Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

Bệnh dịch hạch - dịch tễ học, giám sát và phòng chống

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.81 MB, 90 trang )

LỜI GIỚI THIỆU
Cho đến nay, dịch hạch vẫn là bệnh dịch tối nguy hiểm, được xếp vào diện phải
kiểm dịch và khai báo quốc tế. Trong tình hình giao lưu phát triển mạnh, nguy cơ dịch
hạch bùng phát và lây lan từ địa phương này đến địa phương khác trong nước và từ
nước này sang nước khác là hiện thực cũng như nguy cơ sử dụng Yersinia pestis làm
tác nhân trong vũ khí sinh học dùng trong chiến tranh cũng như khủng bố, là một trong
những vấn đề thời sự cần quan tâm.
Hiện nay công tác thông tin giám sát bệnh dịch hạch đã có nhiều cố gắng và đạt
được những kết quả tích cực, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác phòng
chống dịch tích cực và chủ động.
Tài liệu “Bệnh dịch hạch - dịch tễ học, giám sát và phòng chống” do các tác giả
đã có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy trong công tác phòng
chống dịch hạch biên soạn. Sách cập nhật số liệu mới nhất về tình hình bệnh dịch hạch
trên thế giới, đề cập đến các vấn đề về dịch tễ học, lâm sàng, điều trị, giám sát và
phòng chống bệnh dịch hạch có giá trị về phương diện lý luận và cả thực hành giúp
cho cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và cán bộ làm công tác quản lý hệ y học dự phòng
cũng như sinh viên y khoa tham khảo.
Mong rằng tài liệu này sẽ giúp ích cho các đồng nghiệp có những thông tin cần
thiết, bổ ích trong hoạt động giám sát, phòng chống dịch hạch tích cực và chủ động.

Hà Nội ngày 15 tháng 10 năm 2003

1


LỜI NÓI ĐẦU
Dịch hạch là một bệnh truyền nhiễm tối nguy hiểm do Yersinia pestis gây ra,
lây truyền chủ yếu trong quần thể chuột và sang người qua trung gian bọ chét. Bệnh
tiến triển cấp tính, lây lan mạnh với tỷ lệ tử vong cao và được xếp vào diện phải kiểm
dịch và khai báo quốc tế. Bệnh được biết đến từ thời xa xưa và đã gây nên những nỗi
kinh hoàng trong lịch sử nhân loại qua ba vụ đại dịch với hàng trăm triệu người mắc


và tử vong.
Theo thông báo gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới, số người mắc và tử vong ở
các nước khai báo đang gia tăng, số vùng dịch hạch lưu hành mở rộng ở một số nước
và bệnh đã tái hiện ở một số quốc gia được xem là “im lặng” trong một thời gian dài
với quy mô dịch lớn như Ấn Độ, Malawi, Mozambic ... Gần đây xuất hiện chủng
Yersinia pestis ở Madagascar đa kháng với các kháng sinh thường khuyến cáo sử dụng
trong điều trị bệnh nhân dịch hạch và nguy cơ sử dụng Yersinia pestis làm tác nhân
trong vũ khí sinh học dùng trong chiến tranh cũng như khủng bố, là một trong những
vấn đề thời sự cần quan tâm trên phạm vi toàn cầu.
Hơn một thế kỷ, dịch hạch xâm nhập, lây lan và lưu hành ở Việt Nam đã làm
cho nhiều người mắc và tử vong. Trong những năm gần đây, nhờ giám sát và phòng
chống tích cực, bệnh đã được khống chế rõ rệt nhưng vẫn đang lưu hành tại một số
vùng của khu vực Tây Nguyên và khả năng lây lan sang các vùng khác là có thể xảy
ra. Do đó, phòng chống dịch hạch ở Tây Nguyên cũng như cả nước là một yêu cầu cấp
thiết, không những để bảo vệ sức khỏe, đời sống của nhân dân mà còn góp phần quan
trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở khu vực và qui mô quốc gia.
Tài liệu “Bệnh dịch hạch - dịch tễ học, giám sát và phòng chống” đề cập đến
những thông tin về tình hình dịch hạch trên thế giới, dịch tễ học, lâm sàng, điều trị,
giám sát và phòng chống bệnh dịch hạch nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu
quả công tác phòng chống. Sách xuất bản lần đầu không tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong được các đồng nghiệp góp ý.

2


CHƯƠNG 1.
LỊCH SỬ BỆNH DỊCH HẠCH
VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH DỊCH HẠCH
Dịch hạch là bệnh truyền nhiễm cấp tính, tối nguy hiểm thuộc diện kiểm dịch
và khai báo quốc tế do Yersinia pestis gây nên. Bệnh lưu hành trong quần thể động vật

thuộc bộ gặm nhấm (Rodentia), chủ yếu là chuột và bọ chét ký sinh trên chúng, từ đó
lây truyền sang các loại súc vật khác và sang người. Bệnh thường lưu hành dai dẳng
địa phương nhưng vẫn luôn là mối đe doạ bùng phát thành dịch lớn. Lịch sử loài người
đã ghi nhận 3 vụ đại dịch vào các thế kỷ thứ XI, XIV và XIX với hàng trăm triệu
người tử vong và bệnh dịch hạch đã trở thành nỗi kinh hoàng của nhân loại.
Bệnh dịch hạch được biết đến từ thời xa xưa, mặc dù khó có thể xác định được
những thông tin chính xác cần thiết để phân biệt hoặc chứng minh dịch hạch ở thời
gian này với các bệnh lây truyền cấp tính do vi khuẩn khác hoặc vi rút. Trong Kinh
thánh Cựu Ước, câu 6 và 9, đoạn 5 của sách Samuel I vào khoảng 1320 năm trước
công nguyên, có thể được xem là một trong những tài liệu đầu tiên ghi nhận về bệnh
dịch hạch thể hạch.
Trong khoảng hai ngàn năm qua, các vụ dịch hạch lớn đã lây lan rộng khắp đến
các quốc gia trên thế giới. Đại dịch đầu tiên được ghi nhận vào thế kỷ thứ VI, vào
khoảng từ năm 542 đến 546 xảy ra vụ dịch lớn bắt đầu ở Đế quốc La Mã phương
Đông vào triều đại Vua Justinian 1 ở Ai Cập, lây lan sang Châu Âu, ước tính làm chết
khoảng 100 triệu người ở Châu Á, Châu Phi và Châu Âu.

Hình 1. Diễn biến đại dịch lần thứ 1.

3


Đại dịch lần thứ hai nổi tiếng với tên “Bệnh chết đen – Black Death” vào thế kỷ
XIV, khoảng từ năm 1347 đến 1350. Nguồn gốc của đại dịch này, theo một số tác giả
là có khả năng xuất phát từ Trung Quốc, Mongolia, Ấn Độ, Trung Á hoặc miền Nam
nước Nga xâm nhập vào Châu Âu, có lẽ theo con đường buôn bán tơ lụa chuyên chở
bằng marmots của người Châu Á vào đầu thế kỷ XIV. Dịch hạch xâm nhập đến Caffa
(Feodosiya, Ucraine hiện nay) vào khoảng năm 1346. Quần thể lớn chuột ở đây là điều
kiện cho dịch lây lan mạnh, nhất là khi các thuyền vận chuyển hàng hoá cập bến đến
các hải cảng lớn của Châu Âu như Pera, một vùng ngoại ô của Constantinople và đến

Messina thuộc Sicily. Năm 1348, dịch hạch xâm nhập vào Weymouth, nước Anh. Đại
dịch lần thứ 2 ước tính làm chết khoảng 50 triệu người trên thế giới, trong đó, một nửa
số nạn nhân là ở Châu Âu, chiếm một phần ba dân số Châu Âu thời bấy giờ. Tỷ lệ tử
vong trong đại dịch này từ 70-80%.
Ước tính dân số Châu Âu từ năm 1000 đến 1352: Năm 1000 khoảng 38 triệu
người, năm 1100 khoảng 48 triệu, năm 1200 khoảng 59 triệu người, năm 1300 khoảng
72 triệu người. Năm 1347 khoảng 75 triệu người và đến năm 1352 ước tính chỉ còn
khoảng 50 triệu người. Như vậy trong vòng 5 năm có khoảng 25 triệu người, một phần
ba dân số Châu Âu bị chết trong đại dịch này.

Hình 2. Diễn biến đại dịch lần thứ 2

4


Thời bấy giờ các thầy thuốc hoàn toàn không có biện pháp điều trị thích hợp vì
không hiểu biết về dịch tễ học dịch hạch cũng như điều kiện khoa học kỹ thuật. Tại
trường Đại học Paris, các thầy thuốc cho rằng sự giao hội hành tinh của Sao Thổ, Sao
Hoả và Sao Mộc vào lúc 13 giờ ngày 20 tháng 3 năm 1345 đã gây xáo trộn bầu khí
quyển xung quanh và đó là nguyên nhân gây nên dịch hạch. Họ đề nghị chế độ ăn
kiêng, không ngủ nhiều, tập thể dục, súc ruột và hạn chế quan hệ tình dục.
Một số người đã giết chó và mèo vì họ cho rằng đó là các loài mang bệnh
truyền cho người mà không biết rằng nguồn gốc bệnh dịch hạch là từ chuột, còn những
tín đồ của một số tôn giáo lại kết tội lẫn nhau hoặc kết tội cho phù thuỷ hoặc ma quỷ.
Vào năm 1666, trong thời gian dịch hạch đang hoành hành ở Anh, một mục sư
trong Giáo hội Anh tại giáo xứ Eyam, Derbyshire, nước Anh đã thuyết phục giáo dân
trong giáo xứ mình tiến hành cách ly (quarantine) thành phố của mình, nhưng giải
pháp này cũng không đem lại kết quả gì hơn vì mọi người dân đã sống gần với chuột
nhiễm bệnh và thực tế 100% dân chúng nhiễm bệnh với 72% người dân bị chết.
Mô tả lâm sàng về “Bệnh chết đen” ở Châu Âu, được Boccaccio ghi lại trong

“the Decameron” vào năm 1350: Biểu hiện của bệnh không giống như ở phương
Đông là nôn ra máu từ mũi, sau đó người bệnh tử vong. Ở đây, bệnh mắc ở cả nam lẫn
nữ, biểu hiện nổi một hoặc vài hạch ở bẹn hoặc nách. Hạch to dần bằng quả táo nhỏ
hoặc quả trứng, có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn và thường gọi là những khối u. Chỉ trong
thời gian ngắn, các khối u này lan sang các phần khác trên cơ thể và ngay sau đó, xuất
hiện những đám xuất huyết lớn hoặc nhỏ màu đen trên tay hoặc chân hoặc các phần
khác trên cơ thể.
Đại dịch lần thứ hai kéo dài ở Châu Âu cho đến tận năm 1720 mới kết thúc,
theo nghiên cứu của một số tác giả thì có nhiều nguyên nhân giải thích cho việc này là:
Bọ chét Xenopsylla cheopis, véc tơ chính của bệnh dịch hạch, không thể tồn tại
được lâu hơn nữa trong điều kiện khí hậu của Châu Âu. Chuột Rattus rattus sống khá
gần với người đã được thay thế bởi chuột Rattus norvegicus, loài chuột này thường
sống xa người hơn so với Rattus rattus. Một số chủng Yersinia pestis có độc lực yếu
hoặc những loài Yersinia như Yersinia pseudotuberculosis xuất hiện đã gây được miễn
dịch tự nhiên cho người cũng như chuột. Người Châu Âu đương thời thường bị thiếu
sắt, mà nguyên tố này là một yếu tố cần thiết của độc lực vi khuẩn và việc sử dụng xà
phòng trong sinh hoạt hàng ngày trở nên phổ biến đã làm giảm mật độ tấn công của bọ
chét đối với người.

5


Gần đây, sử dụng phương pháp sinh học phân tử và sử dụng tuỷ răng như là
nguồn “lưu giữ” DNA của vi khuẩn dịch hạch, các nhà khoa học đã chứng minh được
Yersinia pestis chính là tác nhân của vụ dịch “Bệnh chết đen” ở Châu Âu vào năm
1347 cũng như 2 vụ dịch vào năm 1590 và 1722 ở miền Nam nước Pháp.
Cuối thế kỷ thứ 19, sự phát triển mạnh mẽ của giao thông đường thủy đã tạo
điều kiện thuận lợi cho đại dịch thứ ba bắt đầu ở Canton và Hồng Kông vào năm 1894,
nhanh chóng lan truyền đi khắp thế giới. Trong vòng 10 năm, (1894-1903), dịch đã lan
đến 77 thành phố cảng trên khắp 5 châu : Châu Á (31), Châu Âu (12), Châu Phi (8),

Bắc Mỹ (4), Nam Mỹ (15) và Châu Úc (7). Trong đại dịch này, dịch hạch lây lan
mạmh mẽ ở Ấn Độ, chỉ riêng ở Bombay đã làm chết khoảng 13.000.000 người.

Hình 3. Diễn biến đại dịch lần thứ 3
Trong thời gian đại dịch lần thứ 3 đang hoành hành ở Hồng Kông, vào tháng 6
năm 1894, Alexandre Yersin và Shibasaburo Kitasato, đồng thời trong vòng vài ngày,
độc lập thông báo đã phát hiện được sự hiện diện của một loại vi khuẩn bắt màu lưỡng
cực trong hạch, máu, phổi, gan và lách của những bệnh nhân tử vong vì bệnh dịch
hạch.
Alexandre Yersin đã sử dụng kháng huyết thanh để điều trị một bệnh nhân dịch
hạch vào năm 1896, đồng thời quan sát thấy có mối liên quan giữa bệnh dịch hạch và

6


chuột, nhưng phải 2 năm sau, Hankin và Paul Louis Simond ở Bombay năm 1898,
cũng như ghi nhận của Thompson J.A ở Sydney năm 1900 mới xác định được mối liên
quan này.
Vào năm 1897, thời gian dịch hạch đang bùng phát ở Bombay, Ấn Độ Paul
Louis Simond và Masanori Ogata ở Formosa năm 1897 đã phát hiện được ra vai trò
trung gian truyền bệnh dịch của loài bọ chét chuột (Xenopsylla cheopis). Đầu những
năm 1900, Ủy ban Phòng chống Dịch hạch Ấn Độ đã có những nghiên cứu về bọ chét,
nhất là loài Xenopsylla cheopis, cũng trong thời gian này, Waldemar Haffkine đã phát
hiện và chứng minh hiệu quả của vắc xin.
Cơ chế lây truyền bệnh dịch hạch được Bacot A.W và Martin C.J mô tả lần đầu
vào năm 1914.
Vụ dịch ở Mãn Châu Lý, Trung Quốc vào thời gian 1910-1911, làm chết
khoảng 50.000 người. Wu L.T nhận ra vụ dịch hạch thể phổi, thể này lan truyền qua
không khí và Ông đã đề ra những biện pháp phòng ngừa sự lan truyền của thể phổi.
Wu L.T và Strong R.P cùng cộng sự có nhiều nghiên cứu về dịch tễ học và bệnh sinh

học của bệnh dịch hạch thể phổi trong vụ dịch này.
Trong hai thập niên 1950 và 1960, Mayer K.F và cộng sự có nhiều nghiên cứu
sâu hơn về nguồn bệnh, hiệu quả của kháng sinh và vắc xin cũng như bệnh lý học dịch
hạch. Tiếp sau đó, Baltazard M đã mô tả về vai trò của vật chủ kháng bệnh hay nguồn
bệnh “im lặng” trong việc duy trì cũng như bùng phát các vụ dịch trong tự nhiên.
Vi khuẩn dịch hạch trải qua nhiều danh pháp khác nhau, đầu tiên khi mới được
phát hiện có tên là Bacterium pestis, đến năm 1900 gọi là Bacillus pestis, sau năm
1923 đổi thành Pasteurella pestis và tại Hội nghị Sinh vật học Quốc tế lần thứ 10 vào
năm 1970 mới có danh pháp như hiện nay là Yersinia pestis.

7


CHƯƠNG 2.
TÌNH HÌNH BỆNH DỊCH HẠCH HIỆN NAY
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.1. Tình hình dịch hạch trên thế giới.
Các vùng dịch hạch lưu hành không cố định mà luôn luôn thay đổi, tuỳ thuộc
vào sự thay đổi của nhiều yếu tố tự nhiên, xã hội như : khí hậu, động đất, sự di chuyển
của các quần thể gặm nhấm, di dân, ... Hiện nay, các ổ dịch hạch thiên nhiên tồn tại ở
Bắc và Nam Mỹ, Châu Phi, Châu Á và Đông Nam Châu Âu, từ 55 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ
độ Nam. Tuy nhiên, trong vành đai này có những vùng không có ổ dịch hạch như các
hoang mạc với một số lượng ít hoặc không có loài vật chủ gặm nhấm, vùng chí tuyến
hoặc những dãy núi cao đóng băng quanh năm.

Hình 4. Bản đồ các nước báo cáo bệnh nhân dịch hạch và các vùng ghi nhận
dịch hạch ở động vật trên thế giới, 1970-2000.
Từ 1954-2001, Tổ chức Y tế thế giới ghi nhận có 38 quốc gia trên thế giới xảy
ra bệnh dịch hạch gồm 89.651 trường hợp mắc và 7.715 bệnh nhân tử vong. Nhiều
nhất là 6014 bệnh nhân xảy ra năm 1967 và thấp nhất là 200 trường hợp vào năm

1981. Trong gần nữa thế kỷ qua, có 7 quốc gia trên thế giới bệnh xảy ra hàng năm là
Brazil, Cộng hoà dân chủ Công Gô, Madagascar, Myanmar, Pê Ru, Hoa Kỳ và Việt
Nam (phụ lục 1)
Có ba thời kỳ bệnh dịch hạch gia tăng : Thứ nhất vào giữa thập niên 1960, thứ
hai từ 1973-1978 và thứ ba từ giữa 1980 đến nay. Trong thập niên 1990 tỷ lệ mắc tiếp

8


tục gia tăng trên toàn thế giới, nhất là Châu Phi.
Gần nửa thế kỷ qua có sự chuyển đổi về phân bố về địa lý của bệnh dịch hạch
trên thế giới. Trong thập niên 1950, phần lớn các trường hợp dịch hạch là ở Châu Á và
một số vùng ở Châu Mỹ. Vào đầu thập niên 1960, gia tăng số mắc dịch hạch ở Châu
Mỹ và bắt đầu tăng ở Châu Phi. Nửa cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, dịch
hạch bùng phát mạnh mẽ ở Việt Nam chiếm hầu hết ở Châu Á và bắt đầu xảy ra
thường xuyên hơn ở Châu Phi. Trong 20 năm qua, số bệnh nhân dịch hạch ở Châu Phi
tăng dần và xu hướng tiếp tục gia tăng.

Hình 5. Tình hình dịch hạch trên thế giới , 1954-2001
Phân tích thống kê dịch hạch trên thế giới 47 năm qua, từ 1954-2001, theo các
châu lục ghi nhận phần lớn số bệnh nhân được ghi nhận ở châu Á (52.9%), châu Phi
(34.6%) và châu Mỹ (12.5%). Tỷ lệ chết ở châu Á (51.1%), châu Phi (39.3%) và châu
Mỹ (9.6%). Có 47 573 bệnh nhân dịch hạch với 3595 trường hợp tử vong ở 10 nước
châu Á. Từ 1967-1971 là giai đọan có tỷ lệ mắc cao nhất trong suốt 44 năm qua, chỉ
riêng tại Việt Nam đã có 21.716 bệnh nhân, chiếm 97.2% số mắc ở châu Á và 89.2%
số mắc trên toàn thế giới (phụ lục 1).
2.1.1. Châu Phi
Bắt đầu thập niên 1980 có sự gia tăng dần số mắc dịch hạch ở châu lục này và
đang có xu hướng tiếp tục tăng lên.


9


Từ 1980-1997 có 19349 trường hợp mắc với 1781 tử vong (tỷ lệ tử vong 9.2%),
chiếm 66.8% số mắc và 75.8% số tử vong thế giới. Trong thời kỳ này, dịch hạch ghi
nhận ở 13 quốc gia là Angola, Botswana, Cộng hoà dân chủ Công Gô, Keny, Libya,
Madagascar, Malawi, Mozambique, Nam Phi, Uganda, Tanzania, Zambia và
Zimbabwe. Trong đó, Cộng hoà dân chủ Công Gô và Madagascar bệnh xảy ra liên tục
hàng năm. Trong 15 năm qua, chỉ 2 nước Madagascar và Tanzania chiếm 62.5% số
bệnh nhân dịch hạch toàn châu lục này.

Hình 6. Tình hình dịch hạch châu Phi, 1954-2001
2.1.2. Châu Á.
Từ 1954 đến đầu thập kỷ 1980, hầu hết số mắc dịch hạch trên toàn thế giới là ở
Châu Á và riêng 2 quốc gia là Việt Nam và Myamar, năm nào cũng ghi nhận bệnh
nhân Dịch hạch.
Từ 1980 đến 1997, dịch ghi nhận ở 7 nước là : Trung Quốc, Ấn Độ,
Kazakhstan, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Môngôlia, Myamar và Việt Nam. Giai
đoạn 1966 đến 1972, Dịch lớn xảy ra ở Việt Nam chiếm hầu hết số mắc trên thế giới.
Những vụ dịch lớn khác như ở Ấn Độ trong thập niên 1950 và Tanzania và
Madagascar trong những năm 1990 đã ảnh hưởng lớn đến tổng số mắc toàn cầu.

10


Hình 7. Tình hình dịch hạch Châu Á, 1954-2001
Tại Ấn Độ, những vụ dịch lớn xảy ra vào nữa đầu thế kỷ 20, năm 1954 và 1963.
Sau đó gần 30 năm yên lặng, đến đầu tháng 8 năm 1994, xuất hiện bệnh nhân Dịch hạch
thể hạch đầu tiên (xác định bằng huyết thanh học) ở huyện Beed, Bang Maharashtra. Các
biện pháp diệt vector và sau đó là diệt chuột, đồng thời hóa dự phòng đã được nhanh

chóng thực hiện. Tuy nhiên, có 90 bệnh nhận khác được ghi nhận trong vòng 1 tháng ở 15
làng. 15 ngày sau, bùng lên vụ dịch hạch thể phổi ở Surat, một thành phố lân cận cách
300km về phía Bắc huyện Beed. Đầu tháng 10 năm 1994 có 425 bệnh nhân nghi ngờ và
54 trường hợp tử vong được báo cáo trong 14 bang. Công tác điều trị dự phòng hóa học,
diệt bọ chét diện rộng, diệt chuột và đốt rác đã ngăn chặn được dịch. Không trường hợp
dịch nào còn được ghi nhận sau ngày 11 tháng 10 năm 1994.
Giải thích như thế nào về sự bùng nổ dịch hạch ở Ấn Độ sau 30 năm yên lặng?
Phải chăng nguyên nhân là do sự thay đổi sinh thái học do một vụ động đất xảy ra ở vùng
Maharashtra vào tháng 9/1993 làm chết tới 10.000 người, động vật hoảng loạn tìm nơi cư
trú, cây cối, mùa màng bị tàn phá đã gây mất cân bằng sinh thái, thuận tiện cho sự phát
triển của gặm nhấm và bệnh từ thiên nhiên vào trung tâm thành phố. Mặt khác hàng chục
ngàn người sau động đất rơi vào tình trạng không nhà ở, phải tập trung trong điều kiện
kiến trúc hạ tầng không thích hợp, điều kiện sinh hoạt và vệ sinh tạm bợ. Đồng thời việc
thu gom rác không được tổ chức tốt, vun đống trên đường nên thu hút chuột, làm tăng sự
tiếp xúc giữa chuột và người. Đó là những điều kiện hết sức thuận lợi cho sự bùng phát
dịch ở đây. Hơn nữa vài tuần trước khi xảy ra dịch mưa lớn và lụt lội cũng như một số
lượng lớn dân tập trung trong một kỳ nghỉ lớn có thể là điều kiện thuận lợi cho việc
lan truyền bệnh.

11


Tuy nhiên, trước vụ dịch này đã có nhiều thông tin cho thấy dịch hạch sẽ xảy ra
ở Ấn Độ. Các nhà nghiên cứu ở Viện quốc gia các bệnh truyền nhiễm ở Ấn Độ đã báo
cáo rằng trong 5 năm trước đó quần thể gặm nhấm phía Nam Ấn Độ đã xuất hiện
huyết thanh có kháng thể dịch hạch. Hơn nữa vào năm 1991, các nhà động vật học của
Trường đại học tổng hợp New Delhi khi nghiên cứu bọ chét ở vùng Maharashtra và
Karnataka đã nhận xét có sự hoạt động mạnh mẽ của các ổ dịch hạch và trước khả
năng có thể bùng phát dịch bệnh đã yêu cầu tăng cường giám sát dịch hạch.
Sự thật dịch hạch không hề biến mất ở Ấn Độ. Từ năm 1966 nhiều vụ dịch hạch

nhỏ trên người đã không được xác minh, một vụ vào tháng 9/1983 ở Himachal Pradesh
làm 17 người chết, một vụ dịch khác vào tháng 4/1984 ở Dharpuri (miền Nam Ấn Độ).
Cơ quan giám sát dịch hạch ở vùng Maharashtra vào năm 1987 cho thấy xuất hiện ở
Beed những chỉ số dịch tễ học trước các vụ dịch người (số lượng gặm nhấm, chỉ số bọ
chét, mật độ gậm nhấm và tỷ lệ bọ chét bị nhiễm), nhưng không được nghiên cứu tiếp
để đi đến tổ chức các biện pháp dự phòng tại chỗ như diệt chuột, bọ chét để hạn chế
dịch bệnh.
2.1.3. Châu Mỹ.
Dịch hạch xảy ra ở 5 nước : Bolivia, Brazil, Ecuador, Peru và Hoa Kỳ. Trong
đó, Brazil, Peru và Hoa Kỳ bệnh xảy ra hàng năm. Riêng Peru và Brazil tổng số mắc
trong thời kỳ 1980-1997 là 3137 với 194 trường hợp tử vong (tỷ lệ tử vong là 6.2%),
chiếm 82% số mắc của toàn Châu lục.

Hình 8. Tình hình dịch hạch châu Mỹ, 1954-2001

12


Nghiên cứu chu kỳ dịch hạch xảy ra khác nhau, thời kỳ yên tĩnh có thể kéo dài
10 năm hoặc hơn sau khi xuất hiện đột ngột dịch trên người và động vật. Vấn đề cần
phải nghiên cứu sâu hơn là tại sao dịch hạch lại xảy ra một cách ngẫu nhiên như thế.
Mặc dù hiện nay bệnh lưu hành chủ yếu tại các ổ dịch hoang dại, nhưng có những
vùng có khả năng gây ra dịch rải rác trên người như ở Trung Quốc, Ecuador và
Tanzania (1980), Libian Arab Jamahiriya (1984), Peru (1992-1994), Bostwana (1987),
Kenya và Ấn Độ (1990), Mozambique, Zimbabwe và Ấn Độ (1994).
Dịch hạch ở Tanzania bùng phát vào năm 1991 với 129 trường hợp, Myanmar
vào năm 1992: 528 trường hợp; Zaire từ 1991 - 1993: 1.315 trường hợp; Peru từ cuối
1992 đến giữa 1994: 1.151 bệnh nhân và gần như đồng thời với Ấn Độ, Mozambic
cũng ghi nhận được dịch hạch thể hạch sau hơn 15 năm vắng lặng. Dịch hạch ở những
nơi này có tỷ lệ chết cao nhưng không làm chấn động thế giới như Ấn Độ, điều đó có

lẽ do Ấn Độ các phương tiện truyền thông đại chúng phát triển và sự giao lưu với thế
giới rất mạnh mẽ. Thực tế cho thấy rằng, có thể một ngày nào đó chỉ một con chuột
nhiễm dịch hạch hay một người đang ủ bệnh sẽ gây ra hoặc mang đến một nơi nào đó
một ổ dịch mới.
Theo ghi nhận của Tổ chức Y tế Thế giới, trong 15 năm qua (từ năm 1987 đến
2001) dịch hạch ghi nhận ở 24 quốc gia trên thế giới với 36.876 trường hợp. Trong đó
có 7 quốc gia dịch hạch ở người hàng năm là Madagascar và Tanzania ở Châu Phi. Pê
Ru và Hoa Kỳ ở Châu Mỹ. Môngôlia, Trung Quốc và Việt Nam ở Châu Á. Tổng số có
36.876 trường hợp, trong đó 2.876 bệnh nhân tử vong, phân bố bệnh nhân mắc (chết)
của các châu theo từng năm như sau:
Bảng 1. Tình hình mắc (chết) dịch hạch trên thế giới, 1987-2001.
Năm 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Châu 1000 1140 421 873 2761 1062 1010 1273 2560 2576 5101 2341 2344 2431 2557
Phi (199) (138) (54) (108) (163) (181) (131) (106) (123) (173) (261) (182) (196) (227) (165)
Châu
Mỹ

88
(9)

52
(5)

30
(-)

48
(6)

21 158 621 438 115 55

(-) (6) (32) (21) (3) (6)

44 28 37
(1) (14) (1)

25
(-)

12
(-)

Châu 119 210 425 505 227 1012 605 1229 186 386 274 95 222 257 102
(8) (10) (49) (29) (15) (30) (28) (85) (11) (26) (12) (13) (15) (5) (10)
Á
Thế 1207 1402 876 1426 3009 2232 2236 2940 2861 3017 5419 2464 2603 2513 2671
giới (216) (153) (103) (141) (178) (217) (191) (212) (137) (205) (209) (209) (212) (238) (175)

13


Trong 2 năm gần đây, theo thống kê chưa đầy đủ thì dịch hạch vẫn xảy ra ở một
số nước như tại Malawi, dịch hạch xảy ra ở huyện Nsanje, từ ngày 16 tháng 4 năm
2002 đến 27 tháng 5 với 71 trường hợp mắc.
Dịch hạch thể phổi bùng phát ở xã Hat Koti, huyện Shimla, Bang Himachal
Pradesh, Ấn Độ từ ngày 4 đến 19 tháng 2 năm 2002 có 16 người mắc với 4 bệnh nhân
tử vong. Các bệnh phẩm đã được Viện Quốc gia Phòng chống các bệnh Truyền nhiễm
khẳng định sự hiện diện của Y. pestis.
Gần đây, tính đến ngày 23 tháng 6 năm 2003 đã xảy ra dịch hạch tại Tafraoui,
ngoại ô tỉnh Oran, Angêria với 10 trường hợp mắc, 8 trường hợp thể hạch, 1 thể phổi
và 1 thể nhiễm khuẩn huyết. Trong số này có 1 bệnh nhân đã tử vong. Kết quả xét

nghiệm Yersinia pestis ở bệnh phẩm những bệnh nhân này dương tính.
Thực tế tình hình dịch hạch trên thế giới cho đến nay vẫn diễn biến phức tạp,
không thể nói rằng sẽ loại trừ dịch hạch trong tương lai gần. Cũng không thể buông
lỏng sự giám sát dịch hạch. Năm 1995 ở Madagascar bắt đầu nghiên cứu phòng chống
dịch hạch toàn diện và tổ chức mạng lưới nghiên cứu vấn đề này trong các Viện
Pasteur (Acip Peste). Tại Trung Quốc mặc dù tình hình dịch hạch đã được khống chế
mạnh mẽ nhưng hệ thống giám sát phòng chống chủ động bệnh dịch này vẫn được đẩy
mạnh và giải quyết chặt chẽ. Những năm gần đây Hội nghị quốc tế về nghiên cứu và
phòng chống dịch hạch vẫn được Tổ chức Y tế Thế giới tổ chức thu hút được nhiều
nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về lĩnh vực này tham dự. Tại hội nghị quốc tế về
giám sát và phòng chống dịch hạch tổ chức ở Bangalore, Ấn Độ từ 15-17 tháng 07
năm 2002, theo Tikhomirov E, chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới thì có 6 tiêu
chuẩn để đánh giá tính ưu tiên trong nghiên cứu và phòng chống của một bệnh là : Tác
động của bệnh đó (nguyên nhân gây mắc và chết), nguy cơ tác nhân gây nên dịch, hiệu
lực trong dự phòng và điều trị bệnh, tầm quan trọng đối với quốc tế, ảnh hưởng đến
kinh tế và nguy cơ sử dụng có mục đích. Dịch hạch có đầy đủ 6 yếu tố trên và như vậy
nên được xem là bệnh cần ưu tiên nghiên cứu và phòng chống.
2.2. Tình hình dịch hạch ở Việt Nam.
Hơn 1 thế kỷ bệnh dịch hạch có mặt ở Việt Nam, có khả năng từ Hồng Kông
xâm nhập đến vào năm 1898 trong bối cảnh của đại dịch lần thứ ba. Bệnh bám rễ và
lưu hành có thời kỳ bùng phát xen kẽ với những thời kỳ lắng dịu nhưng thực sự chưa
bao giờ được loại trừ.

14


Bảng 2. Số mắc và tử vong dịch hạch ở Việt Nam (1898-2002)
Năm Mắc
1898 72
1906 36

1907 519
1908 2435
1909 422
1910 2528
1911 1108
1912 579
1913 1689
1914 1466
1915 408
1916 624
1917 792
1918 948
1919 401
1920 369
1921 453
1922 396
1923 223
1924 99
1925 106
1926 70
1927 19

Chết
53
22
412
1325
325

255

112

16
17
52
8

Năm
1928
1929
1930
1931
1932
1933
1934
1935
1936
1937
1938
1939
1940
1941
1942
1943
1944
1945
1946
1947
1948
1949

1950
1951
1952

Mắc Chết
51
5
30
23
21
17
3
2
5
17
17
4
3
1
0
0
0
52
53
48
41
19
52
24
90

40
355 105
113 55
149 33
119 39
40
7

Năm
1953
1954
1955
1956
1957
1958
1959
1960
1961
1962
1963
1964
1965
1966
1967
1968
1969
1970
1971
1972
1973

1974
1975
1976
1977

Mắc Chết
22
2

43
4
15
0
15
85
125
119
485
4563
2844
5718
4194
5098
4044
3479
1360
465
1695
895
13733

13817

9
1
2
1
5
9
6
47
253
141
275
216
208
78
129
63
38
112
21
440
414

Năm
1978
1979
1980
1981
1982

1983
1984
1985
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002

Mắc Chết
5344 154
3642 95
2427 65
3000 101
3971 89
1902 46
3293 108
2746 81

1891 91
1939 104
2959 75
778
56
1044 55
439
8
491
20
667
30
422
33
179
11
277
20
210
11
85
7
196
6
38
0
12
0
9
0


Có thể chia tiến trình bệnh dịch hạch ở Việt Nam làm 4 thời kỳ dịch tễ học như
sau:
2.2.1. Thời kỳ xâm nhập và tạo lây lan nội địa (1898-1922).
Dịch hạch ghi nhận đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1898 tại Nha Trang, đến năm
1906 một lần nữa ghi nhận tại cảng Sài Gòn (thành phố Hồ Chí Minh hiện nay). Sau
đó, bệnh dịch hạch bắt đầu lây lan đến các tỉnh thành khác như : Sóc trăng năm 1907,
Hà Nội, Phan Thiết và Huế năm 1908, Lạng Sơn năm 1909, Phan Rí và Đà Nẵng năm
1910. Đánh dấu sự xâm nhập của bệnh dịch hạch vào Việt Nam.
Sau khi xâm nhập dịch lây lan đến một số tỉnh, thành phố như vụ dịch năm
1911 lan rộng đến Châu Đốc, Long Xuyên, Thủ Dầu Một. Vụ dịch này có nhiều bệnh
nhân dịch hạch thể phổi, làm chết 886 người. Năm 1917, dịch hạch xuất hiện ở Hải

15


Phòng, Đồ Sơn, Hon Gai. Tây Ninh, Biên Hòa. Thời kỳ 1918-1921, bệnh tiếp tục bùng
phát kể cả những có dịch cũ. Những nơi dịch hạch xâm nhập đền có tính chất tạm thời
trừ Sài Gòn và Phan Thiết có chiều hướng trở thành vùng dịch dai dẳng.
2.2.2. Thời kỳ lắng dịu và trở thành dịch lưu hành địa phương (1923-1960).
Ở Miền bắc từ năm 1923 không có trường hợp nào được ghi nhận, bệnh được
xem như “im lặng” ở Miền Bắc. Dịch ở Miền Nam giảm dần chỉ còn lưu hành ở Sài
Gòn và Phan Thiết. Từ 2 nơi này có một số thời điểm dịch lan rộng. Đà Lạt: 1947,
1948 và 1950. Bình Long và Tây Ninh năm 1955 và 1956.
2.2.3. Thời kỳ bùng phát, lan tràn và lưu hành trên diện rộng (1961-1990):
có thể phân chia thành 2 thời kỳ nhỏ:
1961-1975: Dịch hạch bùng phát lan tràn đến 30 tỉnh, thành ở Miền Nam. Tỷ lệ
tử vong của số bệnh nhân vào điều trị năm 1967 là 5,3% và năm 1968 là 5,1%. Tỷ lệ
tử vong trung bình trong 10 năm (1965-1974) là 5%. Sau đó tiếp tục lưu hành trên diện
rộng ở các tỉnh vùng duyên hải Miền Trung, Tây Nguyên, và Miền Đông Nam Bộ.

Đặc biệt là giai đoạn 1966 đến 1972, dịch lớn xảy ra ở Việt Nam chiếm hầu hết số mắc
trên thế giới.

Hình 9. Số bệnh nhân dịch hạch ở Việt Nam so với thế giới, 1954-2001.
Chính quyền miền Nam Việt Nam (chế độ Sài Gòn cũ) được Người Mỹ giúp đỡ
thực hiện chương trình quốc gia phòng chống bệnh dịch hạch cuối thập niên 1960 và
đầu thập niên 1970, đã khống chế được dịch một bước nhưng nhìn chung dịch vẫn lưu

16


hành nặng nề trên quy mô lớn.
Từ 1975-1990: Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất nên giao lưu giữa
2 miền Nam, Bắc và các vùng, khu vực được thuận lợi và dễ dàng hơn. Bên cạnh đó,
30 năm chiến tranh liên tục đã để lại trên đất nước ta những hậu quả nặng nề. Do vậy
dịch hạch có điều kiện lây lan, bùng phát lên trên một diện rộng với số mắc và tử vong
tăng vọt. Miền Bắc Việt Nam sau hơn 50 không ghi nhận dịch hạch đã xuất hiện trở lại
một số địa phương như Hà nội năm 1977, 1978, 1986, 1987; Hải Phòng năm 1978 và
1986; Bắc Thái năm 1978; Hà sơn Bình năm 1978; Hải Hưng năm 1978, 1986; Hà
Nam Ninh năm 1986; Thanh Hoá năm 1980 và Nghệ Tĩnh năm 1978, 1979.
2.2.4. Thời kỳ thu hẹp và trở thành lưu hành tại một số ổ dịch dai dẵng
(1991 đến nay):
Số mắc và tử vong dịch hạch ở Việt Nam đang trong chiều hướng giảm mạnh
và phạm vi dịch hạch lưu hành thu hẹp nhiều. Trong 4 năm qua (1999-2002), dịch chỉ
còn ghi nhận tại một số địa phương 2 tỉnh Đắc Lắc và Gia Lai với diện dịch tập trung
dai dẵng vào một số xã thuộc 2 huyện: Đắc Đoa, tỉnh Gia Lai và EaH’leo, tỉnh Đắc
Lắc. Diễn biến số mắc (tử vong) dịch hạch được trình bày ở bảng sau:
Bảng 3. Tình hình dịch hạch ở Việt Nam phân theo tỉnh, 1991-2002.
Tỉnh


1991 1992 1993
31
Quảng Ngãi
(1)
Bình Định 20(1) 93(3) 61(2)
6(0) 35(1)
Phú ên
13(4) 27(2)
Khánh Hoà
4 (0) 5(1)
Kon Tum
68
109 171
(6)
Gia Lai
(6) (20)
344 236 372
Đắc Lắc
(1) (6) (4)
1(0)
Lâm Đồng
1(0)
Tây Ninh
439 491 667
Tổng cộng
(8) (20) (30)

1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002

40(1) 26(0) 59(2) 9(0) 3(0)

2(0)
7(0) 2(0) 2(0) 2(0)
259 97 202 89
(25) (8) (17) (5)
112 51 13 108
(5) (1) (3) (5)
2(2) 3(2) 1(1) 2(1)

35
(6)
47
(1)

39
(3)
157
(3)

15
(0)
23
(0)

3
(2)
9
(0)

4
(0)

5
(0)

422 179 277 210
(33) (11) (20) (11)

85
(7)

196
(6)

38
(0)

12
(0)

9
(0)

17


CHƯƠNG 3.
DỊCH TỄ HỌC BỆNH DỊCH HẠCH
3.1. Vật chủ bệnh dịch hạch.
Dịch hạch là bệnh truyền nhiễm, lây truyền trong quần thể gặm nhấm. Bệnh
duy trì trong các ổ dịch thiên nhiên của các loài gặm nhấm và lây truyền qua trung
gian bọ chét sống ngoại ký sinh trên chúng. Phần lớn các loài động vật hoang dại đều

bị nhiễm vi khuẩn dịch hạch nhưng chúng có tính đề kháng tương đối với bệnh nên
không đóng vai trò quan trọng trong vật chủ bệnh dịch hạch.
Trên thế giới bộ gặm nhấm (Rodentia) có khoảng 6.000 loài, trong đó họ chuột
(Muridae) có 150 loài chuột. Ở Việt Nam có 56 loài gặm nhấm và họ chuột có 43 loài
phân bố trên toàn lãnh thổ. Những loài chuột thường gặp ở khu dân cư Việt Nam là :
* Chuột lắt (Rattus exulans) : Chuột lắt là loài thuộc giống rattus, có kích thước
nhỏ bé, chiều dài đuôi khoảng từ 116-152 mm và thường dài hơn thân. Màu lông lưng
xám thẫm hơi phớt nâu đến nâu, có gai lông mảnh. Lông bụng màu nhạt, ngực hơi
vàng hoe. Đuôi màu nâu thẫm.

Hình 10. Chuột lắt (Rattus exulans)
Ở Việt Nam, chuột lắt phân bố ở Miền Nam, ranh giới phía bắc có thể là địa
phận Vĩnh Linh. Trên thế giới, chuột lắt phân bố khá rộng rãi : Miến Điện, Malaixia,
Thái Lan, Campuchia, miền Nam Việt Nam.
Chuột lắt sống bám vào khu dân cư, không gặp ở ngoài đồng, rừng. Khảo sát một
số khu dân cư kinh tế mới thường thấy chuột lắt xâm nhập sau khoảng 2 tháng. Đặc
biệt thích hợp cho loài chuột lắt là nhà tranh tre, vách nứa, chúng có nhiều nơi để trú

18


ẩn và làm tổ. Chuột lắt leo trèo giỏi, chính vì vậy mà chúng có khu vực phân bố chung
với các loài khác, khi bị tấn công chúng thường chiếm lĩnh phần cao. Nếu trong phạm
vi hẹp có đủ điều kiện thức ăn, nước uống và nơi trú ẩn yên ổn thì chuột lắt không di
chuyển xa mà sống rất gần người ngay trong rương, hòm, tủ áo quần, gường nằm của
người.
Chúng thường làm tổ nơi yên ổn, kín đáo hoặc ngay chổ người thường qua lại
nhưng không đụng chạm đến. Chúng làm tổ bằng các vật liệu mềm như giấy, rác, vải
... Nhà lợp tranh hoặc vách tranh, thân tre rỗng là nơi làm tổ thuận lợi cho chuột lắt.
Chúng đục khoét dần có khi xuyên thủng các mắt ống tre của cây tre dài 5-10 mét và

làm tổ qua nhiều thế hệ, có khi chúng cắn tranh trên mái nhà làm tổ.
Ở các khu dân cư này thì chuột lắt chiếm đa số, thường từ 50% đến 94%. Kết
quả nghiên cứu ở xã Ia Pết, huyện Đắc Đoa, tỉnh Gia Lai năm 1999, 2001 và 2002 đặt
6957 lượt bẫy, thu được 410 vật chủ. Qua phân tích cho thấy loài chuột lắt chiếm
55,9%.
* Chuột khuy hay còn gọi chuột rừng (Rattus rattus): Chuột khuy có kích
thước tương đối lớn, trọng lượng dao động 140 - 300 gram. Chiều dài thân khoảng 160
- 210 mm và chiều dài đuôi khoảng từ 176 - 250 mm và thường dài hơn thân. Màu
lông lưng xẩm hung, màu trắng xám ở bụng và đuôi màu nâu thẩm.

Hình 11. Chuột khuy (Rattus rattus)

19


Chuột khuy có phân bố mọi sinh cảnh, có thể gặp trong nhà, vùng ven biển,
đồng lúa, đồng cỏ, đồi rừng, trong rừng ... Trong sinh cảnh thành thị, rattus rattus gặp
nhiều ở những nơi công cộng như ga xe lửa, cảng. Ở miền Bắc Việt Nam, rattus rattus
thường gặp ở rừng và trung du. Ở Miền Nam gặp ở khắp mọi nơi. Trên thế giới, loài
chuột này phân bố khá rộng rãi : Miến Điện, Malaixia, Thái Lan, Campuchia, miền
Nam Việt Nam.
Đây là loài có thể thích nghi với nhiều loại sinh cảnh nên hang tổ cũng tùy
thuộc vào sinh cảnh. Trong rừng, chúng làm tổ trên cây. Ngoài đồng, chúng đào hang
làm tổ ở bờ ruộng, mô đất, rơm rạ ... Trong nhà, Rattus rattus thường làm tổ trong ống
tre trên mái nhà, đục khoét ống tre hoặc cắn tranh trong mái tranh ... tự như rattus
exulans. Trong sinh cảnh thành thị, chúng làm tổ trong các hang hốc tự nhiên, trong
đống nguyên phế liệu.
Tùy vào môi trường chuột khuy đang sống mà chọn nguồn thức ăn thích hợp.
Chúng sống cũng khá gần người nên cũng ăn thức ăn của người : thóc, bắp, củ mì, rau,
cá, thịt ... Thường mùa khô, ở ngoài đồng thiếu thức ăn, nước uống chuột thường vào

trong nhà, mùa có lúa ngoài đồng chúng di chuyển ra ngoài đồng.
* Chuột cống (Rattus norvegicus) : Chuột cống là loài có thân hình lớn, chiều
dài từ mũi đến đuôi của con trưởng thành khoảng 439 – 500 mm, trong đó đuôi bao
giờ cũng ngắn hơn thân, khoảng 190-238mm. Màu lông lưng thay đổi từ nâu xám đến
xám đen. Bộ lông có nhiều lông cứng mọc dài hơn lông thường. Lông bụng trắng đục,
gốc màu xám.

Hình 12. Chuột cống (Rattus norvegicus)

20


Chuột cống được mệnh danh là loài chuột thế giới, nguồn gốc của loài chuột
này là ở Đông Nam Á, theo các phương tiện giao thông, nhất là đường thủy mà chúng
phổ biến trong các khu dân cư thành thị như hiện nay.
Ở Việt Nam, loài này sống đông đúc trong thành phố, thị xã và những vùng lân
cận có đường giao thông thuận lợi và có môi trường thuận lợi là nhiều cống rãnh ẩm
ướt. Loài chuột này là chỉ thị cho môi trường kém vệ sinh. Tỷ lệ loài chuột này giảm
dần từ nội thành ra ngoại thành, chúng thường sống gần người và kiếm ăn trong các
đống rác thải, chui rúc trong chuồng gia súc, cống rãnh, trú ẩn trong các hang hốc tự
nhiên : đống gạch ngói, tường đổ, khe hở tường.
* Chuột chù hay còn gọi chuột xạ (Suncus murinus): là loài thú ăn côn trùng,
sâu bọ là chính, có mõm nhọn, tai và mắt nhỏ. Màu lông xám tro đậm. Chuột có chất
tiết làm cho có mùi hôi đặc biệt.

Hình 13. Chuột chù (Suncus murinus)
Chuột xạ ở Việt Nam có 3 giống, trong đó giống Suncus và loài Suncus
murinus là phổ biến nhất và phân bố rộng trên toàn lãnh thổ, thường gặp ở độ cao dưới
100 m. Mặc dù là loài ăn chủ yếu là côn trùng nhưng chúng sống bám vào nhà. Trong
nhà ở, chúng sống, trú ẩn và làm tổ trong các hang hốc tự nhiên nơi ẩm thấp nhất, tối

tăm nhất, gần lu vại chứa nước, dưới đống cây, gỗ mục, đống gạch đá, góc vườn nhà.
Vật chủ là một trong ba mắt xích quan trọng trong việc duy trì và lưu hành bệnh
dịch hạch. Căn cứ vào sinh thái, sinh học của vật chủ, có thể chia ra thành 2 loại ổ
bệnh dịch hạch:
- Ổ dịch hạch “thiên nhiên” hay “hoang dại”: Hơn 200 loài động vật được xác
định là nhiễm Yersinia pestis trong điều kiện tự nhiên, trong đó chủ yếu là các loài

21


gặm nhấm. Tuỳ vào vùng địa lý mà thành phần chính của các loài gặm nhấm có vai trò
vật chủ khác nhau. Hoạt động của ổ dịch hạch hoang dại tồn tại trong thiên nhiên, độc
lập với các hoạt động của người. Ổ dịch hạch hoang dại hình thành từ lâu và tồn tại lâu
dài trong những điều kiện nhất định của tự nhiên.
Theo học thuyết “ổ bệnh thiên nhiên” của Palôpxki năm 1946, có 3 mắt xích
quan trọng là : mầm bệnh, vật chủ và trung gian truyền bệnh, chúng có quan hệ sinh
thái học chặt chẽ với nhau tạo nên quá trình sinh dịch và duy trì lâu dài trong các sinh
địa cảnh nhất định. Ổ bệnh dịch hạch “thiên nhiên” được xác định với những tính chất
riêng, bao gồm nhiều yếu tố như đặc điểm sinh địa cảnh, khí hậu và ranh giới ổ dịch.
Loài vật chủ chính và các loài thứ yếu cũng như tính chất của mầm bệnh.
- Ổ dịch hạch trong và xung quanh khu dân cư hay ổ dịch “gần người” : Được
Uỷ ban Nghiên cứu Dịch hạch Anh xác định vào năm 1906, vật chủ chính là các loài
chuột sống gần người như Rattus rattus, Rattus norvegicus và Rattus exulans. Những
loài chuột sống trong và xung quanh khu dân cư thường gây nên những vụ dịch với
quy mô lớn hơn nhiều so với ổ dịch hoang dại bởi sự phân bố rộng rãi và tính phổ biến
của chúng. Tình hình dịch hạch trên thế giới trong những thập kỷ qua cho thấy một số
lớn ổ dịch “gần người” đã được dập tắt.
Tính cảm nhiễm của các loài vật chủ với Yersinia pestis rất khác nhau và có thể
phân chia thành 2 nhóm :
- Nhóm có tính đề kháng tương đối với bệnh dịch hạch, thường có biểu hiện

nhẹ hoặc không có triệu chứng, tỷ lệ tử vong của nhóm này khi bị bệnh dịch hạch là
rất thấp mặc dù khi giám sát huyết thanh quần thể này có thể ghi nhận tỉ lệ dương tính
rất cao, có thể là 100%. Chúng giữ vai trò chính trong việc duy trì bệnh dịch hạch dai
dẵng. Hiện tượng chuột chết tương đối hiếm gặp ở nhóm vật chủ này. Các ổ dịch
hoang dại trên thế giới duy trì trong thiên nhiên trong một thời gian rất dài, rõ ràng có
một số vật chủ thuộc nhóm này phải tồn tại sau các vụ dịch và vi khuẩn dịch hạch tiếp
tục tồn tại và lưu hành ở số vật chủ này nhưng tỷ lệ tử vong của số vật chủ này thường
rất thấp.
- Nhóm nhậy cảm không có hoặc có tính đề kháng với vi khuẩn dịch hạch yếu
nên khi Yersinia pestis xuất hiện ở nhóm này thường biểu hiện nhiễm trùng rầm rộ với
số tử vong rất cao, nhóm này có vai trò mở rộng và lan truyền bệnh dịch hạch đi xa
trong tự nhiên. Hiện tượng chuột chết thường gặp ở nhóm nhậy cảm.

22


Tuy nhiên, điều khó khăn là xác định một loài vật chủ thuộc nhóm đề kháng
hay nhạy cảm, vì tính nhạy cảm của một loài nào đó có thể khác nhau giữa các vùng,
hơn nữa tính nhạy cảm có tính chất tạm thời tùy thuộc vào sự khác nhau về mật độ của
quần thể vật chủ hoặc mật độ bọ chét sống ngoại ký sinh trên vật chủ và độc lực của
một chủng vi khuẩn dịch hạch ở một ổ dịch động vật có thể thay đổi theo thời gian.
3.2. Trung gian truyền bệnh – bọ chét
Bọ chét là loài côn trùng nhỏ, không có cánh thuộc bộ Aphaniptera, có lớp vỏ
cứng, mình dẹt, sống ngoại ký sinh trên động vật, hút máu để sống. Trên thế giới, bộ
Aphaniptera được chia thành 2 họ lớn là Pulicoides và Ceratophylloides, bao gồm 17
giống và hơn 1500 loài. Tuy nhiên trong điều kiện tự nhiên, có khoảng 168 loài có vai
trò lây truyền bệnh dịch hạch. Trong đó, Xenopsylla cheopis được quan tâm hàng đầu
và là tiêu chuẩn để đánh giá các loài khác.

Hình 14. Vòng đời của bọ chét.

Khả năng truyền bệnh dịch hạch của các loài bọ chét phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố và liên quan chặt chẽ với nhau. Năm 1943, Douglas xác định hiệu quả truyền
bệnh của bọ chét là kết quả của 3 khả năng: Khả năng bị nhiễm (infection potential): là
tỷ lệ bọ chét hút máu nhiễm bệnh trở thành bị nhiễm; Khả năng gây nhiễm (infective
potential): tỷ lệ bọ chét bị nhiễm trở nên có khả năng lan truyền và khả năng lan truyền
(transmission potential): khả năng tiến hành lan truyền bệnh của bọ chét bị nhiễm
trước khi chết. Sự khác nhau về cấu trúc, kích thước của tiền dạ dày (proventriculus),

23


tần số lần hút máu, thời gian còn sống sau khi bị nhiễm của các loài bọ chét khác nhau
liên quan đến khả năng thứ 2 và 3.
Để hiểu được dịch tễ học cũng như sự lan truyền bệnh dịch hạch từ các loài
gặm nhấm đến người, điều cần thiết là xác định loài bọ chét nào có vai trò trong việc
lan truyền bệnh ở một giới hạn địa lý nhất định. Hiểu biết về sinh thái học của bọ chét
là cơ sở để phòng chống cũng như kiểm soát được sự lan truyền tác nhân gây bệnh.
Phần lớn các loài bọ chét quan trọng thường sống ngoại ký sinh trên những loài
gặm nhấm sống trong hoặc xung quanh khu dân cư. Vì sự tiếp xúc khá gần gũi của các
loài bọ chét này với người nên thường bắt gặp chúng trên thú nuôi và gia súc. Hầu hết
các loài bọ chét này có phân bố rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên, ở nhũng vùng địa lý
khác nhau thì thành phần loài cũng như vai trò truyền bệnh sẽ khác nhau. Bọ chét ký
sinh trên gặm nhấm sống gần người được phân loại như sau:
Nhóm bọ chét sống ký sinh chọn lọc trên những loài gặm nhấm sống gần người
có phân bố khá rộng rãi và thường thấy ở những vùng dịch hạch lưu hành địa phương.
Loài Xenopsylla cheopis có phân bố khá rộng trên thế giới còn loài X. brasiliensis và
Nosopsylla fasciatus thì phân bố địa lý hạn chế hơn.
Những loài bọ chét ký sinh chọn lọc đối với gặm nhấm sống gần người có phân
bố chỉ hạn chế thậm chí chỉ giới hạn trong một vùng địa lý hẹp như X. astia
Một số loài bọ chét thường ký sinh ở gặm nhấm hoang dại nhưng lây lan sang

gặm nhấm sống gần người .
Nhóm bọ chét thường gặp ở môi trường của một số loài gặm nhấm sống gần
người và chỉ gặp giới hạn ở những loài gặm nhấm này mặc dù các loài bọ chét này
không phải những loài sống ký sinh chọn lọc như Echidnophaga gallinacea và Pulex
irritans, cả 2 loài này phân bố rộng rãi trên thế giới và bọ chét mèo (Ctenocephalides
felis).
Xenopsylla cheopis là véc tơ quan trọng nhất trong việc lan truyền bệnh dịch
hạch cũng như bệnh do Rickettsia. Theo kết quả của một số nghiên cứu thì loài bọ chét
này có nguồn gốc từ Ai Cập, ký sinh trên chuột theo các tàu thuyền chở hàng hóa lan
truyền đi khắp thế giới trong thế kỷ thứ XIX. Bọ chét này thường sống ký sinh trên các
loài Rattus nhưng cũng gặp trên các loài gặm nhấm khác sống trong và xung quanh
khu dân cư. Khi có một tỷ lệ Xenopsylla cheopis nhiễm vi khuẩn dịch hạch càng cao
thì nguy cơ xảy ra dịch hạch ở địa phương đó càng lớn.

24


Xenopsylla astia cũng là loài bọ chét thường ký sinh trên chuột và chuột túi.
Chúng phân bố từ bán đảo Ả Rập đến I Ran, Đông Nam Châu Á và Triều Tiên. Ngoài
ra còn gặp ở bờ biển phía Đông Châu Phi. Loài này ít có vai trò truyền bệnh so với
Xenopsylla cheopis.
Xenopsylla brasiliensis có nguồn gốc ở Châu Phi và Nam Sahara. Tại những
vùng này chúng có vai trò truyền bệnh dịch hạch quan trọng hơn Xenopsylla cheopis.
Bọ chét này lan truyền đến các vùng khác trên thế giới như Braxin và Ấn Độ. Chúng
có vai trò quan trọng trong việc lây truyền bệnh dịch hạch, nhất là dịch hạch vùng
nông thôn. So với Xenopsylla cheopis, loài bọ chét này có sức chống chịu với nhiệt độ
cao kém hơn nhưng ở điều kiện khô hạn chúng chịu đựng tốt hơn.
Nosopsyllus fasciatus là một trong những loài bọ chét sống ký sinh phổ biến
trên các loài chuột gần người ở Châu Âu. Phân bố khá rộng rãi, gặp ở Hoa Kỳ, Trung
Quốc, Triều Tiên và gần đây xuất hiện và gia tăng ở Nhật Bản. Bọ chét này gặp trên

các loài thú có vú và gặm nhấm khác nhiều hơn chuột. Loài này ít có vai trò quan
trọng trong lan truyền dịch hạch.
Monopsylla anisus là loài bọ chét ký sinh trên các loài chuột sống ở vùng ôn
đới ở Đông Á, kéo dài từ Trung Quốc và Transbaikala, Nga đến Nhật Bản. Chúng còn
gặp ở một số cảng của San Francisco, Vancouver và Anh.
Leptopsylla segnis có nguồn gốc từ Tây Á và phân bố khá rộng rãi trên thế giới,
nhất là vùng khí hậu ôn đới. Loài bọ chét này chỉ đóng vai trò thứ yếu trong lây truyền
bệnh dịch hạch.
Pulex irritans còn gọi là bọ chét người, theo các nghiên cứu thì có loài bọ chét
này nguồn gốc từ Trung và Nam Châu Mỹ, chúng ký sinh trên chuột lang và lợn cỏ
Pêcari. Mặc dù loài bọ chét này hiện nay có phân bố khá rộng rãi trên thế giới và sống
ký sinh trên nhiều động vật hoang dại như loài cáo, lửng lợn, sóc đất, chuột và các loài
gia súc như heo, dê, chó, mèo và người. Loài bọ chét này nhưng thường gặp với mật
độ cao ở khu dân cư. Pulex irritans được xem như là véc tơ của bệnh dịch hạch ở
Angôla, Braxin, Burundi, Côngô, Iran, Irắc, Nêpan và Tanzania.
Bọ chét Ctenocephalides felis có phân bố rất rộng và tính chọn lựa vật chủ thấp
nên gặp ở nhiều vật chủ như chuột, chó, người, các loài thú có vú khác và cả trên
chim. Loài này cùng với bọ chét chó Ctenocephalides canis có thể lây truyền vi khuẩn
dịch hạch từ các loài vật nuôi trong nhà sang người.

25


×