BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MÌNH
ĐINH VŨ THÙY TRANG
TƯ TƯỞNG THIỀN
TRONG THƠ ĐƯỜNG
CHUYÊN NGÀNH:
MÃ SỐ:
VĂN HỌC TRUNG QUỐC
62. 22. 30. 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Hồ Sỹ Hiệp
Thành Phố Hồ Chí Minh - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
TP. HCM, ngày 21 tháng 05 năm 2010
Tác giả luận án:
Đinh Vũ Thùy Trang
MỤC LỤC
Mở đầu ...................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................................... 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn tư liệu ................................................ 11
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 12
5. Đóng góp mới của luận án ................................................................................... 13
6. Cấu trúc luận án ................................................................................................... 14
CHƯƠNG 1 - THƠ VÀ THIỀN TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN TRUNG
QUỐC THỜI ĐƯỜNG (618-907) ......................................................................... 15
1.1. Tiền đề cơ bản cho sự hưng thịnh của Thơ và Thiền .................................. 16
1.1.1. Điều kiện văn hóa xã hội ................................................................................ 16
1.1.2. Tương hợp nội tại Nho, Lão, Phật và con đường của Huệ Năng ................... 18
1.1.3. Những thể nghiệm nhân sinh của Nho, Lão và Phật trong đời sống xã hội
Trung Quốc .............................................................................................................. 34
1.2. Thiền học là tinh hoa Phật học Trung Quốc ................................................ 45
1.2.1. Khởi nguyên của Thiền Trung Quốc ............................................................. 45
1.2.2. Giới thuyết về Thiền ...................................................................................... 47
1.2.3. Quá trình du nhập và phát triển ...................................................................... 48
1.3. Thơ và quá trình phát triển của thơ ca Trung Quốc ................................... 59
1.3.1. Thơ ca trong quan niệm của người Trung Quốc ............................................ 59
1.3.2. Quá trình phát triển của thơ ca Trung Quốc .................................................. 60
CHƯƠNG 2 – SỰ TƯƠNG THÔNG GIỮA TƯ TƯỞNG THIỀN VỚI NỘI
DUNG THƠ ĐƯỜNG ............................................................................................ 64
2.1. Một số tư tưởng Thiền chủ yếu trong thơ Đường ........................................ 67
2.1.1. Bình thường tâm là Đạo và bản sắc thiên nhiên ............................................ 67
2.1.2. Vô ngã, vô thường .......................................................................................... 72
2.1.3. Tự tánh thanh tịnh .......................................................................................... 76
2.1.4. Bất tận hữu vi, bất trụ vô vi ............................................................................ 79
2.2. Thiền trong đề tài sáng tác của thơ Đường .................................................. 81
2.2.1. Đề tài Sơn thuỷ điền viên ............................................................................... 81
2.2.2. Đề tài Tâm tình ............................................................................................... 95
2.2.3. Đề tài Xã hội ................................................................................................ 103
2.3. Khẳng định và biểu đạt cái tôi chủ quan .................................................... 107
2.3.1. Nhạy cảm trước đổi thay .............................................................................. 107
2.3.2. Cái tôi hoài vọng, đăng cao vọng viễn và con đường vong ngã .................. 111
2.3.3. Độc thiện kỳ thân ......................................................................................... 115
2.3.4. Tự tại và bản sắc thiên nhiên ........................................................................ 120
2.4. Các cấp độ Thiền ........................................................................................... 126
2.4.1. Thiền ngữ ..................................................................................................... 127
2.4.2. Thiền lý ........................................................................................................ 129
2.4.3. Thiền vị ........................................................................................................ 132
CHƯƠNG 3 – SỰ TƯƠNG THÔNG GIỮA TƯ TƯỞNG THIỀN VỚI NGHỆ
THUẬT THƠ ĐƯỜNG ....................................................................................... 136
3.1. Tư duy Thiền – tư duy Thơ .......................................................................... 136
3.1.1. Tư duy hướng nội ......................................................................................... 139
3.1.2. Tư duy trực giác ........................................................................................... 144
3.1.3. Tư duy phi logic ........................................................................................... 150
3.1.4. Tư duy hiện tượng - bản thể ......................................................................... 153
3.2. Ngôn ngữ Thiền – ngôn ngữ Thơ ................................................................. 157
3.2.1. Sự tiếp biến ngôn ngữ .................................................................................. 157
3.2.2. “Bất lập văn tự” và ngôn ngữ ý tượng, điển cố ............................................ 169
3.3. Cảnh Thiền – Cảnh Thơ ............................................................................... 176
3.3.1. Không gian, thời gian, con người ................................................................. 177
3.3.2. Tiếng động, màu sắc .................................................................................... 181
3.3.3. Cách gợi tả và cấu trúc mở của thơ Đường .................................................. 181
Kết luận ................................................................................................................. 185
Tài liệu tham khảo ............................................................................................... 189
Phụ lục 1 - Một số thuật ngữ Thiền được sử dụng trong luận án .......................... 200
Phụ lục 2 - Danh mục 80 bài thơ không sự dụng danh từ riêng............................. 203
Phụ lục 3 - Trích dịch từ cuốn “Trung Quốc Thiền tông dữ thi ca” của Chu Dụ Khải ... 204
KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐHQG : Đại học Quốc gia
ĐHSP : Đại học Sư phạm
HN : Hà Nội
KHXH & NV : Khoa học Xã hội và Nhân văn
PTTH : Phổ thông trung học
SG : Sài Gòn
TCVH : Tạp chí Văn học
TC NCPH : Tạp chí Nghiên cứu Phật học
TP. HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
TTL : Trước Tây lịch
tr. : Trang
VHTQ : Văn học Trung Quốc
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự huy hoàng của xã hội phong kiến Trung Quốc thời Đường (618 – 907) là
điều kiện chính cho sự phát triển đất nước ở nhiều lĩnh vực. Cần nhắc đến ở đây là
thành tựu của thơ và thiền. Qua thời gian, thơ Đường ngày càng khẳng định và
chứng tỏ vị trí là đỉnh cao bất tuyệt trong thơ ca nhân loại. Và Thiền tông thời
Đường cũng là thành tựu mà lịch sử Phật giáo cũng như đời sống văn hóa, tinh thần
Trung Quốc nói riêng, lịch sử Phật giáo nói chung ghi nhận như là sự mở ra của một
kỷ nguyên mới: kỷ nguyên phát triển rực rỡ của Phật giáo Đại thừa và Trung Quốc
hóa Phật giáo.
Mặc dù là một tôn giáo ngoại lai, thứ đại kỵ của văn hóa Trung Quốc nhưng
nhờ tinh thần “tùy duyên” uyển chuyển, tư tưởng Phật giáo không những sớm được
hội nhập mà còn có thể cùng với hai tư tưởng bản địa là Nho và Lão làm thành hệ tư
tưởng chủ đạo của kiến trúc thượng tầng xã hội Trung Quốc.
Đạo Phật đã gây sự dao động trong tâm hồn người Trung Hoa, bây giờ
ảnh hưởng tới các triết gia. Nhiều nhà cũng tập thói quen tham thiền; có nhà
còn trách Khổng Tử là đã bỏ phần siêu hình học, cho lối giải quyết vấn đề
nhân sinh và tinh thần của đạo Khổng có vẻ hời hợt, tàn nhẫn quá [20, tr.
166].
Đó là chỗ mà Phật giáo đã cống hiến cho nhân sinh Trung Quốc. Cho nên,
trong chừng mực nhất định, hiểu được tư tưởng Thiền, nhận ra sự tương thông, sự
thâm nhập của tư tưởng Thiền trong thơ và cách dùng thơ để nói đến thiền là đồng
thời thấy được phần nào quan niệm sống, phong cách sống và tinh thần dân tộc cao
độ của người Trung Quốc. Quan trọng hơn nó sẽ gợi mở ra cho chúng ta những kiến
giải, những phương thức tiếp cận hữu hiệu đối với thơ Đường.
Thơ thuộc văn học, thiền thuộc tôn giáo. Nói đến thành tựu của thơ ca Trung
Quốc là nói đến thơ Đường, nói về khả năng Trung Quốc hóa tư tưởng ngoại lai là
nói về thiền Huệ Năng thời Đường. Thiền và thơ, hai lĩnh vực tưởng như rất khác
xa nhau nhưng có thể dẫn ra đây rất nhiều ý kiến của những nhà nghiên cứu, phê
2
bình ở các thời đại khác nhau nói về sự tương thông giữa thơ và thiền. Đại thể đều
coi thơ và thiền là đồng bộ. Người ta mặc nhiên thừa nhận sự tương thông huyết
mạch giữa thơ và thiền: “Thiền mà không thiền chính là thơ, thơ mà không phải thơ
chính là thiền”1, “Tham thiền và làm thơ vốn không sai biệt”2 … Nhìn nhận vai trò
của thiền đối với thơ Tử Công Lâm3 lại cho rằng: “Thiền có hai ảnh hưởng chủ yếu
đối với thơ: một là lấy thiền nhập vào thơ, lấy thiền ý thiền vị dẫn nhập vào trong
thơ; hai là lấy thiền dụ thơ, lấy quan điểm thiền tông mà luận bàn thơ” [176]. Trong
thơ cũng như trong nghiên cứu phê bình thơ Đường người ta tìm thấy ở thiền những
phương pháp mang tính định hướng tương đối rõ nét.
Phần thơ Đường nói riêng và văn học Trung Quốc nói chung trong chương
trình văn học phổ thông trung học không nhiều. Việc tiếp cận và lý giải nó theo
cách thông thường lâu nay là đi vào tìm hiểu luật thi chứ chưa chú ý đúng mức đến
thiền cảnh, thiền vị có trong từng tác phẩm. Ở bậc học Đại học Văn học Trung
Quốc về cơ bản được trình bày theo các thời kỳ và tác giả lớn của từng thời kỳ. Thi
Phật Vương Duy cũng được chú trọng phần nào nhưng một cái nhìn bao quát về sự
tương thông giữa tư tưởng thiền và thơ Đường thật sự chưa có cơ sở hệ thống để
vận dụng.
Luận án này mong được bổ sung phần nào cho phương pháp luận nghiên cứu
thơ Đường, nhất là nghiên cứu mối quan hệ giữa thơ Đường và Phật giáo mà trọng
tâm của nó là tư tưởng triết học Thiền.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Trung Quốc có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới thơ và thiền đã
được thực hiện. Vì vậy ở đây không đề cập đến những công trình chỉ nghiên cứu
riêng Thiền hoặc thơ Đường. Ở Việt Nam và các nước khác thì ngược lại, do vì
những nghiên cứu chung về hai đối tượng này còn quá ít nên chúng tôi không chỉ
điểm qua những công trình có sự so sánh giữa chúng hoặc mang tính khái quát về
1
2
. Tăng Phổ Hà thời Minh, dẫn theo [165, tr. 297]
. Lý Chi Nghĩa, thời Tống. Dẫn theo [165, tr. 297]
3
. Giáo sư Đại học thành phố Đài Bắc, Đài Loan.
3
văn học sử hay thiền nói chung mà còn đề cập đến một số công trình lý luận phê
bình có liên quan nhằm để thấy được xu hướng và mức độ nghiên cứu, tiếp cận
thiền và thơ Đường của giới học giả Việt Nam và các nước khác.
2.1. Ở Trung Quốc:
Mối quan hệ giữa thiền và thơ Đường rất được các học giả Trung Quốc lưu
tâm từ lâu. Từ những năm 30 của thế kỷ XX các học giả Trung Quốc đã dành nhiều
bút mực cho việc nghiên cứu và so sánh hai đối tượng này. Phải nói rằng hầu như
tất cả vấn đề liên quan đều đã được nghiên cứu. Tuy nhiên, những kiến giải khác
nhau cho cùng một vấn đề là khả năng lặp lại hữu ích của một công trình nghiên
cứu. Để thấy rõ tình hình và sự phong phú của việc nghiên cứu so sánh, ảnh hưởng
thiền và thơ Đường ở Trung Quốc chúng tôi trình bày ra đây đầy đủ chi tiết của mỗi
công trình đã được công bố.
Chu Dụ Khải cho rằng: “Sự ảnh hưởng của thiền tông đối với thơ ca Trung
Quốc chủ yếu thể hiện trên ba phương diện: Dĩ thiền tác thi (lấy thiền làm thơ), dĩ
thiền nhập thi (Đem thiền vào thơ) và dĩ thiền luận thi (dùng thiền luận giải thơ)”.
Ý kiến này rất tương hợp với sự phân chia các công trình nghiên cứu về hai đối
tượng này. “Dĩ thiền tác thi” nên có thi thiền tương thông. “Dĩ thiền nhập thi” nên
trong mỗi thi phái, mỗi tác giả, mỗi bài thơ đều có thể ảnh hưởng thiền. “Dĩ thiền
luận thi” vì đó như là một phương thức luận giải của chính nó. Phân chia các công
trình nghiên cứu như sau đây không phải là hợp lý cho tất cả nhưng cho thấy một sự
tương đồng lớn lao từ trong thực tiễn nghiên cứu và sáng tác.
2.1.1. Những công trình nghiên cứu trên phương diện dĩ thiền tác thi:
Theo chỗ được biết, có ba công trình nghiên cứu rất công phu và hệ thống của
các tác giả Trung Quốc rất gần với đề tài luận án của chúng tôi. Trước hết là cuốn
Trung Quốc thiền tông dữ thi ca của Chu Dụ khải (1992). Như chính tác giả đã nói
trong phần kết luận:
Ý của người viết là đi sâu tìm hiểu sự thẩm thấu qua lại giữa thơ và
thiền, mở ra một góc nhìn mới về nghiên cứu nghệ thuật và tôn giáo, nhưng
rồi khi bắt đầu đặt bút xuống viết thì vẫn nặng về phương diện ảnh hưởng của
4
thiền tông đối với nghệ thuật thơ ca [165, tr. 320].
Tuy vậy, tác giả vẫn dành riêng một chương để chứng minh sự tương thông
giữa thơ Đường và thiền1. “Tính phi công lợi chính là phương diện thứ nhất của sự
tương thông” đó. Và ở chương VI, Chu Dụ Khải bàn nhiều về bản sắc thiên nhiên
như là sự ngẫu hợp của thiền và thơ Đường mà thi tăng Hàn Sơn là người được dẫn
nhiều minh chứng nhất cho các luận điểm này.
Sau Chu Dụ Khải, Trương Bá Vi (1996) với Thi dữ thiền nghiên cứu và
Vương Phạm Chí (2000) với Trung Quốc thi thiền nghiên cứu cũng là những công
trình công phu, có nhiều kiến giải đóng góp quý báu. Ngoài ra chúng tôi còn phải kể
đến hai tác phẩm: Tư tưởng thiền và thơ tình của Tôn Xương Vũ, xuất bản năm
1997; Thiền với văn hóa và văn học của Lý Tiễn Lâm, xuất bản năm 1998. Những
công trình tiếp theo đây tuy không quy mô như ba công trình trên, nhưng chúng đều
nhìn nhận sự tương thông kỳ lạ giữa thiền Trung Quốc và thơ Đường:
Cội nguồn Ấn Độ của văn học nghệ thuật thời Đường (1/1973), Lưu Minh
Thứ, Nguyệt san Văn Triết, 1(4); Văn học thời Đường và Phật giáo (1984), Tôn
Tinh Vũ, Khoa học Xã hội Thiên Tân, (5), tr. 68 – 72; Triết học nghệ thuật của
Trung Quốc: Thi thiền nhất thể hóa (1987), Nhật Phúc Vĩnh Quang Tư, Tạp chí
Học viện Sư phạm Hồ Bắc, (3), tr. 43 – 51; Thơ và Thiền (1986), Viên Hành Bái,
Tri thức Văn học sử, (10), tr. 18- 24; Thơ và thiền (1988), Lí Tráng Ưng, Tạp chí
Đại học Sư phạm Bắc Kinh, (4), tr. 35–46; Lược bàn về thiền và thơ (1988), Tôn
Tinh Vũ, Mặt trận khoa học xã hội, (4), tr. 234 – 249.
2.1.2. Những công trình nghiên cứu trên phương diện dĩ thiền nhập thi:
Cụ thể hóa nghiên cứu ảnh hưởng thiền trong thơ những học giả Trung Quốc
nhìn nhận sự ảnh hưởng lớn lao của thiền qua việc lý giải các hiện tượng trong thực
tế đời sống văn học:
Dân tộc hóa trong tư tưởng Thiền tông và sự phồn vinh Tăng thi trong Văn
1
. Xem Trung Quốc thiền tông dữ thi ca – Chu Dụ Khải, tr. 297
5
học Lục triều và ảnh hưởng của Phật giáo (12/1935), Tưởng Duy Kiều, Quốc Gia
Luận Hành, kỳ thứ 6; Thiền tông và các tác giả Giang Tây thời Tống (1988), Vương
Kì Trân, Tạp chí Đại Học Giang Tây, (4), tr. 24 – 29; Luận về ảnh hưởng của văn
học kinh điển Phật giáo đối với biến văn Đôn Hoàng (1985), Lương Đạt Thắng, Tạp
chí Đại học Sư phạm Liêu Ninh, (3), tr. 48 – 53; Khảo cứu về thi Phật Vương Duy
(9/1936), Nhi Đảo Hiến Kiết Lãng, Nghiên cứu Văn học Trung Quốc, NXB.
Thượng Hải Bắc Tân; Ý thiền và ý họa trong thơ ca của Vương Duy (2/1980), Viên
Hành Bái, Mặt Trận Khoa Học Xã Hội, tr. 276 – 283; Tín ngưỡng Phật giáo và sáng
tác thơ ca của Vương Duy (2/1981), Tôn Tinh Vũ, Di Sản Văn Học, tr.44 – 56; Tình
thơ – ý họa – lý thiền: Bàn về “Điểu minh giản” của Vương Duy (1982), Lâm Bang
Quân, Tạp chí Đại học Sư phạm Bắc Kinh, (4); Tình thơ – ý họa – lý thiền: thiển
bàn về phong cách thơ hậu kỳ của Vương Duy (1983), Sử Song Nguyên, Tạp chí
Học viện Sư phạm Nam Kinh, (1), tr.6; Thẩm mỹ quan thiền tông của Vương Duy và
phong cách linh hoạt kỳ ảo (không linh) của ông (1984), Đào Lâm, Tạp chí Học
viện Sư phạm Triết Giang (3); Những vấn đề liên quan đến sự ảnh hưởng của Phật
giáo đối với Liễu Tông Nguyên và bình luận đánh giá về thơ “Thiền lý” (1981),
Ngô Văn Trị, Văn Sử Triết (6), tr. 53 – 62; Liễu Tông Nguyên và Phật giáo, Tạ Hán
Cường (1983), Nghiên cứu Lịch sử Triết học Trung Quốc, (3), tr. 82 – 89; Liễu
Tông Nguyên và Phật giáo (1984, Lại Vĩnh Hải, Nghiên cứu Triết học, (3), tr. 59 –
65; Thơ Sơn thủy của Liễu Tông Nguyên và tư tưởng Phật Nho (1985), Cảnh Khải
Toàn, Nguyệt san Học thuật, (5), tr. 56 – 60; Sơ lược về thi tăng Quán Hưu và thơ
của ông (1984), Hoàng Thế Trung, Tạp chí Học viện Sư phạm Triết Giang, (2), tr.
72 – 80; Bạch Cư Dị và đạo Phật (1984), Trương Lập Danh, Tạp chí Học viện Sư
phạm Tương Đàm, (2), tr. 29 – 35; Lý luận về tư tưởng thiền tông Phật giáo và văn
học của Tô Thức (1989), Lưu Thạch, Thiên Phủ Tân Luận, (2), tr. 77 – 84.
Thời Vãn Đường (1987), Hoàng Tân Lượng, Tạp chí Học viện Sư phạm Ích
Dương, (3), tr. 7-12; Thi tăng và tăng thi thời Đường (1984), Trình Dụ Trinh, Tạp
chí Đại học Nam Kinh, (1), tr. 34 – 41. 5
Nhiều nhất vẫn là những công trình nghiên cứu viết về ảnh hưởng, tương
6
thông giữa thiền với thơ từng tác giả, từng thi phái, từng thời kỳ. Điều này nói lên
khả năng ứng dụng rộng lớn và thiết thực của vấn đề. Chúng tôi không có điều kiện
để nắm đầy đủ danh mục các công trình nghiên cứu, ở đây chỉ là một số rất ít của
các công trình đó:
2.1.3. Những công trình nghiên cứu trên phương diện dĩ thiền luận thi:
Sơ lược về thuyết “Thi thiền tương thông” (1987), Thôi Đại Giang, Tạp chí
Đại học Sư phạm Hoa Nam, (2), tr. 26 – 32; Luận về “Diệu ngộ” (1984), Trương
Nghị, Nghiên Cứu Lí Luận Văn Nghệ, (4), tr. 85 – 89; Thiền học - Thi học - Mỹ học:
Bàn về “dĩ thiền dụ thi” trong “Thương lãng thi thoại” (1985), Lưu Văn Cương,
Tạp chí Đại học Liêu Ninh, (3), tr. 43 – 48; Bàn về “dĩ thiền dụ thi” (1985), Chu
Chấn Phủ, Tri thức Văn học sử, (10), tr. 71 – 74; Ý tưởng Thiền cảnh và ý tưởng
thẩm mỹ (1987), Mậu Gia Phúc, Nghiên cứu Văn Nghệ, (5), tr. 77 – 83; Nghiên cứu
so sánh về tư tưởng Thiền tông thời kỳ đầu và thời kỳ cuối (1987), Lại Vĩnh Hải,
Tạp chí của nghiên cứu sinh học viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc, (5), tr. 4-8.
Phật giáo và văn hóa truyền thống Trung Quốc, Thượng Hải nhân dân xuất bản xã,
Thượng Hải, 1998 của Phương Lập Thiên tuy không trực tiếp nghiên cứu mối quan
hệ giữa thiền Phật giáo với văn học, song đã đề cập đến ảnh hưởng của Phật giáo
đối với văn hóa nói chung ở các nước như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Phật
giáo Trung Quốc mà ông nói đến là Phật giáo thời Tùy Đường, văn hóa truyền
thống mà ông đề cập đến trong đó có sự góp mặt quan trọng của thơ Đường. “Trong
trái tim khối óc của người Nhật, thơ Đường được coi là trường phái thơ cổ điển của
đất nước mình”1. Một công trình khác của ông cần đề cập chi tiết ở đây là Cảnh
giới thi ca thiền tông. Đóng góp đáng chú ý của công trình là phần trình bày về “cơ
chế phát sinh cảm ngộ thẩm mỹ thiền tông”. Bắt đầu từ ý kiến cho rằng “Điều quan
tâm cuối cùng của thi ca thiền tông” là “bản lai diện mục” Phương Lập Thiên đã đi
1
. Phương Lập Thiên, Phật giáo và văn hóa truyền thống Trung Quốc
7
sâu vào phân tích “ba giai đoạn kiến sơn”1 như là phương cách tương ứng để hiển lộ
“bản lai diện mục” đó. Tuy công trình chỉ gói gọn trong thi ca thiền tông Lâm Tế và
thơ tụng cổ nhưng đã gợi mở cho chúng ta cái nhìn tương thông giữa cảnh thơ với
cảnh thiền mà luận án sẽ có dịp đề cập đến ở chương 3.
2.2. Ở Việt Nam:
Mặc dù còn ít ỏi và có thể coi là sơ lược nhưng giới học giả Việt Nam đã quan
tâm nghiên cứu thiền và thơ Đường với nhiều khuynh hướng khác nhau.
2.2.1. Sách dịch:
Trước hết nói về việc giới thiệu nguyên tác thơ Đường. Theo tài liệu xưa nay
thường nhắc đến, thơ Đường có hơn 48.000 bài của 2300 nhà thơ. Con số khổng lồ
đó cần được nhắc lại khi đề cập đến việc dịch thơ Đường ở Việt Nam. Dịch phẩm
đầu tiên là Thơ Đường tuyển tập của Nam Trân (tập hợp những bản dịch hay của
các dịch giả tên tuổi như: Tản Đà, Ngô Tất Tố, Tương Như…). Thơ Đường của
Trần Trọng San, Đường thi của Trần Trọng Kim. Bên cạnh đó còn có Vương Duy
thi tuyển, Lý Bạch thi tuyển, Đỗ Phủ thi tuyển, Thế giới thi ca thiền Hàn Sơn của các
dịch giả Giản Chi, Trúc Khê, Vũ Thế Ngọc… Dịch phẩm nguyên tác thơ công phu,
đầy đủ nhất hiện nay là Đường thi tuyển dịch của Lê Nguyễn Lưu. Cuốn sách gồm
hơn một nghìn bài thơ của 180 tác giả với mở đầu là phần tiểu luận, cung cấp một
cái nhìn tương đối khái quát về thơ Đường. Tổng kết lại tất cả vẫn còn là một con số
quá khiêm tốn so với số lượng hiện có của “Toàn Đường thi”.
Sách nghiên cứu thơ Đường của các học giả Trung Quốc được dịch sang tiếng
Việt cũng không nhiều. Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa của Lâm Ngữ
Đường, Nguyễn Hiến Lê dịch (1970) là tác phẩm thường được nhắc đến. Cuốn sách
không đầy 200 trang nhưng đã lý giải một cách thuyết phục về vai trò của thơ ca
trong đời sống tinh thần dân tộc Trung Quốc. Tuy đề cập đến cả ba tư tưởng lớn
1
. Thiền sư Thanh Nguyên Duy Tín nói: “Lão tăng ba mươi năm trước khi học thiền thấy núi là núi, sông là
sông. Kịp đến sau này thân cận yết kiến thiện tri thức, có chỗ ngộ nhập thì thấy núi không phải là núi, sông
không phải là sông. Đến nay được chỗ nghỉ ngơi, buông bỏ xuống, lại thấy núi là núi, sông là sông”
8
Nho, Lão và Phật nhưng đặc biệt nhấn mạnh tinh thần thực tiễn của Nho gia, tác
dụng “phủ lên kiếp trần một bức màn thưa đẹp đẽ” của Lão gia còn Phật giáo ít
được đề cập đến.
Thơ thiền Đường Tống của Đỗ Tùng Bách do Phước Đức dịch (2000) tuyển
chọn thơ của các thi tăng, phần lớn có xuất xứ từ công án ngữ lục và tác phẩm của
thi tăng thời Tống. Trong hai chương “Thiền vị trong thơ Đường Tống”, “Thiền gia
tông phái và Giang Tây thi phái” Đỗ Tùng Bách đã sơ lược trình bày những vấn đề
tương quan thiền và thơ. Sự hợp lưu giữa thiền và thơ: sự khác biệt, khả năng dung
hợp, quá trình dung hợp giữa thiền và thơ đã bước đầu được tác giả bàn đến mặc dù
còn rất sơ lược. Điểm mới của công trình này cần nhắc đến ở đây là phần “Sự cấu
thành thiền vị trong thơ Đường Tống”. Nhưng cách làm của ông là phân chia thiền
trong thơ ra ba cấp độ biểu hiện: thiên thú thi, lý thú thi và thiền thú thi1. Ông đề cao
thơ thiền vị với kết luận: “Đặc chất của thơ Đường Tống là nơi thiền vị”. Nhìn
chung, dù còn sơ lược nhưng công trình này đã đề cập tương đối nhiều vấn đề hữu
ích cho việc nghiên cứu so sánh, tương thông giữa thiền và thơ Đường.
Không đặt thơ Đường trong so sánh với thiền, công trình Nghệ thuật ngôn ngữ
thơ Đường của Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân do Trần Đình Sử và Lê Tẩm dịch đã
đưa ra hướng tiếp cận thơ Đường bằng lý luận hiện đại của các nhà lý luận phê bình
phương Tây như: T.E. Hulme, Ernest Fenollsa, Jakobson… Theo chúng tôi, phần
nghiên cứu ngữ nghĩa, ẩn dụ và điển cố trong thơ Đường là một gợi ý lớn khi đi vào
tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ.
Các tác phẩm dịch khác như: Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, Phan Ngọc
dịch và giới thiệu (in lần 1 năm 1996, lần 4 năm 1999); Kim Thánh Thán: Phê bình
thơ Đường, Trần Trọng San dịch (1990); Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung
Quốc của Khâu Chấn Thanh, Mai Xuân Hải dịch (1992) thể hiện sự quan tâm của
học giả Việt Nam đối với nghiên cứu phê bình văn học cổ điển Trung Quốc. Những
1
. Thơ vịnh thú thiên nhiên, thơ có ý vị kỳ lạ và thơ có thiền vị. xem [2, tr. 337].
9
công trình này sẽ cung cấp cho bạn đọc những lý luận mang tính cơ sở trong việc
tiếp cận thơ Đường. Phê bình thơ Đường của Kim Thánh Thán gợi mở một cách
đọc thơ và “ngộ” giải thơ tràn đầy sự tương cảm giữa con mắt thiền giả và tấm lòng
thi nhân…
Lịch sử văn học Trung Quốc của Sở Nghiên cứu văn học Trung Quốc là một tư
liệu quan trọng trong dạy và học Văn học Trung Quốc ở bậc học Đại học. Bàn về
nguyên nhân hưng thịnh của thơ Đường, các tác giả này cho là do sự phát triển của
bản thân các hình thức văn học quyết định và những nhân tố bên ngoài thúc đẩy.
Trong các nhân tố bên ngoài đó, nhóm tác giả này đề cập đến cảnh tượng “trăm nhà
đua tiếng” mà Phật giáo như là một nhân tố quan trọng thuộc kiến trúc thượng tầng
góp phần làm thơ Đường trở thành đỉnh cao bất tuyệt.
Điểm qua các công trình nghiên cứu thiền và thơ Đường ở Trung Quốc cũng
như những dịch phẩm về Văn học Trung Quốc ở Việt Nam như trên là để thấy được
sự “bao la vạn tượng”, những góc nhìn thơ từ “mắt thiền”, tư tưởng thiền trong thơ
Đường được coi trọng như thế nào và nền học thuật văn học Trung Quốc ở Việt
Nam cần bổ sung những gì.
2.2.2. Sách nghiên cứu:
Không tìm thấy một tài liệu tham khảo chính nào bằng tiếng Việt, thậm chí,
sách dịch cũng không. Trong nhiều chục năm nay ở bậc Đại học, Cao học, Nghiên
cứu sinh có nhiều công trình nghiên cứu về thơ Đường, tuy có một số luận văn nói
đến tư tưởng Thiền và thơ nhưng chỉ dừng ở thơ Vương Duy nên chưa thấy được
tầm ảnh hưởng sâu, rộng và hầu như đồng bộ của nó.
Từ những năm 1955-1975 những tác giả như Nhất Hạnh (Nguyễn Lang), Tuệ
Sỹ, Đoàn Trung Còn, Lê Mạnh Thát đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhưng
chủ yếu vẫn thuộc lĩnh vực Sử học và Văn hóa học. Ảnh hưởng của thiền đến văn
hóa, văn học không phải không được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu
của họ nhưng không phải là hướng nghiên cứu chủ đạo nên thường là những nhận
định chung, mang tính khái quát.
Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây đã có những công trình đi vào
10
nghiên cứu hệ thống và chính diện hai đối tượng thơ và thiền. Luận án Tiến sĩ Ngữ
văn của Thích Đồng Văn (2004): Biến văn thời Đường và ảnh hưởng của Biến văn
trong Văn học Trung Quốc; Lịch sử tư tưởng thiền từ Veda Ấn Độ tới thiền tông
Trung Quốc, Hoàng Thị Thơ (2005) là cách thể hiện sự quan tâm tới thiền và văn
học Trung Quốc ở góc nhìn so sánh chuyên biệt mỗi lĩnh vực. “Nghiên cứu so sánh
thơ thiền Lý-Trần (Việt Nam và thơ thiền Đường-Tống (Trung Quốc)”, Lê Thị
Thanh Tâm (2007); Nghệ thuật hội họa trong thơ sơn thuỷ điền viên của Vương
Duy, Trần Thị Thu Hương (2001); Thơ thiền Vương Duy – một điển hình của hiện
tượng thi tăng, Nguyễn Thị Diệu Linh (2001) là những công trình đã chọn điểm
nhìn mới và khá sắc sảo. Vấn đề “thi trung hữu họa” không phải là đặc trưng riêng
có trong thơ Vương Duy. Mỗi bài thơ Đường đều có thể là một bức tranh. Ngoài
nguyên tắc điều phối màu sắc, tác giả Trần Thị Thu Hương chỉ ra “tính họa” trong
thơ Vương Duy bằng luật viễn cận với ba chiều kích: điểm nhìn mặt phẳng, điểm
nhìn trên - dưới, điểm nhìn di động. Có một điểm nhìn siêu cá thể của tâm hồn thiền
giả, ẩn giả, của cái ta luôn hòa nhập với bản thể vũ trụ cũng được sáng lên trong bức
tranh thiên nhiên đó.
Công trình Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ thiền Việt Nam thế kỷ X –
thế kỷ XIV của tác giả Đoàn Thị Thu Vân (1996) cũng chủ yếu đi vào tìm hiểu nghệ
thuật thơ. Tác giả đã đưa ra những kết luận thuyết phục trên cơ sở nghiên cứu thống
kê và cũng đã dành riêng một chương để so sánh “Đặc trưng nghệ thuật trong thơ
thiền Lý-Trần với thơ Nho cùng thời và thơ thiền Trung Quốc, Nhật Bản”.
2.2.3. Báo, tạp chí:
Ảnh hưởng của Phật giáo trong thi ca của Nguyễn Xuân Sanh được công bố
trên Tạp chí Đại học năm 1959 có lẽ là công trình đầu tiên trực tiếp nghiên cứu mối
quan hệ và ảnh hưởng của hai đối tượng thơ và thiền. Rất nhiều công trình nghiên
cứu tương tự khác đã được đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu. Từ quan tâm chủ
yếu về văn hóa, lịch sử của những công trình nghiên cứu trong những năm trước
1945, từ những năm 90 trở lại đây, giới nghiên cứu bắt đầu dành sự chú ý tới mối
quan hệ văn học Trung Quốc, thơ văn Lý-Trần và thiền Phật giáo. Có thể kể một số
11
công trình như: “Ảnh hưởng của Thiền tông đối với văn hóa Trung Quốc và thế
giới” của Tôn Thất Lợi (1997); “Mối quan hệ giữa Phật giáo với văn học” của
Nguyễn Công Lý (1998). “Phật giáo và văn học Trung Quốc” của Lê Kỉnh Tâm
(2003);“Phật giáo với văn học Việt Nam” Nguyễn Duy Hinh (1992), “Thơ thiền và
việc lĩnh hội thơ thiền thời Lý” của Nguyễn Phạm Hùng (1992)…
2.3. Ở các nước:
So với thơ Đường thiền được các nước phương Tây biết đến nhiều hơn và do
vậy cũng có nhiều công trình nghiên cứu hơn. Người có công đem Thiền giới thiệu
ra thế giới phương Tây một cách hệ thống và có sức hút đáng kể là thiền sư người
Nhật D. T. Suzuki1 với bộ “Thiền luận” của ông. Chúng tôi chưa tìm thấy một công
trình nghiên cứu nào nghiên cứu chung hai đối tượng thiền và thơ Đường ở các
nước khác. Chủ yếu vẫn là những công trình giới thiệu thiền hoặc nghiên cứu thiền
trong tương quan với lịch sử, văn hóa. Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc của
Henri Maspero2 (1999) là một tác phẩm tiêu biểu đã được dịch sang tiếng Việt.
Tìm hiểu thiền với cuộc sống - ngụ ngôn thiền (Zen Fables for Today) là tuyển tập
những câu chuyện thiền ý nhị được tái hiện từ công án thiền Trung Quốc của thiền
sư Richard Mclean đã được dùng để hướng dẫn thiền ở trung tâm thiền do ông sáng
lập ở Đức... Tuy không phải là một công trình nghiên cứu hệ thống nhưng như bài
viết ngắn về thiền và thơ3 của nhà nghiên cứu Đông phương người Nga, T. P.
Grigorieva là khá hiếm. Hiện tại, chúng tôi chưa được biết có công trình nghiên cứu
nào ở các nước khác liên quan gần đến đề tài luận án của chúng tôi.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn tư liệu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thơ Đường. Trong mối tương quan đặc biệt
của nó với thơ của Tăng nhân chúng tôi còn chú ý tới thơ kệ của một số tăng nhân
1
. (1870-1966)
. Nhà Nhân chủng học người Pháp (1882-1945)
3
. Thiền trong thơ Haiku Nhật Bản, Tạp chí Văn học, (4), tr. 60-64.
2
12
thời Đường trong Trung Hoa chư thiền đức hành trạng của Thích Thanh Từ soạn
dịch (1972) và một số thi kệ đã được dịch dẫn trong các tập ngữ lục.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tư tưởng Thiền trong thơ Đường. Trong luận
án này, chúng tôi chỉ giới hạn trong thơ luật.
3.3. Nguồn tư liệu:
- Bích Nham Lục, Thích Thanh Từ (1995), Thành hội Phật giáo TP. HCM ấn
hành.
- Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Đạo Nguyên (2006), Lý Việt Dũng dịch, NXB
Tôn Giáo, HN.
- Đường thi tuyển dịch, Lê Nguyễn Lưu (1997), NXB Thuận Hoá, Huế.
- Thơ Đường, Trần Trọng San dịch (1990), NXB ĐHTH TP. HCM.
- Thơ Đường, Tản Đà dịch (2003), NXB Văn Học, HN.
- Phật thi tam bách thủ (1993), Hồng Phi Mô, NXB Văn Nghệ Giang Tô,
Trung Quốc.
- Thi thiền nhất bách thủ (1996), Lý Miễu, Trung Hoa thư cục, Hương Cảng
xuất bản, Trung Quốc.
- Toàn Đường Thi, rút từ />- Vương Duy thi tuyển, Giản Chi tuyển dịch (1995), NXB Văn Học, HN.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu hai lĩnh vực đặc thù của văn hóa văn học Trung
Quốc là thiền và thơ chúng tôi tuy vẫn sử dụng những phương pháp nghiên cứu phổ
biến nhưng vận dụng kết hợp chúng ở nhiều cấp độ khác nhau.
- Phương pháp so sánh - giải thích
- Phương pháp phân tích thi pháp học - ngôn ngữ học
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành (Văn- triết- họa)
- Phương pháp phán đoán tổng hợp
Các phương pháp này vừa có ưu điểm nhưng đồng thời cũng có hạn chế, nhất
là trong thời đại bùng nổ thông tin và đổi mới phương pháp nghiên cứu như hiện
13
nay chúng tôi cố gắng vận dụng một cách uyển chuyển để có thể tiếp cận tốt nhất
hai đối tượng thiền và thơ Đường.
5. Đóng góp mới của luận án:
a. Ý nghĩa khoa học: Luận án không chủ trương chứng minh tư tưởng thiền đã
ảnh hưởng lên thơ Đường như lâu nay người ta vẫn thường làm. Tuy nói rằng Thiền
tông Phật giáo thuộc kiến trúc thượng tầng, chi phối lên văn học nghệ thuật nói
chung là đương nhiên nhưng điều đó không hoàn toàn như vậy. Chúng tôi coi thơthiền tương thông. Từ quá trình phát triển và đạt đến hưng thịnh, thơ và thiền đã
thâm nhập lẫn nhau bằng chính sự tương hợp nội tại của chúng. Điều đó đồng thời
ghi nhận dấu ấn của các tư tưởng bản địa cũng như tâm tính dân tộc trong tư tưởng
thiền tông Trung Quốc. Và tư tưởng đó đã bàng bạc trong thơ Đường.
Khi hiểu được tư tưởng thiền trong thơ Đường là tư tưởng thiền như thế nào,
nó khác gì với tư tưởng thiền thời Tống thì sẽ dễ thấy ra sự khác nhau trong thơ
Đường và thơ Tống nói chung, thơ thiền Đường - Tống nói riêng.
Con đường đi chính là con đường trở về. Chìa khóa giải mã vẻ đẹp thơ Đường
không chỉ ở nơi thi luật, điều đó sẽ dễ dàng thấy được trong sự tương thông của
thiền và thơ. Cái ý vị, sự giản đơn và hàm súc của thơ Đường chính là ở nơi bản
thân nội tại của thơ Đường và sự thâm nhập tự nhiên của tư tưởng thiền.
b. Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài luận án sẽ giúp cho giáo viên dạy Ngữ văn ở bậc
PTTH những gợi mở cần yếu cho phần bài giảng về thơ Đường và thơ thời Lý –
Trần trong việc tiếp cận từng tác phẩm cụ thể và quan trọng là ở phần khái quát
chung. Giáo viên trên cơ sở đó có thể giúp học sinh mường tượng được không khí
đặc trưng của cả một giai đoạn văn học.
Ở bậc học Đại học, Cao học thi Phật Vương Duy được chú ý nhiều hơn, có
nhiều chuyên đề ít nhiều liên quan tới Thiền và thơ được giới thiệu như “Tư tưởng
văn học phương Đông”, “Tiến trình, đặc điểm, nội dung và thi pháp thơ Trung
Quốc”, “Ảnh hưởng của ba tư tưởng Nho, Lão và Phật trong thơ Đường”… Luận án
góp phần khái quát, xác định một cách sáng rõ sự tương thông nội tại của thiền
Trung Quốc và thơ Đường trong nội dung cũng như nghệ thuật. Từ đó, hướng tiếp
14
cận thơ Đường cũng gợi mở hơn. Và cuối cùng, đề tài luận án có thể làm tài liệu
giảng dạy chuyên đề ở các Học viện Phật giáo đầy thú vị cho Tăng ni sinh viên có
thể tìm hiểu văn học (nhất là thơ Đường, thơ Lý-Trần) bằng sự đối sánh với tư
tưởng hướng đạo của họ.
6. Cấu trúc luận án:
Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục luận án gồm
3 chương:
Chương 1 - Thơ và thiền trong đời sống tinh thần Trung Quốc thời Đường (618907).
Chương 2 – Sự tương thông của tưởng thiền trong nội dung thơ Đường.
Chương 3 – Sự tương thông giữa tư tưởng thiền với nghệ thuật thơ Đường.
15
CHƯƠNG 1:
THƠ VÀ THIỀN TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN TRUNG QUỐC
THỜI ĐƯỜNG (618-907)
Thiền Trung Quốc là thiền Phật giáo Ấn Độ được Trung Quốc hóa và thơ
Đường ở vào đỉnh cao của nó là một tất yếu trước những cơ sở hạ tầng cũng như
thượng tầng được chuẩn bị chu đáo, xuất sắc về mọi mặt.
Ở một đất nước nặng nề với lễ giáo phong kiến truyền thống, lòng tự tôn dân
tộc cao độ và là một trong những nền văn minh cổ xưa nhất của nhân loại như
Trung Quốc, một tư tưởng ngoại lai muốn du nhập vào đất nước đó là một thách
thức lớn. Nhưng Phật giáo không những sớm được người dân Trung Quốc đón nhận
mà còn trở thành một tư tưởng ăn sâu gốc rễ trong tâm thức người dân tộc này. Hai
tư tưởng lớn Nho gia và Lão gia tưởng chừng sẽ là trở lực vĩnh viễn của Phật giáo
nhưng ngược lại. Nho gia tìm được ở Phật giáo một bổ sung cần thiết. Lão gia nhìn
Phật giáo như sự tương thông đáng được coi là một thành phần đồng đẳng của văn
hóa truyền thống Trung Quốc. Chúng làm mới cho nhau, chung sống hài hòa với
nhau và từ thời Nam Bắc triều, Phật giáo thực sự là một trong ba tư tưởng bản địa
của Trung Quốc. Sự lớn mạnh, sự thay đổi của Phật giáo Trung Quốc đều có ảnh
hưởng đáng kể vào đời sống tinh thần văn hóa, văn học và cả chế độ xã hội của đất
nước này trong thời kỳ lịch sử có nhiều biến động và đầy phức tạp.
Thiền thời Tống tuy tông phong hưng thịnh song đó là sự hoàn thiện về mặt
thuyết lý. Nếu xét ở phương diện triết học của tôn giáo thì quả thật thiền tông đời
Đường chưa phát triển bằng đời Tống. Nhưng nhìn vào thơ ca thơ Tống mặc dù
dùng nhiều thiền ngữ, thiền lý hơn thơ Đường nhưng không vì thế mà ý vị thiền của
nó có thể sánh được với thơ Đường.
Dù không muốn nói đến Phật giáo, một tư tưởng phương Đông uyên áo thâm
trầm mà với nhiều người, đó là một tâm thế sống thoát ly hiện thực và nói chung là
huyễn mộng thì cũng không thể phủ nhận vai trò và sức hút của nó đối với dân tộc
Trung Quốc. Ít ra là trên các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và tâm lý sống của con
người thời đại đó.
16
Cùng với thời gian Phật giáo từ một tôn giáo ngoại lai, phải mượn ngôn ngữ
tôn giáo bản địa, phải ẩn đằng sau những lý giải của tôn giáo bản địa để có đất tồn
tại rồi dần dần trở lại được chính mình, độc lập khỏi tôn giáo bản địa và rồi trở
thành một trong ba tư tưởng trọng yếu của truyền thống bản địa. Tuy nói rằng Phật
giáo vẫn không chiếm địa vị độc tôn như Nho gia nhưng tầm ảnh hưởng của nó có
lẽ sâu rộng và đều hơn tư tưởng bản địa.
Một tâm lý thường thấy đối với nhiều nhà nghiên cứu là có thể nói rất nhiều về
các tư tưởng khác khi nhìn nhận sự ảnh hưởng của nó đối với một tác phẩm, một
nền văn học, một trường phái nghệ thuật nào đó một cách tự nhiên đúng với tinh
thần khách quan như thế nhưng khi nói tới Phật giáo người ta lại e ngại. Có lẽ ấn
tượng là một tôn giáo của Phật giáo đã làm cho họ thận trọng. Điều đó ngăn ngại rất
nhiều trong việc giải mã các tác phẩm văn học. Chúng tôi cho rằng Phật giáo trước
hết là một tư tưởng lớn, tính tôn giáo chỉ là sự nảy sinh trong quá trình đáp ứng nhu
cầu tâm linh của con người. Nhưng dẫu là yếu tố tôn giáo chăng nữa, nếu có trong
văn học chúng ta cũng phải khách quan nhìn nhận thì sự nghiên cứu của chúng ta
mới nói lên được điều mà tác phẩm văn học muốn nói tới.
1.1. Tiền đề cơ bản cho sự hưng thịnh của Thơ và Thiền
1.1.1. Điều kiện văn hóa-xã hội:
Ông vua đầu tiên của triều đại nhà Tùy là Tùy Văn Đế lấy tư tưởng Phật giáo
làm hệ tư tưởng chính. Nhờ đó, ông được nhân dân rất ủng hộ trong đường lối xây
dựng và củng cố đất nước suốt thời gian tức vị của ông. Trải qua được ba đời vua
với 37 năm cai trị (581-618) nhà Tùy nhanh chóng bị lật đổ dưới tay Tùy Dạng Đế,
một ông vua ham thích việc xây dựng lầu đài cung điện và viễn chinh khiến cho đời
sống người dân khốn đốn không yên phận được. Tuy nhiên, sự nghiệp thống nhất
đất nước và phát triển phồn thịnh về nhiều mặt của nhà Tùy đã làm nền tảng cơ sở
cho triều đại nhà Đường nhiều thuận lợi, một bàn đạp vững chắc để vươn tới đỉnh
cao mới mà các triều đại phong kiến trước và sau nó không dễ gì đạt được.
Nông nghiệp thời Đường được quan tâm qua những cải tiến kỹ thuật, khai
17
khẩn đất hoang, thủy lợi đảm bảo, đời sống người dân được cải thiện rất nhiều.
Công nghiệp cũng đặc biệt phát triển như ngành luyện sắt, khai thác than đá, dệt tơ,
gốm sứ, đóng thuyền, dưới sự giám sát chặt chẽ của nhà nước. Các mặt hàng thủ
công mỹ nghệ của Trung Quốc được các nước châu Á, châu Âu yêu thích và sự phát
triển của ngành công nghiệp đóng tàu tạo nhiều thuận lợi cho việc mở rộng thương
mãi mậu dịch. Có thể nói, thời kỳ này nhu cầu thương mãi đã làm cho đất nước
Trung Quốc đã phồn thịnh lại sầm uất lên đáng kể.
Về tư tưởng học thuật, phải nói rằng mở đầu thời Đường là một ông vua thao
lược toàn tài1, có tầm nhìn thông suốt trước những cái được và chưa được của lịch
sử các triều đại trước. Ông đi vào cải tổ toàn diện mọi mặt của đời sống xã hội trên
một nền tảng đã được chuẩn bị chu đáo từ các triều đại trước. Đường chính là đỉnh
cao của những phát triển đó.
Nho gia và Lão gia vẫn giữ vai trò là tư tưởng truyền thống bản địa. Phật giáo
đến thời này, mặc dù trong giới cầm quyền và môn đồ hai tư tưởng trên vẫn đặt
nặng nguồn gốc ngoại lai của nó nhưng trên thực tế, sức lan tỏa sâu và rộng của nó
là không thể che phủ được. Cả ba tư tưởng này đã trước hết hấp thụ lẫn nhau và rồi
trở lại cùng chi phối lên mọi mặt của đời sống xã hội thời Đường.
Riêng Văn học nghệ thuật với một không khí xã hội yên bình, đời sống đầy đủ,
người ta có điều kiện, có nhu cầu nhiều hơn cho hoạt động đặc biệt dành riêng cho
đời sống tinh thần này. Chẳng hạn, âm nhạc thời Đường phong phú với đủ loại nhạc
cụ và âm điệu của các miền Tây Vực và Hồ. Hội họa càng thành tựu hơn với phái
thủy mặc sơn thủy, chuộng đề tài thiên nhiên dưới ảnh hưởng của Lão gia và Phật
giáo như Vương Duy, Ngô Đạo Huyền. “Họa sĩ ở triều đình cũng nhiều như sao
buổi sáng” (Đỗ Phủ), người người đều sáng tác, thưởng thức thơ văn, không kể tầng
lớp nào, thế hệ nào của xã hội. Các vua Đường đặc biệt tạo điều kiện cho văn nhân
thi sĩ và thơ ca khởi sắc khoe hương mà tên tuổi của họ đã quá quen thuộc không
1
. Đường Thái Tôn - Lý Thế Dân (599-649)
18
những đối với các nước phương Đông mà còn được cả thế giới biết đến như Lý
Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị…
1.1.2. Tương hợp nội tại của Nho, Lão, Phật và con đường của Huệ Năng:
1.1.2.1. Tương hợp nội tại:
Phật giáo đến Trung Quốc từ buổi đầu cho đến thời phát triển rực rỡ của nó
trên đất nước này, bao giờ Phật giáo cũng vừa cố thủ vừa mềm dẻo, vừa chống đối
vừa tiếp thu, vừa tranh luận vừa dung hợp. Những trở lực của một nền văn minh
ngang tầm bao giờ cũng đầy thách thức và dai dẳng. Phải nói rằng Lão gia tuy là
người đầu tiên “mở cửa” cho Phật giáo nhưng những chung đụng của Lão gia và
Phật giáo cũng không kém phần kịch liệt. Bởi so với mối quan hệ giữa Nho gia và
Phật giáo, mối quan hệ giữa Phật và Lão tinh tế hơn nhiều.
Tuy nhiên, ba nhà Nho, Lão và Phật sở dĩ thừa tiếp tư tưởng của nhau, trông
cậy được vào nhau là nhờ bản thân mỗi tư tưởng đó đã sẵn có sự giống nhau, cả
những cái khác biệt cần bổ sung lẫn nhau. Có thể thấy sự tương hợp nội tại qua
giống và khác của ba tư tưởng Nho, Lão và Phật giáo từ góc nhìn của các luận đề
triết học cơ bản đã được tìm thấy trong thơ Đường và giúp ích cho việc tìm hiểu thơ
Đường.
Trên mặt nhân sinh quan, bất kỳ một tư tưởng, một tôn giáo nào đều biểu thị
một nhân sinh quan nhất định. Thực ra, nguyên nghĩa của nhân sinh quan là quan
niệm xung quanh cuộc sống con người, trong đó có khổ đau, có hạnh phúc, có quan
niệm nhân sinh nên khổ hạnh, có quan niệm nhân sinh nên hưởng lạc. Nhân sinh
quan trong tương hợp nội tại của Nho, Lão và Phật chúng ta nói đến ở đây là một
nhân sinh truy cầu hạnh phúc. Với nhiều con đường, nhiều cung bậc khác nhau. Tìm
hiểu tâm tính dân tộc Trung Quốc chính là để hiểu yếu tố nội tại nào đã tạo nên sự
hô ứng giữa hai tư tưởng bản địa là Nho và Lão với một tư tưởng có nguồn gốc
ngoại lai như Phật giáo.
Tâm tính dân tộc thể hiện rất rõ quan niệm nhân sinh và vũ trụ. Mọi nỗ lực của
Phật giáo, suy cho cùng là minh chứng cho khả năng thích ứng của nó đối với từng
không gian, thời gian mà thôi, tức là với từng tâm tính dân tộc và ngược lại.
19
Qua thơ cổ Trung Quốc trước thời Đường, ngay cả trong Kinh thi chúng ta đã
nhận ra được rằng Lâm Ngữ Đường rất có lý khi nói về người Trung Quốc: “Họ có
xu hướng tự nhiên và thành thực thích cái khía cạnh tầm thường của đời sống; óc
tưởng tượng của họ chỉ để phủ lên kiếp trần một bức màn thưa đẹp đẽ, mê hồn, chứ
không phải để thoát ly cuộc sống”. Họ có say mê thuốc tiên đấy nhưng không có
nghĩa là họ muốn từ bỏ cuộc sống trần gian đầy “bãi biển nương dâu”, đầy đau khổ
và nhọc nhằn, cũng không phải muốn tìm hạnh phúc sau kiếp sống này hay “thế giới
bên kia” mà là để kéo dài kiếp sống hiện tại. Tinh thần thực tiễn đó của họ không
nhất nhất đều trần trụi và nghiêm khắc. Vậy nên Khổng giáo tuy là tư tưởng chủ đạo
của dân tộc Trung Quốc nhưng vẫn còn thiếu vắng nhiều trong đời sống tinh thần
người dân. Một lẽ đơn giản là con người ở đất nước tự coi mình là trung tâm của thế
giới này vốn không thích gì những thứ quá trọn vẹn, quá thiên lệch. Họ thích sự vừa
chừng, như tinh thần “trung dung” (của Nho gia), một ít thôi và trung đạo (của Phật
giáo).
Những điều đó cho chúng ta nhận thức rằng, thoát ly hiện thực hay hiện thực
khô khan, trần trụi đều không phải là cuộc sống lý tưởng mà người Trung Quốc truy
cầu. Cho nên, thơ ca của họ tự bao đời đều là những bức tranh, những khoảnh khắc
của cuộc sống đời thường bình dị. Bài thơ “Ngư ông” của nhà thơ Liễu Tông
Nguyên là một ví dụ sinh động cho quan niệm ấy:
Ngư ông dạ bạng tây nham túc
Hiểu cấp thanh Tương nhiên Sở trúc
Yên tiêu nhật xuất bất kiến nhân
Ái nãi nhất thanh sơn thuỷ lục
Hồi khan thiên tế há trung lưu
Nham thượng vô tâm vân tương trục.
(Ông chài đêm ngủ nhờ núi đá phía Tây
Sáng sớm múc nước Tương trong, đun bằng tre Sở
Sương tan, mặt trời mọc, chẳng thấy ai khác
Một tiếng hò chèo thuyền xanh cả núi sông
20
Ngoảnh trông bầu trời in xuống nước
Trên núi hững hờ mây xua đuổi nhau).
Ngư ông – Liễu Tông Nguyên
Hương vị cuộc sống đọng lại sau những con chữ thành thực đó là gì? Hiếm có
bài thơ nào không phảng phất chút ngậm ngùi. Điều đó cũng không có gì là lạ đối
với một dân tộc chuộng sử và luôn hoài vọng quá khứ này. Không cần phải đưa dẫn
chứng cũng không cần phải thống kê thơ Trung Quốc, rõ nhất là ở thơ Đường, mỗi
bài thơ đều ngậm ngùi một nỗi niềm và ở mức độ đậm nhạt khác nhau:
Nhưng khắp thế giới không đâu thấy được một thứ thơ nào so sánh được
với thứ thơ đó, về cách diễn tả thanh nhã, tế nhị, về những tình cảm dịu dàng,
điều độ, về sự bình dị và cô đọng của một câu ngắn thôi mà bao trùm được
một tư tưởng cân nhắc kỹ lưỡng [20, tr.139].
Tuy Phật giáo đến Trung Quốc khi đã có một học thuyết thực tiễn như Nho
gia, và một học thuyết mềm mại hơn là Lão gia bổ sung cho tâm hồn Trung Quốc.
Nhưng sự hiện diện của Phật giáo mới cho dân tộc này có thêm chất liệu cần thiết
để trung hòa nên một triết lý sống đúng như mong họ mong muốn.
Trong những so sánh của mình Arthur F. Wright đã đưa ra một sự khác biệt về
tâm lý cá nhân giữa Ấn Độ và Trung Quốc là: Trung Quốc không có thiên hướng
phân tích con người qua các thành tố cấu tạo nó. Ngược lại, người Ấn Độ thì hiểu
biết rất rộng về sự phân tích tâm lý. Điểm khác biệt này cơ hồ là một khó khăn trong
việc hoà hợp với tôn giáo bản địa và nhất là tâm tính dân tộc. Nhưng bình tâm mà
xét, chẳng phải nhà Phật đã cung cấp cho người Trung Quốc một phương thức bình
phàm1 hóa cuộc sống, khiến cho mọi hình ảnh hiện lên trong thơ nói riêng trong cái
nhìn của họ nói chung một sự soi chiếu tinh tế. Và vẻ đẹp tinh tế là thứ mà người
Trung Quốc vô cùng yêu thích. Quan trọng hơn, sự tinh tế khiến cho những tâm tình
thơ, những hình ảnh thơ trở nên giản dị mà không tầm thường, bình đạm mà không
1
. Bình: bình thường; phàm: phàm tục.