1
BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Bảng 1 : Bảng tổng kết hình vị tiếng Anh – đơn vị cấu tạo từ nhỏ nhất.............. 54
Bảng 2 : Mô hình cấu tạo thuật ngữ tiếng Anh ở dạng từ phái sinh .................... 58
Bảng 3 : Bảng tổng kết “Thuật ngữ-từ phái sinh tiếng Anh là danh từ được cấu tạo
từ động từ ............................................................................................................. 60
Bảng 4 : Bảng tổng kết “Thuật ngữ-từ phái sinh tiếng Anh là danh từ được cấu tạo
từ tính từ” ............................................................................................................. 62
Bảng 5 : Bảng tổng kết “Các hậu tố cấu tạo ra thuật ngữ-từ phái sinh tiếng Anh là
tính từ”.................................................................................................................. 63
Bảng 6: “Mô hình cấu tạo thuật ngữ-từ phái sinh tiếng Anh là trạng từ”............ 67
Bảng 7 : Bảng tổng kết “Mô hình cấu tạo thuật ngữ từ ghép tiếng Anh”............ 75
Bảng 8 : Sơ đồ “Sự kết hợp các yếu tố trong thuật ngữ cụm danh từ tiếng Anh”88
Bảng 9 : Bảng tổng kết “Vị trí các định tố trong thuật ngữ cụm danh từ tiếng Anh “
.............................................................................................................................. 89
Bảng 10 :Bảng tổng kết “thuật ngữ loại ngoại động từ tiếng Việt”..................... 97
Bảng 11 : Bảng 1.”Tỷ lệ so sánh 180 thuật ngữ từ đơn tiếng Anh với các thuật ngữ
tiếng Việt tương đương là từ đơn, từ ghép và cụm từ” ...................................... 105
Bảng 12 : Biểu đồ 1“ Tỷ lệ so sánh 180 thuật ngữ từ đơn tiếng Anh với các thuật
ngữ tiếng Việt tương đương là từ đơn, từ ghép và cụm từ”............................... 105
Bảng 13 : Bảng 2. “Tỷ lệ so sánh 170 thuật ngữ là từ phái sinh tiếng Anh với các
thuật ngữ tiếngViệt tương đương là từ đơn, từ ghép và cụm từ”....................... 106
Bảng 14 : Biểu đồ 2 “Tỷ lệ so sánh 170 thuật ngữ tiếng Anh là từ phái sinh với các
thuật ngữ tiếng Việt tương là từ đơn, từ ghép và cụm từ” ................................. 106
Bảng 15 : Bảng 3 “Tỷ lệ so sánh 550 thuật ngữ tiếng Anh là từ ghép với các thuật
ngữ tiếng Việt tương đương là từ đơn, từ ghép và cụm từ”............................... 107
Bảng 16 : Biểu đồ 3 “Tỷ lệ thuật ngữ là từ đơn, từ ghép và cụm từ tiếng Việt trong
so sánh với thuật ngữ là từ ghép tiếng Anh”...................................................... 107
Bảng 17 : Bảng 4. “Tỷ lệ so sánh 600 thuật ngữ tiếng Anh là cụm từ với các thuật
ngữ tiếng Việt tương đương là từ đơn, từ ghép và cụm từ”............................... 108
Bảng 18 : Biểu đồ 4 “Tỷ lệ so sánh 600 thuật ngữ tiếng Anh là cụm từ với các thuật
ngữ tiếng Việt tương đương là từ đơn, từ ghép và cụm từ”............................... 108
Bảng 19 : “Bảng đối chiếu thuật ngữ là từ ghép tiếng Việt với thuật ngữ tiếng Anh
có nghĩa tương đương”....................................................................................... 142
Bảng 20 : Mô hình “Công thức tính tài sản”...................................................... 154
Bảng 21 : Tính tài sản theo cách thông thường ..................................................154
Bảng 22 : Mô hình cấu tạo thuật ngữ là từ đơn tiếng Việt................................. 183
Bảng 23: Mô hình cấu tạo thuật ngữ là từ ghép tiếng Việt …………………...183
Bảng 24 : Mô hình cấu tạo thuật ngữ là cụm danh từ tiếng Việt ....................... 184
Bảng 25 : Mô hình cấu tạo thuật ngữ cụm động từ tiếng Việt........................... 186
2
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
1.
adj. (adjective): tính từ
2.
adv. (adverb): trạng từ
3.
n. (noun): danh từ
4.
prep. (preposition): giới từ
5.
conj (conjunction): liên từ
6.
pron. (pronoun): đại từ
7.
comp. (compound word): từ ghép
8.
v. (verb): động từ
9.
vt. (transitive verb): ngoại động từ
10.
vi. (intransitive verb): nội động từ
11.
prp. (present participe): hiện tại phân từ
12.
pp. (past participe): quá khứ phân từ
13.
( Đ ) : từ đơn tiếng Việt
14.
( TG ) : từ ghép tiếng Việt
15.
( CT ) : cụm từ tiếng Việt
16.
C = yếu tố chính
17.
Ptr = yếu tố phụ trước (của yếu tố chính)
18.
Ps = yếu tố phụ sau
19.
PT : phụ tố
20.
Đ.A : từ đơn Anh (single word)
21.
Ph.s = từ phái sinh Anh (derivation)
22.
TD = Ex = thí dụ
23.
( V ) : yếu tố thuần Việt
24.
( H ) : yếu tố gốc Hán (Hán-Việt)
25.
( A ) : yếu tố gốc Ấn Âu
26.
ĐT : động từ tiếng Việt
27.
DT : danh từ tiếng Việt
3
28.
TT : tính từ tiếng Việt
29.
tr. : trang
30.
[ ] chú thích tài liệu tham khảo theo số thứ tự ở phần phụ lục
4
Mục lục
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
U
0.1.Lý do chọn đề tài ...............................................................................1
0.2. Mục đích nghiên cứu........................................................................2
0.3. Lịch sử nghiên cứu ...........................................................................2
0.3.1. Tiến trình nghiên cứu thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân hàng
trên thế giới ...........................................................................................2
0.3.2. Tiến trình và kết quả nghiên cứu của thuật ngữ Tài chính-Kế toánNgân hàng ở Việt Nam..........................................................................8
0.4. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu...............................12
0.4.1. Đối tượng nghiên cứu ...............................................................12
0.4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................12
0.4.3. Phạm vi nghiên cứu..................................................................13
0.5.Tư liệu và phương pháp nghiên cứu .............................................13
0.5.1. Nguồn tư liệu.............................................................................13
0.5.2. Phương pháp nghiên cứu...........................................................14
0.6. Cái mới của luận án .......................................................................15
0.7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài .........15
0.7.1. Ý nghĩa khoa học ......................................................................15
0.7.2. Ý nghĩa thực tiễn .......................................................................16
0.8. Bố cục luận án.................................................................................17
CHƯƠNG MỘT : CƠ SỞ LÝ LUẬN ......................................................... 18
1.1. Đặc điểm cơ bản của thuật ngữ khoa học ..................................18
1.2. Những vấn đề lý luận trong xây dựng thuật ngữ khoa học bằng
tiếng Việt ………………………………………………………….. 23
1.2.1. Quan điểm về thuật ngữ khoa học tiếng Việt ..........................24
1.2.2. Tiêu chuẩn thuật ngữ khoa học tiếng Việt ..............................25
1.2.3. Phương thức xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng Việt ............29
1.2.4. Tính chất các yếu tố cấu thành thuật ngữ..................................37
1.3. Khái niệm thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng..................40
1.3.1. Thuật ngữ Tài chính ...............................................................40
1.3.2. Thuật ngữ kế toán.................................................................41
1.3.3. Thuật ngữ Ngân hàng............................................................41
1.4.Tiểu kết.............................................................................................42
5
CHƯƠNG HAI : SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO HÌNH THỨC ....... 44
2.1 Sơ lược về cấu tạo hình thức của thuật ngữ Tài chính – Kế toán –
Ngân hàng ..............................................................................................44
2.2. Đơn vị nhỏ nhất dùng để cấu tạo từ trong tiếng Anh và tiếng Việt
.................................................................................................................46
2.2.1. Hình vị tiếng Anh trong cấu tạo thuật ngữ khoa học................47
2.2.2. Đơn vị nhỏ nhất cấu tạo thuật ngữ khoa học tiếng Việt. ..........54
2.3. Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ Tài chính – Kế - Ngân hàng tiếng Anh
ở cấp độ từ vựng ....................................................................................55
2.3.1. Thuật ngữ là từ đơn trong tiếng Anh .......................................55
2.3.2. Thuật ngữ là từ phái sinh trong tiếng Anh ................................57
2.3.3 Thuật ngữ là từ ghép trong tiếng Anh.......................................67
2.3.4. Nhận xét chung .........................................................................78
2.4. Cấu tạo của thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng bằng tiếng
Việt ở cấp độ từ vựng............................................................................79
2.4.1. Thuật ngữ là từ đơn tiếng Việt (từ một tiếng)...........................79
2.4.2. Thuật ngữ là từ ghép tiếng Việt (từ hai tiếng) ..........................80
2.4.3. Thuật ngữ là từ láy tiếng Việt ...................................................83
2.5. Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng
tiếng Anh và tiếng Việt có cấu trúc là cụm từ ....................................86
2.5.1. Giới thuyết về thuật ngữ có cấu trúc là cụm từ........................86
2.5.2. Thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh có cấu trúc là
cụm từ..................................................................................................88
2.5.3. Thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Việt có cấu trúc là
cụm từ..................................................................................................95
2.6. Thuật ngữ ở dạng viết tắt ...........................................................102
2.6.1. Thuật ngữ ở dạng viết tắt tiếng Anh .......................................102
2.6.2. Sử dụng thuật ngữ viết tắt tiếng Anh trong tiếng Việt...........103
2.7. Bảng thống kê tỷ lệ và biểu đồ thể hiện cấu tạo thuật ngữ Tài
chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh trong so sánh đối chiếu với tiếng
Việt........................................................................................................104
2.7.1. Kết quả thống kê tỷ lệ tương đương giữa thuật ngữ tiếng Anh và
tiếng Việt ...........................................................................................104
2.7.2. Bảng và biểu đồ so sánh về cấu trúc hình thức giữa các thuật ngữ
của tiếng Anh và tiếng Việt...............................................................105
2.8. Tiểu kết..........................................................................................110
CHƯƠNG BA : SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO NGỮ NGHĨA ....... 113
6
3.1 . Một số vấn đề cơ bản về cấu tạo ngữ nghĩa của thuật ngữ Tài
chính-Kế toán-Ngân hàng...................................................................113
3.2. Sự tương ứng về nghĩa giữa các tiền tố và hậu tố của thuật ngữ
tiếng Anh với những yếu tố cấu tạo thuật ngữ tiếng Việt ...............116
3.2.1. Các hậu tố làm thay đổi từ loại và thêm nghĩa cho thuật ngữ 117
3.2.2. Các tiền tố thêm nghĩa cho thuật ngữ .....................................125
3.3. Cách tạo nghĩa của thuật ngữ bằng từ ghép..............................132
3.3.1. Cách tạo nghĩa của thuật ngữ có quan hệ ghép song song .....133
3.3.2. Cách tạo nghĩa của thuật ngữ có quan hệ ghép chính phụ.....134
3.3.3. So sánh cách tạo nghĩa của thuật ngữ là từ ghép giữa hai tiếng
Anh, Việt ...........................................................................................141
3.4. Cách tạo nghĩa của thuật ngữ bằng cấu trúc cụm từ ...............143
3.4.1. Thuật ngữ cụm từ với tư cách là một đơn vị từ vựng .............143
3.4.2 Cách kết hợp các thành tố để tạo ra nghĩa của thuật ngữ là cụm từ
trong tiếng Anh .................................................................................145
3.5. Những điểm tương đồng và khác biệt giữa tiếng Anh và tiếng Việt
trong quá trình chuyển những từ ngữ thông thường thành thuật ngữ
...............................................................................................................152
3.6. Từ nghĩa của những yếu tố cấu thành thuật ngữ đến khái niệm
chung của thuật ngữ............................................................................154
3.6.1. Việc công thức hóa khái niệm thuật ngữ ................................154
3.6.2. Thuật ngữ khoa học không phải của riêng các nhà khoa học .156
3.7. Thành ngữ được sử dụng với tư cách là một thuật ngữ khoa học
...............................................................................................................161
3.8. Các trường nghĩa trong thuật ngữ thuộc lĩnh vựcTài chính – Kế
toán - Ngân Hàng ................................................................................164
3.8.1. Trường từ vựng-ngữ nghĩa dùng trong môi trường Kế toán..166
3.8.2. Trường từ vựng-ngữ nghĩa dùng trong lĩnh vực tài chính .....169
3.8.3. Trường từ vựng-ngữ nghĩa dùng trong giao dịch ngân hàng.172
3.9. Tiểu kết..........................................................................................174
CHƯƠNG BỐN : TÍNH QUY LUẬT CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ
THUẬT NGỮ TÀI CHÍNH-KẾ TOÁN-NGÂN HÀNG TIẾNG VIỆT. 175
4.1. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong xây dựng thuật ngữ
khoa học ...............................................................................................175
4.2. Các mô hình cấu tạo thuật ngữ Tài chính -Kế toán -Ngân hàng
tiếng Việt ..............................................................................................183
7
4.2.1. Mô hình cấu tạo thuật ngữ là từ đơn tiếng Việt: ....................183
4.2.2. Bảng 23: Mô hình cấu tạo thuật ngữ là từ ghép tiếng Việt:..183
4.2.3. Mô hình thuật ngữ là cụm từ tiếng Việt..................................184
4.3 . Các hiểu biết cần thiết trong quá trình dạy thuật ngữ Tài chínhKế toán-Ngân hàng bằng tiếng Anh ..................................................191
4.3.1. Thành bại trong kinh doanh phụ thuộc vào hiểu và dùng đúng
thuật ngữ............................................................................................191
4.3.2. Dạy thuật ngữ trong môn “tiếng Anh chuyên ngành” ............192
4.3.3. Dạy từ ngữ chuyên môn với tư cách là một “special term” ..193
4.3.4. Dạy thuật ngữ trong quá trình luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản194
4.4 Tiểu kết...........................................................................................196
KẾT LUẬN .................................................................................................. 197
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 203
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT ....................................................................203
TÀI LIỆU TIẾNG ANH .....................................................................210
TÀI LIỆU THAM KHẢO TRÊN WEBSITE ..................................215
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 218
1
MỞ ĐẦU
0.1.Lý do chọn đề tài
0.1.1. Hiện nay, trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng rộng mở, các ngành
khoa học kỹ thuật ở nước ta nói chung và chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân
hàng nói riêng, đang có nhu cầu phát triển và hoàn thiện hệ thống thuật ngữ khoa
học tiếng Việt sao cho phù hợp với những chuẩn mực quốc tế.
Ở nước ta, việc xây dựng các hệ thống thuật ngữ khoa học tiếng Việt thường
phải dựa vào các hệ thống thuật ngữ nước ngoài. Trong lĩnh vực Tài chính-Kế toánNgân hàng nói chung là phải dựa vào thuật ngữ tiếng Anh, Mỹ. Chính vì thế, việc
khảo sát, so sánh về cấu tạo hình thức và cấu tạo ngữ nghĩa của thuật ngữ Tài chínhKế toán-Ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt là một công việc có tính chất thời sự,
cấp bách, cần phải được triển khai nghiên cứu, nếu chúng ta muốn có được một hệ
thống thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Việt vừa khoa học, vừa dân tộc,
vừa quốc tế.
Đó là lý do thứ nhất để chúng tôi chọn đề tài như tiêu đề của luận án.
0.1.2. Qua nhiều năm giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành Tài chính-Kế toán cho
sinh viên các trường đại học, chúng tôi nhận thức rất rõ tầm quan trọng của vấn đề
truyền đạt như thế nào cho chính xác nội dung chuyên môn của các thuật ngữ Tài
chính-Kế toán-Ngân hàng. Hơn nữa, sinh viên ngoài giờ học trên lớp có sự hướng
dẫn của giáo viên, còn phải tự cập nhật kiến thức cho mình qua việc đọc thông tin
trên mạng hay qua sách báo tiếng Anh. Việc dạy và học ngoại ngữ phải lấy người
học làm trung tâm, phải tìm cách giúp người học hiểu được các vấn đề khoa học qua
việc dùng đúng thuật ngữ chuyên môn bằng tiếng Anh. Đây là một vấn đề lớn luôn
luôn làm chúng tôi trăn trở.
Đây là lý do thứ hai và là lý do thực tiễn để chúng tôi lựa chọn đề tài luận án.
0.1.3. Nhưng, so sánh thuật ngữ khoa học tiếng Anh với tiếng Việt, dù chỉ trong lĩnh
vực Tài chính-Kế toán-Ngân hàng vẫn còn là một vấn đề quá rộng, bởi vì có thể nói
đến nhiều phương diện khác nhau khi so sánh. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay ở
nước ta theo chúng tôi thiết thực nhất là khảo sát về các phương diện cấu tạo hình
2
thức và nội dung ngữ nghĩa của thuật ngữ. Hơn nữa, vấn đề này hiện nay nhìn
chung cũng chưa được nghiên cứu chuyên sâu. Cho nên, việc so sánh đối chiếu
thuật ngữ chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh với tiếng Việt về
hai phương diện này là một việc làm hữu ích và cần thiết
Đây chính là lý do thứ ba để chúng tôi xác định cụ thể đề tài luận án của
chúng tôi.
0.2. Mục đích nghiên cứu
Tiếng Việt hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức. Ngoài việc phải đáp
ứng tích cực và có hiệu quả nhu cầu hội nhập quốc tế, các thuật ngữ khoa học được
sáng tạo ra phải giữ gìn bản sắc tiếng Việt. Đề tài mà luận án tập trung nghiên cứu
nhằm giải quyết vấn đề này. Do vậy, công việc nghiên cứu cụ thể của luận án là tiến
hành khảo sát, so sánh đối chiếu thuật ngữ chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân
hàng tiếng Anh và tiếng Việt về hai phương diện: cấu tạo và nội dung, nhằm phát
hiện những sự tương đồng và khác biệt giữa thuật ngữ của hai thứ tiếng Anh,Việt.
Từ đó luận án có thể đưa ra được các mô hình cấu tạo thuật ngữ Tài chính-Kế toánNgân hàng bằng tiếng Việt, chỉ ra những mô hình cấu tạo nào là “tối ưu” để góp
phần xây dựng và phát triển hệ thống thuật ngữ này của tiếng Việt.
0.3. Lịch sử nghiên cứu
Để đi sâu vào miêu tả, phân tích thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân hàng của
tiếng Anh và tiếng Việt về hai phương diện đặc điểm cấu tạo hình thức và đặc điểm
ngữ nghĩa, luận án xin trình bày cái nhìn bao quát về lịch sử nghiên cứu thuật ngữ
lĩnh vực này trên thế giới và ở Việt Nam.
0.3.1. Tiến trình nghiên cứu thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân hàng trên thế
giới
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ và liên tục của xã hội loài người, đặc biệt là
về giáo dục, văn hóa, khoa học, y tế, thương mại v.v.. , ngôn ngữ của các dân tộc,
các quốc gia trên thế giới cũng phát triển theo để phản ánh được những thay đổi của
thực tế cuộc sống. Các lĩnh vực ngôn ngữ, các phong cách ngôn ngữ chuyên biệt
dần dần hình thành để đáp ứng các nhu cầu chuyên môn nảy sinh trong xã hội phát
3
triển. Sự ra đời và phát triển của thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng thế giới
cũng không nằm ngoài quy luật này.
Kế toán được xếp vào “nghề đứng thứ nhì trong hàng nghề cổ nhất thế giới”
(Accounting is at least the second oldest profession in the world) [142:5]. Kế toán ra
đời rất sớm, trước cả chữ viết. “Theo kết quả của các cuộc khảo cổ trong thời gian
gần đây ở vùng Lưỡng Hà cổ đại, người ta tìm thấy những “trang sổ” kế toán đầu
tiên của nhân loại là những phiến đá trên đó khắc đầy những hình ảnh sinh động để
theo dõi “tình hình tài sản” được xác định có tuổi từ khoảng 5000 năm trước công
nguyên” [9:11]. Trên thực tế, sự giao lưu mua bán, quan hệ làm ăn ngày càng phức
tạp do xã hội vận động và phát triển không ngừng. Kinh nghiệm cũng như sự nhận
thức thông thường của các thương gia không đủ để họ quản lý tài sản của mình.
Theo tác giả Michael R. Sneyd “Phải trải qua hàng ngàn năm trước khi nghề kế toán
xuất hiện nhiều thế hệ các thương gia, những người thu thuế mới tìm ra được
phương pháp tổng quát và thoả đáng cho việc lưu giữ những sổ sách ghi chép công
việc làm ăn của họ” [142:5].
Theo tìm hiểu của giới chuyên môn, phải đến năm 1299 con người mới phát
triển hệ thống thông tin tài chính gồm tất cả các yếu tố cấu thành của hệ thống kế
toán kép và vào năm 1494 Luca Pacioli tác giả cuốn Summa hệ thống kế toán kép
mới được miêu tả một cách cụ thể và rõ nét. Sau đó 377 năm Josial Wedwood là
người đầu tiên hoàn thiện hệ thống kế toán giá thành. Hệ thống kế toán từ đó đã
ngày càng được hoàn chỉnh hơn với việc hoàn thiện hệ thống kế toán giá thành hiện
đại của Donaldson Brown- Giám đốc điều hành của General Motor.
Hiện nay trên thế giới đã có một tổ chức riêng ban hành các chuẩn mực kế toán
quốc tế. Tổ chức thiết lập chuẩn mực kế toán quốc tế gồm Tổ chức ủy ban chuẩn
mực kế toán quốc tế (IASCF), Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), Hội
đồng cố vấn chuẩn mực (SAC), Hội đồng hướng dẫn báo cáo tài chính quốc tế
(IFRIC).
•
IASCF có trách nhiệm giám sát IASB, là tổ chức ban hành chuẩn mực báo
cáo tài chính quốc tế (IFRS). SAC có trách nhiệm tư vấn các vấn đề kỹ thuật
4
và lịch làm việc cho IASB. IFRIC, dưới sự quản lý của IASB, có trách nhiệm
ban hành các hướng dẫn báo cáo tài chính quốc tế.
•
IASCF gồm mười chín (19) ủy thác viên gồm sáu (6) từ Bắc Mỹ, sáu (6) từ
châu Âu, bốn (4) từ châu Á - Thái Bình Dương, và ba (3) từ bất kỳ khu vực
nào khác miễn là sự cân bằng về khu vực địa lý được giữ vững.
•
IASB có 14 thành viên đến từ 9 quốc gia có trách nhiệm thiết lập các chuẩn
mực kế toán. Các thành viên của IASB được lựa chọn theo tiêu chuẩn trình
độ chuyên môn chứ không phải theo khu vực bầu cử hay quyền lợi khu vực.
Các thành viên của IASB có nguồn gốc là các kiểm toán viên thực hành,
người lập các báo cáo tài chính, người sử dụng các báo cáo tài chính, và từ
hàn lâm. Bảy trong 14 thành viên có trách nhiệm trực tiếp liên hệ với một
hay nhiều hơn các nhà thiết lập chuẩn mực quốc gia. Việc công bố một
chuẩn mực, dự thảo, hay hướng dẫn cần được sự tán thành của 8 trên 14
thành viên.
•
Hội đồng cố vấn chuẩn mực (SAC) bao gồm các nhóm cá nhân có các nguồn
gốc chức năng và khu vực địa lý khác nhau nhằm cố vấn cho IASB và đôi
khi, cho các ủy thác viên.
•
Các thành viên của IFRIC đến từ các khu vực địa lý rộng rãi, có trình độ
giao dịch cao, đại diện của các kế toán viên trong các ngành nghề và người
sử dụng các báo cáo tài chính.
•
Thêm vào đó, tất cả các thành viên của IASB có trách nhiệm liên hệ với các
nhà thiết lập chuẩn mực quốc gia không có thành viên của IASB trong tổ
chức lập quy của họ. Ngoài ra, nhiều quốc gia này cũng có mặt trong Hội
đồng cố vấn chuẩn mực.
•
Như vậy, trên thế giới hệ thống tài chính kế toán đã có được sự thống nhất
cơ bản để các nước dựa vào đó xây dựng các chuẩn mực tài chính kế toán
của mình. [176]
Lịch sử nghiên cứu của hệ thống thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân hàng
trên thế giới cho ta thấy sự ra đời và phát triển của hệ thống thuật ngữ trong lĩnh vực
5
này là hoàn toàn tự nhiên, khách quan, và song hành cùng với sự phát triển của văn
minh nhân loại. Cụ thể:
Ngành khoa học nghiên cứu về vấn đề “accounting”hình thành. Mục đích của
khoa học này nhằm đưa những khái niệm, nhận thức thông thường thành quy luật,
thành tư duy logich khiến cho nó có khả năng phản ánh hiện thực một cách sâu sắc
và chính xác. Khoa học nghiên cứu về “kế toán” ra đời, kéo theo nó là “phân tích tài
chính”. Lĩnh vực Tài chính-Ngân hàng tồn tại song hành, hỗ trợ nhau. Nói đến Tài
chính là nói đến hoạt động giao lưu giữa các loại vốn như ngắn hạn, trung hạn và
dài hạn. Kinh tế càng cao thì đầu tư càng nhiều. Đầu tư cần vốn phải thông qua
những giao dịch thị trường, trong đó phải nói tới giao dịch ngân hàng. Vì vậy, khi
nói đến hoạt động trong lĩnh vực Tài chính-Kế toán-Ngân hàng, trên thực tế, chủ
yếu là ta đề cập đến các vấn đề về kinh tế. Thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng
do đó còn có tên gọi chung là “thuật ngữ Kinh tế “.
Kế toán được hiểu là “một hệ thống đo lường, xử lý và truyền đạt thông tin
tài chính về một đơn vị hoạch toán độc lập”. Thông tin được lưu giữ lại là những
giao dịch hàng ngày liên quan về giá trị, chẳng hạn như mua bán, chi trả, thu nợ,
vay mượn, hay nói các khác đó là những sự kiện kinh tế ảnh hưởng đến nội bộ một
doanh nghiệp và được gọi là “nghiệp vụ kinh tế phát sinh” (business transaction).
Khi đã có một khối lượng lớn về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thì doanh nghiệp
cần phải có phương pháp lưu giữ và phân loại nó. Khái niệm “tài khoản” ra đời
(account). “Tài khoản” là tên gọi hay nói rõ hơn đó chính là cái “mác”, cái “nhãn”
(labels) mà các nhân viên kế toán dùng để tập hợp, phân biệt các khoản tiền của các
nghiệp vụ kế toán tương tự. Hàng loạt các thuật ngữ ra đời như hệ thống tài khoản
(accounting system), vốn chủ sở hữu (owner’s equity), nợ phải trả (liability), tài sản
(asset), doanh thu (revenues), chi phí (expenses), thương phiếu phải trả (notes
payable), vay có thế chấp ( mortage payable)…….
Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ghi chép trong sổ sách phải sử dụng các thuật
ngữ liên quan đến tiền, được đo lường bằng tiền (money measure). Các thông tin kế
toán dưới dạng thuật ngữ tài chính được trình bày trong bốn bản báo cáo kế toán, đó
6
là “bảng kê lãi lỗ” (the income statement), “bảng kê vốn chủ sở hữu” (the statement
of owner’s equity), “bảng chu chuyển tiền mặt” (the statement of cash flows) và
“bảng cân đối tài sản” (the balance sheet). Hàng loạt các thuật ngữ kế toán được đặt
ra để gắn vào những “nghiệp vụ kinh tế phát sinh” được trình bày trong các bảng
báo cáo tài chính. Thí dụ như “bảng cân đối tài sản” là bảng dùng để trình bày tình
trạng tài chính vào ngày tháng nhất định nào đó. Ta sẽ thấy hàng loạt các thuật ngữ
được tạo ra để gắn với các “nghiệp vụ kinh tế phát sinh” như: “tài sản cố định”
(fixed assets), “tài sản lưu động” (current assets), “tài sản vô hình” (intangible
assets), “cổ phiếu ở công ty con” (shares in subsidiary), “ký quỹ ngắn hạn” (short
term deposits), “dự phòng nợ và chi phí” (provisions for liabilities and charges),
“tiền bù cổ phiếu” (share premium), “vốn cổ phần huy động” (called up share
capital)……..
Xã hội phát triển, giao dịch trong làm ăn buôn bán càng mở rộng và trở nên
phức tạp; nhất là hiện nay trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cả thế giới hướng tới một
cơ chế kinh tế duy nhất, thuật ngữ càng cần phải được cập nhật thường xuyên. Do
vậy, thuật ngữ kế toán là một hệ thống mở để đón nhận các thuật ngữ mới ra đời.
Thuật ngữ “nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung"(generally accepted
accounting principles (GAAP)) được dùng làm thước đo chung tình hình kinh tế của
mỗi quốc gia trên thế giới hay từng doanh nghiệp trong các quốc gia đó.
Kế toán được coi là một lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong thế giới kinh
doanh hiện đại (Accounting is one of the fastest growing fields in the modern
business world) [157:5]. Nó được coi là “ngôn ngữ kinh doanh” (the language of
business). Trước kia việc xuất hiện của công việc kế toán hoàn toàn là nhu cầu rất
tự nhiên. Các bộ tộc thời trung cổ hay một nhóm thương gia cần đến kế toán chỉ đơn
giản là để quản lý của cải, tài sản mà họ kiếm được. Nhận thức của họ về việc quản
lý của cải của mình cũng rất đơn giản. Doanh nghiệp được tưởng tượng như một cái
hộp đựng tiền hay một cái hồ chứa nước. Do vậy tiền đầu tư vào doanh nghiệp, tiền
vay mượn hay tiền rút ra cũng được miêu tả như dòng nước chảy. Tiền bỏ vào
doanh nghiệp có thuật ngữ tương ứng “inflow of cash” (luồng vốn chạy vào);
7
“cash” là tiền, “inflow” là dòng chảy vào. Tiền rút vốn được gọi là “ outflow of
cash”. “Outflow” là dòng chảy ra. Và cũng từ đây thuật ngữ “cash flow” (chu
chuyển tiền hay dòng ngân lưu) ra đời. Khi nói “cạn kiệt nguồn vốn” người ta dùng
hình tượng “ reservoir runs dry” cũng tương tự như dùng trong trường hợp “ấm đun
cạn hết nước”. Cách hiểu cũng như các thuật ngữ trên vẫn được dùng để ghi chép
các giao dịch thu chi nguồn vốn trong doanh nghiệp ngày nay.
Nếu kế toán chỉ dừng lại ở việc quản lý tài sản sao cho có hiệu quả thì chưa đủ.
Ngày nay do tốc độ phát triển như vũ bão của công việc kinh doanh mang tính
thương mại quốc tế thì việc quản lý đòi hỏi phải đi vào chiều sâu, phải quan tâm
đến chất lượng của hoạt động doanh nghiệp. Kế toán được sử dụng rộng rãi để diễn
giải các hoạt động khác như hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động
tài chính (operating, investing and financing activities). Do vậy cùng với kế toán,
phân tích hoạt động kinh doanh là một trong những công cụ đắc lực để quản lý và
điều hành có hiệu quả các hoạt động doanh nghiệp.
Phân tích hoạt động doanh nghiệp liên quan đến một số môn học mới xuất
hiện chừng vài thập niên trở lại đây, chủ yếu ở các nước có nền kinh tế phát triển
như: “kế toán quản trị” (management accounting), “phân tích báo cáo tài chính”
(the analysis of financial statements), “quản trị tài chính” (financial management).
Để đáp ứng hoạt động phân tích hoạt động doanh nghiệp hàng loạt thuật ngữ mới
xuất hiện. Thí dụ “phân tích tỷ số” (ratio analysis) là một công việc của “phân tích
báo cáo tài chính”. Các tỷ số sẽ rút gọn khối lượng dữ liệu chứa trong “bảng báo
cáo tài chính” thành dạng thực tế để dễ hiểu, dễ sử dụng. Các “nhà quản lý”
(manager) cần phải biết “khả năng thanh khoản” (liquidity), khả năng đáp ứng các
nghĩa vụ ngắn hạn (short term liability) của doanh nghiệp mà họ đang điều hành.
Họ phải quan tâm đến “tỷ số lưu hoạt” (current ratio), đó là kết quả việc so sánh
giữa “tài sản hiện hành” (current assets) và “nợ hiện hành” (current liabilities).Các
“cổ đông"(shareholders) muốn biết “lãi cổ tức” (stock dividend) có được an toàn
hay không, họ phải được cung cấp kết quả qua phân tích “tỷ số bảo chứng lợi nhuận
cổ tức” ( dividend cover) ở nơi mà họ đang bỏ vốn đầu tư. Kết quả của tỷ số dựa
8
vào việc so sánh “lợi nhuận trong năm tài chính” (profit for the finacial year) với
“lãi cổ tức phải chi trả” (dividend payable). Hàng loạt các thuật ngữ mới xuất hiện
để đáp ứng cho các hoạt động này. Thí dụ không chỉ có các nhà quản lý mà cả
những “người làm công” (employee), “con nợ” (debtor), “trái chủ “ (creditor), các
“nhà cung ứng vật tư’” (supplyer) và cả các “công ty cạnh tranh” (rival company)
đều quan tâm đến “tỷ số thời gian thu nợ trung bình” ( average collection period) và
“tỷ số lượng hàng quay vòng” (stock turnover). Các cổ đông, các “nhà tư
vấn”(adviser), các “nhà đầu tư”(investor) quan tâm đến “tỷ số khả năng sinh lời”
(profitability)……..
Giao dịch ngân hàng cũng là hoạt động phổ biến trong hoạt động làm ăn của
doanh nghiệp.”Ngân hàng là thủ quỹ của nền kinh tế”. Điều này trở nên cần thiết
khi nước ta ra nhập WTO. Trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại quốc tế sẽ trở
nên thường xuyên. Trong quá trình hoạt động cũng như tất cả các hoạt động quốc tế
kể cả quan hệ mậu dịch và phi mậu dịch đều cần đến tài chính. Rất nhiều thuật ngữ
ra đời như “tín dụng thư’” (letter of credit (L/C)); “tín dụng thư huỷ ngang” và “tín
dụng thư không huỷ ngang” (revocable L/C, irrevocable L/C); “thư tín dụng giáp
lưng” (back to back L/C); “giao hàng trên tàu” (free on board); “giá hàng, phí bảo
hiểm, cước vận chuyển” (cost, insurance, freight (CIP)); “hối phiếu” (bill of
exchange / draft); “ lệnh phiếu” ( promissory note)…
0.3.2. Tiến trình và kết quả nghiên cứu của thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân
hàng ở Việt Nam
Trong thời kỳ Pháp thuộc, các trường đại học, cao đẳng ra đời nhằm đào tạo tại
chỗ nguồn nhân lực, tầng lớp công chức phục vụ cho chính sách đô hộ của Pháp. Do
vậy, ta chỉ thấy một số trường được thành lập như Đại học Y dược, Thú Y, Pháp
chính, Cao đẳng Sư phạm, Nông lâm Công chính, Thương mại….Các trường này
hợp lại thành Viện Đại học Đông dương và tập trung ở Hà-nội. Chương trình học,
tài liệu giáo khoa ở bậc đại học chủ yếu nhập từ Pháp, giảng dạy bằng tiếng Pháp.
Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Không bao lâu,
ngày 23/9/1945 bắt đầu Nam Bộ kháng chiến và bùng nổ cuộc Toàn quốc kháng
9
chiến chống thực dân Pháp vào ngày 19/12/1946. Mặc dù đây là thời kỳ rất khó
khăn nhưng Đảng ta vẫn gấp rút chuẩn bị nguồn nhân lực có chất luợng cao để xây
dựng đất nước sau này. Ngoài một số trường như Đại học Nông lâm, Công chính,
Mỹ thuật, Thú y…..để phục vụ sản xuất và chiến đấu, Đảng ta cũng đã bắt đầu gửi
lưu học sinh đi học ở các nước Xã hội Chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc…
Sau Hòa bình lập lại năm 1954, các trường đại học được cải tổ, năm trường
theo mô hình mới được khai giảng tại Hà-Nội là: Đại học Tổng hợp, Đại học Bách
khoa, Đại học Y-Dược, Đại học Sư phạm và Đại học Nông lâm. Tiếp theo, một loạt
các trường đại học khác ra đời, trong đó có trường Đại học Tài chính-Kế toán
thành lập vào năm 1964. Đây là một lĩnh vực khoa học còn non trẻ, nhưng cũng có
thuận lợi là trường đã sử dụng các chương trình, giáo trình giảng dạy có sẵn của
Liên Xô, biên dịch, biên soạn lại cho phù hợp. Để phục vụ giảng dạy và tiện cho
sinh viên tra cứu, rất nhiều từ điển Tài chính-Kế toán-Ngân hàng song ngữ NgaViệt ra đời; điều này đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển hệ
thống thuật ngữ của các ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng.
Năm 1996, Trường Đại học Tài chính-Kế toán cùng với Trường Đại học Kinh
tế và khoa Kinh tế Trường Đại học Tổng hợp (cũ) hợp nhất lại thành Trường Đại
học Kinh tế Tp.HCM bây giờ. Cuối những năm 1989-1990 là thời kỳ tan rã của
Liên bang Xô viết, lúc này tiếng Nga không còn là ngoại ngữ được sử dụng chủ yếu
ở các trường đại học, trong số đó có cả Trường Đại học Kinh tế. Tiếng Anh trở
thành ngoại ngữ độc tôn để giảng dạy môn “ngoại ngữ chuyên ngành”; tiếng Pháp
chỉ dùng làm ngoại ngữ thứ hai cho khoa Thương mại Du lịch (ngoại ngữ thứ nhất
là tiếng Anh). Một số giáo viên của trường và các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này
đã chuyển hướng đi tu nghiệp tại các nước phương Tây, vì thế việc du nhập thuật
ngữ từ các ngôn ngữ phương Tây bắt đầu mạnh mẽ.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển như vũ bão của nền kinh tế đất nước trong giai
đoạn mới, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM đã thay đổi chương trình giảng dạy, sử
dụng các chương trình tiên tiến đang được giảng dạy tại các trường đại học lớn trên
thế giới nhằm nhanh chóng hòa nhập với hệ thống đào tạo thế giới, trước hết là các
10
nước trong khu vực. Do đó ảnh hưởng của các thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân
hàng bằng tiếng Anh ngày càng rõ rệt hơn trong các giáo trình cũng như trong các
từ điển Tài chính-Kế toán-Ngân hàng song ngữ Anh-Việt.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới hiện nay, thị trường tài chính
luôn là thị trường sôi động mang tính quyết định sự phát triển bền vững và lớn
mạnh của một nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên ở nước ta, thị trường này mới nhen
nhúm. Do vậy, nhu cầu tìm hiểu, tiếp thu những tri thức mới về lĩnh vực này trở nên
vô cùng cấp bách, đòi hỏi hàng loạt các thuật ngữ ra đời, tuy chưa chính xác nhưng
cũng đáp ứng được vấn đề nắm bắt tri thức khoa học mới. Bất cứ một tài liệu
chuyên ngành nào cũng kèm theo thuật ngữ để giải thích những tri thức khoa học
liên quan. Nhưng vì đây là một mảng tri thức đang còn nhiều mới mẻ, chúng ta
chưa kịp xây dựng cho mình một hệ thống thuật ngữ riêng, mà còn vay mượn nhiều
của nước ngoài, trước kia là của Nga, Pháp, nay là của tiếng Anh. Đây là điều kiện
để thuật ngữ tiếng Anh ào ạt vào Việt Nam.
Chỉ tính riêng các từ điển song ngữ Anh-Việt về lĩnh vực Tài chính-Kế toánNgân hàng những năm 90 của thế kỷ trước cho tới nay đã có những quyển sau:
1. 1985: Nguyễn Đức Dy, Đỗ Mộng Hùng, Vũ Hữu Tửu, Vũ Hoài Thủy, Từ
điển Ngoại thương Anh-Việt, Trường Đại học Ngoại thương.
2. 1992: Nguyễn Thị Ái Nguyệt, Nguyễn Tùng Lâm, Từ điển Anh-Việt
Thương mại-Tài chính-Ngân hàng Anh-Việt, Nxb Thế giới – Nxb Mũi Cà
Mâu
3. 1994 : Trần Ngọc Thịnh, Từ điển Quản lý Kinh doanh Tài chính, Nxb Thế
giới.
4. 1996 : Công ty dịch thuật Quốc tế, Từ điển Việt-Anh Thương mại–Tài chính
thông dụng, Nxb Thống kê.
5. 1997: Ninh Hùng, Quang Minh, Từ điển Anh-Việt thương mại quốc tế, Nxb
Trẻ.
6. 2001: Trần Văn Chánh, Từ điển Kinh tế thương mại Anh-Việt, Nxb Đà
nẵng.
11
7. 2003: Đỗ Hữu Châu, Từ điển thuật ngữ Tài chính Quốc tế Anh Việt, Nxb
Thanh niên.
8. 2003: Lê Văn Tề, Từ điển Kinh tế-Tài chính-Ngân hàng Anh-Việt, Nxb
Thanh niên
9. 2003: Khải Nguyên, Văn Hạnh, Từ điển Kế toán-Kiểm toán-Thương mại
Anh-Việt, Nxb Thống kê.
Nhìn chung, chúng ta có thể nêu ra một số nhận định như sau về thuật ngữ
Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Việt:
a)
Bên cạnh những đặc điểm chung với nhiều hệ thống thuật ngữ khoa học xã hội
và nhân văn khác của Việt Nam, hệ thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng
Việt còn có các đặc điểm riêng của mình. Do sự phát triển mạnh mẽ những năm gần
đây để đáp ứng kịp thời sự thay đổi của nền kinh tế, có những thuật ngữ được cấu
tạo chưa chuẩn xác, chưa trong sáng tiếng Việt là điều không tránh khỏi.
b)
Thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng dùng ở Việt Nam chủ yếu là qua con
đường vay mượn các thuật ngữ nước ngoài theo các phương thức phổ biến là:
chuyển dịch, phiên âm, chuyển tự và mượn nguyên dạng.
c)
Về nguồn gốc, các thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng dùng ở Việt Nam
phần lớn được tạo lập từ các yếu tố Hán-Việt (thí dụ: kinh tế, thương mại, tài chính,
ngân hàng,..). Trong số 1500 thuật ngữ liệt kê trong phụ lục, chúng tôi đã tìm thấy
khoảng 90% số lượng các thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng được cấu tạo từ
các yếu tố Hán Việt. Các yếu tố thuần Việt rất ít, chỉ khoảng dưới 10%.
d)
Các thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Việt được hình thành từ lối
phiên chuyển các thuật ngữ Anh-Mỹ ngày càng nhiều, thí dụ: “chống độc quyền”
hay “chống tơ-rớt” (antitrust), “nhãn” hay “mác” (brand mark), ”chế độ hạn ngạch”
hay “chế độ cô ta” (quota system)……
Có tình hình sử dụng song song thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng
tiếng Việt và thuật ngữ phiên chuyển từ tiếng Anh/Mỹ, thí dụ: marketing → tiếp thị,
bán hàng online → bán hàng trên mạng, down giá → hạ giá, lãi suất hot → lãi
suất cao …
12
Qua tìm hiểu tiến trình và kết quả nghiên cứu thuật ngữ Tài chính-Kế toánNgân hàng hai thứ tiếng Anh, Việt ta có thể nhận thấy thuật ngữ trong lĩnh vực khoa
học này của tiếng Việt còn quá non trẻ so với bề dày lịch sử của thuật ngữ loại này
trên thế giới. Chính vì điều này mà cho tới nay ta vẫn phải vay mượn thuật ngữ
nước ngoài. Để tiến tới một nền kinh tế duy nhất trên thế giới, cần phải có một tiếng
nói chung, một sự chuẩn mực chung, một sự hiểu biết thống nhất về các khái niệm
khoa học trong lĩnh vực này. Do vậy, việc đi tắt đón đầu để nhanh chóng tiếp cận
nền văn minh nhân loại bằng việc xây dựng riêng cho mình một hệ thống thuật ngữ
Tài chính-Kế toán-Ngân hàng vừa quốc tế, vừa đậm đà bản sắc dân tộc nhưng vẫn
bảo đảm tính chính xác, khoa học là điều cần quan tâm hiện nay.
0.4. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
0.4.1. Đối tượng nghiên cứu
là các đặc điểm về hình thức và các đặc điểm về nội dung của thuật ngữ chuyên
ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt.
0.4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là tiến hành khảo sát, so sánh đối chiếu các
thuật ngữ chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt về
hai phương diện hình thức và nội dung. Nhiệm vụ nghiên cứu tập trung vào:
• Đặc điểm của thuật ngữ khoa học : tính chính xác, tính hệ thống, tính
quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng
• Đơn vị cấu tạo nhỏ nhất của thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
• Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
• So sánh đặc điểm cấu tạo thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
• Đặc điểm khái niệm của thuật ngữ tiếng Anh trong so sánh với tiếng Việt
Qua quá trình trên, luận án cố gắng tìm ra đặc điểm loại hình tiếng Anh và tiếng
Việt đã chi phối như thế nào những sự tương đồng và dị biệt về cấu tạo và ngữ
nghĩa của thuật ngữ hai thứ tiếng. Từ đó ta có thể đưa ra được các mô hình cấu tạo
thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt nhằm góp phần xây
13
dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng
tiếng Việt hiện nay. Công việc cụ thể
1) Hệ thống lại các quan điểm lý thuyết về thuật ngữ khoa học nói chung và
lý luận về thuật ngữ khoa học ở Việt Nam nói riêng.
2) Khảo sát một cách hệ thống và miêu tả, phân tích cụ thể các đặc điểm về
hình thức và về nội dung của thuật ngữ chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng
tiếng Anh và tiếng Việt; làm rõ những sự tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống
thuật ngữ này về hai phương diện hình thức và nội dung; trong đó chỉ rõ các đặc
điểm loại hình của tiếng Anh và tiếng Việt đã chi phối như thế nào những sự tương
đồng và dị biệt này.
3) Dựa trên các kết quả thu được, luận án đưa ra một số đề xuất, kiến nghị
mang tính lý luận đối với việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống thuật ngữ
Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Việt hiện nay.
0.4.3. Phạm vi nghiên cứu
là 1500 thuật ngữ chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh đối chiếu
với tiếng Việt (xin xem phần phụ lục).
0.5.Tư liệu và phương pháp nghiên cứu
0.5.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu được rút ra từ những từ điển sau:
1.
Từ điển Kế toán-Kiểm toán-Thương mại Anh-Việt, biên soạn: Khải Nguyên,
Văn Hạnh, Nhà xuất bản Thống kê 2003.
2.
Từ điển thuật ngữ Tài chính Quốc tế Anh-Việt, biên soạn Đỗ Hữu Châu, Nhà
xuất bản Thanh niên 2003.
3.
Từ điển Kinh tế-Tài chính-Ngân hàng, biên soạn Lê Văn Tề, Nhà xuất bản
Thanh niên 2003.
4.
Từ điển Kinh tế thương mại Anh-Việt, biên soạn Trần Văn Chánh, Nhà xuất
bản Đà Nẵng 2001.
5.
Từ điển Quản lý kinh doanh tài chính, biên dịch Trần Ngọc Thịnh, Nhà xuất
bản Thế giới 1994.
14
6.
Từ điển Việt-Anh Thương mại-Tài chính thông dụng, Công ty dịch thuật quốc
tế, Nhà xuất bản Thống kê 1996.
7.
Bên cạnh đó, tư liệu dùng cho việc nghiên cứu còn được lấy ra từ các sách,
báo, tạp chí trong và ngoài nước, các thông tin cập nhật trên Website (Terminology
from Wikipedia, the free encyclopedia) và các giáo trình tiếng Anh chuyên ngành
Tài chính-Kế toán-Ngân hàng đang giảng dạy ở Trường Đại học Kinh tế, Học viện
Ngân hàng, Trường Đại học KHXH và Nhân văn, tài liệu, giáo trình chương trình
“Diploma of bussiness administration” của Úc…….
0.5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các nhiệm vụ đã đề ra ở trên, luận án sẽ sử dụng những phương
pháp nghiên cứu sau đây:
1. Phương pháp phân tích, miêu tả :
Phân tích đặc điểm cấu tạo thuật ngữ nhằm rút ra nhận xét về đặc điểm cấu tạo
thuật ngữ của tiếng Anh và tiếng Việt. Phân tích nội dung của các thuật ngữ nhằm
biết được tính chính xác của các thuật ngữ hai thứ tiếng.
2. Phương pháp so sánh đối chiếu
So sánh đối chiếu được coi là một phương pháp rất cần thiết để tìm ra sự
giống nhau và khác nhau giữa hai ngôn ngữ nói chung và hai hệ thuật ngữ chuyên
ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt nói riêng. Thông qua
phương pháp so sánh đối chiếu, ta có thể phát hiện ra những ảnh hưởng và những
khó khăn chủ yếu của việc chuyển dịch thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng
tiếng Anh sang tiếng Việt, qua đó có thể đưa ra cách thức giải quyết thích hợp nhất.
3. Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê được sử dụng để nghiên cứu các lĩnh vực khoa học nói
chung và ngôn ngôn ngữ nói riêng. Phương pháp thống kê thực chất là phương pháp
phân tích định lượng. Phương pháp phân tích định lượng giúp ta tính toán tần số sử
dụng các hiện tượng được nghiên cứu để từ đó có được số liệu cần thiết làm cơ sở
xác thực cho những kết luận trong quá trình nghiên cứu của luận án. Kết quả thống
kê được tổng hợp lại thành các bảng biểu. Các con số thống kê được biểu hiện bằng
15
các mô hình, tỷ lệ phần trăm cho phép ta đánh giá được đại lượng đã thu được từ
góc độ ngẫu nhiên hay có tính quy luật giúp ta hình dung dễ dàng hơn về nét đặc
trưng cơ bản của cấu trúc hình thức và cấu trúc ngữ nghĩa cũng như phương thức
cấu tạo từ của thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt.
0.6. Cái mới của luận án
Luận án đã nêu ra được những đặc điểm về cấu tạo hình thức của thuật ngữ
Tài chính – Kế toán – Ngân hàng bằng tiếng Anh và tiếng Việt.
Luận án chỉ ra được những phương thức cấu tạo giống và khác nhau trong hệ
thuật ngữ này ở hai thứ tiếng Anh,Việt.
Ngoài ra, luận án còn đưa ra những nhận xét về khả năng biểu thị nghĩa chính
xác ở mức độ nào khi sử dụng hệ thuật ngữ này bằng hai thứ tiếng. Đây chính là cơ
sở để người Việt Nam hướng tới việc xây dựng một hệ thuật ngữ chuyên ngành
bằng tiếng Việt bảo đảm tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế, tính dân tộc và
tính đại chúng.
Từ những kết quả phân tích, nghiên cứu các tư liệu thu thập được, luận án đưa
ra những đề xuất đối với việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thuật ngữ Tài
chính-Kế toán-Ngân hàng trong tiếng Việt, tiến tới hoàn thiện nó và những đề xuất
về vấn đề giảng dạy thuật ngữ khoa học nước ngoài tại Việt Nam, đặc biệt là việc
chuẩn hóa nó .
0.7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài
0.7.1. Ý nghĩa khoa học
Những kết quả của luận án đã góp thêm luận cứ cho lý luận xây dựng thuật ngữ
khoa học bằng từ ngữ tiếng Việt ở Việt Nam.
Dựa vào những kết quả nghiên cứu, luận án có thể đề ra những phương thức đặt
thuật ngữ ngành Tài chính – Kế toán – Ngân hàng bằng từ ngữ tiếng Việt trên cơ sở
bảo đảm các tiêu chuẩn của thuật ngữ là tính khoa học, tính hệ thống, tính quốc tế,
tính dân tộc và tính đại chúng.
16
Qua những kết quả nghiên cứu, luận án lựa chọn, đưa ra mô hình cấu tạo thuật
ngữ thích hợp nhất (có thể là từ, có thể là cụm từ) sao cho phù hợp với loại hình
ngôn ngữ và nguyên tắc cấu tạo từ của tiếng Việt.
Dựa vào kết quả nghiên cứu, luận án có thể lựa chọn cách chuyển dịch thuật
ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt theo cách thích hợp nhất, hiệu quả nhất, mang đậm
nét bản sắc văn hóa dân tộc.
Những kết quả của luận án cũng cho thấy tiếng Việt của chúng ta có đủ khả
năng tạo riêng cho mình một hệ thống thuật ngữ khoa học nói chung và thuật ngữ
Tài chính-Kế toán-Ngân hàng nói riêng. Đây là đề tài nghiên cứu ứng dụng lý
thuyết vào thực tiễn xây dựng thuật ngữ khoa học ở Việt Nam, cho nên về mặt khoa
học, đề tài này đã hệ thống lại và xây dựng mô hình cấu tạo và đặc điểm về tính quy
luật của sự hình thành và phát triển thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng.
0.7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án là công trình đầu tiên ở cấp độ luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học so sánh
thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng tiếng Anh với tiếng Việt.
Những kết quả của luận án có thể coi như một công cụ hữu hiệu trong việc phân
tích và lựa chọn phương thức chuyển dịch một thuật ngữ thuộc lĩnh vực Tài chínhKế toán-Ngân hàng tiếng Anh sang tiếng Việt một cách có cơ sở khoa học và chính
xác dựa trên nền tảng định lượng và ứng dụng mô hình toán học. Từ đây có thể
hoàn thiện và mở rộng ứng dụng các lý luận vào thực tiễn xây dựng thuật ngữ khoa
học nói chung và thuật ngữ chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng nói riêng.
Những kết quả của luận án cũng sẽ chứng minh tiếng Việt có đủ khả năng xây
dựng một hệ thống thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng riêng cho mình, mang
đặc điểm tiếng Việt cả về ngữ âm, ngữ pháp, cấu tạo, chính tả. Điều này rất cần
thiết trong giai đoạn hiện nay, khi mà Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên
thứ 150 của WTO, do vậy việc nắm bắt thông tin khoa học thực hiện bằng chính
tiếng Việt (chứ không phải chỉ bằng tiếng Anh), để tự tin hòa nhập vào cộng đồng
thế giới và khu vực là điều cấp bách và thiết thực hiện nay.
17
0.8. Bố cục luận án
Ngoài phần “mở đầu” và phần “kết luận”, luận án có bốn chương như sau:
1.
Cơ sở lý luận
Khái quát các đặc điểm ngôn ngữ của thuật ngữ khoa học nói chung,
chỉ ra những vấn đề lý luận trong việc xây dựng thuật ngữ khoa học tiếng
Việt, nêu lên những khái niệm về thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân
hàng.
2.
So sánh đặc điểm cấu tạo hình thức
Hệ thống hóa các đặc điểm cấu tạo hình thức của thuật ngữ Tài chính –
Kế toán – Ngân hàng, chỉ ra một số đặc điểm tương đồng và khác biệt về đặc
điểm cấu tạo hình thức của thuật ngữ ở lĩnh vực này trong hai thứ tiếng Anh,
Việt
3.
So sánh đặc điểm ngữ nghĩa
Hệ thống hóa các đặc điểm cấu tạo ngữ nghĩa của thuật ngữ Tài chính –
Kế toán – Ngân hàng trong tiếng Anh và tiếng Việt, chỉ ra một số tương đồng
và khác biệt về đặc điểm cấu tạo ngữ nghĩa của thuật ngữ loại này trong hai
thứ tiếng Anh, Việt.
4. Tính quy luật của việc xây dựng hệ thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân
hàng tiếng Việt
Đề xuất một số ý kiến về việc xây dựng và hoàn thiện hệ thuật ngữ Tài
chính– Kế toán – Ngân hàng bằng tiếng Việt.
Qua tri thức kinh nghiệm và thực tế khách quan trong việc dạy và
học ngoại ngữ theo xu hướng lấy người học làm trung tâm hiện nay, luận
án nêu lên một số bước trong việc truyền thụ của người dạy cũng như khả
năng hấp thụ của người học trong việc hiểu và sử dụng thuật ngữ khoa học
bằng tiếng Anh.
18
CHƯƠNG MỘT : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Đặc điểm cơ bản của thuật ngữ khoa học
Như chúng ta đã biết, từ lâu đã có nhiều công trình trên thế giới và trong nước
nghiên cứu về “thuật ngữ”. Nói đến thuật ngữ người ta thường nhắc đến tên tuổi
một số nhà thuật ngữ học nổi tiếng như E.Wuster (Đức), J.C.Boulanger (Anh),W.E.
Flood, R.W. Brown (Mỹ) và đáng chú ý là một số là nhà ngôn ngữ học Liên Xô
trước đây và Nga hiện nay.
Chúng tôi đã cố gắng cập nhật một số tư liệu lý luận mới đây, chủ yếu là của
Nga, để bổ sung thêm vào quan niệm hiện nay về các thuật ngữ khoa học. Nguồn tư
liệu chính là hai cuốn :
-
Terminovedenie: Predmet, metody, structura (Thuật ngữ học: Đối tượng,
phương pháp, cấu trúc), in năm 2007, tái bản lần thứ ba, của tác giả V.M.Leichik.
-
Obshaja terminologhija: Voprosy teorii (Thuật ngữ học đại cương: Những
vấn đề lý thuyết) in năm 2007, tái bản lần thứ tư,của ba tác giả là A.V.
Superanskaja, N.V. Podolskaja, N.V. Vasileva.
Theo các tác giả này thì có thể định nghĩa về thuật ngữ như sau:
-
“Thuật ngữ là đơn vị từ vựng của một thứ ngôn ngữ nhất định dùng cho những
mục đích chuyên môn, nó biểu thị một khái niệm lý thuyết chung - cụ thể hay trừu
tượng của một lĩnh vực tri thức hay hoạt động chuyên môn nhất định”(Leichik,
tr.31-32).
-
“Thuật ngữ là từ (hay cụm từ) chuyên môn, được thừa nhận trong hoạt động
chuyên ngành và được sử dụng trong những điều kiện đặc biệt. Thuật ngữ là sự
biểu đạt bằng từ ngữ một khái niệm của một hệ thống các khái niệm thuộc một lĩnh
vực tri thức chuyên ngành nhất định. Thuật ngữ là yếu tố khái niệm cơ sở của thứ
ngôn ngữ dùng cho các mục đích chuyên môn”
( Superanskaja, Podolskaja và Vasileva, tr.14).
Trong luận án này, chúng tôi sẽ áp dụng quan niệm trên về thuật ngữ để khảo
sát các thuật ngữ Tài chính – Kế toán – Ngân hàng của tiếng Anh và tiếng Việt.