TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Tên đề tài:
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY LẮP 5 (C.C.5)
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Đức Bảo Trung
Lớp: Kế Hoạch 53B
Mã sinh viên: CQ534201
Giảng viên hướng dẫn: TS. Bùi Đức Tuân
HÀ NỘI, NĂM 2015
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1
Độc lập- Tự do -Hạnh phúc
BẢN CAM ĐOAN
Tên tôi là
: Nguyễn Đức Bảo Trung
Lớp
: Kế hoạch 53B
Trường
: Đại học Kinh tế quốc dân
Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp với đề tài "Hoàn thiện công tác lập kế
hoạch sản xuất tại Công ty cổ phần Đầu tư và Xây lắp 5" là một công trình
nghiên cứu, nỗ lực của bản thân tôi trong suốt thời gian thực tập cùng với sự
hướng dẫn, chỉ bảo của giảng viên TS. Bùi Đức Tuân và các anh chị, cô chú tại
Công ty cổ phần Đầu tư và Xây lắp 5.
Những số liệu và thông tin được sử dụng trong bài là hoàn toàn trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Đức Bảo Trung
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
KHSX:
KH:
SXKD:
SXCN:
SX:
TK:
LĐ:
HĐ:
GTGT:
TNDN:
NN:
DN:
VLXD:
MMTB:
3
Kế hoạch sản xuất
Kế hoạch
Sản xuất kinh doanh
Sản xuất công nghiệp
Sản xuất
Thiết kế
Lao động
Hợp đồng
Giá trị gia tăng
Thu nhập doanh nghiệp
Nhà nước
Doanh nghiệp
Vật liệu xây dựng
Máy móc thiết bị
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ
4
Sơ dồ 1: Quy trình kế hoạch hóa sản xuất
Sơ đồ 2: Đặc điểm cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 3 : Quy trình lập kế hoạch ở C.C.5
Bảng 1: Bảng tổng hợp các chỉ tiêu chủ yếu thực hiện năm 2014
Bảng 2: Thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch năm 2015
Bảng 3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty cổ phần Đầu tư và Xây
lắp 5 (2012-2014)
Bảng 4: Tình hình thực hiện kế hoạch giai đoạn 2012-2014
Bảng 5: Các chỉ tiêu kế hoạch giá trị sản lượng năm 2015
Bảng 6: Các chỉ tiêu kế hoạch lợi nhuận và phân phối lợi nhuận năm 2015
Bảng 7: Các khoản phải nộp kế hoạch năm 2015
Biểu đồ 1 : Doanh thu công ty giai đoạn 2012 - 2014
5
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một đất nước đang phát triển,với nhiều tiềm năng lớn để vươn
lên về kinh tế trong những năm sắp tới. Kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu
rộng với kinh tế thế giới, đặc biệt sau khi nước ta chính thức gia nhập WTO.
Điều này tạo ra rất nhiều những cơ hội nhưng cũng đồng thời là thách thức
không nhỏ cho các doanh nghiệp. Để doanh nghiệp có thể đứng vững và tạo
được điểm nhấn trên thị trường cần có công tác quản lý doanh nghiệp tốt. Kế
hoạch hóa là công cụ phục vụ cho việc quản lý doanh nghiệp. Trong xu thế hội
nhập và cạnh tranh, để doanh nghiệp có thể tồn tại được buộc các doanh nghiệp
phải có chiến lược phát triển, tầm nhìn và mục tiêu mang bản sắc riêng. Vì vậy
công tác kế hoạch hóa trong doanh nghiệp càng được chú trọng đặc biệt là công
tác lập kế hoạch sản xuất.
Ý thức được vai trò và tầm ảnh hưởng của công tác lập kế hoạch đổi với
sự phát triển nền kinh tế và trong một tổ chức doanh nghiệp do đó trong quá
trình thực tập tại công ty cổ phần đầu tư và xây lắp 5 (C.C.5) tôi đã chọn đề tài:
“Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty cổ phần đầu tư và
xây lắp 5 (C.C.5)” với mục đích tích luỹ kiến thức và tham gia góp ý về công
tác lập kế hoạch sản xuất ở công ty.
+Mục tiêu nghiên cứu: Công tác lập kế hoạch sản xuất.
+Phạm vi nghiên cứu: Công ty Cổ phần đầu tư và xây lắp 5 (C.C.5)
+Phương pháp nghiên cứu: Trong chuyên đề này, tôi đã sử dụng các
phương pháp: Nghiên cứu, tổng hợp, so sánh và thống kê. Các tài liệu có được là
do tham khảo, sưu tầm ở công ty và trên sách báo, qua các trang web và qua quá
trình tự phân tích, tổng hợp.
Bố cục chuyên đề bao gồm các phần chính:
Chương I. Lý luận chung về công tác lập kế hoạch sản xuất của công
ty.
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 6
Chương II. Thực trạng công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty cổ
phần đầu tư và xây lắp 5 (C.C.5)
Chương III. Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản
xuất tại công ty cổ phần đầu tư và xây lắp 5 (C.C.5)
Trong thời gian thực tập và hoàn thiện đề tài của mình, tôi xin chân thành cảm
ơn giảng viên hướng dẫn Tiến sỹ Bùi Đức Tuân, người đã trực tiếp hướng dẫn
tôi hoàn thành đề tài này và các thầy cô giáo khác trong khoa Kế Hoạch & Phát
Triển đã cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu tạo điều kiện cho tôi tìm hiểu
tốt về đề tài. Tôi cũng xin cảm ơn tập thể Cán bộ công nhân viên Công ty Cổ
phần Đầu tư và Xây lắp 5, đặc biệt là phòng Kinh Tế Kế Hoạch, phòng Hành
chính Tổng hợp và Ban giám đốc Công ty đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện cho tôi trong quá trình thực tập.
Vì thời gian cũng như nhận thức còn hạn chế nên bài viết của tôi không
thể tránh khỏi những sai sót. Do đó tôi mong được sự góp ý của các thầy cô giáo
và của Công ty Cổ phần đầu tư và xây lắp 5.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 7
CHƯƠNG I :LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH SẢN
XUẤT CỦA CÔNG TY
1. Cơ sở lý luận chung về kế hoạch hóa.
1.1. Khái niệm và vai trò của kế hoạch.
1.1.1. Khái niệm kế hoạch.
Kế hoạch từ lâu đã được coi như một công cụ để thiết lập cũng như thực
hiện các công cụ của chiến lược. Tuy nhiên, vai trò này không phải lúc nào cũng
được thể hiện một cách thống nhất, nó có thể là công cụ quản lý không thể thiếu
đối với đối tượng này nhưng lại trở thành nguyên nhân của sự cứng nhắc đối với
đối tượng khác. Kế hoạch hóa có nhiều ý kiến và là chủ đề của nhiều ý kiến trái
ngược cho dù liên quan tới các công ty hay nền kinh tế quốc dân.
Theo một cách tổng quát nhất, kế hoạch là một phương thức quản lý theo
mục tiêu, nó là hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng các
quy luật tự nhiên – xã hội; đặc biệt là các quy luật kinh tế kỹ thuật, các ngành
lĩnh vực, hoặc toàn bộ nền sản xuất xã hội theo mục tiêu thống nhất.
Kế hoạch hóa được thể hiện ở nhiều quy mô và phạm vi khác nhau: kế
hoạch hóa kinh tế quốc dân, kế hoạch hóa theo vùng, địa phương, kế hoạch hóa
doanh nghiệp, kế hoạch hóa theo ngành, lĩnh vực. Kế hoạch hóa doanh nghiệp
được xác định là một phương thức quản lý doanh nghiệp theo mục tiêu, bao gồm
toàn bộ hành vi can thiệp có chủ định của các nhà lãnh đạo và quản lý doanh
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 8
nghiệp vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của đơn vị mình nhằm đạt được
những mục tiêu đã đề ra. Hay theo một cách khác, kế hoạch hóa doanh nghiệp là
một quy trình ra quyết định cho phép xây dựng hình ảnh tương lai mong muốn
của doanh nghiệp và quá trình thực hiện mong muốn đó.
Như vậy, kế hoạch hóa doanh nghiệp là thể hiện kĩ năng tiên đoán mục
tiêu phát triển và tổ chức quá trình thực hiện mục tiêu đề ra. Do đó, kế hoạch hóa
là công cụ hiệu quả trong công tác quản lý doanh nghiệp.
1.1.2 Vai trò của kế hoạch.
Đối với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung:
Kế hoạch sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chính là các chỉ tiêu
pháp lệnh mà Nhà nước giao cho, cùng với các chỉ tiêu đó Nhà nước căn cứ cung
cấp nguyên nhiên vật liệu đầu vào và bao nhiêu đầu ra cho doanh nghiệp. Hay
nói cách khác, doanh nghiệp không tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch
sản xuất kinh doanh cho chính mình, không có quyền tự chủ trong sản xuất kinh
doanh, hoàn toàn thụ động trước thị trường không kích thích sáng tạo kìm hãm
sản xuất.
Đối với nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước:
Định hướng xã hội chủ nghĩa thì vai trò của kế hoạch sản xuất kinh doanh
mới thực sự bộc lộ rõ nét. Những kết quả đạt được sau những năm đổi mới càng
khẳng định vai trò to lớn của công tác kế hoạch trong doanh nghiệp.
Với cơ chế thị trường, thì thị trường với những nguyên tắc của nó sẽ trực
tiếp điều tiết mọi hoạt động của doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp trong
định hướng, xây dựng và thực hiện các phương án sản xuất – kinh doanh tối ưu
để tìm giải pháp cho các vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp, thị trường sẽ là
cơ sở để doanh nghiệp trả lời các câu hỏi, sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào?
Và sản xuất bằng gì? Nhà nước chỉ có vai trò điều tiết. Thị trường - doanh
nghiệp và Nhà nước sẽ có một mối quan hệ chặt chẽ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 9
Mặt khác, kế hoạch hoá giúp doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh
bằng cách xây dựng các kế hoạch nhằm khai thác triệt để các lợi thế so sánh, tận
dụng các lợi thế của doanh nghiệp.
Ngoài ra, kế hoạch còn thể hiện được tham vọng của doanh nghiệp trong
tương lại nhằm đạt mục tiêu không chỉ tồn tại mà còn phải ngày càng phát triển
với tốc độ cao và ổn định.
Sự cần thiết khách quan của công tác kế hoạch trong cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước.
Nước ta, đang trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội theo cơ chế thị
trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và đang đặt ra rất nhiều vấn đề cả về
mặt lý luận cũng như thực tiễn cần được nghiên cứu và giải quyết nhằm khắc
phục những tồn tại trong thời gian qua. Trong lĩnh vực kế hoạch hoá tồn tại hai ý
kiến trái ngược nhau về vai trò và sự tồn tại khách quan của công tác này. Một số
ý kiến thì phủ nhận vai trò này và một số ý kiến khẳng định vai trò này. Nhưng
từ lý luận và thực tiễn đều chứng minh rằng: “Công tác lập kế hoạch là công tác
không thể thiếu trong bất cứ một hoạt động nào, sự tồn tại của kế hoạch là tất
yếu khách quan.”
Ưu điểm:
Nền kinh tế thị trường có tính năng động và thích nghi cao với mọi sự thay
đổi, ở đó tình hình cạnh tranh cao đòi hỏi các chủ thể cũng phải thay đổi (về đầu
từ đổi mới thiết bị, về mặt hàng, mẫu mã và đổi mới cung cách quản lý) do đó
sản xuất phát triển. Hơn nữa, nó còn tạo điều kiện cho người lao động, đơn vị
kinh tế nâng cao tính tự chủ, tự lực và sáng tạo khi tham gian vào thị trường. Các
quan hệ kinh tế mở rộng thị trường thế giới tạo điều kiện học hỏi, du nhập các
nguồn lực với chất lượng cao hơn. Kinh tế thị trường vừa là động lực vừa là
phương tiện của sự phát triển.
Nhược điểm:
Đó là sự tự phát trong sản xuất kinh doanh, khủng hoảng, tạm phát, mất
cân đối kinh tế ngành cùng khu vực, phân hoá giàu nghèo… không những thế,
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 10
nó còn gây hậu quả về mặt xã hội như xoá mòn phong tục tập quán truyền thống
bởi tính thực dung và quá thiên về mục tiêu lợi nhuận. Cũng do những đặc điểm
này mà không thể để nền kinh tế theo chiều hướng thị trường quy định hoàn toàn
mà phải có kế hoạch để khắc phục nhược điểm, tồn tại và phát huy ưu điểm của
nó.
Kế hoạch chính là một hoạt đông chủ quan, có ý thức, có tổ chức của con
người nhằm xác định mục tiêu, phương án bước đi trình tự và cách thức tiến
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Kế hoạch hoá là yêu cầu của bản thân
quá trình lao động của con người và gắn liền với quá trình đó.
Như vậy, trong điều kiện Việt Nam công tác lập kế hoạch luôn tồn tại và
được cải tiến cho phù hợp với từng giai đoạn, từng điều kiện hoàn cảnh, với từng
cấp để phát triển kinh tế.
2. Kế hoạch sản xuất của công ty.
2.1. Nội dung kế hoạch sản xuất của công ty.
Kế hoạch sản xuất là việc xác định các định mức về năng suất, sản lượng
theo đầu thiết bị, tiêu thụ năng lượng,... Để làm tốt công tác kế hoạch sản xuất,
công ty cần có hệ thống đo lường hàng ngày, luôn nắm chắc chi thực tế, năng
suất trong sản xuất. Thực tế luôn có sự sai lệch giữa dự báo và thị trường nơi
doanh nghiệp có mặt, do đó kế hoạch phải được xây dựng dựa trên năng lực sản
xuất và các phân tích, đánh giá, dự báo nhu cầu sản phẩm trên thị trường. Kế
hoạch sản xuất được điểu chỉnh linh hoạt sao cho thích ứng với mọi biến đổi của
môi trường kinh doanh, đặc biệt là sự biến động đối với nhu cầu. Qua đó làm
chức năng sản xuất trở thành một nhân tố quan trọng đảm bảo sự thành công của
doanh nghiệp, với các yêu cầu của quản lý sản xuất là tạo ra sản phẩm chất
lượng cao, đảm bảo sự hoạt động tốt của hệ thống sản xuất, quản lý tốt các
nguồn lực và có các quyết định đầu tư sao cho thật phù hợp.
Kế hoạch sản xuất gồm nhiều nội dung: kế hoạch sản xuất tổng thể, kế
hoạch chỉ đạo sản xuất, kế hoạch nhu cầu sản xuất, kế hoạch tiến độ sản xuất.
Kế Hoạch Sản Xuất Tổng Thể:
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 11
Kế hoạch sản xuất tổng thể liên quan đến việc xác định khối lượng và thời
gian sản xuất cho tương lai gần thưởng trong khoảng 3 đến 18 tháng. Nhà sản
xuất cố gắng tìm cách thức tốt nhất nhằm đáp ứng nhu cầu bằng cách điều phối
quy mô sản xuất, mức độ sử dụng lao động, sử dụng giờ phụ trội, thuê gia công
và các yếu tố sản xuất khác. Thông thường mục tiêu của kế hoạch sản xuất tổng
thể nhằm giảm thiểu chi phí trong kì kế hoạch. Tuy nhiên các vấn đề chiến lược
khác cũng có thể được ưu tiên so với việc giảm thiểu chi phí, chẳng hạn như việc
theo đuổi chính sách dự trữ giảm dần hoặc sách hướng tới sản phẩm chất lượng
cao. Đối với đa phần các doanh nghiệp sản xuất, kế hoạch sản xuất tổng thể
nhằm đưa ra các chính sách sản xuất, thương mại, mua sắm,... cho hoạt động
chung và cho nhóm sản phẩm.
Kế hoạch sản xuất tổng thể là một phần của hệ thống kế hoạch sản xuất,do
vậy cần thiết phải phát triển được mối quan hệ giữa kế hoạch và một số các yếu
tố bên ngoài và bên trong. Quản lý sản xuất không chỉ thu nhận thông tin từ dự
báo nhu cầu của bộ phận marketing mà còn sử dụng dữ liệu về tài chính, nhân
sự, công suất cũng như lượng nguyên liệu sẵn có.
Kế Hoạch Chỉ Đạo Sản Xuất:
Là bước trung gian của kế hoạch sản xuất tổng thể và kế hoạch nhu cầu
sản xuất. Kế hoạch chỉ đạo sản xuất xác định doanh nghiệp cần sản xuất cái gì và
khi nào thì sản xuất. Kế hoạch này phải phù hợp với kế hoạch sản xuất tổng thể.
Kế hoạch chỉ đạo sản xuất cho chúng ta rõ cần chuẩn bị những gì để đáp ứng nhu
cầu và thỏa mãn kế hoạch sản xuất tổng thể. Kế hoạch chỉ đạo sản xuất không
phải là sự chia nhỏ kế hoạch sản xuất tổng thể mà là sự thể hiện kế hoạch nói
trên trong chương trình chỉ đạo sản xuất tương ứng, thích hợp với khả năng sản
xuất của các đơn vị nhằm thỏa mãn tốt nhất các dự báo kế hoạch. Trong khi kế
hoạch sản xuất tổng thể được lập dưới dạng tổng quát cho các nhóm mặt hàng,
thì kế hoạch sản xuất được lập cho mỗi mặt hàng cụ thể.
Kế Hoạch Nhu Cầu Sản Xuất:
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 12
Để cho kế hoạch sản xuất tổng thể được cân đối, kế hoạch chỉ đạo sản xuất
có thể thực hiện được, cần giải quyết mối quan hệ giữa nhu cầu độc lập của
khách hàng và năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Việc tính toán nhu cầu được
thực hiện ngay sau khi xây dựng kế hoạch sản xuất tổng thể và kế hoạch chỉ đạo
sản xuất.
Kế Hoạch Tiến Độ Sản Xuất:
Kế hoạch tiến độ sản xuất cụ thể hóa các quyết định về công suất, kế
hoạch sản xuất tổng thể và kế hoạch chỉ đạo sản xuất thành các chuỗi công việc
và phân công nhân sự, nguyên liệu và máy móc. Kế hoạch tiến độ sản xuất yêu
cầu phân bố thời gian cho từng công việc, tuy nhiên thường chỉ rõ nhiều bước
công việc cũng đòi hỏi sử dụng nguồn lực. Vì lẽ đó công ty phải sử dụng một số
kỹ thuật để giải quyết mâu thuẫn này.
2.2. Quy trình lập kế hoạch sản xuất trong công ty
Sơ dồ 1: Quy trình kế hoạch hóa sản xuất
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 13
Sản xuất
Năng lực
Tồn kho
Mua sắm
Điều chỉnh KHSX
Năng lực cung cấp
Điều chỉnh KH chỉ đạ
KHSX
Marketing
Nhu cầu
Tài chính
Luồng tiền
Kế hoạch sản xuất tổng thể
Nhân sự
Kế hoạch nhân sự
Điều chỉnh
Kế hoạch chỉ đạo sản xuất
Kế hoạch nhu cầu vật liệu
Điều chỉnh KH
chỉ đạo
sản xuât nhu
cầu
Kế hoạch nhu cầu công suất
Thự
c hiện
Điều chỉnh
Khả thi
có
phù hợp
Thực hiện kế hoạch công suất
công suất
với kế
hoạch
Thực hiện kế hoạch vật liệu
Không
Có
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 14
Kiểm tra
công suất
Nguồn: Giáo trình Kế hoạch kinh doanh, TS Bùi Đức Tuân
Nội dung của quy trình kế hoạch sản xuất trong công ty được chia thành
các bước:
+ Bước 1: Xác định được những căn cứ cần thiết để soạn lập kế hoạch sản
xuất
Những căn cứ để xây dựng kế hoạch sản xuất bao gồm: nhu cầu thị
trường, năng lực tài chính hay vốn đầu tư, năng lực nhân sự, năng lực cung ứng
nguyên vật liệu kèm theo năng lực công suất máy móc thiết bị phục vụ cho việc
sản xuất. Việc xác định chính xác những căn cứ này sẽ giúp cho bản kế hoạch
của công ty khả thi và sát thực tế hơn.
+ Bước 2: Xây dựng kế hoạch sản xuất tổng thể
Xây dựng kế hoạch sản xuất tổng thể nhằm mục đích xác định những
nhóm sản phẩm chủ yếu mà công ty dự định tiến hành sản xuất trong chu kì kinh
doanh tới.
+ Bước 3: Xây dựng kế hoạch chỉ đạo sản xuất
Kế hoạch chỉ đạo sản xuất là kế hoạch trung gian giữa kế hoạch sản xuất
tổng thể và kế hoạch nhu cầu sản xuất, là sự thể hiện kế hoạch sản xuất tổng thể
trên chương trình chỉ đạo sản xuất tương ứng, thích hợp với khả năng sản xuất
của các đơn vị.
+ Bước 4: Xây dựng kế hoạch nhu cầu vật liệu
Xây dựng kế hoạch nhu cầu vật liệu nhằm xác minh các yếu tố đầu vào
phục vụ cho quá trình sản xuất.
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 15
+ Bước 5: Xác định kế hoạch nhu cầu công suất
Xác định kế hoạch nhu cầu công suất thích hợp để đáp ứng yêu cầu kế
hoạch chỉ đạo sản xuất và kế hoạch sản xuất tổng thể trên cơ sở nguồn cung ứng
nguyên vật liệu đầu vào cho trước.
+ Bước 6: Xác định tính khả thi của kế hoạch nhu cầu công suất
Tính khả thi của kế hoạch nhu cầu công suất được xác định bằng cách so
sánh, đối chiếu với công suất thực tế máy móc, thiết bị. Nếu công suất thực tế
của máy móc, thiết bị mà không đáp ứng được nhu cầu công suất cần huy động
thì cần tiến hành điều chỉnh kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu, kế hoạch chỉ đạo
sản xuất và kế hoạch sản xuất tổng thể. Còn nếu như ngược lại, công suất thực tế
của máy móc, thiết bị đáp ứng được nhu cầu công suất cần huy động thì sẽ tiến
hành tổ chức thực hiện kế hoạch công suất.
+ Bước 7: Thực hiện kế hoạch nhu cầu công suất
+ Bước 8: Thực hiện kế hoạch nhu cầu vật liệu
Trong quá trình thực hiện hai kế hoạch nêu trên công ty cần phải tiến hành
kiểm tra, giám sát xem điều này có đáp ứng được kế hoạch công suất và kế
hoạch vật liệu đặt ra hay không. Để xem việc thực hiện những kế hoạch này có
đảm bảo thực hiện được những mục tiêu đặt ra trong kế hoạch chỉ đạo sản xuất
cũng như kế hoạch sản xuất tổng thể không ? Nếu không phù hợp thì tiến hành
những điều chỉnh cần thiết.
2.3. Các yêu cầu và căn cứ để lập kế hoạch sản xuất
2.3.1. Những yêu cầu đối với công tác lập kế hoạch sản xuất
Công tác lập kế hoạch sản xuất của công ty cần phải được quán triệt
những yêu cầu sau:
- Công tác lập kế hoạch sản xuất trong công ty cần quán triệt yêu cầu hiệu
quả. Các công ty hoạt động đều hướng đến mục tiêu hiệu quả, nó là tiêu chuẩn
hàng đầu cho việc xây dựng, lựa chọn và quyết định các phương án kế hoạch của
công ty.
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 16
- Lập kế hoạch sản xuất trong công ty phải quán triệt yêu cầu hệ thống
đồng bộ. Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống nhất, gồm nhiều phân hệ là các
công ty. Thực hiện yêu cầu này, trong các khâu của công tác lập kế hoạch sản
xuất phải đảm bảo cho mục tiêu hoạt động của công ty đúng hướng và góp phần
thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu bao trùm của cả hệ thống.
- Công tác lập kế hoạch sản xuất trong công ty phải quán triệt yêu cầu
“vừa tham khảo vừa khả thi”. Trong nền kinh tế thị trường đối với các doanh
nghiệp thì mục tiêu lợi nhuận là tối cao, do đó để thực hiện được mục tiêu này
đòi hỏi các công ty phải xây dựng kế hoạch để thực hiện các phương án đó. Tuy
nhiên các kế hoạch được đặt ra phải có tính khả thi.
- Công tác lập kế hoạch sản xuất trong công ty phải quán triệt yêu cầu “kết
hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu tình thế”. Điều này có nghĩa hệ thống mục
tiêu kế hoạch phải được xây dựng và điều chỉnh linh hoạt theo yêu cầu thay đổi
của môi trường và điều kiện kinh doanh.
- Công tác lập kế hoạch sản xuất trong công ty phải quán triệt yêu cầu kết
hợp đúng đắn các loại lợi ích kinh tế trong công ty kể cả lợi ích xã hội. Đây
chính là động lực của sự phát triển và là cơ sở cho việc thực hiện có hiệu quả các
phương án sản xuất kinh doanh.
2.3.2. Các căn cứ để lập kế hoạch sản xuất
a. Căn cứ vào chủ trương, đường lối, chính sách phát triển của Đảng và
Nhà nước
Công ty là một tế bào của nền kinh tế quốc dân, nên các kế hoạch sản xuất
kinh doanh do công ty đề ra phải phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách
phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước. Nếu hoạt động của công ty đi
ngược lại với xu thế phát triển, vi phạm lợi ích chung của nền kinh tế, công ty sẽ
bị đào thải. Ngược lại nếu có khả năng nhận thức tốt và hòa mình vào xu thế
phát triển chung thì công ty sẽ phát triển bền vững và ổn định.
b. Căn cứ vào kết quả điều tra nghiên cứu thị trường
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 17
Trong nền kinh tế thị trường, công ty muốn tồn tại và phát triển lớn mạnh
thì phải lấy thị trường làm trung tâm cho mọi hoạt động sản xuất của mình. Do
vậy nghiên cứu thị trường là công việc đầu tiên đối với bất cứ công ty nào trong
quá trình kinh doanh. Một công ty không thể khai thác hết được tiềm năng của
mình cũng như không thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng nếu không sở hữu
đầy đủ thông tin chính xác về thị trường. Vì vậy nghiên cứu thị trường vẫn là
khâu quan trọng đầu tiên làm cơ sở cho việc lập kế hoạch sản xuất hàng năm của
công ty trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế
như hiện nay.
Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các công ty lựa chọn lĩnh vực
hoạt động và phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Kết quả điều tra
nghiên cứu nhu cầu thị trường phải phản ánh được quy mô, cơ cấu đối với từng
sản phẩm và dịch vụ của công ty, có tính đến tác động của các nhân tố làm tăng
hoặc giảm cầu để đáp ứng yêu cầu của công tác lập kế hoạch. Những kết quả
điều tra nghiên cứu này có thể tập hợp theo mức giá để xác định mục tiêu kinh
doanh phù hợp với phân đoạn thị trường hoặc theo khách hàng để đảm bảo sự
gắn bó giữa sản xuất với kinh doanh. Căn cứ vào số lượng các đối thủ cạnh
tranh, sự biến động giá cả trên thị trường để lập kế hoạch thì hiệu quả của
phương án kế hoạch sẽ được nâng cao.
c. Căn cứ vào kết quả phân tích và dự báo tình hình về sản xuất kinh
doanh
, về khả năng nguồn lực có thể khai thác.
Công ty căn cứ vào kết quả phân tích hoạt động kinh doanh thời kỳ trước
và dự báo khả năng tương lai ứng với các nguồn lực có thể khai thác được, đặc
biệt là dựa vào những lợi thế vượt trội của công ty về các mặt chất lượng sản
phẩm, kênh tiêu thụ hợp tác liên doanh, khoa học công nghệ so với đối thủ cạnh
tranh sẽ góp phần làm tăng tính khả thi của các phương án kế hoạch. Các chỉ tiêu
chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải được chú trọng tập trung
phân tích.
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 18
2.4. Phương pháp xây dựng kế hoạch sản xuất
+ Kế hoạch năng lực sản xuất:
Dựa trên cơ sở các chiến lược dài hạn của doanh nghiệp và các dự báo nhu
cầu thị trường, doanh nghiệp phải cân nhắc việc quyết định trang bị cho mình
một mức độ năng lực sản xuất nhất định. Năng lực sản xuất của doanh nghiệp
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết phải kể đến công suất của máy móc thiết
bị, và sau đó là mức độ cũng như hiệu suất sử dụng các máy móc thiết bị này
trong từng điều kiện cụ thể.
Do đó, việc xác định kế hoạch năng lực sản xuất dựa trên các bước sau:
Xác định công suất
Có hai biện pháp để xác định công suất hay năng lực sản xuất của một hệ
thống.
Biện pháp 1: Mức độ sử dụng: là tỉ lệ phần trăm của công suất thiết kế
hiện đang được huy động.
Biện pháp 2: Hiệu suất sử dụng: là tỉ lệ phần trăm của công suất thực tế
hiện đang được huy động.
Dự báo nhu cầu sử dụng công suất
Để dự báo nhu cầu công suất đầu tiên doanh nghiệp tiến hành dự báo nhu
cầu theo những phương pháp truyền thống, sau đó những kết quả dự báo này sẽ
được sử dụng để xác định nhu cầu công suất.
Tiếp theo sẽ xác định quy mô gia tăng cận biên của công suất, với giả thiết
rằng nhà quản lý đã biết trước công nghệ được sử dụng và loại thiết bị sẽ được
huy động để thỏa mãn nhu cầu tương lai. Trong trường hợp nhu cầu về công suất
không dự đoán trước được doanh nghiệp có thể sử dụng đến mô hình xác suất để
thực hiện công tác dự báo.
+ Kế hoạch sản xuất tổng thể:
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 19
Có nhiều cách để lập kế hoạch sản xuất tổng thể, tùy theo các chính sách
khác nhau của doanh nghiệp, trong đó có hai phương pháp thường được sử dụng
là phương pháp đồ thị và phương pháp toán học.
Phương pháp đồ thị: là phương pháp được dùng phổ biến do chúng dễ hiểu
và dễ sử dụng. Phương pháp này sử dụng một số các biến số và cho phép người
làm kế hoạch so sánh được nhu cầu dự báo và công suất hiện tại của doanh
nghiệp.
Theo phương pháp này, người làm kế hoạch sẽ thực hiện 5 bước:
- Xác định nhu cầu cho mỗi ki.
- Xác định công suất giờ chuẩn, giờ phụ trội và thuê gia công cho mỗi kì.
- Xác định chi phí thuê lao động, thuê gia công và dự trữ lưu kho.
- Tính đến các chính sách của công ty đối với lao động hoặc mức lưu kho.
- Khảo sát các kế hoạch và ước lượng tổng chi phí.
Phương pháp toán học: có nhiều phương pháp toán học được áp dụng
trong thời gian gần đây,trong đó có mô hình hệ số quản lý.
Mô hình hệ số quản lí: Mô hình hệ số quản lí của Bowman là một mô hình
được xây dựng đựa trên thành tích và kinh nghiệm của cán bộ lãnh đạo, với giả
thiết rằng thành tích quá khứ của lãnh đạo là khá tốt, vì vậy nó có thể được sử
dụng như là một cơ sở cho các quyết định tương lai. Kỹ thuật này sử dụng
phương pháp phân tích hồi quy các quyết định sản xuất trong quá khứ của cán bộ
lãnh đạo, và đường hồi quy sẽ chỉ ra mối quan hệ giữa các biến số (chẳng hạn
giữa nhu cầu và lao động) trong các quyết định tương lai. Theo Bowman, sự kém
cỏi của nhà lãnh đạo thường thể hiện qua sự không nhất quán trong việc ra quyết
định.
- Các mô hình khác: Có hai mô hình khác nữa thường được sử dụng cho
việc lập kế hoạch sản xuất tổng thể, đó là mô hình nguyên tắc quyết định tuyến
tính và mô hình mô phỏng. Nguyên tắc quyết định tuyến tính nhằm mục đích xác
định mức sản xuất tối ưu và mức sử dụng lao động cho mỗi kì kế hoạch. Mô
hình này cho phép giảm thiểu chi phí tiền lương, tiền thưởng, chi phí ngừng sản
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 20
xuất, tiền thêm giờ và chi phí lưu kho,... Mô hình máy tính có tên gọi là lập kế
hoạch bằng mô phỏng sử dụng một thủ tục tìm kiếm để tìm ra một sự kết hợp
giữa quy mô lao động và mức sản xuất sao cho ít tốn kém nhất.
+ Kế hoạch chỉ đạo sản xuất:
Kế hoạch chỉ đạo sản xuất là bước trung gian giữa kế hoạch sản xuất tổng
thể và kế hoạch nhu cầu sản xuất. Kế hoạch chỉ đạo sản xuất xác định các doanh
nghiệp cần phải sản xuất những gì? Khi nào sản xuất? Kế hoạch này phải phù
hợp với kế hoạch sản xuất tổng thể. Kế hoạch chỉ đạo sản xuất cho chúng ta biết
cần phải chuẩn bị những gì để thỏa mãn nhu cầu và đáp ứng kế hoạch sản xuất
tổng thể. Kế hoạch chỉ đạo sản xuất không phải là sự chia nhỏ kế hoạch sản xuất
tổng thể mà là sự thể hiện kế hoạch trên chương trình sản xuất tương ứng, thích
hợp với khả năng sản xuất của các đơn vị nhằm thỏa mãn tốt nhất các dự báo kế
hoạch. Trong khi kế hoạch sản xuất tổng thể được lập dưới dạng tổng quát cho
các nhóm mặt hàng, thì kế hoạch chỉ đạo sản xuất được lập cho mỗi một mặt
hàng cụ thể.
Sau khi đã có kế hoạch chỉ đạo sản xuất, doanh nghiệp sẽ phải dự tính
nhu cầu và năng lực cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch sản xuất này. Nhu cầu
ở đây sẽ bao gồm các chi tiết, bán thành phẩm, ... cần thiết cho việc hoàn thành
những sản phẩm cuối cùng.
+ Kế hoạch nhu cầu sản xuất:
Để cho kế hoạch sản xuất tổng thể được cân đối, kế hoạch chỉ đạo sản xuất
có thể thực hiện được, cần giải quyết mối quan hệ giữa nhu cầu độc lập của
khách hàng và năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Mục đích của kế hoạch nhu cầu là để xác định các nhu cầu phương tiện và
các yếu tố sản xuất (lao động, máy móc,...). Phương pháp MRP đòi hỏi phải
phân biệt rõ ràng hai loại nhu cầu cơ bản: nhu cầu độc lập và nhu cầu phụ thuộc.
Nhu cầu độc lập: là những nhu cầu về sản phẩm cuối cùng và các chi tiết,
linh kiện, phụ tùng thay thế được dùng cho mục đích thỏa mãn nhu cầu của bên
ngoài (khách hàng).
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 21
Nhu cầu phụ thuộc: là những nhu cầu phát sinh từ nhu cầu độc lập, nó
được hình thành từ quá trình phân tích các sản phẩm thành bộ phận, các cụm chi
tiết, vật tư, nguyên vật liệu. Đối với các mức nhu cầu này, dự báo mức tiêu thụ
được xác định bằng phương pháp tính toán MRP.
Việc tính toán nhu cầu phụ thuộc được thực hiện ngay sau khi thiết lập kế
hoạch chỉ đạo sản xuất. Để xuất xưởng một sản phẩm ở một ngày (t) nào đó, ta
cần hoàn thành gia công các bộ phận chi tiết của sản phẩm trước ngày (t) một
khoảng thời gian nhất định. Tính toán nhu cầu chính xác đối với từng bộ phận
sản xuất về các chi tiết cần phải sản xuất hay mua sắm và thời hạn chúng cần
hoàn thành hoặc đặt mua là nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch hóa sản xuât.
Số lượng và thời gian cần thiết cho việc sản xuất hoặc đặt hàng các yếu tố
này cần được xác định sao cho doanh nghiệp có thể sẵn sàng thỏa mãn các nhu
cầu độc lập đã được ghi nhận (dự báo bán hàng hoặc đơn đặt hàng) và các nhu
cầu phụ thuộc khác. Việc tính toán các yếu tố trên cần phải được dựa vào mức
dự báo bán hàng, mức tồn kho, kế hoạch chỉ đạo sản xuất, quy trình công nghệ
sản xuất sản phẩm cùng với kết cấu sản phẩm và định mức tiêu hao,...
Các tính toán nhu cầu của MRP được dựa trên sơ đồ kết cấu hình cây của
sản phẩm, do đó việc phân tích kết cấu của sản phẩm có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong việc xác định các yếu tố vật chất (nhu cầu phụ thuộc) cũng như thời
gian cần thiết nhằm hoàn thành một sản phẩm (nhu cầu độc lập). Các phân tích
này được thực hiện dựa trên thiết kế sản phẩm, định mức sử dụng các nhu cầu
phụ thuộc, cũng như phương pháp tổ chức sản xuất,...
+ Kế hoạch tiến độ sản xuất:
Kế hoạch tiến độ sản xuất cụ thể hóa các quyết định về công suất, kế
hoạch sản xuất tổng thể và kế hoạch chỉ đạo sản xuất thành các chuỗi công việc
và sự phân công nhân sự, máy móc và nguyên vật liệu. Kế hoạch tiến độ đòi hỏi
phải phân bố thời gian cho từng công việc. Tuy nhiên nhiều bước công việc cũng
đòi hỏi sử dụng cùng nguồn lực do đó doanh nghiệp phải sử dụng một số kỹ
thuật để giải quyết mâu thuẫn này.
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 22
Phương pháp điều kiện sớm: bắt đầu lịch trình sản xuất sớm nhất có thể đã
biết yêu cầu công việc. Phương pháp này được sử dụng trong nhiều tổ chức khác
nhau như nhà hàng, khách sạn và sản xuất máy công cụ,.... Phương pháp điều
kiện sớm thường được thiết kế để lập ra bản kế hoạch có thể hoàn thành mặc dù
không đúng thời hạn cần thiết. Trong rất nhiều trường hợp, phương pháp này gây
ra sự tồn đọng của sản phẩm dở dang.
Phương pháp điều kiện muộn: bắt đầu với thời hạn cuối cùng, lên lịch của
công việc cuối cùng trước tiên. Bằng cách trừ lùi thời gian cần thiết cho mỗi
bước công việc, ta sẽ biết thời gian phải bắt đầu sản xuất. Tuy nhiên, những
nguồn lực cần thiết để hoàn thành lịch trình có thể không có sẵn, trên thực tế
doanh nghiệp thường sử dụng kết hợp hai phương pháp trên nhằm tìm ra sự thỏa
hiệp giữa công việc có thể hoàn thành và thời hạn yêu cầu của khách hàng.
Kỹ thuật lập kế hoạch tiến độ chính xác phụ thuộc vào số lượng của công
việc, số lượng của đơn hàng, mức độ phức tạp của công việc và những tiêu
chuẩn sau đây:
+ Giảm thiểu thời gian hoàn thành (thời gian hoàn thành của công việc)
+ Tối đa mức sử dụng công suất (tỷ lệ phần trăm thời gian sử dụng thiết
bị)
+ Giảm thiểu tồn kho sản phẩm dở (số lượng trung bình cộng việc đang
thực hiện)
+ Giảm thiểu thời gian chờ đợi của khách hàng (số ngày muộn trung bình)
Phương pháp GANTT
Một phương pháp lập kế hoạch tiến độ tốt cần phải rõ ràng, đơn giản, dễ
hiểu , dễ thực hiện, linh hoạt và thực sự khả thi. Do vậy, mục tiêu của kế hoạch
tiến độ là tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực cho phép đạt được các mục tiêu
sản xuất. Có nhiều phương pháp để lập kế hoạch tiến độ, tùy theo các quan điểm
sản xuất, tính chất của các bước công việc, hay mức độ phức tạp của quy trình,
v.v.... Trong đó, có một kỹ thuật đơn giản và được áp dụng khá rộng rãi trong
các công ty từ đầu thế kỷ XX, đó là phương pháp GANTT.
Nội dung của phương pháp này mục đích xác định thứ tự và thời hạn sản
xuất của các công việc khác nhau cần thiết cho một chương trình sản xuất nhất
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 23
định, tùy theo độ dài của mỗi bước công việc, các điều kiện trước của mỗi công
việc, các kỳ hạn phải tuân thủ và năng lực sản xuất.
Phương pháp này thường được sử dụng cho việc sản xuất các sản phẩm
không quá phức tạp, và đề áp dụng phương pháp này công ty cần ấn định một
chương trình sản xuất, xác định các công việc khác nhau cần thực hiện, xác định
thời gian cần thiết cho mỗi công việc cũng như các mối quan hệ giữa chúng.
Biểu đồ GANTT sẽ cho phép công ty theo dõi tiến độ thực hiện chương
trình sản xuất, xác định thời gian hoàn thành toàn bộ chương trình sản xuất, đồng
thời biết được khoảng thời gian dự trữ của công việc (thời gian có thể chậm trễ).
Tuy nhiên, nếu quan sát thấy có sự chênh lệch lớn giữa kế hoạch và thực
hiện, công ty cần tìm ngay những biện pháp điều chỉnh để có thể tuân thủ thời
hạn nhằm hoàn thành chương trình sản xuất dự kiến. Ngày nay phương pháp
biểu đồ GANTT được lập trình để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc sử dụng.
Đây là một phương pháp đơn giản, dễ hiểu, dễ sử dụng song còn hạn chế ở các
quy trình sản xuất không quá phức tạp, bao gồm một khối lượng không quá lớn
các công việc. Nhưng dù sao đây cũng luôn là một công cụ dễ quan sát.
Ngoài phương pháp biểu đồ GANTT còn rất nhiều phương pháp khác
cũng đã được áp dụng trong việc lập kế hoạch và theo dõi tiến độ sản xuất tùy
theo mức độ phức tạp của công việc, cũng như loại hình sản xuất nhưphương
pháp nguyên tắc ưu tiên (priority rules), phương pháp giao việc (assignment
method), hoặc kể cả là phương pháp sơ đồ mạng PERT.
3. Sự cần thiết của việc hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất đối
với công ty.
3.1.Sự cần thiết của kế hoạch sản xuất.
Khi hoạt động trong nền kinh tế thị trường,tất cả các công ty đều phải tuân
theo các quy luật của thị trường. Thị trường luôn có những diễn biến bất ngờ, do
vậy công ty nào không có sự chuẩn bị trước để thích ứng với thị trường chắc
chắn sẽ bị loại khỏi thị trường. Để chuẩn bị cho mình những bước đi phù hợp, dự
tính trước những diễn biến của thị trường, công ty phải lập sẵn cho mình một bản
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 24
kế hoạch thật hoàn hảo. Bản kế hoạch sẽ đóng vai trò như một bức tranh phác
thảo về tương lai của công ty,mục tiêu mà công ty hướng tới, những hành động
và giải pháp công ty cần áp dụng để đạt được mục tiêu đó. Với sự chuẩn bị trước
công ty sẽ tránh được những bỡ ngỡ trước những sự thay đổi không ngờ của thị
trường đồng thời sẵn sàng để vượt qua những thay đổi đó.
3.2.Sự cần thiết của công tác lập kế hoạch sản xuất.
Lập kế hoạch sản xuất là công việc đầu tiên và cũng là công việc quan
trọng nhất vì nó đòi hỏi sự nghiên cứu, phân tích tổng hợp các thông tin khách
quan nhất. Đồng thời lập kế hoạch sản xuất cho sản phẩm là một bản kế hoạch
phác họa những mục tiêu, đích đến mà công ty hướng tới từ đó thu hút sự tham
gia của toàn thể công ty vào các hoạt động để đạt được mục tiêu đó.
Từ việc lập kế hoạch này sẽ cho ra đời bản kế hoạch sản xuất của công ty.
Bản kế hoạch sẽ là căn cứ cho việc lập kế hoạch chỉ đạo sản xuất, hay giao
nhiệm vụ cho các đơn vị, từ đó hướng dẫn hoạt động trong toàn công ty để
hướng tới mục tiêu chung.
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TRANG 25