Câu hỏi
Câu 1:
Chính quyền Bush vừa qua mới phê chuẩn chương trình cứu trợ trị
giá 700 tỷ đôla Mỹ đối với hệ thống ngân hàng. một kế hoạch can thiệp thị
trường tài chính rộng rãi nhất kể từ cuộc Đại suy thoái Kinh tế Thế giới.
Theo quan điểm của anh chi, biện pháp giải cứu các định chế tài
chính không hiệu quả và làm ăn thua lỗ có phải là một liều thuốc bách bệnh
đối với cuộc khủng hoảng tín dụng và sự sụp đổ của Phố Wall hiện đang đe
dọa tới thị trường tài chính toàn cầu hay không.
Câu 2:
Thị trường hiệu quả là gì? Hãy cho biết tầm quan trọng của tính hiệu
quả của thị trường đối với diễn biến giá cổ phiếu? Các nghiên cứu tiền
hành trong thời gian gần đây có ủng hộ quan điểm cho rằng thị trường
chứng khoán là hiệu quả hay không?
Câu 3:
Hãy xác định các chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán phái
sinh trong nền kinh tế và giải thích các chứng khoán phái sinh có thể bị sử
dụng một cách sai mục đích như thế nào?
1
Mục lục
Trang
Câu 1……………………………………………………………………………….4
Câu 2……………………………………………………………………………….11
Câu 3……………………………………………………………………………….15
Tài liệu tham khảo…………………………………………………………………23
2
Câu 1: Chính quyền Bush vừa qua mới phê chuẩn chương trình cứu
trợ trị giá 700 tỷ đôla Mỹ đối với hệ thống ngân hàng. một kế hoạch
can thiệp thị trường tài chính rộng rãi nhất kể từ cuộc Đại suy thoái
Kinh tế Thế giới.
Theo quan điểm của anh chi, biện pháp giải cứu các định chế tài
chính không hiệu quả và làm ăn thua lỗ có phải là một liều thuốc bách
bệnh đối với cuộc khủng hoảng tín dụng và sự sụp đổ của Phố Wall
hiện đang đe dọa tới thị trường tài chính toàn cầu hay không.
I - Nguyên nhân khủng hoảng:
Các nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế có thể được kể ra như sau:
1) Do việc đầu tư vào bất động sản và tiêu dùng quá lớn: đầu tư vào
bất động sản lớn, làm cho cân bằng cung - cầu ngành bất động sản không
3
cân đối. Dẫn đến việc có những biến động bất ổn trên thị trường bất động
sản, khi giá bất động sản giảm mạnh sẽ dẫn đến một loạt các khủng hoảng
ở các ngành có liên quan. Mọi người đổ xô vay tiền mua nhà vượt quá khả
năng tài chính của họ, và đến giờ thì họ vỡ nợ với các khoản vay thế chấp
mua nhà đó.
2) Việc cho vay dưới chuẩn của hệ thống ngân hàng: cho vay dưới
chuẩn – 1 mảng của dịch vụ kinh doanh cho vay thế chấp, lại làm đóng
băng thị trường tín dụng, chao đảo thị trường chứng khoán, gây ra sụp đổ
của Bear Stearns, đẩy nền kinh tế Mỹ bên bờ vực suy thoái tồi tệ, và khiến
cho Fed đã phải có những hành động mạnh mẽ nhất kể từ cuộc suy thoái
kinh tế năm 1929
3) Việc lạm dụng công cụ phái sinh: giống như một con dao hai lưỡi,
các công cụ phái sinh khi bị lạm dụng sẽ đi sai mục đích ban đầu của nó.
Bản thân các công cụ phái sinh có chức năng giảm thiểu rủi ro cho các nhà
đầu tư, nhưng khi bị lạm dụng, các công cụ này sẽ mang đến nhiều rủi ro
không lường trước được.
4) Chứng khoán hóa tràn lan, gây khó kiểm soát: việc khuyển khoản
vay bất động sản thành gói trái phiếu bất động sản nhiều rủi ro cung cấp ra
thị trường MBS, MBO,MCO: với hy vọng giá bất động sản liên tục tăng,
nhưng khi thị trường bất động sản suy thoái, nhà đầu tư chịu thiệt hại năng
nề.
5) Sự quản lý, giám sát lỏng lẻo của chính phủ trong thời gian dài:
Alan Greenspan, nguyên Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã phát biểu
4
trước Quốc hội rằng, ông thừa nhận sai lầm khi không kiểm soát nghiêm
ngặt các chứng khoán phái sinh. Nhiều chuyên gia kinh tế đã phát biểu
rằng: "Khủng hoảng hiện tại có thể đã được phòng ngừa nếu Alan
Greenspan hành động khác đi với chứng khoán phái sinh". Điều này cho
thấy tầm quan trọng của chính phủ trong việc quản lý các công cụ tài
chính, nếu việc quản lý lỏng lẻo, thì tất yếu dẫn đến nhiều rủi ro.
6) Việc áp đặt tiêu chuẩn kế toán, tài sản xác định theo thị trường
7) Các nhà đầu tư ồ ạt, không cẩn trọng: việc đầu tư ồ ạt theo tâm lý
“bầy đàn” của các nhà đầu tư mà không xem xét đến các yếu tố khác, dẫn
đến hiệu ứng thiệt hại theo kiểu domino cho cả thế giới tài chính.
II - Giải pháp của chính phủ: các giải pháp sau có thể phần nào khắc
phục tác động của cuộc khủng hoảng:
1) Bảo vệ người gủi tiền: để tăng niềm tin cho người gửi tiền, chính
phủ nên tăng bảo hiểm tiền gửi. Giới phân tích cho rằng, USD lên giá là
hiệu quả của chính sách cứu thị trường quyết đoán từ Nhà Trắng. Trong
một thời gian ngắn đã biến Mỹ từ nơi cung ứng USD cho thế giới trở thành
một nam châm hút tiền khổng lồ. Thiếu tiền USD trong các nền kinh tế
nhỏ, cộng thêm với động thái tăng bảo hiểm tiền gửi lên tới 250.000 của
FED càng làm dòng vốn này chảy về Mỹ ồ ạt hơn. Trong cơn khủng
hoảng, với sự đổ vỡ của hàng loạt ngân hàng lớn, việc tăng bảo hiểm tiền
gửi khiến Mỹ trở nên an toàn hơn. Nên dù lãi suất USD ở Mỹ đang thấp
5
nhất trong G7 USD vẫn bị hút về. Đẩy giá USD tăng lên như một phản ứng
tất yếu về tương quan cung cầu USD ở nhiều thị trường trên thế giới.
2) Nới lỏng chính sách tiền tệ: Những tác động gián tiếp nếu điều
chỉnh lãi suất cơ bản là không thể lường được trong bối cảnh hiện tại của
nền kinh tế, nên việc điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc là
một tác động hỗ trợ cần thiết trong việc giảm chi phí đầu vào của các ngân
hàng thương mại, qua đó các ngân hàng sẽ tự có cơ chế điều chỉnh của
mình với lãi suất huy động lẫn cho vay để đảm bảo được lợi ích của mình,
của người đi vay và cho vay.
3) Quốc hữu hóa các khoản nợ xấu: xét ví dụ ở Thụy Điển:
Thụy Điển là nước đã nêu gương tốt về việc quốc hữu hoá một số ngân
hàng lớn yếu kém khi khủng hoảng xảy ra đầu các năm 1990. Khi đó các
ngân hàng lớn ở Thụy Điển thực sự đã phá sản và chính phủ trung hữu đã
quốc hữu hoá chúng, vực chúng dậy và sau đó lại thoái các khoản đầu tư
của nhà nước bằng cách bán cổ phần của mình cho các nhà đầu tư tư nhân
khi ngân hàng đã lành mạnh trở lại. Mục tiêu tối thượng là cải tổ hệ thống
và bảo vệ tiền của dân chúng đóng thuế. Các cổ đông cũ, các nhà điều hành
cũ của ngân hàng này phải trả giá cho những yếu kém của họ
4) Quản trị điều hành ngân hàng: chính phủ cần có những chính sách
nhằm quản lý các hoạt động của ngân hàng.
5) Chính phủ Vay nợ IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế): việc vay nợ IMF
cũng nằm trong một giải pháp của chính phủ để gia tăng các gói cứu trợ
6
(gói kích cầu, kích thích sản xuất..) cho nền tài chính đang gặp khủng
hoảng
6) Hỗ trợ, kích thích sản xuất phát triển, đầu tư cơ sở hạ tầng mới:
thông qua các gói kích cầu, các biện pháp hỗ trợ lãi suất…, chính phủ
mong muốn vực lại các doanh nghiệp, ổn định sản xuất, góp phần ổn định
nền kinh tế.
III – Tìm hiểu về cách giải quyết của các nước thế giới:
Chính phủ Mỹ:
- Chi 700 tỷ giải cứu:
Như mong đợi của giới đầu tư, Hạ viện đã thông qua gói 700 tỷ USD.
Tuy nhiên, niềm hứng khởi ngắn ngủi không xoá được nỗi lo ngại về viễn
cảnh suy thoái của nền kinh tế Mỹ khiến thị trường vẫn tiếp tục đà tụt
dốc.Hầu hết cả nhà đầu tư đều tin rằng kế hoạch giải cứu này khó có thể
ngăn nổi đà suy thoái mà nước Mỹ đang bước vào, bất chấp có hay không
những cú giải cứu, đúng hơn là cấp cứu, như gói 700 tỷ hay giảm lãi suất.
Một số nhà đầu tư đã mua cổ phiếu khi có tin rằng Hạ viện nhiều khả
năng sẽ thông qua kế hoạch, và họ đã bán khi kỳ vọng đó thành hiện thực
mà không cần đợi thêm.
Do vậy lúc kế hoạch được thông qua thì cũng là lúc lệnh bán tăng lên liên
tiếp, kéo theo các chỉ số chứng khoán Mỹ mất điểm đồng loạt.
Ngay sau khi Quốc hội Mỹ thông qua dự luật giải cứu thị trường tài
chính Mỹ với kế hoạch cả gói 700 tỷ USD, TTCK Mỹ, châu Âu và châu Á
7
đều sụt giảm mạnh. Ở các nền kinh tế thị trường thì TTCK chính là hàn thử
biểu, thước đo sức mạnh của một nền kinh tế. Khi TTCK sụt giảm mạnh
thì giá trị vốn hóa thị trường của nhiều công ty sụt giảm và lâm vào tình
trạng khó khăn do thiếu khả năng thanh khoản và đi đến phá sản. Chỉ trong
một phiên thôi (sau khi Hạ viện Mỹ lần đầu không thông qua kế hoạch
Paulson) giá trị vốn hóa TTCK đã mất đi 1200 tỷ USD.
Người ta ước tính rằng lượng chứng khoán dưới chuẩn ở Mỹ khoảng
2000 tỷ USD. Nếu những chứng khoán này mất giá kéo dài nó sẽ làm cho
toàn bộ chứng khoán phát sinh khác không được bảo chứng, gấp 7 lần số
chứng khoán nợ mua nhà, bị mất giá theo. Vì vậy số 700 tỷ USD mà FED
định bỏ ra để mua lại những chứng khoán dưới chuẩn sẽ chẳng thấm vào
đâu ấy là chưa kể số tiền đó định lấy từ nguồn nào mà bù đắp. Dù bằng
nguồn nào đi chăng nữa, kể cả in thêm tiền bằng cách phát hành thêm trái
phiếu chính phủ thì những hệ lụy của nó chẳng tốt đẹp gì. Hệ quả tất yếu là
làm phình to các khoản nợ của Chính phủ , tăng thêm thâm thủng ngân
sách. Nợ quốc gia của Mỹ sẽ từ 500 tỷ tăng lên 1000 tỷ USD, tức khoảng
7% GDP, mức kỷ lục kể từ năm 1954 đến nay, là một hiện tượng chưa
từng thấy bao giờ.
- Mua thương phiếu doanh nghiệp không hạn chế 1300 tỷ
Theo dự báo của IMF thì kinh tế thế giới sẽ rơi vào suy thoái trong
2009 và cuộc khủng hoảng tài chính sẽ gây tổng giá trị thiệt hại lên tới
1400 tỷ USD.
8
Để đối phó với tình hình FED đã quyết định thành lập một quỹ đặc
biệt để mua lại các thương phiếu do các DN Mỹ phát hành (một loại giấy
tờ có giá trị ngắn hạn dưới 270 ngày) và không giới hạn đối với lượng
thương phiếu được mua vào. Tính đến tháng 8/2008 trên thị trường đã có
khoảng 1300 tỷ giá trị thương phiếu được lưu hành, Kế hoạch này của FED
sẽ hết hạn vào 4/2009 và có thể được gia hạn tiếp
- Tăng cường kiểm soát, chi phối của chính phủ vào nền kinh tế
Do Mỹ theo đuổi chính sách buông lỏng kiểm soát thị trường tài chính
để mặc các đại gia ngân hàng đầu tư thao túng thị trường cho vay dưới
chuẩn một thời gian dài nên con số vay nợ nước ngoài hàng năm của Mỹ
tăng lên nhanh chóng. Nếu năm 2000 Mỹ vay nợ nước ngoài có 300 tỷ
USD thì 2006 đã vay 700 tỷ và 2007 lên tới 800 tỷ USD. Có vay có trả và
nay đến lúc Mỹ phải tính đến những khoản nợ đó. Khi nền kinh tế Mỹ mất
ổn định thì các nhà đầu tư nước ngoài tìm cách rút tiền về nước để bảo toàn
đồng vốn. Nếu họ rút ồ ạt thì đồng đô la sẽ mất giá mạnh và các nước sẽ
khó xuất khẩu vào Mỹ được. Mặt khác khi người dân lo sợ đua nhau rút
tiền ra khỏi ngân hàng thì nhiều ngân hàng có nguy cơ phá sản hàng loạt.
Chính vì vậy chính phủ cần có những chính sách kiểm soát chặt chẽ
nền kinh tế để có thể giảm thiểu các rủi ro, cũng như phần nào tránh được
cuộc khủng hoảng hiện tại.
Anh:
Chính phủ Anh công bố biện pháp giải cứu 50 tỷ bảng (88 tỷ USD)
nhằm quốc hữu hóa 1/8 ngân hàng lớn nhất nước này và xây dựng các công
9
trình xã hội. Ngược lại, chính phủ sẽ nhận được số cổ phiếu từ các thể chế
tài chính này. Thêm vào đó, 200 tỷ bảng Anh sẽ dành cho Bank of England
để ngân hàng này tăng tính lưu động thanh khoản cần thiết. Một công ty
đặc biệt cũng được thành lập nhằm cung cấp 250 tỷ bảng về vốn vay đảm
bảo cho các ngân hàng và xây dựng các công trình xã hội.
Động thái này được đưa ra ngay sau khi cổ phiếu của Bank of
England ngà(07/10/08) sụt giảm nghiêm trọng và Phòng thương mại Anh
(BCC) đưa ra cảnh báo rằng Anh đã chính thức rơi vào suy thoái với số
người thất nghiệp có thể lên đến 350.000 người vào năm tới.
Chính phủ Anh đã tăng bảo hiểm cho những người gửi từ 35.000
bảng (62.000 USD) lên 50.000 bảng từ hôm 07/10/08.
Biểu đồ gói giải cứu của Chính phủ Anh
Đức:
Các ngân hàng tiết kiệm sở hữu nhà nước của Đức báo cáo, họ đang
bị ngập lụt vì số tiền gửi mới khi người dân nước này đổ xô đi gửi tiền
10
nhằm tìm kiếm một tài khoản an toàn hơn trong đó họ được bảo đảm 100%
về giá trị.
Nhà cho vay BĐS thương mại lớn thứ 2 nước này- Hypo Real Estate
tuần trước vừa bị đe dọa sẽ bị phá sản sau khi lâm vào tình cảnh đối chọi
với lượng khổng lồ tiền nợ xấu.
Chính phủ đã phải ra tay cứu trợ ngày 05/10/08 vì lo sợ ngân hàng
này sẽ phán sản với gói giải cứu trị giá 50 tỷ euro (68 tỷ USD)- tăng thêm
15 tỷ euro so với gói giải cứu lần trước.
Thủ tướng Đức, bà Angela Merkel phát biểu: “Đối với những người nào
tiến hành kinh doanh bất cẩn một cách vô trách nhiệm sẽ bị phạt”.
Tây Ban Nha:
Thủ tướng Tây Ban Nha Jose Luis Rodriguez Zapatero hôm 08/10/08
quyết định gia tăng bảo hiểm tiền gửi ngân hàng lên 100.000 euro (136.000
USD) từ mức hiện tại 20.000 euro.
Ông Zapatero phát biểu với các ngân hàng hàng đầu trong nước rằng
Chính phủ sẽ tiến hành các biện pháp ngay lập tức để tăng bảo hiểm tiền
11
gửi nhằm thúc đẩy niềm tin trong hệ thống tài chính. Tây Ban Nha cũng đã
kêu gọi một hành động chung của Châu Âu nhằm đối phó với cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu này.
Nga:
Các nhà lãnh đạo của Nga đổ lỗi tính vô trách nhiệm của Mỹ chính là
nguyên nhân gây ra bão tố tài chính hiện nay. Thị trường chứng khoán
nước này đã buộc phải ngừng 2 phiên giao dịch vì cổ phiếu RTS và
MICEX sụt giảm nghiêm trọng, hơn 10% ngay khi bắt đầu phiên giao dịch.
Ngày 08/10/08, Tổng thống Dmitry Medvedev trong cuộc họp khẩn
cấp tại Điện Kremlin , đã công bố chi 950 tỷ rub (36,4 tỷ USD) trong gói
trợ giúp dài hạn cho các ngân hàng nhằm vực dậy tính thanh khoản.
Việt Nam
- Đưa ra gói kích cầu của chính phủ là 6 tỷ USD: đây là một cố gắng
lớn của Chính phủ trong điều kiện ngân sách còn bội chi lớn, mức dự trữ
ngoại hối của quốc gia còn mỏng. Đây không chỉ là sự nhạy bén trong việc
dự đoán tình hình, chuyển hướng mục tiêu ưu tiên với những giải pháp có
liều lượng cao, nhằm chủ động hạn chế tác động tiêu cực của cuộc khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, thể hiện quyết tâm cao trong
việc ngăn chặn nguy cơ suy giảm kinh tế.
Kích cầu vào các lĩnh vực để tiêu thụ sản phẩm đang bị ứ đọng lớn
(than, sắt thép, xi măng, phân bón, một số nông sản quan trọng…), những
mặt hàng xuất khẩu lớn đang có thị trường.
Kích cầu vào các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động để giải quyết công
ăn việc làm, để tạo sức mua có khả năng thanh toán của dân cư, đặc biệt là
12
những người có thu nhập thấp, những người bị mất việc, những người làm
công ăn lương.
- Hổ trợ 4 % lãi suất Ngân hàng: Trong năm 2009, các tổ chức, cá
nhân vay vốn sản xuất kinh doanh sẽ được ngân hàng trừ 4% lãi vay. Mức
lãi suất hỗ trợ khách hàng vay là 4%, tính trên số tiền vay và thời hạn cho
vay thực tế, nằm trong khoảng thời gian từ 1/2 đến 31/12. Ngoại trừ 13 đối
tượng không thuộc diện hỗ trợ lãi suất, tất cả các cá nhân, doanh nghiệp, hộ
gia đình, hợp tác xã vay vốn lưu động để sản xuất kinh doanh đều được
ngân hàng giảm lãi suất theo quyết định của Thủ tướng.
Chính phủ kỳ vọng hỗ trợ giảm lãi suất sẽ giúp giảm giá thành sản
phẩm hàng hóa, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc
làm trong điều kiện nền kinh tế chịu tác động của khoảng hoảng tài chính
và suy thoái trên thế giới.
- Bảo đảm an toàn hệ thống Ngân hàng: Vụ Chính sách tiền tệ - Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, trước những diễn biến mới nhất của
khủng hoảng kinh tế Mỹ, hoạt động ngân hàng và thị trường tiền tệ trong
nước hiện vẫn ổn định, không có biến động lớn.
Đề phòng ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng có thể xảy ra, các ngân
hàng trong nước đã chủ động rút tiền gửi ở nước ngoài về và gửi một phần
vào các ngân hàng có uy tín cao ở Hồng Kông và Singapore để linh hoạt
trong sử dụng.
Ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược ngân hàng - Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam cho biết: "Thị trường tài chính của chúng ta chưa
13
hội nhập quá sâu nên không chịu nhiều tác động từ khủng hoảng toàn cầu.
Vấn đề quan trọng là cho đến giờ, Chính phủ luôn kiểm soát tốt và chặt chẽ
toàn bộ hệ thống tài chính trong nước. Còn Ngân hàng Nhà nước cũng
kiểm soát được rất tốt toàn bộ hệ thống các ngân hàng thương mại của
chúng ta trước những biến động của tài chính toàn cầu, vấn đề cốt lõi là
chúng ta phải đảm bảo được tính thanh khoản và dự phòng rủi ro của các
ngân hàng thương mại trong nước. Điều này đã được Ngân hàng Nhà nước
tập trung giải quyết trong suốt 6 tháng qua, và ở vào thời điểm này, hệ
thống ngân hàng trong nước đang có tính thanh khoản rất tốt"
- Thực hiện giảm thuế, cải cách hành chính:
Đối với các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ sản
phẩm cũng sẽ được hỗ trợ thông qua việc giảm lãi suất cơ bản và điều hành
lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng theo tín hiệu của thị trường và chỉ
số giá. Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn trong buổi trả lời
họp báo ngày 02/11 cũng cho biết, trong thời gian sắp tới thuế thu nhập
doanh nghiệp sẽ được giảm từ 28% xuống 25%, đây sẽ là cơ hội giúp cho
doanh nghiệp có thêm nguồn vốn tích luỹ tái đầu tư.
Đồng thời, sẽ tiến hành một loạt các giải pháp khác nhằm khích thích
doanh nghiệp tiếp tục ổn định sản xuất như: Cho phép các tổ chức tín dụng
nhân dân cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với các dự án có hiệu quả,
thực hiện việc cơ cấu lại thời hạn nợ và áp dụng các giải pháp giãn nợ và
áp dụng các giải pháp giãn nợ vay vốn ngân hàng đối với doanh nghiệp gặp
khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm.
14
Câu 2 : Thị trường hiệu quả là gì? Hãy cho biết tầm quan trọng của
tính hiệu quả của thị trường đối với diễn biến giá cổ phiếu? Các
nghiên cứu tiền hành trong thời gian gần đây có ủng hộ quan điểm cho
rằng thị trường chứng khoán là hiệu quả hay không?
I - Thị trường hiệu quả :
Thị trường hiệu quả (effecient market) là nơi mà tại bất kỳ thời điểm
nào, tất cả các thông tin mới đều được những người tham gia thị trường
nắm bắt và tức thì được phản ánh vào trong giá cả thị trường.
Giả thuyết thị trường hiệu quả là một giả thuyết của lý thuyết tài chính
cho rằng giá cả trên các thị trường có tính chất đầu cơ, đặc biệt là thị
trường chứng khoán phản ánh đầy đủ mọi thông tin đã biết, hay nói cách
khác, phản ánh đầy đủ kỳ vọng của các nhà đầu tư.
Khái niệm hiệu quả ở đây được dùng với hàm ý hấp thụ thông tin
nhanh chóng chứ không phải các nguồn lực tạo ra sản lượng tối đa như
trong các lĩnh vực kinh tế học khác. Thông tin cũng được hiểu là những tin
tức có thể ảnh hưởng đến giá cả và không dự đoán trước được.
Các dạng thị trường hiệu quả :
Thị trường yếu: là dạng thị trường mà thị giá của các chứng khoán
hoàn toàn không phản ánh hay không bao hàm tất cả các thông tin về các
15
chứng khoán. Nhà đầu tư chủ yếu kiếm lợi nhuận thông qua việc tận dụng
của thông tin bất cân xứng. Nghĩa là, nhà đầu tư (NĐT) nào có nhiều thông
tin chính xác hơn thì NĐT đó khả năng thu được lợi nhuận cao.
Thị trường trung bình: là thị trường cho rằng giá chứng khoán sẽ điều
chỉnh nhanh chóng trước bất kỳ thông tin công khai nào, tức là, mức giá
hiện tại phản ánh đầy đủ mọi thông tin công khai. Thông tin công khai
cũng bao gồm tất cả các thông tin phi thị trường như: các thông báo về thu
nhập và cổ tức, tỷ lệ P/E, tỷ lệ D/P, tỷ lệ thư giá/ thị giá, chia cổ phần, các
thông tin về kinh tế cũng như chính trị. Giả thuyết này có ý nghĩa rằng các
nhà đầu tư khi ra quyết định dựa trên các thông tin mới sau khi nó được
công bố sẽ không thu được lợi nhuận cao hơn mức trung bình bởi mức giá
chứng khoán này đã phản ánh mọi thông tin công khai đó.
Thị trường mạnh: là dạng thị trường mà thị giá của các chứng khoán
phản ứng lại hoàn toàn hay thị trường hàm chứa một cách đầy đủ các loại
thông tin của các chứng khoán đang giao dịch trên thị trường hay tình trạng
thông tin bất cân xứng liên quan đến giá chứng khoán khó xảy ra trên dạng
thị trường này. Đây là thị trường hoàn hảo nhất cho các nhà đầu tư cũng
như các nhà quản lý, và nó chỉ tồn tại ở các thị trường chứng khoán có lịch
sử phát triển lâu đời, đồng thời có sự quản lý tốt của các nhà quản lý thị
trường.
II - Tầm quan trọng của thị trường hiệu quả:
- Giá phản ánh đúng quan hệ cung cầu:
16
Trong một thị trường hiệu quả, cạnh tranh dẫn đến tình trạng giá cả
các loại chứng khoán phản ánh tất cả các loại thông tin: cả những thông tin
về những sự kiện đã xảy ra và cả những thông tin mà thị trường kì vọng sẽ
xảy ra trong tương lai. Nói một cách khác, trong một thị trường hiệu quả, ở
bất kì thời điểm nào, giá cả thực tế của một loại chứng khoán luôn là một
dấu hiệu hoàn hảo về giá trị thật sự của nó.
Ví dụ: tin một công ty dầu lửa phát hiện ra mỏ dầu mới có trữ lượng
lớn được công bố lúc 10 giờ sáng ngày hôm nay thì ngay lập tức thông tin
đó sẽ được phản ánh vào giá cả khiến cho nó được đẩy lên ở mức thích
hợp.
Ở Mỹ đã có những nghiên cứu đo lường tốc độ của sự điều chỉnh giá
cả và kết quả là chỉ có thể kiếm được lợi nhuận khi mua chứng khoán trong
vòng 30 giây sau khi thông tin mới được công bố rộng rãi.
Thuyết thị trường hiệu quả là một trong những giả định đầu tiên
nhưng khá tốt trong việc xác định phương thức giá cả các loại cổ phiếu
phản ứng với lại với các thông tin trong một thị trường tự do. Thực tế việc
thông tin được hấp thụ một cách nhanh chóng vào giá cổ phiếu và việc các
cửa sổ cơ hội đầu tư luôn mở ra với cả thị trường là một trong những luận
điểm sắc bén nhất cho việc bảo đảm thị trường không giao dịch với chi phí
bị đẩy lên quá cao. Chính các nhà đầu cơ, ở một khía cạnh tốt đẹp nào đó,
là những người quan trọng giúp giá cả trên thị trường luôn không đi quá xa
khỏi giá trị kinh tế đích thực…
- Công khai, công bằng, minh bạch:
17
Một thị trường "hiệu quả" là nơi có một số lượng khổng lồ những
NĐT tối đa hóa lợi nhuận một cách khôn ngoan đang cạnh tranh hết sức sôi
nổi với nhau và luôn nỗ lực để dự đoán trước giá trị thị trường tương lai
của từng loại chứng khoán. Đó là nơi mà các thông tin hiện có được "phơi
bày" tối đa đối với tất cả mọi người..
- Bảo vệ nhà đầu tư:
Có rất nhiều ẩn ý của giả thuyết thị trường hiệu quả trên thực tế khá
rõ ràng. Hầu hết các nhà đầu tư hay giao dịch cá nhân đều mua bán cổ
phiếu với sự tự giả định rằng các chứng khoán họ mua đều có giá trị hơn
cái giá họ phải trả, trong khi các chứng khoán mà họ bán lại không có giá
trị bằng giá mà họ bán ra.
- Lượng hóa quan hệ cung cầu: giống như hiện tượng "nước chảy
chỗ trũng", khi thị trường trở nên kém hiệu quả, quy luật cung cầu trên thị
trường do nhà đầu tư cạnh tranh lẫn nhau khai thác các hiện tượng đã được
nhận biết để kiếm lợi nhuận. Và chính điều này sẽ đưa thị giá trở về trạng
thái cân bằng, đồng thời xóa bỏ hiện tượng đó. Thị trường khi đó sẽ bắt
đầu phát sinh những hiện tượng mới và trở thành thị trường hiệu quả ở
hình thái mạnh bởi những hiện tượng, quy luật mới chưa được nhà đầu tư
nhận biết.
- Kiểm tra giám sát của nhà nước: Nhà nước điều tiết thị trường
thông qua luật pháp, chính sách và các công cụ điều tiết khác, bao gồm:
quan điểm, chiến lược phát triển, pháp luật, kế hoạch và quy hoạch phát
triển, chính sách, bộ máy và cán bộ quản lý,… Quản lý nhà nước kích thích
18
được sự hợp tác, liên kết, hỗ trợ nhau giữa các doanh nghiệp trong môi
trường cạnh tranh lành mạnh.
- Phân tích xu hướng giá trên thị trường: Khi tất cả thông tin cảnh
báo khi thị trường tăng nóng, chứng khoán vượt quá giá trị thật đã được
nhà đầu tư nhận biết và sự cạnh tranh của họ đã đưa thị trường trở lại trạng
thái cân bằng. Ngược lại, khi thị trường giá lên là do NĐT nhận thấy,
chứng khoán trở nên rẻ hơn so với giá trị nội tại, đồng thời những thông tin
về doanh nghiệp, về thị trường nói chung đã làm NĐT bắt đầu mua vào và
cũng chính sự cạnh tranh của nhà đầu tư đã hình thành thị trường hiệu quả
mạnh thoát khỏi hình thái thị trường hiệu quả yếu.
III - Các nghiên cứu gần đây có ủng hộ rằng thị trường chứng khoán
(TTCK) là hiệu quả hay không?
Tuy có những chức năng hữu ích như trên, nhưng các nghiên cứu gần
đây cho thấy, giả thuyết thị trường hiệu quả không giải thích được một
cách thuyết phục những hiện tượng sau:
Sự sụt giảm mạnh mẽ của giá cả chứng khoán trong những thời điểm
nào đó ví dụ như đã xảy ra ở thị trường chứng khoán Mỹ từ 15 tháng 10
đến ngày Thứ Hai Đen 19 tháng 10 năm 1987. Khi nhà kinh tế học James
Tobin nói rằng: “không có một yếu tố hữu hình nào có thể tạo ra sự chênh
lệch đến 30% trong giá trị cổ phiếu” thì các lý thuyết gia của thị trường
hiệu quả không thể đưa ra được lập luận phản bác.
19
Giả thuyết thị trường hiệu quả tỏ ra đúng với những cổ phiếu riêng rẽ
chứ không hoàn toàn đúng đối với toàn bộ thị trường. Thị trường chứng
khoán trong dài hạn có những biến động tự đảo ngược rõ rệt mà nhiều nhà
kinh tế học cho rằng đó là kết quả của tâm lý chung của hầu hết những
người tham gia thị trường. Khi thị trường bị ảnh hưởng bởi làn sóng tâm lý
thì trên góc độ vĩ mô không một nỗ lực cá nhân nào có đủ nguồn lực để
đảo ngược.
Từ khi thị trường chứng khoán ra đời, đã có rất nhiều lý thuyết dày
công nghiên cứu phương pháp đầu tư có lợi nhuận cao trên thị trường này
như phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật... hay các quy tắc mua sau khi giá
tăng 2 ngày; mua khi có tin xấu, bán khi có tin tốt...Tuy vậy kết quả của nó
không thỏa mãn mong muốn của những nhà đầu tư. Một nghiên cứu về
hoạt động của những nhà môi giới chứng khoán đã dẫn đến kết luận rằng
tính trung bình, lợi nhuận đem lại từ các danh mục đầu tư do họ thực hiện
cũng không hơn một danh mục đầu tư được lựa chọn ngẫu nhiên. Những
nghiên cứu về xu hướng giá của thị trường chứng khoán sử dụng số liệu
thống kê trong nhiều năm cũng rút ra: chỉ có một điều chắc chắn đối với
giá cổ phiếu là chúng lên xuống rất thất thường. Nói tóm lại, những nghiên
cứu trong nhiều thập kỷ qua đưa đến kết luận không thể kiếm lợi nhuận cao
trên thị trường chứng khoán bằng các quy tắc hay công thức bởi vì nhìn
chung nó cũng không tốt hơn một cơ cấu đầu tư chứng khoán được đa dạng
hóa và lựa chọn ngẫu nhiên.
20
Tóm lại, những phương pháp dùng để phân tích đầu tư chứng khoán
đều có những ưu điểm và nhược điểm. NĐT phải lựa chọn, sử dụng
phương pháp nào phù hợp với bản thân và ở từng thời điểm của thị trường.
Có thời điểm sử dụng phương pháp này là phù hợp, còn phương pháp kia
không phù hợp nữa. Tuy nhiên, để đầu tư thành công, ngoài việc có
phương pháp phân tích tốt, NĐT còn phải biết sử dụng chúng sao mang lại
kết quả. Biết phối hợp tất cả các phương pháp phân tích đầu tư lại với nhau
sẽ chính là phương pháp mang lại hiệu quả cao nhất
Câu 3: Hãy xác định các chức năng cơ bản của thị trường chứng
khoán phái sinh trong nền kinh tế và giải thích các chứng khoán phái
sinh có thể bị sử dụng một cách sai mục đích như thế nào?
I - Khái niệm chứng khoán phái sinh:
Nhắc đến chứng khoán, mọi người thường chỉ nghĩ đến cổ phiếu, trái
phiếu như những công cụ đầu tư hiệu quả, trong khi thị trường chứng
khoán còn rất bao la, mà cổ phiếu, trái phiếu chỉ là một vài trong số những
“món đồ chơi” ở đây. Còn vô số những khái niệm và công cụ đầu tư khác
phải kể đến, mà chứng khoán phái sinh chính là yếu tố quan trọng đầu tiên
không thể bỏ qua.
Chứng khoán phái sinh (derivatives) là những công cụ được phát hành trên
cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêu
khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận.
21
Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị
các các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, để đảm bảo rằng nếu giá
của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái
sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu.
Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua
đi bán lại các chứng từ tài chính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền,
hợp đồng quyền chọn. Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng,
nhưng nhìn chung có bốn công cụ chính là:
• Hợp đồng kỳ hạn (forwards): là một thoả thuận trong đó một người
mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá
với khối lượng xác định, tại một thời điểm xác định trong tương lai
với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay. Hàng hoá ở đây có
thể là bất kỳ thứ hàng hoá nào: từ nông sản, tiền tệ cho tới các chứng
khoán
22
•
Hợp đồng tương lai (futures): là việc thoả thuận giữa các bên về
những nghĩa vụ mua bán phải thực hiện theo mức giá đã xác định cho
tương lai mà không phụ thuộc vào giá thị trường tại thời điểm đó
• Quyền chọn (options): bao gồm quyền chọn mua (call option) và
quyền chọn bán (put option). Quyền chọn mua (call option) là quyền
mua một tài sản xác định vào/trước một ngày xác định tại một mức
giá thiết lập trước. Quyền chọn bán (put option) là quyền bán một tài
sản xác định vào/trước một ngày xác định tại một mức giá thiết lập
trước.
• Hợp đồng hoán đổi (swaps): Hợp đồng hoán đổi là một công cụ phái
sinh dựa trên sự trao đổi và thực hiện hợp đồng trong lĩnh vực lãi suất
và tiền tệ. Nhiều công ty, ngân hàng muốn có hợp đồng hoán đổi để
ấn định tỷ lệ lãi suất nhằm giảm thiểu sự bất ổn trong kinh doanh.
Ngoài ra, hợp đồng hoán đổi cũng rất hiệu quả trong việc huy động
vốn
II - Chức năng cơ bản của giao dịch chứng khoán phái sinh
23
Thông qua các công cụ của mình, chứng khoán phái sinh có các chức năng
hữu ích như sau:
a) Dẫn vốn chủ thể thừa sang chủ thể thiếu:
Ta nhận thấy rằng hợp đồng hoán đổi rất hiệu quả trong việc huy
động vốn.
Đầu thập niên 90, Citi Bank, ngân hàng lớn nhất tại Mỹ đã mở rộng
một số hoạt động đầu tư sang Nhật bản nên cần một lượng tiền yên Nhật
rất lớn trong một thời gian ngắn, trong khi vốn của Citibank lại không có
đủ đồng yên. Các chuyên gia nghiệp vụ ngân hàng của Citibank lập tức
nghĩ ngay đến Chifon Bank của Nhật bản. Citibank đã thoả thuận một hợp
đồng hoán đổi với Chifon Bank, theo đó Citi Bank chuyển cho Chifon
Bank một lượng USD nhất định, đổi lại Chifon Bank sẽ cung cấp đồng yên
cho hoạt động đầu tư của Citibank tại Nhật bản. Nhờ vậy mà chỉ trong
vòng 24 tiếng, Citibank đã có đủ vốn cần thiết cho dự án đầu tư tại đây.
Như vậy, hợp đồng hoán đổi là một cam kết song phương, theo đó
các nhà đầu tư sẽ trao cho nhau vào một ngày nhất định một số lượng nhất
định đồng tiền của một quốc gia A để lấy một số lượng nhất định đồng tiền
của quốc gia B đã được quy đổi theo tỷ giá ngoại tệ hiện tại trong một thời
hạn xác định, với điều hứa hoàn lại vốn khi đến kỳ hạn.
24
b)Giải quyết lợi ích:
Đặc biệt thông qua nghiệp vụ hoán đổi, có thể giúp giải quyết lợi ích
cho các bên như sau: nghiệp vụ hoán đổi là một hợp đồng trong đó hai bên
thoả thuận trao đổi nghĩa vụ thanh toán. Thông thường giao dịch này bao
gồm các thanh toán lãi, và trong một số trường hợp là thanh toán nợ gốc.
Giao dịch hoán đổi lãi suất và hoán đổi ngoại tệ là sản phẩm của thị trường
phi tập trung (OTC) được kết hợp trực tiếp giữa hai ngân hàng, hoặc giữa
ngân hàng với khách hàng. Theo đó không có mẫu chuẩn của hợp đồng
giao dịch hoán đổi và các hợp đồng kiểu này sẽ khác nhau về một số nội
dung.
Trước khi các giao dịch hoán đổi xuất hiện, bên vay và bên cho vay
thường bị giới hạn ở lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi, cấp vốn hoặc cho
vay trên cơ sở tiền mặt. Nhà đầu tư hoặc ngân hàng sẽ gặp phải sự không
tương xứng về lãi suất giữa tài sản có và tài sản nợ. Ví dụ công ty vay lãi
suát cố định , nhưng lại đầu tư vào thị trường lãi suất thả nổi, chắc chắn sẽ
bị lỗ khi lãi suất giảm do không có khoản tăng thu nhập từ tài sản có lãi
suất thả nổi.
Giao dịch hoán đổi được tạo ra để xử lý những sự không tương xứng
này, tạo cho ngân hàng, doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn các dòng lưu
chuyển tiền tệ của mình. Khi mới xuất hiện công cụ này vào đầu thập kỷ
1980, các ngân hàng dàn xếp các giao dịch hoán đổi cho các bên cụ thể có
nhu cầu cần bổ sung cho nhau. Các ngân hàng thu được phí do làm đại diện
trong các giao dịch này. Thị trường càng phát triển, ngân hàng tham gia với
25