và
OTC thí điểm ở Thượng Hải (1989), ThNm Dượng (1991) sau mở rộng ra thành
10


một hệ thống; 3) Xác lập và hoàn thiện các thể chế và thiết chế điều tiết TTCK;
và 4) Để đảm bảo cho khu vực kinh tế nhà nước giữ được vai trò chủ đạo, nhà
nước giữ cổ phiếu tuyệt đối trong 7 lĩnh vực then chốt gồm : công trình quân sự,
điện lực, dầu mỏ, điện tín, than đá, hàng không dân dụng và vận tải đường thủy.
1.3.2 hững bài học gợi ý cho Việt am về phát triển thị trường chứng

khoán trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Thứ nhất, Khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang KTTT việc
phát triển và hoàn thiện TTCK tạo điều kiện để hoạt động ổn định là cần thiết,
song không thể áp dụng một cách dập khuôn theo mô hình của bất cứ quốc gia
nào mà phải căn cứ theo tình hình thực tiễn của đất nước.
Thứ hai, nhà nước phải là tác nhân chủ yếu trong tạo lập các thành tố và
điều kiện cho sự ra đời và hoạt động có hiệu quả của TTCK.
Thứ ba, do đặc thù của TTCK là nơi giao dịch của các loại hàng hóa phi vật thể,
một loại tư bản giả, nên muốn sử dụng nó có hiệu quả trong thu hút và phân phối các
nguồn vốn vào nền kinh tế cần phải có các phương án và giải pháp định hướng phát
triển phù hợp để hạn chế sự vận động và phát triển tự phát của thị trường.
Thứ tư, Cần tạo ra các sản phNm theo tiêu chuNn quốc tế và có giải pháp
gắn TTCK trong nước với thị trường toàn cầu để thu hút các nguồn tài chính từ
các trung tâm tài chính thế giới vào phát triển nền kinh tế quốc gia.
Thứ năm, phát triển TTCK không phải bằng mọi giá, mà phải dựa trên cơ
sở sử dụng nó như một công cụ để đem lại lợi ích cho đất nước, trước tiên là lợi
ích của người lao động.
Thứ sáu, sự hình thành các thể chế và định chế điều tiết TTCK cũng như
các giải pháp điều chỉnh hoạt động của nó phải đồng bộ và có khả năng phối
hợp rộng rãi mới đảm bảo thành công.
Chương 2
THỰC TRẠ G PHÁT TRIỂ THN TRƯỜ G CHỨ G KHOÁ
VIỆT AM TRO G ĐIỀU KIỆ HỘI HẬP QUỐC TẾ
2.1 Sự ra đời và những đặc trưng chủ yếu của thị trường chứng khoán
Việt am
2.1.1. Sự ra đời của Thị trường chứng khoán Việt am
Một là, Tạo lập các tiền đề cho sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt N am
11



- Sự ổn định kinh tế vĩ mô và tạo lập đồng bộ các định chế và các hình
thức cấu thành của KTTT.
- Sự cần thiết phải ra đời và hoàn thiện các khung khổ pháp lý tạo môi
trường pháp luật cho sự ra đời và vận hành của TTCK Việt N am “Mở rộng
việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu và xúc tiến chuNn bị về thể chế, cán bộ và
các điều kiện cần thiết cho việc thiết lập thị trường chứng khoán và bảo đảm sự
hoạt động lành mạnh của thị trường này.”1
- Tạo lập tiền đề cho sự vận hành của TTCK Việt N am. Thay mặt nhà nước,
UBCKN N đã đảm nhiệm vai trò chuNn bị các điều kiện cần thiết, trong đó, xây
dựng các điều kiện tổ chức để TTCK sớm ra đời và vận hành có hiệu quả.
- Tạo lập các mối liên hệ quốc tế, chủ động hội nhập TTCK Việt N am vào
thị trường tài chính toàn cầu.
Hai là, Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt am và các thành tựu
trong 7 năm tồn tại và hoạt động.
- N gày 11/7/1998, Chính phủ ban hành N ghị định số 48 và quyết định số
127 ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giao dịch chứng
khoán (TTGDCK) TP Hồ Chí Minh và 8/2007 chuyển thành SGDCK TP Hồ
Chí Minh (HoSE)
- N gày 8/3/2005, TTGDCK Hà N ội chính chức khai trương và đi vào hoạt
động với các dịch vụ đấu giá cổ phần và đấu thầu trái phiếu.
- Xây dựng các hệ thống tổ chức trung gian gồm 60 CTCK, 5 ngân hàng
lưu ký, 4 CTQLQ, 300.000 tài khoản của N ĐT bao gồm doanh nghiệp trong và
ngoài nước và công chúng tham gia thị trường . Sau 7 năm phát triển TTCK có
những thành công chủ yếu sau:
1) Để phát triển một nền KTTT Việt N am cần phải tạo ra và đồng bộ hóa
các thể chế thị trường; trong đó có thị trường vốn,
2) Việc ra đời, phát triển TTCK giúp cho Chính phủ, doanh nghiệp huy
động vốn dài hạn cho đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh và luân
chuyển các nguồn vốn trong xã hội được tốt hơn.
3)Việc ra đời và phát triển TTCK với nguyên tắc hoạt động của nó sẽ tạo

ra cơ chế lành mạnh bởi yêu cầu công khai, minh bạch.
4) Việc ra đời và phát triển TTCK sẽ góp phần cơ cấu lại hệ thống doanh
nghiệp, đổi mới cơ chế quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp thông qua việc thúc đNy tiến trình CPH các DN N N và chuyển đổi các
1 Quyết định 202/1992/CT-HĐBT ngày 8/6/1992 về thí điểm CPH các DN N N

12


doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành CTCP
5) Việc ra đời và phát triển TTCK Việt N am đã tạo ra một kênh thu hút
mạnh nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FII) từ nước ngoài vào nền kinh tế và cũng là
kênh giúp các N ĐT trong nước vươn tay ra thị trường tài chính quốc tế để tìm
phương án đầu tư hiệu quả hơn.
2.1.2 hững đặc trưng chủ yếu của Thị trường chứng khoán Việt am trong
điều kiện hội nhập quốc tế
Một là, lần đầu tiên xuất hiện dưới tác động của nhà nước nên cơ sở hạ
tầng kinh tế- xã hội của thị trường chứng khoán chưa hoàn thiện
- Các định chế và thể chế chứng khoán chưa được hoàn thiện và đang trong
giai đoạn thử nghiệm, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn và đặc thù của nền
KTTT định hướng XHCN .
- Hoạt động của TTCK không ổn định, chứng khoán và TTCK vẫn đang
còn xa lạ và bí Nn đối với phần lớn bộ phận dân cư.
- Các doanh nghiệp tham gia vào TTCK buộc phải minh bạch hóa hoạt
động sản xuất kinh doanh và công bố thông tin ra công chúng.
- Các doanh nghiệp Việt N am chưa quen với việc huy động vốn thông qua
TTCK, chưa coi nó là một kênh huy động vốn chủ yếu cho các hoạt động đầu
tư trung và dài hạn của doanh nghiệp, nên chủ yếu vẫn vay vốn từ N HTM cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
- Sự ra đời và hoạt động của TTCK còn chịu sự hỗ trợ và điều tiết mạnh

mẽ từ phía nhà nước.
Hai là, việc ra đời thị trường chứng khoán Việt am phải đối diện với
những cơ hội và thách thức to lớn của hội nhập kinh tế.
- Trước môi trường bình đẳng và mở cửa, các doanh nghiệp nội địa bắt
buộc phải mở rộng việc sản xuất kinh doanh dẫn đến như cầu vốn lớn
- Hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt các tổ chức kinh doanh chứng khoán
tham gia thị trường phải chuyên môn hóa sâu hơn về các nghiệp vụ liên quan
đến sản phNm và dịch vụ chứng khoán.
- Trong hội nhập kinh tế quốc tế giúp các nhà hoạch định chính sách về
chứng khoán và TTCK Việt N am có điều kiện trao đổi, hợp tác để hoạch định
đưa ra chính sách theo thông lệ những chuNn mực tốt nhất và đề ra được những
biện pháp phòng tránh rủi ro có hiệu quả.
- TTCK Việt N am hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế trong điều kiện
mới ra đời, phát triển chưa đầy đủ và hoàn thiện nên bị thương tổn và rủi ro.
2.2 Thực trạng phát triển thị trường chứng khoán Việt am trong những
13


năm đầu thế kỷ XXI
2.2.1. Thực trạng nguồn cung cho Thị trường chứng khoán từ khi thành
lập đến đầu năm 2007 ở Việt am
Thứ nhất, tạo lập nguồn cung chứng khoán cho thị trường thông qua cổ
phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt am.
ĐNy nhanh, mạnh việc CPH các DN N N bằng cách mở rộng CPH cả các
TCT và doanh nghiệp lớn và cả các công ty TN HH một thành viên, các công ty
công ích. Đến tháng 10/ 2006, theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát
triển doanh nghiệp, khu vực DN N N chỉ còn 2.176 doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước. CPH DN N N đã cung cấp nguồn hàng hóa ổn định và ngày càng tăng cho
sự phát triển của TTCK. Chính vì vậy, nguồn cung hàng hóa cho TTCK năm
2006 ở Việt N am tăng vọt. Theo tổng kết của Ban phát triển thị trường (

UBCKN N ) thì tổng khối lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường tăng lên
khoảng 8l lần do tăng số lượng và quy mô CTN Y đăng ký giao dịch, đặc biệt là
việc niêm yết của các công ty lớn và phát hành thêm để mở rộng quy mô của
các CTN Y. Đến 31/12/2006, đã có 193 CTN Y đăng ký giao dịch tại các
TTGDCK , tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 221.156 tỷ VN Đ (
tương đương 14 tỷ USD ),chiếm 22,7% GDP của năm 2006 (tăng 20 lần so với
cuối năm 2005).
Thứ hai, thực trạng nguồn cung chứng khoán cho thị trường từ phát hành
các chứng chỉ có giá của chính phủ và quĩ của các loại công ty.
Từ khi thành lập TTGĐCK TP. Hồ Chí Minh cho đến 30/6/2005 TPCP
đưa ra niêm yết để huy động vốn cho nhu cầu các dịch vụ công đã chiếm
29.000 tỷ VN Đ và chứng chỉ của các quĩ đầu tư chiếm 300 tỷ VN Đ. Sự phát
triển nguồn cung chứng khoán từ Chính phủ và các thực tế kinh tế trên phát
triển rất nhanh qua các giai đoạn nhờ xây dựng được hệ thống giao dịch chuyên
biệt cho trái phiếu hoạt động có hiệu quả. Hệ thống này không những góp phần
huy động một khối lương vốn cho ngân sách N hà nước, mà còn tạo ra nguồn
vốn vô cùng to lớn và ổn định cho phát triển và hội nhập quốc tế của TTCK
Việt N am.
2.2.2 Thực trạng cầu và sự biến động giá cả trên thị trường chứng
khoán Việt am
Thứ nhất, thực trạng cầu trên thị trường chứng khoán Việt am 7 năm kể
từ khi ra đời
Sau 4 năm TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh hoạt động, các CTN Y như : GMD,
HAP, HAS, TMS, TRI… đã huy động được 77,5 tỷ VN Đ, khối cầu thực tế của
14


thị trường đối với các doanh nghiệp tăng nhưng không mạnh, cầu tăng chủ yếu
đối với TPCP do tính an toàn của nó. Để kích cầu chứng khoán, ngày
29/9/2005, Chính phủ ra quyết định số 238 tăng tỷ lệ nắm giữa cổ phiếu của

CTN Y đối với N ĐTN N từ 30% lên 49%. N hờ đó, tính đến 30/6/2005 khối cầu
về chứng khoán các loại tăng đột biến: Có 4379 tỷ VN Đ (do 28 CTN Y) và
29.000 tỷ VN Đ TPCP cũng như 300 tỷ VN Đ Chứng chỉ quỹ đầu tư đã được
thực hiện qua 1071 phiên giao dịch liên tục an toàn tại TTGDCK Tp. Hồ Chí
Minh với giá trị giao dịch đạt 33.679 tỷ VN Đ. Qua 5 năm hoạt động, TTCK
Việt N am đã có hơn 24.000 tài khoản chứng khoán được mở, tăng 8 lần so với
năm đầu tiên triển khai, trong đó có 246 N ĐT có tổ chức và 250 N ĐTN N . N ăm
2006 là năm TTCK Việt N am có bước phát triên đột biến và đặc biệt ấn tượng;
Giá trị vốn hóa của riêng thị trường cổ phiếu doanh nghiệp đã đạt 221.156 tỷ
VN Đ (tương đương 14 tỷ USD),chiếm 22,7% GDP còn trái phiếu các loại đạt
70.000 tỷ VN Đ , chiếm 7,7% GDP. Số tài khoản giao dịch của các N ĐT tính
đến cuối tháng 12/2006 là hơn 100.000, tăng hơn 3 lần so với cuối năm 2005 và
trên 30 lần so với khi mới khai trương TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh. Tính đến
6/2007 trên TTCK Việt N am có 243.809 tài khoản, tăng 2,3 lần so với 12/2006
với tổng giá trị ước tính khoảng 5 tỷ USD.
Thứ hai, sự biến động giá cả trên thị trường chứng khoán Việt am giai
đoạn từ tháng 7/2000 đến tháng 7/2007..
Khi khai trương TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh Vn-Index đạt 100 điểm vào
tháng 12/2000 và tăng lên 571,04 điểm trong 6 tháng vào 25/6/2001 rồi sau đó
giảm liên tục xuống 130,91 điểm ( 24/10/2003), sau đó thì giao động ở mức 250
điểm. N hờ đó, TTCK Việt N am đã hình thành xu hướng tăng trưởng mới, kéo
chỉ số Vn-Index nhanh chóng tăng vượt ngưỡng 320 điểm và đạt mức cao nhất
trong năm 322,59 điểm vào phiên 1.162 ngày 7/11/2005. N ăm 2006, chỉ số VnIndex tăng từ 305,28 điểm ( vào 31/12/2005) lên 751 điểm ( vào 31/12/2006)
tăng hơn 2,46 lần;
Về biến động giá cả của hầu hết các loại cổ phiếu trên thị trường năm
2006 đều có sự biến động mạnh. Sự biến động giá cổ phiếu trên thị trường đã
tác động trực tiếp đến chỉ số Vn-Index : từ mức 305,28 điểm tại phiên giao dịch
(3/1/2006) lên 623,69 điểm ( 25/4/2006), giảm mạnh trong các tháng 5,6,7/
2006 và dừng ở mức 399,8 điểm tại phiên giao dịch ( ngày 2/8/2006) sau đó lại
tăng mạnh, lập kỷ lục trong năm với mức 809,86 điểm.

Trong năm 2006 sự biến động trên TTGDCK Hà N ội cũng diễn ra với xu
hướng tương tự. Đây là một năm phát triển lớn mạnh và vượt bậc của trung
15


tâm, từ quy mô giao dịch nhỏ với 9 công ty đăng ký giao dịch, giá trị chỉ đạt
1.500,6 tỷ VN Đ năm 2005; đã tăng lên 87 doanh nghiệp, với tổng giá trị đăng
ký giao dịch lên tới 11.201 tỷ VN Đ. N ếu tính toàn năm đến phiên giao dịch
ngày 31/12/2006, tổng khối lượng giao dịch cổ phiếu toàn thị trường tại
TTGDCK Hà N ội đạt 98.561.526 cổ phiếu với giá trị tương ứng 4.039,71 tỷ
VN Đ.Tổng khối lượng trái phiếu các loại giao dịch đạt 73.093.370 trái phiếu,
tương ứng giá trị 7.463,64 tỷ VN Đ. Bước vào quí I năm 2007, TTCK Việt N am
phát triển rất sôi động. N ếu vào 11/2006 chỉ số Vn-Index đạt 660 điểm thì đến
12/3/2007 chỉ số này đạt đỉnh là 1.170 điểm. Sau gần 2 tháng biến động theo
hình răng cưa và đi xuống đến 23/5/2007 chỉ số Vn-Index còn 1.113,19 điểm,
đang có xu hướng giảm về dưới 900 điểm và tiếp tục điều chỉnh ổn định xoay
quanh giá trị thực của nó trong năm 2007.
Sự biến động của Vn-Index là hàn thử biểu để đo sức khỏe của nền kinh tế
Việt N am.
Tuy nhiên, với dung lượng thị trường còn quá nhỏ so với nền sản xuất
vật chất nên sự biến động của Vn-Index và Hastc- Index hiện nay chưa phản
ánh sát thực sự vận động của nền kinh tế Việt N am, cho dù TTCK phát triển
thiếu ổn định cũng sẽ ảnh hưởng ở mức độ nhất định đến tiến trình phát triển
và hội nhập của nền kinh tế. N guyên nhân của sự thiếu ổn định này, trước hết
xuất phát từ bản thân nền sản xuất, sau đó là các nhân tố ngoại lai. Có thể
khái quát thành các nhân tố cơ bản sau: 1) Do các dòng vốn đổ vào nền kinh tế
kích thích mở rộng sản xuất, tăng trưởng rất lớn bao gồm: Vốn hỗ trợ phát triển
(ODA) tăng 319 triệu USD ( quí I/2007), vốn đầu tư trực tiếp (FDI) là 2,7 tỷ
USD, và vốn đầu tư gián tiếp (FII) khoảng 5 tỷ USD; 2) Các cơ quan chức năng
của nhà nước áp dụng các chính sách điều tiết thị trường. Ví như chỉ thị 03 của

Thống đốc N HN N về hạn chế các N HTM cho vay đầu tư chứng khoán không
vượt quá 3% dư nợ (6/2007) và chính sách thuế đánh vào thu nhập từ chứng
khoán 25% trong dự thảo luật thuế thu nhập cá nhân. 3) chỉ số P/E phản ánh kỳ
vọng của các N ĐT quá lớn trên 40, trong khi các N ĐT trong nước lại thiếu kiến
thức chuyên nghiệp làm cho hành vi đầu tư chịu chi phối lớn của tâm lý bầy
đàn; và 4) TTCK thế giới đang trong thời kỳ giảm sút, đặc biệt là TTCK Mỹ và
các nước Châu Á ( Trừ Trung Quốc) cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự thiếu ổn
định của TTCK Việt N am.
Thứ ba, Đầu cơ và rủi ro là các nhân tố tác động mạnh vào cung- cầu và
hình thành giá cả trên thị trường chứng khoán Việt am
Đầu cơ và rủi ro là hai hiện tượng kinh tế đặc biệt xuất phát từ bản chất của
16


nền KTTT do tác động điều tiết tự phát của các qui luật kinh tế thị trường sinh
ra. Do tối đa hóa lợi nhuận mà các thực thể kinh tế thị trường. Trong thực tiễn,
đầu cơ biến tướng dưới nhiều hình thức như móc ngoặc để làm giá nhằm đưa
các thực thể kinh tế khác do thiếu thông tin vào bẫy hoặc tạo ra sự khan hiếm –
dư thừa giả tạo làm cho điều kiện thực hiện của thị trường trở nên không hoàn
hảo, thông tin thiếu minh bạch và không cân xứng.
2.2.3 Thực trạng tổ chức- quản lý nhà nước đối với thị trường chứng
khoán Việt am
Về mô hình quản lý đối với TTCK thường có 3 dạng phổ biến:
1)Mô hình lấy ngân hàng làm trung tâm điều khiển mọi hoạt động của
các cơ cấu chức năng. Tiêu biểu cho mô hình này là TTCK Đức;
2) Mô hình phi ngân hàng, mô hình này lấy UBCKN N làm trung tâm
điều khiển và quản lý mọi bộ phân chức năng và hoạt động của TTCK. Đây
là mô hình có tính chuyên biệt, linh hoạt và hiệu quả nên gần 45% TTCK
các nước trên thế giới áp dụng.
3) Mô hình hỗn hợp, là mô hình áp dụng cả hai loại trên dựa trên cơ sở

kế thừa các ưu điểm cơ bản của hai loại . Do N hật Bản vận dụng đầu tiên
nên thường gọi là mô hình “Kiểu N hật”. Hiện có khoảng gần 50% quốc gia
trên thế giới áp dụng theo mô hình kiểu N hật.
Theo nhận diện lý thuyết trên, thì việc quyết định thành lập UBCKN N
Việt N am trước khi thành lập các thiết chế chuyên ngành khác là nghiêng về
xây dựng mô hình “Phi N gân hàng” hoặc hỗn hợp. Trong thực tiễn kể từ khi
chuNn bị và khai trương TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh đến nay, việc điều
hành quản lý TTCK ở nước ta bị chia cắt thành nhiều mảng: N HN N quản lý
thị trường TPCP và chứng khoán của các DN N N CPH ; Bộ Kế hoạch và
Đầu tư quản lý việc phát hành cổ phiếu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài; UBCKN N quản lý TTGDTT … Điều này cho thấy, sự thiếu
đồng bộ trong hoạt động của TTCK Việt N am. N ăm 2004, Chính phủ quyết
định chuyển UBCKN N về Bộ Tài chính. Đây là bước đầu trong quá trình
tập trung quản lý nhà nước về TTCK, gắn CPH các DN N N với TTCK để
đưa việc phát hành và giao dịch các loại chứng khoán của các doanh nghiệp
CPH qua TTCK. Để phát triển thì định chế này phải được hoàn thiện cả về
hệ thống thể chế, tức là Bộ Luật về chứng khoán, các văn bản chi tiết hóa
dưới Luật và củng cố bộ máy điều tiết thị trường
Từ hoạt động của TTCK vừa qua có thể thấy rõ được 3 hướng tác động từ
nghiệp vụ quản lý vào thị trường, đó là vận động, vận hành và điều tiết: Vận
17


động là những hoạt động tự thân nội tại từ bên trong của TTCK sinh ra, vận
hành là sự tác động trực tiếp từ các chủ thể vào thúc đNy cho thị trường hoạt
động và điều tiết là sự tác động gián tiếp thông qua các chính sách để định
hướng hoạt động của các chủ thể thị trường theo một mục tiêu phát triển nhất
định. Từ xác định logic vận động đó, có thể xác định 3 cấu thành tổ chức quản
lý để tác động tới ba nhóm chủ thể tương ứng. N hóm chủ thể vận động gồm: Tổ
chức phát hành, tổ chức trung gian và N ĐT. N hóm chủ thể vận hành gồm

SGDCK, TTGDCK. N hóm chủ thể điều tiết gồm Chính phủ và các cơ quan
quản lý nhà nước về TTCK:
Thứ nhất: Về xây dựng các thiết chế điều tiết của nhà nước. N gay từ
những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ XX, trong quá trình xây dựng thể
chế thị trường vốn, TTCK , Chính phủ đã giao cho các Bộ ngành như Bộ Tài
chính, N HN N nghiên cứu việc hình thành TTCK Việt N am. Đồng thời Chính
phủ đã thành lập Ban thị trường vốn để nghiên cứu, chuNn bị các điều kiện cần
thiết cho sự hình thành thị trường vốn, trong đó có cả thị trường tiền tệ và
TTCK. Trên cơ sở các đề án đã nghiên cứu: UBCKN N được thành lập (
11/1997) và giao cho cơ quan nay chuNn bị các điều kiện cần thiết cho sự ra đời
của TTCK
Thứ hai, Về xây dựng các thể chể: Để UBCKN N hoạt động có hiệu quả,
Chính phủ đã ban hành một loạt các N ghị định và cơ chế tương ứng trước khi
Luật chứng khoán ra đời và có hiệu lực. N gày 23/6/2006, Luật chứng khoán
được Quốc hội khóa XI thông qua với 85,6% số phiếu tán thành và có hiệu lực
từ 1/1/2007. Bộ Luật về cơ bản đã quán triệt được tinh thần đổi mới tạo cơ sở
để phát triển mở rộng phạm vi, quy mô của TTCK, đưa thị trường vào hoạt
động ổn định.
Thứ ba, Về xây dựng hạ tầng vật chất và các thiết chế tương ứng cho phát
triển TTCK: Trong quá trình phát triển TTCK Việt N am , ngoài việc thành lập
UBCKN N (2007) , Chính phủ đã tiến hành thành lập 2 TTGDCK , một ở TP
Hồ Chí Minh (2000) chuyển thành SGDCK (2007) và một ở Hà nội (2005) để
thực hiện các chức năng và các tổ chức tài chính bổ trợ trung gian tác nghiệp
khác nhau về chứng khoán.
Từ khảo sát đặc điểm ra đời và thực trạng phát triển TTCK Việt N am
trong điều kiện hội nhập có thể thấy rõ một số vấn đề cần phải tháo gỡ để thị
trường này phát triển mạnh và ổn định: 1) Các thể chế và thiết chế tổ chức và
quản lý TTCK đã định hình đi vào hoạt động có hiệu quả, song còn bộc lộ
nhiều khiếm khuyết và chưa thực sự phù hợp với sự vận động thực tiễn của thị
18



trường hiện tại; 2) Hoạt động của TTCK trong điều kiện và môi trường còn
chưa ổn định, sự biến động của giá cả và chỉ số chứng khoán trên thị trường với
biên độ rất lớn, trong đó xuất hiện các hiện tượng đầu cơ, rủi ro và mạo hiểm
đang ngày càng phổ biến và đặt thị trường trước nguy cơ “bong bóng” dễ đổ
vỡ; 3) Văn hóa chứng khoán minh bạch và tốt đẹp chưa được xây dựng và bồi
đắp được thành truyền thống tạo thành tài sản vô hình quí giá, các chủ thể
chứng khoán trong và ngoài nước còn đa dạng, nhiều N ĐT còn thiếu kiến thức
và tiềm lực nên dễ dàng bị tổn thướng dẫn tới phá sản; và 4) Sự chuNn bị điều
kiện tiềm lực cho các thực thể kinh tế và bản thân TTCK Việt N am để hội nhập
quốc tế còn ít, do đó tiến trình hội nhập của TTCK Việt N am vào nền kinh tế
thị trường tài chính khu vực và toàn cầu còn cần cố gắng nhiều hơn nữa.

Chương 3
PHƯƠ G HƯỚ G VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂ THN TRƯỜ G
CHỨ G KHOÁ VIỆT AM TRO G ĐIỀU KIỆ HỘI HẬP QUỐC
TẾ.
3.1 Triển vọng và phương hướng phát triển thị trường chứng khoán
Việt am trong điều kiện hội nhập quốc tế.
3.1.1 Triển vọng phát triển thị trường chứng khoán Việt am
N hìn lại 7 năm hoạt động của TTCK Việt N am, chúng ta có thể thấy rõ
triển vọng phát triển TTCK trên các mặt sau:
Một là, hình thành được thị trường vốn trung và dài hạn.
Hai là, tạo được một kênh thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước
ngoài vào nên TTCK Việt N am và nối thông với nguồn cầu lớn về chứng khoán
của thị trường thế giới.
Ba là, do Đảng và nhà nước ta kiên trì đường lối xây dựng và phát triển
nền kinh tế Việt N am theo mô hình KTTT định hướng XHCN nên đã tạo ra
triển vọng to lớn cho TTCK phát triển lâu dài trong tương lai.

Bốn là, do Đảng và nhà nước ta kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ
theo phương châm muốn làm bạn và là đối tác tin cậy đối với tất cả các nước và
các dân tộc trên thế giới theo nguyên tắc cùng có lợi nên việc hội nhập của
TTCK Việt N am vào thị trường tài chính quốc tế đã và sẽ được đNy mạnh nhất
là sau khi gia nhập WTO.
3.1.2 Phương hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt am trong
19


điều kiện hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở triển vọng phát triển TTCK Việt N am có thể vạch ra các
phương hướng chủ yếu sau:
Thứ nhất là củng cố và phát triển vững chắc nguồn cung chứng khoán: 1)
ĐNy mạnh tiến trình CPH các DN N N theo hướng lựa chọn các doanh nghiệp
hoạt đông có hiệu quả, có qui mô lớn đưa vào danh sách CPH ; 2) Thúc đNy tiến
trình CN H- HĐH nền kinh tế quốc gia, trong đó tích cực xây dựng hạ tầng vật
chất kỹ thuật; 3) Tăng cường ký kết các Hiệp định song phương và đa phương về
liên kết và khai thông, nối liền TTCK quốc gia vào TTCK quốc tế để thu hút cổ
phiếu của các công ty có uy tín quốc tế.
Thứ hai là, kích thích , khơi dậy và nâng cao khối cầu chứng khoán trong
và ngoài nước: 1) Khơi dậy và thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các
doanh nghiệp trong và ngoài nước vào hoạt động trên TTCK Việt N am. 2)
Muốn kích thích tăng khối lượng cầu chung cho TTCK nhà nước phải chủ động
cải thiện môi trường đầu tư cứng và mềm. 3) Để tăng khối cầu chứng khoán
Việt N am từ thị trường quốc tế cần phải giữ cho chế độ chính trị xã hội ổn định;
luôn có chính sách đối ngoại nhất quán, dễ dàng, cởi mở, minh bạch, nhất là các
chính sách hành chính và kinh tế, nhờ đó mà tháo gỡ được rào cản ngăn chặn
luồng FII từ nước ngoài đổ vào Việt N am.
Thứ ba là, hoàn thiện hệ thống tổ chức – quản lý thị trường chứng khoán
của nhà nước: 1) Hoàn thiện hệ thống chính sách và luật pháp về chứng khoán

và TTCK.; 2) Hoàn thiện hệ thống thiết chế quản lý thị trường theo hướng tập
trung trách nhiệm và quyền lực vào một đầu mối là UBCKN N , từ đó tạo ra cơ
chế phối hợp giữa các cơ cấu chức năng theo mô hình phi ngân hàng; và 3) Bổ
xung, hoàn thiện việc quản lý đối với mọi hoạt động của TTCK, đặc biệt là
quản lý việc phát hành cổ phiếu riêng lẻ của các công ty đại chúng và sự hoạt
động tự do của các công ty này.
Thứ tư là, đ y nhanh tiến trình hội nhập thị trường chứng khoán Việt am
vào thị trường tài chính quốc tế để phát triển: 1) Cải thiện môi trường đầu tư
trong nước theo hướng minh bạch và thuận lợi hóa các đạo luật và qui tắc điều
hành cũng như thủ tục hành chính trong tác nghiệp cũng cần điều chỉnh để các
N ĐTN N dễ dàng tham gia hoạt động trên TTCK trong nước. 2) Tạo điều kiện
để các doanh nghiệp Việt N am niêm yết cổ phiếu trên các thị trường lớn và có
uy tín đồng thời khuyến khích các N ĐT chuyên nghiệp Việt N am thông qua các
phương tiện thông tin liên lạc hiện đại tác nghiệp ở TTCK nước ngoài tạo ra
cầu nối chắc chắn giữa TTCK Việt N am với thị trường quốc tế.
20


3.2 Các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt am trong
điều kiện hội nhập quốc tế
3.2.1
hững giải pháp tác động tới việc hoàn thiện thể chế của thị
trường chứng khoán Việt am
Thứ nhất, giải pháp về hoàn thiện khung pháp lý cho TTCK
Đối với điều tiết TTCK, chỉ có Luật chứng khoán thôi thì chưa đủ, vì thị
trường này liên quan đến nhiều lĩnh vực thuộc đời sống kinh tế - xã hội. Do
đó, cần tiếp tục nghiên cứu, ban hành, bổ sung, sửa đổi lại Luật dân sự, Luật
thương mại, các Luật thuế, Luật chống rửa tiền, Luật N gân hàng, Pháp lệnh
Kế toán - thống kê ... để tạo tính đồng bộ trong điều chỉnh hoạt động của
TTCK.

Thứa hai, nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với TTCK
- Tăng cường năng lực quản lý nhà nước đảm bảo sự quản lý linh hoạt,
nhạy bén đối với TTCK . N hà nước thực hiện điều tiết thị trường thông qua các
chính sách, công cụ kinh tế tài chính- tiền tệ như chính sách thuế, lãi suất, đầu
tư và các công cụ tài chính khác.
- Phối hợp chặt chẽ giữa UBCKN N với các cơ quan hữu quan trong việc
hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng
yêu cầu của công tác quản lý TTCK .
- Xây dựng và áp dụng các tiêu chí giám sát hoạt động của TTCK ; phát
triển kỹ năng giám sát thích hợp để kiểm tra được các giao dịch bất thường;
nâng cao kỹ năng điều tra chuyên sâu phát hiện nhanh các giao dịch nội gián,
thao túng giá cả trên TTCK .
- Phối hợp giữa công tác giám sát và công tác thanh tra, kiểm tra việc tuân
thủ pháp luật của các thành viên thị trường và áp dụng nghiêm các chế tài dân
sự, hình sự đối với các hành vi thao túng chứng khoán và TTCK của các N ĐT
trong và ngoài nước.
Thứ ba, nâng cao và mở rộng vai trò tác nghiệp của các trung tâm giao
dịch chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán và trung tâm lưu ký chứng khoán
- Hoàn thiện hệ thống giao dịch tự động hiện đại tại HOSE và Hastc. Kết
nối mang diện rộng giữa hệ thống giao dịch của TTGDCK với các CTCK thành
viên. Xây dựng hệ thống giám sát tự động kết nối với các hệ thống giao dịch,
công bố thông tin, lưu ký, thanh toán chứng khoán.
- Đảm bảo có một hệ thống công bố thông tin có thể truyền phát rộng và
truy cập dễ dàng cho các đối tượng tham gia thị trường, đặc biệt là các N ĐT.
21


- Tự động hóa hệ thống lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán. Thực
hiện dịch vụ lưu ký cho các chứng khoán chưa niêm yết.
Thứ tư, giải pháp về đào tạo, nghiên cứu, tuyên truyền

- Xây dựng và phát triển Trung tâm nghiên cứu và bồi dưỡng nghiệp vụ
chứng khoán (STRC) thành đơn vị có đủ điều kiện và khả năng nghiên cứu về
TTCK và đào tạo nguồn nhân lực trong nước .
- Tăng cường đào tạo ngoài nước thông qua các chương trình hợp tác với
các nước và các tổ chức quốc tế.
- Tiến hành thông tin tuyên truyền, phổ biến kiến thức về TTCK cho
công chúng.
3.2.2 hóm giải pháp tác động tới điều tiết quan hệ cung- cầu của thị
trường chứng khoán Việt am
Thứ nhất, Tăng cung chứng khoán cho thị trường cả về số lượng,
chất lượng
- ĐNy mạnh quá trình CPH doanh nghiệp theo hướng tăng quy mô vốn
góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Phải gắn tiến trình CPH với
việc niêm yết và đăng ký giao dịch trên TTCK.
- Phát triển thị trường trái phiếu gồm TPCP và TPDN để huy động nguồn
tài chính cho ngân sách nhà nước và vốn hoạt động cho doanh nghiệp.
Thứ hai, thực hiên các biên pháp kích cầu trên thị trường chứng khoán
- Phát triển các định chế tài chính trung gian cho thị trường chứng khoán
+Tăng cường số lượng, quy mô và phạm vi hoạt động của các
CTCK theo hai loại hình : CTCK đa nghiệp vụ và CTCK chuyên doanh.
+ N âng cao số lượng và chất lượng các CTQLQ thông qua việc đa
dạng hóa các loại hình sở hữu công ty.
+Thành lập các tổ chức giám sát trung gian độc lập (TCGSĐL) để
giám sát các hành vi, nghiệp vụ của các nhà môi giới trung gian
- Phát triển các N ĐT tổ chức nội địa và các N ĐTcá nhân. Phát triển các
nhà đầu tư có tổ chức bao gồm các N HTM, CTCK, các công ty tài chính, công
ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm, QĐT để thực hiện chức năng tạo lập và duy trì thị
trường.

22



3.2.3 hóm giải pháp thúc đ y tiến trình hội nhập quốc tế của thị trường
chứng khoán Việt am
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng tài chính quốc gia bền
vững và có hiệu quả.
Hệ thống tài chính cần thiết phải được cấu thành bao gồm: 1) Các tổ chức
tài chính và các thể chế thị trường phát triển đồng bộ; 2) Hệ thống pháp luật rõ
ràng, minh bạch , bảo vệ N ĐT; 3) Các thể chế và thể lệ phù hợp với thông lệ
quốc tế; 4) Cơ chế khuyến khích các tổ chức và định chế tài chính; và 5) Hệ
thống thông tin tài chính cập nhật và đảm bảo tin cậy.
Thứ hai, hoạch đinh một lộ trình hội nhập phù hợp.
Trong bối cảnh hiện nay, để hội nhập an toàn và hiệu quả, Việt N am cần
thực hiện lộ trình hội nhập khu vực trước để tạo ra sức mạnh tổng hợp, tăng
trọng lượng trong đàm phán với các cường quốc kinh tế, trên cơ sở đó tạo tiền
đề để hội nhập toàn cầu. Bên cạnh đó, việc thực hiện lộ trình hội nhập của
TTCK cần phải có được sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, Ban, ngành đặc biệt
là trục tam giác: Bộ Tài chính, UBCKN N , N HN N .
Thứ ba, xác lập một hệ thống chính sách điều tiết vĩ mô đối với lĩnh vực tài
chính linh hoạt và hiệu quả.
Trong điều hành chính sách vĩ mô, cần giảm dần các công cụ can thiệp trực
tiếp vào TTCK. Khuyến khích sử dụng các công cụ gián tiếp chủ yếu là công cụ
kinh tế và điều hành theo hướng để thị trường tự điều chỉnh
Thứ tư, xây dựng một môi trường đầu tư hấp dẫn.
Việc ban hành các chính sách thu hút đầu tư nhất là cho TTCK phải kịp
thời và chuNn xác mới tăng khả năng thu hút các luồng vốn , nhất là FII .
Thứ năm, áp dụng các chu n mực về quản trị công ty cho các doanh
nghiệp
Đặc biệt là các chuNn mực về công bố thông tin nhằm tạo sự bình đẳng và
khuyến khích các doanh nghiệp tích cực tham gia TTCK , thực hiện sự minh

bạch hóa các hoạt động kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự đổi
mới và hoàn thiện đồng thời xóa bỏ thói quen hoạt động khép kín, thiếu linh
hoạt trong việc sử dụng các cách thức huy động vốn từ xã hội.
KẾT LUẬ
23


Có nhiều quan điểm khác nhau về TTCK , theo quan điểm của luận văn thì
“ TTCK là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, là môi trường trong
đó cho phép chuyển hóa trực tiếp từ quyền sở hữu tư bản thành quyền sử
dụng tư bản và tạo ra mối liên hệ chặt chẽ giữa hai quyền đó thông qua sự
vận động của các chứng khoán – một loại hàng hóa, tư bản giả- dưới tác
động của các qui luật thị trường”. Xét về cấu trúc, TTCK được cấu thành bởi
ba yếu tố là cung, cầu và cơ chế điều tiết hình thành giá cả thị trường. Đây là ba
lực lượng cơ bản quyết định động thái biến đổi giá cả của chứng khoán và
thông qua đó biến đổi chỉ số chứng khoán dùng để đo “sức khỏe” của nền kinh
tế. Trong bất cứ nền KTTT nào, kể cả nền KTTT định hướng XHCN , muốn
phát triển TTCK trong điều kiện hội nhập quốc tế đều phải thực hiện qua một
cơ chế tồn tại dưới hình thức một mô hình tổ chức – quản lý TTCK với hệ
thống các thể chế, thiết chế tương ứng và các công cụ chính sách tác động vào
ba nhân tố trên để ổn định giá cả chứng khoán. Tuy nhiên, giá cả thị trường của
các chứng khoán lại chịu tác động bởi hai hệ thống qui luật: Qui luật của nền
KTTT và qui luật tâm lý bầy đàn tác động chi phối hành vi của các chủ thể thị
trường. Ở đây, chỉ số P/E là chỉ số kỳ vọng của các khoản thu nhập trong tương
lai của giá cả mà N ĐT bỏ ra để mua các chứng khoán hiện tại. Do chạy theo lợi
nhuận kỳ vọng trong tương lai, các chủ thể thị trường sẵn sàng làm mọi điều kể
cả đầu cơ, gian lận dưới hình thức “ làm giá”, “ lừa đảo” để tối đa hóa lợi
nhuận. “ Lý thuyết về bước đi ngẫu nhiên” cho ta biết rằng lợi lộc vào tay chủ
thể này thì rủi ro sẽ đến ngay với các chủ thể khác, tiền bạc giá trị, tức là thời
gian lao động xã hội cần thiết kết tinh, không đẻ ra từ lưu thông, từ sự trao đổi

của hàng hóa, kể cả hàng hóa chứng khoán là “ cái bóng” là “ hình ảnh” của
hàng hóa vật thể. Do đó, giá cả thị trường của các chứng khoán luôn được điều
chỉnh để vận động và xoay quanh gần sát với giá trị thực của nó như “ lý thuyết
thị trường hiệu quả ( Efficient market hypothesis) chỉ rõ. Tại thời điểm 7 năm,
kể từ ngày ra đời TTCK Việt N am ( 7/2000), đã có bước phát triển mạnh mẽ cả
về chất và lượng. Về chất đã tạo ra nguồn cung và cầu chứng khoán dồi dào
nhờ việc tác động vào các điểm mấu chốt ảnh hưởng đến khối lượng và chất
lượng cung – cầu cũng như hoàn thiện cơ chế điều tiết để giữ cho TTCK phát
triển trong ổn định và hội nhập thành công. Về lượng, trong 7 năm hoạt động
TTCK Việt N am đã tạo ra được một lượng vốn hóa tới 300.000 tỷ VN Đ tương
đương 33% GDP năm 2006, 200 CTN Y, 300.000 tài khoản của các N ĐT trong
và ngoài nước có uy tín đến tác nghiệp. Tương lai phát triển của TTCK Việt
N am là rộng mở xuất phát từ chính các nhân tố phát triển nội tại của nền KTTT
địn hướng XHCN dưới sự dẫn dắt của các N ghị quyết của Đảng và xu hướng
hội nhập và hợp tác quốc tế mang lại.
24


Để TTCK Việt N am phát triển nhanh trong ổn định cần phải có các giải
pháp với những biện pháp cụ thể thiết thực tác động vào cả cung, cầu, cơ chế
điều tiết quản lý và hội nhập quốc tế mới đem lại hiệu quả cao. Từ đó bảo đảm
cho TTCK Việt N am đủ sức mạnh thực hiện đầy đủ “ xứ mệnh” của mình trong
điều kiện hội nhập quốc tế .,.

25


×