Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

Hạn chế quyền ly hôn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (164.59 KB, 16 trang )

BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………………..………………...…

Trang 2

NỘI DUNG………...……………………………………………...

Trang 3

I.Cơ sở lý luận của vấn đề hạn chế quyền
yêu cầu ly hôn trong pháp luật nước ta .…………………………..
Trang 3
II. Vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
trong pháp luật nước ta từ trước đến nay.…………………... Trang 4
1. Vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
trong cổ luật Việt Nam……………………………………
2. Vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong

Trang 4

Luật hôn nhân gia đình năm 1959, Luật HNGĐ 1986
và Luật HNGĐ 2000.…………………………………………… Trang 6
III. Đường lối giải quyết ly hôn trong
trường hợp bị hạn chế quyền ly hôn………………………... Trang 8
IV. Một số đánh giá và hướng hoàn thiện
về quy định “ Hạn chế quyền ly hôn”


trong pháp luật nước ta hiện nay……………………………

Trang 10

KẾT LUẬN……….………………….…………………………….. Trang 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………… Trang 15
VẤN ĐỀ HẠN CHẾ QUYỀN YÊU CẦU LY HÔN
TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ TRƯỚC ĐẾN NAY

14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với những thay đổi về kinh tế - xã hội, quan
hệ giữa con người với con người trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình cũng bị
tác động mạnh mẽ. Theo số liệu thống kê của Toà án các cấp, trong cả nước hàng
năm số lượng các vụ án kiện về hôn nhân và gia đình mà Toà án phải thụ lý giải
quyết khoảng trên 50.000 vụ việc, chủ yếu là ly hôn và tranh chấp tài sản.
Về mặt xã hội, ly hôn là hiện tượng bất bình thường. Nếu kết hôn là mặt phải
của xã hội thì ly hôn là mặt trái của xã hội, là cái chết của một tổ ấm gia đình. Hậu
quả của việc ly hôn là làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng xấu đến con
cái. Ly hôn là một biện pháp chấm dứt tình trạng mâu thuẫn gay gắt giữa vợ và
chồng, vợ chồng chia tay bằng một phán quyết của Toà án, và nó không chỉ gây
hậu quả đối với các thành viên trong gia đình mà còn gây ra nhiều hậu quả khác
cho xã hội. Do vậy, ly hôn không chỉ là vấn đề riêng của mỗi gia đình mà là vấn đề

của cả xã hội quan tâm.
Ngày nay, ly hôn đã được nhìn nhận đúng với bản chất tích cực và tiến bộ
của nó. Dưới góc độ pháp lý, ly hôn được ghi nhận là một chế định độc lập của
Luật Hôn nhân và gia đình, nó là cơ sở cho Toà án và các bên đương sự giải quyết
vấn đề ly hôn một cách thấu tình đạt lý, góp phần giải quyết con người ra khỏi sự
ràng buộc không cần thiết khi tình cảm vợ chồng không còn. Ta thấy rằng, một gia
đình tốt thì xã hội mới tốt và ngược lại, xã hội tốt là điều kiện thúc đẩy gia đình
tiến bộ. Mặc dù vậy, khi gia đình lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể tồn tại
một cách ổn định, hạnh phúc, quan hệ hôn nhân trên thực tế đã tan vỡ, sự ly hôn là
cần thiết. Nhà nước đặt ra chế độ hôn nhân tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ, nhằm
xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, bền vững ngay cả khi gia đình đó tan vỡ thì
sự bình đẳng về quyền và lợi ích giữa vợ và chồng vẫn được đảm bảo. Đó là sự

14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

tiến bộ thể hiện quyền tự do ly hôn của hai vợ chồng. Bên cạnh đó, xuất phát từ
nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em thì về chế định ly hôn Luật HNGĐ còn đề cập
đến một vấn đề đó là “ hạn chế quyền ly hôn”. Vậy vấn đề hạn chế quyền yêu cầu
ly hôn trong pháp luật nước ta từ trước đến nay như thế nào?
NỘI DUNG
I.Cơ sở lý luận của việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong pháp luật nước ta.
Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định
theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng ( khoản 8 điều 8 LHNGĐ
2000). Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn

chính đáng của vợ chồng, không thể cấm hoặc đặt ra những điều kiện nhằm hạn
chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng , nó là kết quả
của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình. Nhà nước
bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì
cũng không thể buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn
nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích hôn nhân không
thể đạt được. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự
tan vỡ. Tuy nhiên,Nhà nước bảo đảm quyền tự do ly hôn của vợ chồng không có
nghiã là giải quyết ly hôn tùy tiện, theo ý chí, nguyện vọng của vợ chồng muốn sao
là vậy mà bằng pháp luật nhà nước kiểm soát việc giải quyết ly hôn. Bởi vì, trong
quan hệ hôn nhân, không phải chỉ có lợi ích riêng tư của vợ chồng mà còn có lợi
ích của nhà nước và xã hội thể hiện qua chức năng cơ bản của gia đình –tế bào của
xã hội và lợi ích của con cái- thành viên của gia đình và xã hội. Chính vì vậy bên
cạnh những căn cứ ly hôn theo luật HNGĐ Việt Nam và quy định quyền yêu cầu ly
hôn của vợ, chồng hoặc cả hai người thì pháp luật nước ta còn đặt ra quy định về
vấn đề “ hạn chế quyền yêu cầu ly hôn”.

14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

Mặt khác, trước đây vấn đề ly hôn trong cổ luật nước ta thường được đặt ra trên
nguyên tắc bất bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người đàn ông- người chồng trong
gia đình còn quyền và lợi ích của người phụ nữ cũng như đứa trẻ chưa được đặt ra.
Pháp luật hôn nhân và gia đình từ 1945 đến nay, quyền lợi của người phụ nữ và trẻ
em đã được nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà bảo vệ. Sắc lệnh số 97/SL ngày

25/5/1950 đã ghi nhận việc xoá bỏ quyền của người gia trưởng và xoá bỏ quyền
trừng giới. Sắc lệnh số 159/SL ghi nhận quyền yêu cầu li hôn của người phụ nữ.
Các quy định này đã mở ra một thời kì mới làm thay đổi địa vị của người phụ nữ
và trẻ em trong gia đình. Với sự ra đời của Luật HN&GĐ năm 1986 bảo vệ bà mẹ
và trẻ em được ghi nhận là một nguyên tắc tại điều 3 chương I. Kế thừa và phát
huy những ưu điểm của Luật HN&GĐ 1986, cùng với thực tế xã hội, Luật
HN&GĐ năm 2000 đã quy định cụ thể về nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em tại
khoản 6 điều 2: “ Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ và trẻ
em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tôt chức năng cao quý của người mẹ”.
Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ, trẻ em, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của
người vợ và con chưa thành niên, phụ nữ có thai, thai nhi cũng như bảo vệ lợi ích
của xã hội, Luật HN&GĐ đã đặt ra những quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn.
II. Vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong pháp luật nước ta từ trước đến
nay.
1.

Vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong cổ luật Việt Nam
Có thể nói, các quy định của pháp luật phong kiến liên quan đến quyền li hôn

của vợ, chồng là sự thể hiện sâu sắc nguyên tắc bất bình đẳng giữa nam và nữ.
Điều này thể hiện qua quy định về duyên cớ li hôn. Theo pháp luật phong kiến thì
người đàn ông có thể bỏ vợ khi người vợ phạm vào “ thất xuất”: vô tử, ghen tuông,
ác tật, lắm lời, trộm cắp, không phụng sự cha mẹ chồng, dâm đãng (điều 108 bộ
luật Gia Long). Quy định về duyên cớ li hôn này đảm bảo quyền tự do li hôn cho

14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.


NHÓM QT33D1-

người chồng, nhưng bên cạnh đó quyền yêu cầu li hôn của người chồng cũng bị
hạn chế. Điều này được đề cập đến trong trường hợp “ tam bất khứ” nghĩa là khi
người vợ phạm vào “thất xuất” nhưng ở vào trong ba trường hợp sau thì người
chồng không được phép li hôn người vợ.
+ Khi người vợ đã để tang nhà chồng được ba năm
+ Khi vợ chồng lấy nhau nghèo về sau giàu có
+ Khi vợ chồng lấy nhau, vợ còn bà con họ hang, lúc bỏ nhau vợ không còn bà
con nào để trở về.
Trong giai đoạn này quyền li hôn của người vợ hoàn toàn bị hạn chế. Điều kiện để
người vợ có quyền yêu cầu xin li hôn được pháp luật quy định rất hạn hẹp. Ví dụ:
Nếu chồng bỏ lửng vợ trong năm tháng không đi lại, thì vợ được quyền xin li hôn.
Như vậy chúng ta thấy điều kiện để người vợ yêu cầu li hôn là rất ít. Nguyên nhân
của điều này là do chế độ trọng nam khinh nữ của chế độ xưa, người chồng có thể
có năm thê bảy thiếp và không co nghĩa vụ phải chung thuỷ với vợ, nhưng ngược
lại người vợ phải chung thuỷ với chồng, phục tùng chồng. Vì thế quyền lợi của họ
không được bảo đảm và không công bằng giữa vợ và chông kể cả trong vấn đề li
hôn như đã nói ở trên.
Hệ thống pháp luật dân sự và HNGĐ nước ta dưới chế độ cũ( trước 1945 và ở
miền nam trước 1979) đã có một số quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của vợ
chồng, nhất là trường hợp thuận tình li hôn.
- Bộ luật giản yêú 1883 áp dụng ở Nam kì quy định: “ vợ chồng không được thuận
tình li hôn nếu quan hệ vợ chồng xác lập chưa được hai năm hoặc đã quá hai mươi
năm, người chồng dưới 25tuổi người vợ dưới 21 tuổi hoặc đã quá 45 tuổi. Ngoài ra
người thân thuộc ưng thuận giá thú cũng phải ưng thuận sự li hôn này mơi được”.
- Điều 121 bộ dan luật Bắc kì 1931 điều 120 - Bộ dân luật trung kì 1936 quy định:
“sau hai năm giá thú thì vợ chồng mới có thể xin thuận tình li hôn”.


14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

- Điều 170 Bộ dân luật năm 1972 dưới chế độ nguỵ quyền sài gòn cũng quy định:
“vợ chồng có thể xin thuận tình li hôn nếu hôn thú được xác lập trên hai năm và
không quá hai mươi năm”. Đặc biệt điều 55 luật gia đình dưới chế độ nguỵ quyền
thời Ngô Đình Diệm (1959): “ cấm vợ chồng không được li hôn; trường hợp đặc
biệt việc li hôn do tổng thống quyết định”.
Căn cứ cho ly hôn theo sắc lệnh 15/64 Ngoại trừ trường hợp giá thú bị mất giá trị
khi một trong hai người chết, hay do tòa án tuyên bố vô hiệu, vợ hoặc chồng chỉ có
thể xin ly hôn hoặc ly thân sau khi lập hôn thú ít nhất là hai năm. Ngoài ra, phải có
một trong những lý do sau:
- Người phối ngẫu ngoại tình.
- Người phối ngẫu bị kết án trọng hình về thường tội
- Bị ngược đãi, bạo hành, nhục mạ một cách thậm từ và thường xuyên khiến
hai người không thể chung sống với nhau được nữa.
- Có án văn xác định người phối ngẫu bị mất tích.
- Người phối ngẫu bỏ phế gia đình, sau khi có án văn xử phạt người phạm lỗi
Như vậy, các quy định về giải quyết li hôn trong chế độ cũ không dựa trên
tình trạng thực tế của quan hệ hôn nhân mà chủ yếu dựa vào các căn cứ như thời
gian kết hôn, tuổi của vợ, chồng…, nếu không đủ các điều kiện đó thì người chồng
không được xin li hôn. Các quy định này cũng không thể hiện được tư tưởng tiến
bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em.
2. Vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trong Luật hôn nhân gia đình năm
1959, Luật HNGĐ 1986 và Luật HNGĐ 2000.

Luật hôn nhân và gia đình 1959 và 1986 đều quy định về hạn chế quyền yêu
cầu li hôn của người chồng khi người vợ đang mang thai, người chồng chỉ được
xin li hôn sau khi người vợ đã sinh con được một năm. Điều 27 Luật HNGĐ năm
1959 có quy định như sau: “ Trong trường hợp vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly

14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

hôn sau khi vợ đã sinh đẻ được một năm” và tại điều 41 Luật HNGĐ năm 1986
quy định : “ Trong trường hợp vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ
đã sinh con được một năm. Đây là một điểm tiến bộ của thời kì phong kiến nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người phụ nữ.
Kế thừa theo luật 1959 và 1986 tại khoản 2 điều 85 của Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 quy định: “ Trong trường hợp vợ đang có thai hoặc đang nuôi con
dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin li hôn”.
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành ly hôn là quyền tự do cá nhân của vợ, chồng.
Vợ chồng có quyền yêu ly hôn khi thấy tình cảm giữa vợ chồng không còn và việc
duy trì hôn nhân là không cần thiết và không có lợi cho gia đình. Việc ly hôn chỉ bị
hạn chế trong trường hợp người chồng có yêu cầu ly khi người vợ đang mai thai
hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Mục đích của qui định này là gắn trách nhiệm
của người chồng trong việc tạo điều kiện cho người vợ thực hiện chức năng làm
mẹ. Quyền yêu cầu ly hôn của người phụ nữ không bị hạn chế ngay cả khi đang
mai thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Vợ chồng đã ly hôn được tự do về
nhôn nhân có quyền kết hôn với người khác mà không phải chịu ràng buộc nào đối
với quan hệ hôn nhân đã chấm dứt.

Vấn đề thời hiệu khởi kiện không áp dụng đối với quan hệ pháp luật hôn nhân và
gia đình. Vì vậy, trong mọi khoảng thời gian của thời kì hôn nhân( kể từ khi kết
hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật). Vợ, chồng hoặc cả vợ chồng
đều có quyền yêu cầu li hôn, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 đều 85. Luật
HN&GĐ của nhà nước ta không đặt ra điều kiện ngăn cấm quyền yêu cầu li hôn
của vợ chồng, tuy nhiên xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ, trẻ em, bảo vệ
quyền, lợi ích chính đáng của người vợ và con chưa thành niên, phụ nữ có thai, thai
nhi cũng là bảo vệ lợi ích của xã hội. Khoản 2 điều 85 luật HN&GĐ năm 2000 đã
quy định: “ trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì

14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

chồng không có quyền yêu cầu xi li hôn”, khoa học pháp lí gọi đây là trường hợp
hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng. Theo quy định này người chồng
không được yêu cầu li hôn( với tư cách là nguyên đơn) trong trường hợp người vợ
đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, dù người vợ có thai với ai
hoặc đứa con sinh ra là con của người nào. Trong trường vợ có thai mà đã bị sảy
thai hoặc sau khi sinh con mà đứa con bị chết thì người chồng sẽ không bị hạn chế
quyền yêu cầu li hôn. Đây là một quy định mà so với nội dung điều 41 Luật
HN&GĐ 1986, thì khoản 2 điều 85 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định rõ hơn: điều
41 Luật HN&GĐ 1986 quy định: “ trong trường hợp vợ có thai chồng chỉ có thể
xin li hôn khi vợ đã sinh con được 1 năm”. Quy định này dẫn đến nhiều cách hiểu
khác nhau khi vận dụng, ví dụ: trong trường hợp người vợ sau khi sinh con nhưng
đứa con bị chết, vẫn có thể hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng..

Cũng theo quy định tại khoản 2 điều 85 Luật HN&GĐ năm 2000 thì trường
hợp hạn chế quyền yêu cầu li hôn chỉ áp dụng vơi người chồng mà không áp dụng
với người vợ. Trong mọi khoảng thời gian, dù người vợ đang có thai hoặc đang
nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nếu xét thấy tình cảm yêu thương giữa vợ chồng đã
hết, mâu thuẫn gia đình đã đến mức sâu sắc, mục đích của hôn nhân không đạt
được. Nếu duy trì sẽ bất lợi cho quyền lợi của người vợ, ảnh hưởng tới sức khoẻ
của người vợ hoặc thai nhi hay trẻ sơ sinh mà người vợ có yêu cầu li hôn thì toà án
thụ lí giải quyết vụ kiện theo thủ tục chung.
Đây là một trong những quy định thể hiện tính sâu sắc tính nhân bản và tính tiến
bộ trong tư tưởng cũng như bản chất nội dung pháp luật nước ta nói chung và pháp
luật về HN&GĐ nói riêng. Quyền lợi cuả trẻ em và phụ nữ- những người yếu thế
được pháp luật tôn trọng đè cao và bảo vệ chặt chẽ.
III. Đường lối giải quyết ly hôn trong trường hợp bị hạn chế quyền yêu cầu ly
hôn

14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

Trong thực tế, việc giải quyết các vụ ly hôn mà trong đó thuộc trường hợp
hạn chế quyền yêu cầu ly hôn thì giải quyết như sau:
Trong trường hợp chưa thụ lí vụ án thì toà áp dụng điều 168 Bộ luật tố tụng
dân sự 2005 để trả lại.
Trong trường hợp đã thụ lí vụ án thì toà án cần giải thích cho người nộp đơn
biết họ chưa có quyền yêu cầu xin li hôn. Nếu người nộp đơn rút đơn yêu cầu li
hôn thì áp dụng điều 192 Bộ luật tố tụng năm 2005 ra quyết định đình chỉ việc giả

quyết vụ án. Nếu người nộp đơn không rút đơn yêu cầu li hôn thì toà tiến hành giải
quyết theo thủ tục chung và quyết định bác đơn yêu cầu li hôn.
Quy định cách giải quyết như vậy trong trường hợp này nhà làm luật đã gánh
trách nhiệm của người chồng với người vợ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ.
Ngược lại, nếu quan hệ vợ chồng chỉ làm cho người vợ thêm đau khổ thì người vợ
có quyền lựa chọn và xin li hôn.
Khi giải quyết li hôn trong trường hợp này các cơ quan xét xử lại càng phải
điều tra rõ thực chất mối quan hệ vợ chồng như thế nào và xem xét đến lợi ích của
người đang mang thai và nuôi con nhỏ để khi quy định việc li hôn hay bác đơn li
hôn của người vợ thực sự xuất phát từ việc bảo vệ quyền của người phụ nữ trong
hoàn cảnh họ đang mang thai hay nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Mục 6 Nghị quyết
số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao ban hành ngày
23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000 nêu rõ:
Theo quy định tại Điều 85 thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu
tòa án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên, người chồng không có quyền yêu cầu xin
ly hôn khi vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Do đó, khi
người vợ đang thuộc một trong các trường hợp này (không phân biệt người vợ có

14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), mà người chồng có yêu
cầu xin ly hôn, thì giải quyết như sau:
a. Trong trường hợp chưa thụ lý vụ án thì tòa án áp dụng điểm 1 Điều 36 Pháp lệnh

thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trả lại đơn kiện cho người nộp đơn.
b. Trong trường hợp đã thụ lý vụ án thì tòa án cần giải thích cho người nộp đơn
biết là họ chưa có quyền yêu cầu xin ly hôn. Nếu người nộp đơn rút đơn yêu cầu
xin ly hôn, tòa án áp dụng điểm 2 Điều 46 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự (hiện nay được thay bằng điều 192 Bộ Luật tố tụng dân sự) ra quyết định
đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Ngoài ra, hiện nay tuy pháp luật tố tụng dân sự chưa quy định, nhưng đối với
người có đơn yêu cầu li hôn mà bị toà án bác đơn yêu cầu li hôn thì sau một năm
kể từ ngày bản án quyết định của toà án bác đơn xin li hôn có hiệu lực pháp luật,
người đó mới được yêu cầu giải toà án giải quyết việc xin li hôn.
IV. Một số đánh giá và hướng hoàn thiện về quy định hạn chế quyền yêu cầu
ly hôn trong pháp luật nước ta hiện nay.
1.Nhận xét về quy định “hạn chế quyền ly hôn” của Luật HNGĐ
Có thể thấy, quy định của pháp luật nước ta về vấn đề hạn chế quyền yêu cầu
ly hôn đã thể hiện được tư tưởng tiến bộ trong việc bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ
em. Quy định về bảo đảm sự bình đẳng của vợ, chồng với quyền yêu cầu li hôn
theo Luật HN&GĐ đã thực sự giải phóng người phụ nữ, khác hẳn với duyên cớ li
hôn trong pháp luật của nhà nước phong kiến chỉ bảo vệ quyền xin li hôn của
người chồng. Tuy nhiên theo nhóm chúng tôi để bảo vệ quyền lợi của người phụ
nữ, trường hợp vợ, chồng li hôn do là từ phía người chồng cũng nên xem xét để
cân nhắc và quy định việc người chồng phải chịu trách nhiệm nhất định.

14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-


Thiên chức làm mẹ của người phụ nữ gắn liền với quá trình mang thai, chăm
sóc nuôi dưỡng con. Vì lẽ đó, đảm bảo thiên chức làm mẹ Luật hôn nhân cũng
giành cho người phụ nữ sự quan tâm đặc biệt, bảo vệ người phụ nữ và thai nhi
trong quá trình mang thai. Hạn chế quyền yêu cầu xin li hôn của người chồng trong
trường hợp này là hoàn toàn phù hợp bởi vì, người phụ nữ mang thai còn phải được
đảm bảo về sức khỏe, cũng như tinh thần để sinh con khỏe mạnh. Li hôn thường để
lại cho người phụ nữ gánh nặng về tâm lí, hậu quả xã hội của li hôn tác động đến
cuộc sống của người phụ nữ làm cho họ không đảm bảo sức khỏe sinh sản để mang
thai và làm mẹ an toàn. Bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ nhà làm luật chỉ hạn
chế quyền xin li hôn của người chồng mà không áp dụng điều kiện hạn chế đối với
người vợ. Do vậy trong quá trình mang thai và nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi,
nếu người vợ mong muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân thì tòa án sẽ áp dụng quy
định của pháp luật hiện hành về vấn đề li hôn, giải quyết cho vơ, chồng li hôn, việc
tồn tại một quan hệ hôn nhân không hạnh phúc cũng dễ làm người phụ nữ tổn
thương và ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ cũng như thai nhi. Đây là một
quy định được cho là đã bảo vệ được quyền và lợi ích của người phụ nữ cũng như
đứa trẻ. Tuy nhiên, quy định này vẫn còn một số vấn đề phải bàn tới.
Việc áp dụng quy định hạn chế quyền ly hôn chỉ áp dụng đối với người chồng khi
người vợ đang mang thai hoặc nuôi con dươi 12 tháng tuổi, tuy nhiên việc mang
thai hay việc nuôi đứa con đó không cần biết đó là con của chồng hay là con của
một ai đó mà chỉ cần có sự kiện mang thai và đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì
người chồng cũng không được yêu cầu ly hôn mà phải đợi đến khi người vợ sinh
và đứa con đó đã được 12 tháng tuổi. Quy định này đã dẫn đến một thực tế là có
trường hợp người chồng phát hiện ra cái thai mà vợ đang mang hoặc con dưới 12
tháng tuổi không phải là con mình nên đã yêu cầu ly hôn nhưng vì người chồng
này đang thuộc trường hợp bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn như quy định của pháp

14



BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

luật nên anh ta không thể ly hôn được. Và vì vậy, anh ta phải chờ cho đến khi
không còn thuộc trường hợp bị hạn chế quyền ly hôn nữa, nhưng thời gian để khi
nào anh ta không bị hạn chế nữa thì rất khó có thể xác định được cụ thể, bởi đặt ra
giả thiết nếu người vợ đó lại tiếp tục mang thai thi người chồng lại phải tiếp tục
đợi, trong khi mâu thuẫn vợ chồng rất lớn, họ khó có thể sống được tiếp với nhau.
Như vậy, ở đây rõ ràng pháp luật bảo vệ được quyền của người phụ nư và đứa trẻ
nhưng xét trên một phương diện nào đó thì quyền lợi của người chồng không được
đảm bảo. Hơn nữa, trong thực tế khi hôn nhân ở vào tình trạng đó, thì cuộc sống vợ
chồng rất căng thẳng, hôn nhân tuy chưa bị tuyên bố là chấm dứt nhưng trên thực
tế nó đã đổ vỡ, hôn nhân đã không đạt được mục đích mong muốn. Thực tế còn có
nhiều trường hợp người chồng khi ở trong tình trạng này vì không được ly hôn và
muốn trả thù nên đã quay ra đánh đập hành hạ vợ con như vậy rõ ràng phần nào
quyền và lợi ích của người phụ nữ cũng bị xâm phạm và ảnh hưởng đến đời sống
gia đình nói riêng và xã hội nói chung.
Hơn nữa, tuy pháp luật không cho phép người chồng ly hôn khi vợ đang mang thai
hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi nhưng trong thực tế khi hôn nhân đã nảy sinh
mâu thuẫn khó có thể cứu vãn, thì người chồng có thể không cần phải có quyết
định cho ly hôn của Tòa án mà vẫn có thể rũ bỏ mọi trách nhiệm với vợ con, không
sống chung với vợ nữa. Vậy, một câu hỏi đặt ra là liệu quy định này của Luật
HNGĐ có thực sự bảo vệ được người phụ nữ và đứa trẻ, trong khi luật quy định
như vậy, nhưng trên thực tế, người chồng có thể vẫn “bỏ vợ” mà không cần đợi hết
thời gian bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn. Ví dụ như trường hợp, anh Nguyễn Văn
Thái chủ một doanh nghiệp tư nhân khá thành đạt và chị Trần Ngọc Thủy kết hôn
với nhau năm 1998, sau 5 năm chung sống họ có với nhau hai đứa con gái, vì anh
Thái là con trưởng của gia đình và của cả dòng họ nên rất muốn có con trai để nối

dõi tông đường, vì vậy đến năm 2005 hai vợ chồng lại quyết định sinh thêm một

14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

đứa con nữa, nhưng khi sinh thì đó lại là một đứa con gái. Từ đó, anh tỏ ra buồn bã
thất vọng, thường xuyên rượu chè, về đến nhà lại đánh mắng vợ con, trong thời
gian vợ anh mang thai anh cũng bắt đầu qua lại với một cô gái khác và có con với
cô gái đó. Khi biết cô bồ nhí đã có bầu với mình và đó lại là một đứa con trai anh
rất vui sướng, anh quyết định bỏ vợ để lấy cô gái này làm vợ. Nhưng khi đâm đơn
ra Tòa xin ly hôn thì vì anh thuộc trường hợp bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn do
vợ anh đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, nên không được giải quyết cho ly
hôn. Tuy không được ly hôn, nhưng cũng từ đó, anh ngang nhiên đón cô gái kia về
nhà chung sống như vợ chồng, chờ đến ngày được ly hôn thì sẽ đăng ký kết hôn
với cô gái này. Và cũng từ khi chồng đưa bồ nhí về nhà, cuộc sống gia đình đã
căng thẳng lại càng ngày căng thẳng, bởi người chồng không hề quan tâm gì đến
vợ con của mình mà chỉ suốt ngày bên cô gái kia, vui thú trong tình yêu mới, bỏ
mặc vợ xoay xở với các con.
Bên cạnh đó, như đã phân tích ở trên theo quy định tại điều 85 Luật HNGĐ
2000 thì quy định này chỉ hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của chồng chỉ bị hạn chế
trong trường hợp người vợ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Nếu
đứa con đó sinh ra chết, hoặc người vợ trong quá trình mang thai bị sảy thai thì
người chồng lại có thể ly hôn. Theo quan điểm của nhóm thì quy định này đã phần
nào tỏ ra là không bảo vệ được quyền của người phụ nữ một cách triệt để bởi vì xét
trên phương diện tâm lý của người phụ nữ thì không phải chỉ khi sinh và nuôi con

nhỏ thì người phụ nữ mới cần có sự quan tâm chăm sóc của người chồng mà khi
đứa con đó chết, cũng là một cú sốc tâm lý rất lớn, nếu lại phải gánh chịu thêm
việc người chồng đâm đơn đòi ly hôn nữa thì sẽ để lại cho người vợ những vấn đề
về tâm lý khá nặng nề, phần nào ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của họ.
Luật cũng chưa có quy định cụ thể nào về việc nếu trong trường hợp hai vợ
chồng thực hiện sinh con theo phương pháp khoa học nếu khi công việc sinh sản

14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

mới chỉ đang ở giai đoạn tạo phôi trong ống nghiêm, phôi đó chưa được cấy vào tử
cung của người vợ, tức là người vợ chưa mang thai, thì cứ theo quy định của luật
người chồng vẫn có quyền ly hôn. Vâỵ, trong trường hợp này liệu người phụ nữ và
đứa trẻ đang hình thành có được bảo vệ?
2. Hướng hoàn thiện quy đinh về vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
Từ một số nhận xét chung về quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của Luật
HNGĐ nói trên. Nhóm chúng em xin đề ra một số hướng hoàn thiện quy định này
như sau:
Thứ nhất: Để bảo vệ thiên chức làm mẹ của người phụ nữ, chúng tôi cho rằng
việc áp dụng hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng cần phải được áp dụng
với cả trường hợp người phụ nữ đang thực hiện việc áp dụng kĩ thuật hỗ trợ sinh
sản, hoặc trường hợp người con nuôi mà vợ, chồng nhận nuôi dưới 12 tháng tuổi.
Vì lẽ đó các văn bản hướng dẫn thi hành, cần phải có các quy định cụ thể về vấn đề
này để áp dụng một cách thống nhất quy định về điều kiện hạn chế li hôn, bảo vệ
quyền lợi cho người phụ nữ.

Thứ hai: Để bảo vệ được người phụ nữ và đứa trẻ một cách thực sự và triệt để, thì
bên cạnh quy định hạn chế quyền ly hôn của người chồng thì pháp luật cũng cần có
quy định cụ thể về trách nhiệm, nghĩa vụ của người chồng đối với vợ đang mang
thai cũng như đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi để tránh trường hợp hai vợ chồng
nảy sinh mâu thuẫn, người chồng tuy không được ly hôn nhưng vẫn “bỏ vợ” trên
thực tế thì vẫn phải có nghĩa vụ với vợ và con nhỏ.
Thứ ba: theo nhóm chúng tôi, để có thể giải phóng cả hai- người vợ và người
chồng thì trong trường hợp nếu người chồng chứng minh được đứa con do vợ
mang hoặc đang nuôi không phải là con mình, hoặc do vợ tự nhận thì tuy người vợ
không phải là người gửi đơn kiện ra Tòa nhưng người vợ cũng chấp thuận để
chồng ly hôn thì Tòa án cũng nên giải quyết yêu cầu ly hôn của người chồng.

14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

Trên chỉ là một số hướng hoàn thiện mang tính quan điểm cá nhân của nhóm để
hoàn thiện quy định của pháp luật về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn, vì vậy không
tránh khỏi những thiếu sót.
Kết luận:
Có thể nói, với những quy định tiến bộ chặt chẽ, đầy đủ và cụ thể hơn rất
nhiều về chế định ly hôn so với các luật về hôn nhân gia đình trước đây. Luật hôn
nhân gia đình năm 2000 đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết thỏa đáng và
bảo vệ được lợi ích chính đáng của các thành viên trong gia đình đặc biệt là người
phụ nữ và trẻ em bằng việc đề ra quy định “ hạn chế quyền yêu cầu ly hôn”.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt
Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
2. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1959.
3. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1986.
4. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000.
5. Chế định ly hôn theo qui định của pháp luật Việt Nam : Luận án thạc sĩ
luật học / Vũ Thị Hằng,Trường đại học Luật Hà Nội, 1997 .
6. Về điều luật hạn chế xin ly hôn của người chồng / ThS.Lê Thu Hà // Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật Số 5/2002, tr. 15 - 17

14


BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT HNGĐ SỐ 2
2.

NHÓM QT33D1-

7. Luận văn thạc sĩ, TG: Bùi Thị Mừng: “ Bảo vệ quyền phụ nữ trong Luật
Hôn nhân gia đình Việt Nam”
8.

www.thongtinphapluatdansu.word.vn

9.

www.svluat.vn

10.


www.wattpad.com

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×