Tải bản đầy đủ (.docx) (43 trang)

khóa luận về ếch thái lan

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 43 trang )

Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng những số liệu trong báo cáo này là hoàn toàn trung
thực và chính xác, là kết quả của quá trình theo dõi trong thời gian thực tập,
không sao chép của ai hay bất kỳ tác giả nào khác.
Tôi xin cam đoan mọi tài liệu tham khảo trích dẫn trong bài đều được nêu
tên trong phần TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Sinh viên
MAI THỊ PHƯƠNG

Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp một cách hoàn chỉnh, bên
cạnh sự nổ lực cố gắng không ngừng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt
tình của quý thầy cô, các anh chị cũng như sự ủng hộ động viên của gia đình,
bạn bè trong suốt thời gian thực tập nghiên cứu và thực hiện khóa học.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Đốc Trường Học Viện Nông
Nghiệp Việt nam, Ban chủ nhiệm Bộ môn Nuôi Trồng Thủy Sản, cùng tất cả
quý thầy cô đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình


học tập tại trường.
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Th.S Võ Quý Hoan và TS
Kim Văn Vạn đã hết lòng hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực tập tốt
nghiệp cũng như trong quá trình hoàn thiện khóa luận.
Em xin gửi lời cảm ơn đến các anh tại trại giống TGT và các bạn lớp
NTTS K56 và các bạn lớp BHTS K56 đã nhiệt tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận
lợi cho e trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp.
Cuối cùng con xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến bố mẹ, anh chị trong gia
đình và bạn bè đã giúp đỡ con cả về vật chất lẫn tinh thần để con có thể hoàn
thành tốt khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn !
Bắc Ninh, ngày 30 tháng 7 năm 2015
Sinh viên
Mai Thị Phương
Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Khoa Thủy Sản

Mai Thị Phương NTTS – K56

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp


Khoa Thủy Sản

Mai Thị Phương NTTS – K56

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

Phần I

MỞ ĐẦU
1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Khi nền kinh tế phát triển, mức sống của người dân được cải thiện và
nâng cao thì nhu cầu thực phẩm cũng đáp ứng theo yêu cầu của xã hội. Vì
thế ngoài thịt cá được mọi người ưa chuộng như là nguồn đạm giàu protein,
ít cholesterol thì thịt ếch cũng được người dân ưa thích, đặc biệt là các nhà
hàng, quán nhậu,… cho nên cá và ếch được sử dụng với tỷ lệ ngày càng gia
tăng. Trong các loài thủy sản có tiềm năng thì ếch Thái Lan ( Rana tigrina) là
loài được các nhà nghiên cứu quan tâm do chúng có giá trị kinh tế, tốc độ
tăng trưởng nhanh, thịt ngon, ếch Thái lan được nhập vào việt Nam trong
những năm gần đây. Ếch cung cấp cho thị trường vẫn chủ yếu dựa vào đánh
bắt trong tự nhiên. Việc nuôi ếch chưa phát triển tại Việt Nam, chủ yếu là
nuôi quảng canh, lệ thuộc vào con giống và thức ăn tự nhiên. Nuôi ếch thâm
canh, sẽ mở rộng khả năng cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến
thủy sản. Tuy nhiên, giá các loại cám công nghiệp ngày càng cao. Sự chênh

lệch giá các loại cám có cùng một hàm lượng protein của một số công ty
khác nhau là chênh là khá nhiều. Giá ếch bán ra thị trường lại rẻ, khiến người
nuôi không có lãi. Bên cạnh đó các công ty cám cạnh tranh bằng phương
thức tiếp thị nhiều, khiến người nuôi dao động trong việc lựa chọn loại cám
nào để đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nhằm tìm ra loại cám thích hợp cho
nuôi ếch Thái Lan cần thiết thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của một số loại
thức ăn công nghiệp tới sinh trưởng ếch Thái Lan nuôi thương phẩm” .

Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

1.2. MỤC ĐÍCH NGIÊN CỨU.
Thử nghiệm 3 loại thức ăn công nghiệp khác nhau cho nuôi thương phẩm ếch Thái
lan:
Theo dõi và so sánh tốc độ tăng trưởng giữa 3 loại thức ăn.
Theo dõi hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) của 3 loại thức ăn và tỷ lệ sống
trong giai đoạn thí nghiệm
Tìm ra loại thức ăn công nghiệp đem lại hiểu quả kinh tế tốt nhất cho người
nuôi.
Phần II

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Đặc điểm sinh học của ếch.
2.1.1. Phân loại

Ếch Thái Lan được phân loại như sau:
Ngành: Chordata
Lớp: amphibian
Bộ : Anura
Bộ phụ: Phaneroglossa
Họ: Ranidae
Giống: Ranna
Loài : Rana tigrina (Dubosis,1981)
Tên Việt Nam: Ếch Thái Lan

Hình 1: Ếch Thái Lan( Rana tigrina) (Dubosis,1981)
2.1.2. Phân bố
Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

Ếch phân bố nhiều ở vùng nhiệt đới: Thái Lan, Đài Loan, Cuba,... Nhóm
động vật ếch nhái trên thế giới có trên 2000 loài (Phạm Trang – Phạm Báu,
1999). Ranidae là một trong những họ lớn nhất của lớp ếch nhái, gồm 46 giống
và 555 loài (Ngô Trọng Lư, 1999).
Ở Việt Nam, có khoảng 82 loài ếch nhái như ếch đồng, ếch gai, ếch cốm,..
trong đó có ếch đồng (Rana rugulosa) là loài có giá trị kinh tế hơn hết. Ếch
thường tập trung nhiều ở các tỉnh phía Nam.
Ở Thái Lan, ếch phân bố khắp cả nước, 2 loài (Rana tigrina và Rana
rugulosa) là được nuôi phổ biến. Ngoài ra, còn nhập ếch bò (Rana catesbeiana)

từ Mỹ về nuôi và nuôi chủ yếu ở phía Bắc của đất nước (Putsatee và ctv, 1995).
2.1.3 Đặc điểm hình thái và vòng đời.
Hình thái
Ếch Thái Lan (Rana tigerin) là loài ếch có kích thước lớn, con trưởng
thành dài 15 cm, nặng 300 gram. Cơ thể ếch to khỏe, mõm nhọn, da dầy và
sần sùi màu vàng nhạt kẻ với màu xanh oliu với nhiều vệt đen, xám ở đầu, chi
và trên lưng. Phần đầu ếch có hai mắt lồi, mí mắt phát triển, mí trên che mất
một phần nhãn cầu, mí mất dưới bất động, mắt có màng nháy. Phần thân ếch
có hai đôi chân, hai chân sau phát triển mạnh, cơ khỏe thích nghi cho việc
phóng nhảy, chân sau có năm ngón; chân trước có bốn ngón, ngón cái phát
triển có u lồi; chân ếch có màng bơi để bơi trong nước. Lưng ếch hơi gù, da
bụng ếch màu trắng, hai bên hông bụng có nhiều gai nhỏ.

Vòng đời
Ếch Thái Lan là loài lưỡng cư, vòng đời có ba giai đoạn chính: nòng
nọc (từ khi trứng nở đến khi mọc đủ 4 chân) sống hoàn toàn trong môi trường
Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

nước, ếch giống (từ 15 - 50 gram/con) thích sống trên cạn gần nơi có nước, và
giai đoạn trưởng thành (sau

8- 10 tháng nuôi và có thể sinh sản).


Tùy giai đoạn phát triển mà ếch thích ứng với các loại thức ăn và môi
trường sống khác nhau. Vòng đời của ếch mô tả theo sơ đồ sau:

2.1.4. Đặc điểm cấu tạo trong của ếch.
2.1.4.1 Hệ hô hấp
Ếch là loài động vật lưỡng cư, vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước. Cơ
quan hô hấp của ếch gồm hai bộ phận: da và phổi, phổi ếch là cơ quan hô hấp
khi ếch sống trên cạn, da ếch giúp hô hấp khi sống dưới nước. Da ếch có khả
năng vận chuyển 51% O2 và 86% CO 2. Trên da ếch, có nhiều mao mạch, O2
trong không khí hòa tan vào chất nhầy trên da, thấm qua da vào các mao

Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

mạch, CO2 theo con đường ngược lại đi ra bên ngoài. Do đó, nếu da ếch thiếu
nước, bỏ khô thì ếch sẽ chết (Phạm Trang – Phạm Báu, 1999). Ngoài ra, ếch
còn có khả năng thay đổi màu sắc để thích nghi với điều kiện môi trường sống
và trốn tránh kẻ thù.
2.1.4.2 Hệ bài tiết.
Ếch có nhu cầu nước rất lớn, do đó sự hấp thu và bài tiết rất nhanh. Thận
bài tiết nước tiểu qua ống dẫn niệu vào xoang huyệt rồi vào bóng đái. Bóng
đái ếch một túi lớn mỏng đổ thẳng vào xoang huyệt. Có khi trong 24 giờ
lượng nước tiểu bài tiết bằng ½ trọng lượng cơ thể. Khi gặp nguy hiểm ếch
phóng nước tiểu ra ngoài để cơ thể nhẹ nhàng và dễ dàng di chuyển (Trần

Kiên, 1996).
2.1.4.3. Hệ tiêu hóa và tính ăn nhau
Ếch có khe miệng rộng dẫn đến khoang miệng lớn giúp nó có thể đớp
được con mồi to. Răng ếch nhỏ hình nón có đỉnh hướng về phía sau và gắn
vào xương hàm trên. Hàm dưới và xương lá mía ở vòm miệng. Chúng giúp
giữ con mồi không bò tuột ra khỏi miệng. Lưỡi có hệ cơ riêng có thể cử động
được, phần trước dính vào thềm miệng và phần sau tự do hướng lưỡi về phía
trong họng. Do đó lưỡi có thể bật ra ngoài để bắt mồi. Các tuyến nhờn trong
xoang miệng có tác dụng làm trơn thức ăn (Bùi Minh Tâm, 1999). Thực quản
ngăn, không phân biệt với dạ dày, thành thực quản có nhiều tuyến nhờn và
tuyến vị tiết acid và men pepsin. Dạ dày ếch có hệ co khỏe và các tuyến tiêu
hóa. Ruột cuộn lại thành nhiều vòng, không phân biệt ruột trước và ruột giữa,
nhưng ruột sau (trực tràng ) phân biệt rõ hơn và là nơi chứa phân. Gan ếch có
chứa chất dự trữ đặc biệt là glycogen và tích tụ mỡ rất nhiều vào mùa hè. Phân

Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

được đổ vào xoang huyệt rồi mới được đổ ra ngoài qua hố huyệt nằm ở cuối
lưng (Trần Kiên, 1996).
Ếch là loại ăn tạp thiên về động vật, đặc biệt là mồi phải di động. Ếch
bắt mồi thụ động, thường ngồi một chỗ quan sát con mồi di chuyển. Khi con
mồi đến gần, ếch phóng lưỡi ra rất nhanh để cuộn lấy con mồi nuốt chửng.
Mỗi khi nuốt con mồi to nó phải nhắm mắt lại (Trần Kiên, 1996).

2.1.4.4. Hệ sinh dục và sinh sản.
Ếch đực trên 1 năm tuổi thì mới có khả năng tham gia sinh sản, đối với con
cái là 6-8 tháng tuổi. Con đực có kích thước và khối lượng nhỏ hơn con cái (Bùi
Minh Tâm, 1999). Phân biệt giới tính ếch còn được thể hiện qua bảng 1 và hình 2
Bảng 1 : Phân biệt giới tính ếch đực và ếch cái (Ngô Trọng Lư, 2002)
Ếch đực
Màng nhỉ lớn hơn mắt
Dưới cằm có 2 túi phát âm
Có chai sinh dục ở góc ngón chi trước
Cơ thể nhỏ hơn

Ếch Cái
Màng nhỉ nhỏ hơn mắt
Không có túi phát âm
Không có chai sinh dục
Cơ thể lớn hơn

Hình 2. Ếch Thái Lan ếch đực (trái) và ếch cái (phải)

Ếch đẻ trứng trong nước và thụ tinh ngoài, theo kích cơ con cái mà số
lượng trứng đẻ ra khác nhau (dao động 3000 – 6000 trứng/lần sinh sản).

Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56


Theo Lê Thanh Hùng (2004), số lượng trứng sinh sản trung bình của ếch đồng
là 860 trứng (tỉ lệ nở 80%), còn ếch Thái Lan là 1200 trứng (tỉ lệ nở 100%).
Trứng ếch phân cắt kiểu không hoàn toàn và không đều.Trứng ếch gồm
có 2 mặt, mặt màu đen hướng lên trên gọi là cực động vật, còn mặt màu trắng
quay xuống là cực thực vật (Lê Thanh Hùng, 2004).
Mùa vụ sinh sản chính là vào mùa mưa (tháng 5 - tháng 11). ếch có thể
đẻ 3 - 4 lần trong năm, thời gian tái thành thục của ếch có thể đẻ 3 - 4
tuần.Trứng ếch rời, có kích thước lớn và bám vào giá thể. Trứng n ở nòng nọc
sau 18 – 24h. Nòng nọc sau 48 giờ bắt đầu ăn thức ăn ngoài. Thời gian biến
thái từ nòng nọc mới nở thành ếch con khoảng 28 – 30 ngày.

2.1.5. Đặc điểm sinh trưởng.
Ếch Thái Lan là loài lưỡng cư, chu kỳ sống có 3 giai đoạn:
Nòng nọc (nở từ trứng đến khi mọc đủ 4 chân): sống hoàn toàn trong
môi trường nước (21 - 28 ngày). Ăn các loài động vật phù du.
Ếch giống (2 - 50gr): Thích sống trên cạn gần nơi có nước. Thức ăn tự
nhiên: Côn trùng, con nhỏ, giun, ốc. Sử dụng được thức ăn viên. Giai đoạn
này ếch ăn lẫn nhau khi thiếu thức ăn.
Ếch trưởng thành (200 - 300gr): Sau 8 - 10 tháng ếch đã trưởng thành
và có thể thành thục sinh sản.
Nguồn nước nuôi ếch Thái Lan
Độ mặn: Ếch nuôi nơi có nước ngọt hoàn toàn, độ mặn không quá 5 0/00
pH nước trong khoảng 6,5 - 8,5. Nước quá phèn phải xử lý vôi trước khi
cho vào ao nuôi.

Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp



Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

Nguồn nước không bị ô nhiễm chất hữu cơ và nước thải công nghiệp. Có
thể sử dụng nước giếng, nước sông hay nước ao.
Nhiệt độ nước thích hợp trong khoảng 25-32 0C tốt nhất là 28 – 30 0C.
Ếch thích nơi yên tĩnh, ít người qua lại, sợ rắn, chim, chuột, đặc biệt rất nhạy
cảm với kim loại nặng, tàn thuốc lá và các chất độc khác.
2.1.6. Dinh dưỡng và thức ăn của ếch:
Tập tính ăn mồi: Ếch ngồi thụ động, quan sát và rình mồi. Khi thấy con
mồi chúng phóng lưỡi ra đớp lấy con mồi, sau đó cuốn lưỡi vào lấy mồi và
nuốt chửng con mồi.
Loại thức ăn: Do thị lực kém nên ếch chỉ đớp được những con mồi di
động hiện diện trước mặt chúng như giun, dế, cào cào, châu chấu, dòi,…(Việt
Chương, 2004). Ếch Thái Lan đã được thuần hóa tốt nên đã sử dụng tốt thức
ăn tĩnh như thức ăn viên hay thức ăn tự chế biến (Lê Thanh Hùng, 2000).
Nhu cầu dinh dưỡng của ếch khá cao, tương tự như các loài cá
ăn tạp thiên về động vật. Thức ăn cho ếch phải đầy đủ dưỡng chất
Mỗi một loại sinh vật đòi hỏi một nhu cầu dinh dưỡng thích hợp để duy
trì sự sống cũng như tăng trưởng và phát triển. Nhu cầu dinh dưỡng cho ếch
càng phù hợp thì sự tăng trưởng và tỷ lệ sống càng cao. Đặc biệt trong giai
đoạn nòng nọc cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng trong đó quan trọng nhất là
protein để nòng nọc phát triển tốt, tỷ lệ sống cao, rút ngắn thời gian biến thái.
Theo Nguyễn Công Tráng, 2007 biên soạn nhu câu dinh dưỡng và lượng thức
ăn sự dụng trong nuôi ếch được thể hiện qua bảng 2 và bảng 3.

Khoa Thủy Sản


Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

Bảng 2: Nhu cầu dinh dưỡng của từng giai đoạn nuôi của ếch.
Hàm lượng
protein (%)
35
30
25
22

Kích thước viên thức ăn
(mm)
2,2 - 2,5
3,0 - 4,0
5,0 - 6,0
8,0 - 10

Thời gian nuôi từ giai đoạn ếch con
15 ngày đầu (3 – 30gr)
30 ngày kế tiếp (30 – 100gr)
30 ngày kế tiếp (100 – 150gr)
Sau 75 ngày (> 150gr)

Lượng thức ăn điều chỉnh hàng ngày tùy theo sức ăn của ếch. Có thể cho ăn
theo bảng.

Bảng 3: Lượng thức ăn sử dụng

Lượng thức ăn sử dụng
Trọng lượng ếch
(gram)

Lượng thức ăn so với
trọng lượng ếch (%)

3 – 30

7 - 10

30 – 50

5-7

>150

3–5

Số lần cho ăn

Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp


Mai Thị Phương NTTS – K56

Ếch có trọng lượng 3 - 100gr cho ăn 3 - 4 lần/ngày, chiều tối và ban đêm
cho ăn nhiều hơn. Ếch có trọng lượng trên 100gr cho ăn 2 - 3 lần/ngày.

2.1.7. Một số yếu tố tác động đến quá trình sinh sản và đời sống của ếch.
Ếch là loài tương đối đặc biệt, chúng vừa sống trên cạn vừa sống dưới
nước. Da ếch là một bộ phận quan trọng và có vai trò đặc biệt trong đời sống
của chúng. Vì vậy, theo Trần Kiên (1996) có 3 điều kiện cơ bản quyết định
trong đời sống của ếch mà người nuôi cần phải quan tâm là:
Có khí hậu nóng
Có độ ẩm không khí cao
Có vực nước ngọt (Trần Kiên, 1996).
Theo Trần Kiên (1996) thì ếch có thể chịu được nhiệt độ thấp nhất là 8-9 0C
còn cao nhất là 40 0C.
Ngưỡng nhiệt độ đối với sự sống của ếch:
Nhiệt độ ếch bị tử vong: 0 oC
Nhiệt độ ếch bị lạnh cóng: 8 - 9 oC
Nhiệt độ ếch bị tê liệt vì nóng: 40 oC
Nhiệt độ cao làm ếch bị tử vong: 50 oC

Nồng độ muối trong nước chỉ cần khoảng 1% cũng đủ làm cho nòng nọc
và đa số ếch bị tử vong.
Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp


Mai Thị Phương NTTS – K56

2.2. Các mô hình nuôi ếch Thái Lan.
Nuôi trong bể xi măng: Thích hợp vùng ven đô thị có diện tích đất
giới hạn (tận dụng chuồng trại cũ hay bể xi măng bỏ không).
Nuôi trong ao đất: Thích hợp vùng ven đô thị hay nông thôn có diện tích đất lớn.
Nuôi trong giai (vèo), đăng quầng: Thích hợp vùng có ao hồ lớn có thể vừa
nuôi ếch kết hợp với nuôi cá.
2.2.1. Nuôi ếch trong bể xi măng
Bể có diện tích trung bình 6 – 30 m 2 (2 x 3, 2 x 5, 3 x 5, 4 x 6, 5 x 6 m),
độ cao 1,2-1,5m để tránh ếch nhảy ra. Đáy ao nên có độ nghiêng khoảng 5o để
dễ thay nước. Nên che lưới nylon trên bễ để tránh nắng trực tiếp và làm tăng
nhiệt độ (có thể sử dụng lưới lan). Không nên che mát hoàn toàn bể nuôi.Mực
nước trong ao khống chế ngập 1/2 - 2/3 thân ếch.
Mật độ thả nuôi:
Tháng thứ nhất: 150 - 200 con/m 2
Tháng thứ hai: 100 - 150 con/m 2
Tháng thứ ba: 80 - 100 con/m 2
Sau khi thả nuôi 7 - 10 ngày phải kiểm tra lựa nuôi riêng những con ếch
lớn vượt đàn để tránh sự ăn lẫn nhau. Khi ếch đạt trọng lượng 50 – 60g sự ăn
nhau giảm. Thường xuyên thay nước. Nước thay có thể là nước sông, nước
giếng, nước ao nhưng phải đảm bảo sạch. Cho ăn nhiều lần trong ngày:
Ếch giống (5 - 100 gram): 3 - 4 lần trong ngày. Lượng thức ăn 7-10%
trọng lượng thân.

Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp



Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

Ếch lớn (100 - 250 gram): 2 - 3 lần/ngày. Lượng thức ăn 3 - 5% trọng lượng
thânẾch ăn mạnh vào chiều tối và ban đêm hơn ban ngày (lượng thức ăn vào
chiều tối và ban đêm gấp 2 - 3 lượng thức ăn ban ngày). Định kỳ bổ sung
Vitamin C và men tiêu hóa để giúp ếch tăng cường sức khoẻ và tiêu hoá tốt
thức ăn. Có thể tận dụng các bể xi măng cũ để nuôi ếch Thái Lan. Khi khống
chế độ sâu nước 10 – 20 cm (không để mực nước quá cao, ếch sẽ ngộp nếu
không lên cạn được) phải sử dụng giá thể để ếch lên cạn cư trú. Giá thể cho
ếch lên bờ (gỗ, tấm nhựa nổi, bè tre…). Phải bố trí đủ giá thể để tất cả ếch có
chổ lên bờ (1/3 - 1/2 diện tích bể).Trường hợp giữ mực nước cao 10 – 20 cm
có thể không cần phải che bể. Mô hình nuôi được thể hiện qua hình 3:

Hình 3. Nuôi ếch trong bể xi măng
2.2.2. Nuôi ếch trong ao đất
Ao diện tích trong khoảng 30 – 300 m2 (4 x 8 m, 5 x 10 m, 10 x 20 m).
Ao không quá lớn khó quản lý.Có thể trải bạc nylon nơi ao không giữ nước.
Rào chung quanh ao để tránh ếch nhảy ra. Có thể dung lưới, tôn fibro xi
măng, phên tre rào 1 - 1,2 m. Mực nước ao khống chế 20 - 30 cm, có ống thoát
nước tránh chảy tràn.
Mật độ thả ếch giống nên thưa hơn nuôi trong bể xi măng 60 - 80 con/m 2
là tối ưu trong tháng đầu. Tạo giá thể cho ếch lên cạn ở (bè tre, gỗ, tấm
Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp


Mai Thị Phương NTTS – K56

nylon…), có thể dùng lục bình làm nơi cư trú cho ếch. Diện tích giá thể 50%
diện tích ao nuôi (khi ao bờ để ếch lên ở). Thường xuyên thay nước để tránh
nước bẩn ếch bị nhiễm bệnh (2 - 3 ngày/lần). Chỉ thay nước 1/3 - 1/4)
tránh thay hết nước. Thức ăn viên nổi cho ăn 3 - 4 lần cho ếch giống và còn 2
-3 lần cho ếch lớn (100gr). Thức ăn thả trực tiếp trên giá thể hay trên cạn.
Nuôi ếch trong ao đất ít tốn chăm sóc hơn nuôi trong bể ximăng và chi
phí đầu tư thấp hơn nhưng có nhược điểm: Tỉ lệ sống thấp hơn nuôi trong ao
do khó kiểm soát dịch bệnh, địch hại và lựa ếch vượt đàn. Ao có nhược điểm
dễ bị rò rỉ, ếch đào hang để trú ẩn, mô hình được bao quát qua hình 4.

Hình 4. Nuôi ếch

trong giai đặt

trong ao
2.2.3. Nuôi ếch
đăng quầng.

trong giai hay

Giai có kích thước 6 – 50 m 2, có đáy, treo trong ao (2 x 3, 4 x 5, 5 x 10
m). Chiều cao 1 – 1,2 m. Vật liệu là lưới nylon. Giai có nắp để tránh ếch nhảy
ra và chim ăn. Tạo giá thể cho ếch lên cạn cư trú (tấm nylon đục lỗ, bè tre).
Tổng diện tích giá thể chiếm2/3 -3/4 diện tích giai.
Mật độ nuôi trong giai tương đương nuôi trong bể xi măng (150 - 200
ếch con trong tháng đầu). Đăng quầng có kích thước lớn hơn giai (100 - 500
m2). Dùng


lưới

nylon

hay đăng tre bao

quanh một diện

tích trong ao.

Mật độ nuôi trong đăng quầng (20 - 40 con/m 2 ). Thả lục bình, bè tre, nylon
nổi để làm nơi ếch lên cạn cư trú. Diện tích giá thể 3/4 diện tích đăng quầng.
Mô hình được thấy rõ trong hình 5.
Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

Hình 5: Mô hình nuôi ếch đăng quầng
2.3. Một số bệnh thường gặp trên ếch.
2.3.1. Bệnh trướng hơi ở ếch con.
Nguyên nhân: Ếch bị sốc do môi trường nước thay đổi nhiều và đôt ngột,
hoặc do ăn nhiều thức ăn không tiêu hóa hết.
Cách phòng trị: Hạn chế thay nước, khi thay nước chỉ thay 1/3 lượng
nước trong hồ. Bổ sung men tiêu hóa vào thức ăn cho ếch ăn. Nên chọn mua

ếch giống từ trại giống có môi trường nước giống với môi trường nước mình
nuôi để tránh hiện tượng ếch bị sốc do thay đổi môi trường.

Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

Hình 6: Bệnh trướng hơi ở ếch, trên hình bên phải là bệnh lòi dom.
2.3.2. Bệnh lở loét.
Nguyên nhân: Do ếch cắn lẫn nhau hoặc do ếch nhảy cọ sát với thành hồ
bị trầy xước. Vết thương nhiễm trùng gây ghẻ lở.
Cách phòng trị: Hạn chế tiếng động và bóng người lui tới làm ếch hoảng
sợ, tách cỡ thường xuyên để con lớn không cắn con nhỏ, cho ăn bằng sàn ăn để
hạn chế ếch táp trúng chân nhau. Tách riêng những con bị ghẻ ra bôi thuốc
kháng sinh và ngâm tắm thuốc sát trùng sau vài ngày sẽ lành vết thương.

Hình 7: Bệnh lở loét ở ếch.
2.2.3. Bệnh xuất huyết (đỏ thân, đỏ chân)
Nguyên nhân: Do môi trường nước nuôi bị nhiễm khuẩn làm cho hai bên
đùi của ếch nổi nhiều vết đỏ, chân sưng to, bụng bị xuất huyết trong, gan sưng
và đọng máu.

Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp



Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

Cách phòng trị: Giữ cho môi trường nước sạch sẽ, không nuôi quá dày,
nên lắng lọc nước một ngày trước khi sử dụng. Khi ếch bệnh tách riêng ra
ngâm trong thuốc tím, đồng thời trộn thuốc kháng sinh (Enro floxacin hoặc
Oxytetracylin) vào thức ăn cho ếch ăn liên tục trong 7 - 10 ngày.

Hình 8: Bệnh xuất huyết ở ếch
2.3.4. Bệnh viêm ruột
Triệu chứng: Ếch bị bệnh có ruột và mỡ thoát ra ở lỗ hậu môn, ruột bị
sưng đỏ, mỏng, bên trong có khi có dịch lỏng trong suốt và lẫn cặn thức ăn
không tiêu, thối.
Cách phòng trị: Trộn xen kẽ men tiêu hóa và thuốc kháng sinh vào thức
ăn cho ếch ăn liên tục trong 4 - 5 ngày. Liều lượng: 5 g thuốc/kg thức ăn.
2.3.5. Bệnh do ảnh hưởng hệ thần kinh
Triệu chứng: Cột sống bị cong lại, đầu lệnh sang một bên, bơi lội xoay vòng
tròn.
Cách phòng trị: Phòng bệnh bằng cách vệ sinh hồ sạch sẽ, tránh các tác nhân
gây sốc (tiếng ồn, cường độ ánh sáng cao, nhiệt độ nước…), thường xuyên bổ
sung thuốc bổ thần kinh (có chứa nhóm vitamin B6), vitamin C vào thức ăn
cho ếch ăn.
Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp



Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

Hình 9: Bệnh quẹo cổ , quay cuồng do thần kinh
2.4. Tình hình nuôi ếch ở Việt Nam và trên Thế Giới.
2.4.1. Tình hình nuôi ếch ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, loài ếch bò được di nhập từ Cu Ba vào miền Bắc từ những
năm 1960 tuy nhiên việc nuôi loài ếch này cho thấy hiệu quả không cao. Bên
cạnh đó thì ếch đồng cũng được các hộ nông dân nuôi với quy mô nhỏ và hộ
gia đình đó chưa chủ động được con giống và nguồ thức ăn, chỉ ăn mồi sống
nên tỉ lệ sống thấp, lợi nhuận không thấp (Ngô Trọng Lư, 2002).
Trong năm 2001 – 2002 một số hộ nuôi ở Thành Phố Hồ Chí Minh, an
Giang, Đồng Tháp đã thu nhập ếch Thái Lan về nuôi. Kết quả ban đầu cho thấy
ếch Thái Lan phát triển tốt và có thể nuôi với quy mô công nghiệp (Lê Thanh
Hùng, 2002).
2.4.2. Tình hình nuôi ếch trên Thế Giới.

Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

Thái Lan đã phát triển nghề nuôi ếch trong những năm gần đây với loài
ếch (Rana tigrina). Trong năm 1995 Thái Lan đã có trên 300 trại nuôi ếch với
qui mô công nghiệp. Ếch được nuôi chủ yếu trong các bể ximăng với diện tích

mỗi bể là 3x 4 x1.2 m, mực nước trong bể giữ khoảng 20 – 30 cm. Mỗi bể đều
có bố trí tấm nhựa mỏng (chiếm 1/3 diện tích bể). Trên tấm nhựa có đục nhiều
lỗ thủng cho ếch nhảy lên khỏi mặt nước và những tấm nhựa còn là nơi chứa
thức ăn. Ếch được nuôi với mật độ là 60 – 80 con/m 2. Cả nòng nọc và ếch lớn
đều cho ăn thức ăn viên, hàm lượng protein thay đổi từ 40% (nòng nọc) đến
25% (ếch lớn). Sau ba đến bốn tháng nuôi có thể đạt 300 – 400g/con có thể
bán, riêng đối với ếch nhập từ Mỹ là ếch Bò (Rana catesbeiana) thì mất sáu
đến tám tháng nuôi nhưng kích cỡ lớn hơn. Hệ số thức ăn trung bình 1.2 – 1.5
(Putsee và ctv., 1996). Ếch bò (Rana catesbeiana) được nuôi nhiều ở núi
Rocky phía Đông nước Mỹ, phía Nam và vùng Đông Bắc Mexico, phía Bắc
Canada. Nhập sang những vùng mới như là sự học hỏi, một loài động vật giải
trí và diệt sâu bọ. California quan tâm đến loài này là để thêm vào động vật.
Đài Loan hy vọng ếch điều khiển côn trùng, sâu bọ. Dần dần ếch Bò được nuôi
rộng rãi nhiều nơi trên thế giới như Canada, Mexico, Mỹ, Pháp, Nhật, Tây Ban
Nha, Tây Ấn Độ và các nước Đông Châu Á (John Baker, 1998).

Ở Thái Lan, nông dân đã thu bắt ếch đồng từ thiên nhiên về nuôi và cũng
không thu được kết quả cao. Từ năm 1995 – 1998, họ đã thu nhập giống ếch
Bò Bắc Mỹ về nuôi và có kết quả tốt. Từ năm 2000, tại Thái Lan đã cho lai
giống ếch bò Bắc Mỹ với giống ếch đồng địa phương cho ra ếch Thái lan, đây
là giống ếch nuôi có hiệu quả kinh tế cao (Nguyễn Chung, 2007).
Ở dài Loan loài ếch bò được nhập từ Nhật Bản vào năm 1924 và là đối
tượng nuôi chính. Một số quốc gia khác như: Ấn Độ, Đức, Ba Lan, Anh và
Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp


Khóa Luận Tốt Nghiệp


Mai Thị Phương NTTS – K56

Singapore đều dự án nuôi ếch và các trại nuôi rất quy mô(Ngô Trọng Lư,
2002).
Phần III

VẬT LIỆU – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại Trung Tâm Giống Thủy Sản TGT Đình Bảng –
Từ Sơn – Bắc Ninh.
3.1.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được ngiên cứu: 15/1/2015 – 30/8/2015
3.2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là giống ếch Thái Lan (Rana tigrina), Được nhập
từ miền nam.
3.2.2. Thức ăn sử dụng
Trong quá trình tiến hành đề tài ếch thí nghiệm được cho ăn thức ăn viên
nổi của 3 công ty với 3 công thức khác nhau có độ đạm tương đương bán
trên thị trường với giá thành chênh lệch nhau khá nhiều được đặt tên là CT1
CT2 và CT3. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm được tóm tắt
ở bảng 4.

Bảng 4: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn sử dụng trong nghiên cứu.
Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp



Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

Thành phần dinh dưỡng của thức ăn

CT 1

CT 2

CT 3

Protein (%)

35

35

35

Chất béo (%)

6

5

Photpho (%)

1


0,8 – 1,5

Muối (%)

2,5

Canxi (%)

2,5

Xơ (%)

5

7

5

Độ ẩm (%)

11

11

11

Năng lượng (Kcal/kg)

3000


2900

2600

Giá (đ/kg)

16.000

17.200

17.600

THỨC ĂN 1

2,5
1,0 – 2,0

THỨC ĂN 2

THỨC ĂN 3

Hình 10. Ảnh các loại thức ăn
3.2.3. Dụng cụ thí nghiệm
Các loại dụng cụ dùng trong quá trình ương nuôi:
Giai nuôi ếch
Vợt, xô, chậu..

Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp



Khóa Luận Tốt Nghiệp

Mai Thị Phương NTTS – K56

Các dụng cụ cho ăn
Cân điện với độ chính xác 0,01g
Các thiết bị đo điều kiện môi trường: Nhiệt kế thủy ngân, các tes pH.
3.3.Phương pháp bố trí thí nghiệm
3.3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm được tóm tắt và mô tả ở Hình 11 và Hình 12.

Ếch Thái Lan

Công thức 2

Công thức 1

Giai
1

Giai
4

Giai
7

Giai
2


Giai
5

Công thức 3

Giai
3

Giai
8

Giai
6

Hình 11. Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Các giai thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên trong cùng 1 ao và tiến hành
trên 9 giai. Mỗi gia có kích thước 10m 2 ( 2 x 5). Giai được cắm ngập trong
nước, mắt lưới a=2mm.

Bảng 5: Tóm tắt bố trí thí nghiệm.
Khoa Thủy Sản

Học Viện Nông Nghiệp

Giai
9


×