Thị trường chứng khoán Việt Nam
MỤC LỤC
PHẦN I. KHÁI QUÁT THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
I. Chứng khoán và thị trường chứng khoán
II. Chức năng của thị trường chứng khoán
III. Vị trí và cấu trúc của thị trường chứng khoán
IV. Vai trò của thị trường chứng khoán
V. Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán
VI. Các thành phần tham gia thị trường chứng khoán
VII. Các vấn đề liên quan đến thị trường chứng khoán
VIII. Nguyên tắc CAN SLIM trong đầu tư chứng khoán.
Trang
2
2
5
6
8
10
11
12
20
PHẦN II. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
I. Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam
II. Các giai đoạn phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
23
23
24
PHẦN III. HIỆN TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
33
33
35
37
38
I. Hiện trạng thị trường chứng khoán VIệt Nam
II. Những hạn chế của thị trường chứng khoán
III. Những nguyên nhân tồn tại.
IV. Giải pháp cho sự phát triển bền vững
08NH1
1
Thị trường chứng khoán Việt Nam
PHẦN I
KHÁI QUÁT THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
I. CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Lịch sử hình thành và phát triển thị trường chứng khoán trên Thế giới
Thị trường chứng khoán là yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại. Đến nay,
hầu hết các quốc gia có nền kinh tế phát triển đều có thị trường chứng khoán. Thị trường
chứng khoán đã trở thành một định chế tài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế
của những nước theo cơ chế thị trường.
Vào khoảng giữa thế kỷ thứ 15 ở tại thành phố trung tâm buôn bán của phương Tây, các
thương gia thường tụ tập tại một số khu như quán cafe để trao đổi mua bán các loại hàng hóa
như nông sản, khoáng sản, tiền tệ và các chứng từ có giá. Điểm đặc biệt ở đây là các thương
gia chỉ giao dịch với nhau bằng lời nói, không có hàng hóa thật. Những cuộc thương lượng
này nhằm thống nhất với nhau các hợp đồng trao đổi mua bán ngay hoặc cho tương lai.
Những cuộc trao đổi này ban đầu chỉ là một nhóm người và sau đó đông dần cho đến khi nó
thực sự thành một khu chợ riêng. Thời gian họp chợ lúc đầu là hàng tháng, sau đó là hàng
tuần rồi rút ngắn còn hàng ngày. Trong các phiên họp chợ tại đây các thương gia thống nhất
với nhau các quy ước cho việc thương lượng và sau này trở thành những quy tắc có giá trị bắt
buộc với những ai muốn tham gia thị trường và thị trường chứng khoán hình thành từ đó.
Buổi họp đầu tiên diễn ra năm 1943 tại một lữ quán của gia đình Vanber tại thành phố
Bruges (Vương quốc Bỉ). Trước lữ quán có 1 bảng hiệu vẽ hình ba túi da và chữ. Ba túi da
tượng trưng cho họ ba nội dung của thị trường chứng khoán: thị trường hàng hoá, thị trường
ngoại tệ, và thị trường chứng khoán động sản, còn chữ “Bourse” có nghĩa là mậu dịch thị
trường hay còn gọi là “nơi buôn bán chứng khoán”.
Đến năm 1547, thị trường ở thành phố Bruges sụp đổ do cửa biển Envin - nơi dẫn các
tàu thuyền vào buôn bán tại thành phố bị cát biển lấp mất. Tuy nhiên vào năm 1531, thị
trường này đã được dời đến thành phố cảng Anvers (Bỉ). Từ đó, thị trường này phát triển
nhanh chóng. Một thị trường như vậy cũng được thành lập tại London (Vương quốc Anh ) thế
kỷ 18 và sau đó là một loạt thị trường ra đời tại Pháp, Đức, Ý và một số nước Bắc Âu và Mỹ
cũng được thành lập. Sau một thời gian hoạt động, thị trường đã chứng tỏ khả năng không
đáp ứng được yêu cầu cả ba loại giao dịch khác nhau. Vì thế, thị trường hàng hoá được tách
thành các khu thương mại, thị trường ngoại tệ được tách ra và phát triển thành thị trường hối
đoái. Thị trường chứng khoán động sản trở thành thị trường chứng khoán
Như vậy, thị trường chứng khoán xuất hiện từ thế kỷ thứ 15. Sự hình thành thị trường
chứng khoán cũng đồng thời với thị trường hối đoái và một số thị trường khác.
Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán thế giới đã trải qua những
giai đoạn thăng trầm. Thời kỳ huy hoàng nhất là vào những năm 1875 đến 1913, thị trường
chứng khoán trong thời kỳ này phát triển mạnh cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Nhưng đến “ngày thứ sáu đen tối” vào ngày 29-10-1929 là mở đầu cuộc khủng hoảng của
thị trường chứng khoán New York, từ đó cuộc khủng hoảng kéo sang các thị trường chứng
khoán Tây Âu, Bắc Âu và Nhật Bản bị sụp đổ chỉ trong vài giờ. Sau thế chiến thứ hai, thị
trường chứng khoán phục hồi và phát triển mạnh. Nhưng rồi cuộc khủng hoảng tài chính
19/10/1987 (ngày thứ hai đen tối) một lần nữa đã làm cho thị trường chứng khoán thế giới
08NH1
2
Thị trường chứng khoán Việt Nam
suy sụp nặng nề. Cuộc khủng hoảng này để lại hậu quả nghiêm trọng hơn cuộc khủng hoảng
năm 1929. Theo quy luật tự nhiên, sau hơn hai năm mất lòng tin, thị trường chứng khoán thế
giới tiếp tục đi vào hoạt động ổn định, phát triển. Cứ mỗi lần khủng hoảng như vậy, giá
chứng khoán của tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới sụt kinh khủng. Tuy ở mỗi
khu vực và mỗi nước ở mức độ khác nhau gây ra sự ngừng trệ cho thị trường chứng khoán
toàn cầu và cũng ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế mỗi nước.
Tháng 7/1997, thị trường chứng khoán ở các nước Châu Á sụt giá, mất lòng tin bắt đầu
từ Thái Lan, Inđonexia – hoạt động trì trệ một thời gian do thiếu hàng hóa và do không được
quan tâm đúng mức. Thị trường Philippine kém hiệu quả do thiếu sự chỉ đạo và quản lý thống
nhất hoạt động của 2 sở giao dịch chứng khoán Makita và Manila ...
Đến nay thị trường chứng khoán các nước phát triển mạnh mẽ về số lượng thị trường
chứng khoán lên đến 160 sở giao dịch phân tán khắp các châu lục, chất lượng hoạt động thị
trường ngày càng đáp ứng cho số đông những nhà đầu tư trong và ngoài nước, tiến tới thị
trường chứng khoán hội nhập khu vực và quốc tế.
Hiện nay thị trường chứng khoán đã phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước công nghiệp
hàng đầu Mỹ, Nhật, Anh, Đức, Pháp…Bên cạnh đó hơn 40 nước phát triển đã thiết lập thị
trường chứng khoán cũng đã hình thành ở các nước láng giềng Việt Nam như Singapore,
Malaysia, Thái Lan, Philipin và Indonexia và Việt Nam cũng đã có trung tâm giao dịch thị
trường chứng khoán thành phố Hồ chí Minh (7/2000) và Hà Nội.
Có thể nói, Thị trường chứng khoán là một định chế tài chính không thể thiếu được
trong đời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị trường và nhất là những nước đang
phát triển, đang cần thu hút luồng vốn lớn dài hạn cho nền kinh tế quốc dân
2. Các khái niệm cơ bản của thị trường chứng khoán
2.1. Chứng khoán
a) Khái niệm
Chứng khoán là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng, xác định số vốn
đầu tư ; chứng khoán xác định quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ hợp pháp, bao gồm các điều
kiện về thu nhập và tài sản trong một thời hạn nào đó.
Chứng khoán do chính phủ, chính quyền địa phương và các công ty phát hành với mức
giá nhất định. Sau khi phát hành, các chứng khoán có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên
thị trường chứng khoán với các mức giá khác nhau tùy thuoccj vào cung và cầu trên thị
trường
b) Phân loại
Cổ phiếu là loại chứng khoán vốn được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán
ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với tài sản hoặc vốn của một công ty
cổ phần. Cổ phiếu là công cụ tài chính có thời hạn thanh toán là vô hạn.
-Cổ phiếu thường : là cổ phiếu xác định quyền sở hữu của cổ đông trong công ty. Cổ
phiếu thường được đặc trưng bởi quản lý, kiểm soát công ty. Cổ đông sở hữu cổ phiếu thường
được tham gia bầu hội đồng quản trị, tham gia bỏ phiếu quyết định các vấn đề lớn của công
ty. Cổ tức của cổ phiếu thường được trả khi hội đồng quản trị công bố. Khi công ty giải thể
hoặc phá sản, cổ đông sở hữu cổ phiếu thường sẽ được chia số tiền còn lại sau khi thanh toán
các khoản nợ và thanh toán cho cổ phiếu ưu đãi.
-Cổ phiếu ưu đãi : là cổ phiếu có cổ tức xác định được thể hiện bằng số tiền được in trên
cổ phiếu hoặc theo tỷ lệ phần trăm cố định so với mệnh giá cổ phiếu. Cổ phiếu ưu đãi thường
08NH1
3
Thị trường chứng khoán Việt Nam
được trả cổ tức trước các cổ phiếu thường. Cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi không được tham
gia bỏ phiếu bầu ra hội đồng quản trị. Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ phiếu ưu đãi được
ưu tiên thanh toán trước các cổ phiếu thường.
Trái phiếu, điển hình của chứng khoán nợ là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ
của người phát hành (người đi vay) phải trả cho người đứng tên sở hữu chứng khoán (người
cho vay) một khoản tiền nhất định bao gồm cả vốn lẫn lãi trong những khoảng thời gian cụ
thể.
Trái phiếu có thể phân theo nhiều tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào chủ thể phát hành: trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa phương (do chính
phủ và địa phương phát hành) và trái phiếu công ty (do công ty phát hành)
- Căn cứ vào cách thức trả lãi, trái phiếu được chia thành các loại sau:
+ Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại trái phiếu được thanh toán cố định theo kỳ
+ Trái phiếu với lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà khoản lãi thu được thay đổi theo
sự biến động của lãi suất thị trường hoặc bị chi phối bởi biểu giá, chẳng hạn như giá bán lẻ.
+ Trái phiếu chiết khấu: là loại trái phiếu không trả thường và được bán theo nguyên
tắc chiết khấu. Tiền thưởng cho việc sở hữu trái phiếu nằm dưới dạng lợi nhuận do vốn đem
lại hơn là tiền thu nhập (nó là phần chênh lệch giữa giá trị danh nghĩa- mệnh giá trái phiếu và
giá mua)
- Trái phiếu có đảm bảo và trái phiếu không có đảm bảo.
Ngoài ra, trên thị trường chứng khoán còn phát hành hình thức hỗn hợp chứng khoán
nhằm thích ứng với nhu cầu đặc biệt của thị trường vốn. Chứng khoán hỗn hợp có những loại
chủ yếu sau:
Trái phiếu công ty có khả năng chuyển đổi : Loại trái phiếu này có một mức lãi suất cố
định, ngoài ra nó còn đảm bảo cho người quyền sở hữu quyền đổi trái phiếu thành cổ phiếu
trong một thời hạn với những điều kiện xác định. Giá trị của quyền chuyển đổi không chỉ phụ
thuộc vào quyền chuyển đổi mà còn phụ thuộc vào chất lượng cổ phiếu của công ty.
Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu : Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu tương tự như trái
phiếu nói chung nhưng ngoài khoản lợi tức cố định được nhận, nó còn có quyền mua một số
lượng cổ phiếu nhất định của công ty đang phát hành với một tỷ lệ và thời hạn ưu đãi đối với
cổ đông thực thụ. Loại chứng khoán này có một “chứng chỉ quyền mua” được tách ra sau khi
phát hành chứng khoán. Về nguyên tắc “chứng chỉ quyền mua “ thị trường chứng khoán tách
ra sau khi phát hành chứng khoán một thời gian và được lưu thông độc lập trên thị trường.
Trái phiếu thu nhập bổ sung : Loại chứng khoán này đảm bảo một khoản lợi tức cố định
nhưng người sở hữu có thể nhận được một khoản thu nhập bổ sung theo sự dao động tăng
của cổ tức mà các cổ đông được hưởng.
c) Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán
- Chứng quyền : là giấy xác nhận quyền được mua cổ phiếu mới phát hành tại mức giải
tường bán ra của công ty. Các chứng quyền thường được phát hành cho cổ đông cũ, sau đó
chúng có thể được đem ra giao dịch
- Chứng khế : là các giấy tờ được phát hành kèm theo các trái phiếu, trong đó xác nhận
quyền được mua cổ phiếu theo những điều kiện nhất định.
- Chứng chỉ thụ hưởng : là giấy tờ xác nhận quyền lợi của khách hàng là những nhà đầu
tư cá nhân trong các quỹ đầu tư nhất định. Chứng chỉ này có thể được mua bán, giao dịch trên
thị trường chứng khoán như các giấy tờ có giá trị khác. Chứng chỉ này do công ty tín thác đầu
08NH1
4
Thị trường chứng khoán Việt Nam
tư hay các quỹ tương hỗ phát hành ( là tổ chức chuyên nghiệp thực hiện đầu tư theo sự ủy
nhiệm của khách hàng)…
2.2 Thị trường chứng khoán là gì?
Thị trường chứng khoán là một thị trường mà nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng,
trao đổi các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ phái sinh,…bao gồm cả
chứng khoán niêm yết công khai trên sàn giao dịch chứng khoán và chứng khoán giao dịch
không công khai, nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên, đó có thể là thị trường chứng khoán
tập trung hoặc phi tập trung. Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc giao dịch được tổ
chức tập trung theo một địa điểm vật chất.
Hình thái điển hình của thị trường chứng khoán tập trung là Sở giao dịch chứng khoán
(Stock exchange). Tại sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch được tập trung tại một địa
điểm, các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình
thành lên giá giao dịch.
Thị trường chứng khoán phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter).
Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán
phân tán khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá trên thị trường này được
hình thành theo phương thức thỏa thuận.
Hàng hóa chủ yếu trên các sàn giao dịch chứng khoán lớn thường là cổ phiếu, còn trái
phiếu và các công cụ phái sinh khác hay được mua bán trên thị trương OTC hơn. Quy mô
chứng khoánủa thị trường trái phiếu toàn cầu được ước tính vào khoảng 45.000 tỷ USD, còn
quy mô của thị trường cổ phiếu vào khoảng phân nửa con số đó. Quy mô của thị trường
chứng khoán phái sinh vào khoảng 300.000 tỷ USD, tuy nhiên ngời ta không so sánh nó trực
tiếp với hai thị trường trên vì đó chỉ là giá trị danh nghĩa của chúng, trong khi các con số nói
trước đó là giá trị thực của cổ phiếu, trái phiếu.
II. CHỨC NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ
được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội.
Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy
động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ
các nhu cầu chung của xã hội.
2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với
các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính
chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn hàng hóa phù hợp với khả
năng, mục tiêu và sở thích của mình.
3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở
hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là
một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho
thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán hoạt động càng năng
động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng
cao.
4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
08NH1
5
Thị trường chứng khoán Việt Nam
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng
hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh
chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
5. Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chỉ báo của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tế cách nhạy
bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế
tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh
tế. Vì thế, thị trường chứng khoán được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công
cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua thị trường
chứng khoán, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù dắp
thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số
chính sách, biện pháp tác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư đảm bảo
cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế
III. VỊ TRÍ VÀ CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Vị trí của thị trường chứng khoán trong thị trường tài chính
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính. Đó là một thị trường
vốn dài hạn được dặc trưng bởi quan hệ mua bán các loại cổ phiếu và trái phiếu.
Thị trường chứng khoán là hình ảnh đặc trưng của thị trường vốn
Thị trường tiền tệ
Thị trường vốn
Thị trường chứng
khoán
Thời gian đáo hạn
1 năm
t
Như vậy, trên thị trường chứng khoán giao dịch 2 loại công cụ tài chính: công cụ tài
chính trên thị trường vốn và công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ.
Thị trường chứng khoán là hạt nhân trung tâm của thị trường tài chính nơi diễn ra quá
trình phát hành, mua bán công cụ Nợ và công cụ Vốn (các công cụ sở hữu).
08NH1
6
Thị trường chứng khoán Việt Nam
TT Nợ
TT Trái phiếu
TT Vốn cổ phần
TT Cổ Phiếu
2. Cấu trúc và phân loại của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩm tài chính
(cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng… có kỳ hạn trên một năm). Sau đây là một số
cách phân loại thị trường chứng khoán cơ bản:
a. Xét về phương diện pháp lý
- Thị trường chứng khoán tập trung: là thị trường hoạt động theo đúng các quy định của
pháp luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được dăng biểu hay đặc biệt được biểu lệ.
Chứng khoán đăng biểu là chứng khoán đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép bảo
đảm, phân phối và mua bán qua trung gian các kinh kỷ và công ty kinh kỷ, tức là đã hội đủ
tiêu chuẩn quy định.
Chứng khoán biểu lệ là chứng khoán do Chính phủ hoặc các cơ quan công quyền phát
hành và bảo đảm. Loại chứng khoán này được miễn giấy phép của cơ quan có thẩm quyền.
- Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC): Là thị trường mua bán chứng khoán nằm
ngoài sở giao dịch, không có địa điểm tập trung những nhà môi giới, những người kinh doanh
chứng khoán như tại sở giao dịch. Các giao dịch ở đây chủ yếu là dựa vào sự thỏa thuận giữa
người mua và người bán, không có sự kiểm soát từ Hội đồng Chứng khoán.
Các loại chứng khoán mua bán ở đây thường những chứng khoán không được đăng
biểu, ít người biết đến hoặc ít được mua bán.
b. Xét về quá trình luân chuyển chứng khoán:
- Thị trường sơ cấp: còn gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành, hàm ý chỉ
nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán mới phát hành lần đầu. Trên thị trường này,
vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các
chứng khoán mới phát hành.Thị trường sơ cấp là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành.
- Thị trường thứ cấp: còn gọi là thị trường cấp hai hay thị trường lưu thông, là nói đến
nơi diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán sau khi đã phát hành lần đầu. Nói cách khác
thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã phát hành qua thị
trường sơ cấp.
Điểm khác nhau căn bản giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp không phải là sự
khác nhau về hinhg thức mà là sự khác nhau về nội dung, về hình thức mà là sự khác nhau về
nội dung, về mục đích của từng loại thị trường. Bởi lẽ, việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu
ở thị trường sơ cấp là nhằm thu hút mọi nguồn vốn đầu tư và tiết kiệm vào công cuộc phát
08NH1
7
Thị trường chứng khoán Việt Nam
triển kinh tế. Còn ở thị trường thứ cấp. dù việc giao dịch còn rất nhộn nhịp có hàng chục
người
c. Xét về phương thức giao dịch
- Thị trường giao ngay: là thị trường mua bán chứng khoán theo giá tại thời điểm giao
dịch nhưng việc thực hiện thanh toán và giao hàng có thể diễn ra sau một vài ngày theo thỏa
thuận.
- Thị trường giao sau: là thị trường mua bán chứng khoán theo một loại hợp đồng định
sẵn, giá cả được thỏa thuận trong ngày giao dịch, nhưng việc thanh toán và giao hàng xảy ra
trong một thời hạn ở tương lai.
d. Xét về đặc điểm hàng hóa lưu hành trên thị trường
- Thị trường cổ phiếu : là thị trường gao dịch và mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ
phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
- Thị trường trái phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các loại trái phiếu đã được
phát hành, các loại trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái
phiếu Chính phủ.
- Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trường phát hành và mua đi bán
lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền
chọn…
IV. VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Thứ nhất, thị trường chứng khoán với việc tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao,
có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát
triển kinh tế
Ở Hàn Quốc, thị trường chứng khoán đã đóng vai trò không nhỏ trong sự tăng trưởng
kinh tế trong hơn ba mươi năm cho tới cuối thập kỷ 90. THị trường chứng khoán Hàn Quốc
lớn mạnh đứng hàng thứ 13 trên thế giới, với tổng giá trị huy động là 160 tỷ đôla Mỹ, đã góp
phần tạo mức tăng trưởng kinh tế đạt mức trung bình 9%/năm, thu nhập quốc dân năm 1995
là trên 10.000USD/người
Yếu tố thông tin và yếu tố cạnh tranh trên thị trường sẽ đảm bảo cho việc phân phối vốn
một cách có hiệu quả. Thị trường tài chính là nơi tiên phong áp dụng công nghệ mới và nhạy
cảm với môi trường thường xuyên thay đổi. Thực tế trên thị trường chứng khoán, tất cả các
thông tin được cập nhập và được chuyển tải tới tất cả các nhà đầu tư, nhờ đó họ mới có thể
nhận được vốn với chi phí rẻ trên thị trường.
Thị trường chứng khoán tạo một sự cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường tài chính, điều
này buộc các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính phải quan tâm tới hoạt động của
chính họ và làm giảm chi phí tài chính.
Việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán có thể làm tăng vốn tự có của các công
ty và giúp họ tránh các khoản vay chi phí cao cũng như sự kiểm soát chặt chẽ của các Ngân
hàng Thương mại. Thị trường chứng khoán khuyến khích tính cạnh tranh của các công ty trên
thị trường. Sự tồn tại của thị trường chứng khoán cũng là yếu tố quyết định để thu hút vốn
đầu tư nước ngoài. Đây chính là yếu tố đảm bảo cho sự phân bố có hiệu quả các nguồn lực
trong một quốc gia cũng như trong phạm vi quốc tế.
Thứ hai, thị trường chứng khoán góp phần tái phân phối công bằng hơn, thông qua việc
buộc các tập doàn gia đình phát hành chứng khoán ra công chúng, giải tỏa sự tập trung quyền
lực kinh tế của các tập đoàn song vẫn tập trung vốn cho việc phát triển kinh tế. Việc tăng
08NH1
8
Thị trường chứng khoán Việt Nam
cường tầng lớp trung lưu trong xã hội, tăng cường sự giám sát của xã hội đối với quá trình
phân phối đã giúp nhiều nước tiến xa hơn tới một xã hội công bằng hơn, qua đó tạo hiệu quả
và tăng cường về kinh tế.
Thứ ba, thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý
doanh nghiệp. Khi qui mô của doanh nghiệp tăng lên, môi trường kinh doanh trở nên phức
tạp hơn, nhu cầu về quản lý chuyên trách cũng tăng theo. Thị trường chứng khoán tạo điều
kiện cho việc tiết kiệm vốn và chất xám, tạo điều kiện thức đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp
Nhà nước. Cơ chế thông tin hoàn hảo tạo khả năng giám sát chặt chẽ của thị trường chứng
khoán đã làm giảm các tiêu cực trong quản lý, tạo điều kiện kết hợp hài hòa lợi giữa lợi ích
của chủ sở hữu, nhà quản lý và người làm công.
Thứ tư, là hiệu quả quốc tế hóa thị trường chứng khoán. Việc mở cửa thị trường chứng
khoán làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Điều này cho phép các công ty
có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn, tăng cường đầu tư nguồn tiết kiệm bên ngoài, đồng thời
tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế và mở rộng các cơ hội kinh doanh của các công ty
trong nước.
Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaysia là những minh chứng điển hình về việc tận
dụng các cơ hội do thị trường chứng khoán mang lại. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải xem xét
các hoạt động tiêu cực có thể xảy ra như việc tăng cung tiền qua mức, áp lực lạm phát, vấn đề
chảy máu vốn, hoặc sự thâu tóm của người nước ngoài trên thị trường chứng khoán.
Thứ năm, thị trường chứng khoán tạo cơ hội cho chính phủ huy động các nguồn tài
chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ cho việc thực hiện chính
sách tài chính tiền tệ của chính phủ. Đây chính là điểm thể hiện rõ nhất vị trí quan trọng của
thị trường chứng khoán trong nền kinh tế và hệ thống tài chính quốc gia .
Thứ sáu, thị trường chứng khoán cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh
doanh trong tương lai. Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hướng đi trước chu kỳ kinh
doanh, cho phép chính phủ cũng như các công ty đánh giá kế hoạch đầu tư cũng như việc
phân bổ nguồn lực cho họ. Thị trường chứng khoán cũng tạo điều kiện tái cấu trúc lại nền
kinh tế.
Ngoài những tác động tích cực trên, thị trường chứng khoán cũng có những tiêu cực
nhất định. Thị trường chứng khoán làm việc trên cơ sở thông tin hoàn hảo. Song ở các thị
trường mới nổi, thông tin được chuyển tải tới các nhà đầu tư không đầy đủ và không giống
nhau. Như vậy, giá cả chứng khoán không phản ánh giá trị kinh tế cơ bản của công ty và
không trở thành cơ sở để phân phối một cách có hiệu quả các nguồn lực.
Một số tiêu cực khác của thị trường chứng khoán như hiện tượng đầu cơ, hiện tượng
xung đột quyền lực làm thiệt hại cho các cổ đông thiểu số, việc mua bán nội gián, thao túng
thị trường làm nản lòng nhà đầu tư và như vậy, sẽ tác động tiêu cực tới tiết kiệm và đầu tư.
Nhiệm vụ của các nhà quản lý thị trường là giảm thiểu các tiêu cực của thị trường nhằm bảo
vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và đảm bảo cho tính hiệu quả của thị trường.
Như vậy, vai trò của thị trường chứng khoán được thể hiện trên khía cạnh khác nhau.
Song vai trò tích cực hay tiêu cực của thị trường chứng khoán có thực sự được phát huy hay
hạn chế phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể tham gia vào thị trường và sự quản lý của Nhà
nước.
08NH1
9
Thị trường chứng khoán Việt Nam
V. CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN
1. Nguyên tắc trung gian
Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán đều được
thực hiện thông qua các trung gian, hay còn gọi là các nhà môi giới (công ty chứng khoán).
Các nhà môi giới thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng và hưởng hoa hồng, họ còn có
thể cung cấp các dịch vụ khác như cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng trong việc
đầu tư…
Theo nguyên tắc trung gian, các nhà đầu tư không thể trực tiếp thỏa thuận với nhau để
mua bán chứng khoán. Họ đều phải thông qua các nhà môi giới của mình để đặt lệnh. Các
nhà môi giới sẽ nhập lệnh vào hệ thống để khớp lệnh.
2. Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là loại hàng hóa trừu tượng nên thị trường chứng khoán phải được xây
dựng trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt. Theo luật định, các tổ chức phát hành có
nghĩa vụ phải cung cấp thông tin (tài chính định kỳ hàng năm của công ty, các sự kiện bất
thường xảy ra đối với công ty, nắm giữ cổ phiếu của giám đốc, người quản lý cổ đông, cổ
đông đa số…) đầy đủ theo chế độ thường xuyên và đột xuất thông qua các phương tiện thông
tin đại chúng, Sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan. Các thông
tin càng được công bố công khai minh bạch, thì càng thu hút được nhà đầu tư tham gia vào
thị trường chứng khoán.
Nguyên tắc công khai của thị trường chứng khoán nhằm đảm bảo quyền lợi cho người
mua chứng khoán không bị “hớ” trong mua bán chứng khoán.
3. Nguyên tắc đấu giá
Giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và lệnh bán.
Tất cả các thành viên tham gia thị trường đều không thể can thiệp vào việc xác định giá này.
Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự động
Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trực tiếp đấu
giá.
Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới được nhập vào hệ thống
máy chủ của Sở giao dịch cứng khoán. Hệ thống máy chủ này sẽ xác định mức giá sao cho tại
mức giá này chứng khoán giao dịch với khối lượng cao nhất
4. Nguyên tắc cạnh tranh
Theo nguyên tắc này, giá cả trên thị trường chứng khoán phản ánh quan hệ cung cầu về
chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty.
Trên thị trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của
mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục
tiêu của mình.
Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một
lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá.
5. Nguyên tắc công bằng
Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những quy định
chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các hình thức xử
phạt nếu vi phạm vào những quy định đó.
08NH1
10
Thị trường chứng khoán Việt Nam
6. Nguyên tắc tập trung
Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chia thành các
nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức tự quản.
Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán được hình thành một
cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch. Do đó, ở hầu hết các nước trên thế
giới hiện nay, chỉ có một Sở giao dịch chứng khoán duy nhất. Tuy nhiên, người dân mọi miền
đất nước đều có thể tiếp cận thị trường thông qua các phòng giao dịch của công ty chứng
khoán mở ở các điểm dân cư.
VI. CÁC THÀNH PHẦN THAM GIA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chia thành các nhóm
sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức liên quan đến chứng khoán.
1. Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng
khoán. Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán – hàng hóa
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu chính phủ và
trái phiếu địa phương
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như trái phiếu, chứng chỉ
thụ hưởng …phục vụ cho hoạt động của họ.
2. Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng
khoán. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại:
+ Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên
thị trường chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời.
+ Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng khoán
với số lượng lớn trên thị trường.
Các định chế này có thể tồn tại các hình thức sau: công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ
lương hưu, công ty tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán.
3. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhiệm một hoặc
nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư
vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh
- Công ty chứng khoán
- Quỹ đầu tư chứng khoán
- Các trung gian tài chính
4. Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý Nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý
nhà nước đối với TTCK ở Việt nam
- Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hành
những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở phù hợp với các
quy
định
của
luật
pháp
và
ủy
ban
chứng
khoán.
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là cầu nối giữa các nhà kinh doanh chứng
khoán với các cơ quan quản lý nhà nước và công chúng đầu tư cũng như tham gia vào việc
ban hành các cơ chế, chính sách...
08NH1
11
Thị trường chứng khoán Việt Nam
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán thường là các ngân hàng lưu ký
(ngân hàng thương mại được phép hoạt động lưu ký chứng khoán), các công ty chứng khoán,
được gọi chung là các tổ chức lưu ký. Các tổ chức thanh toán tiền cho các giao dịch chứng
khoán là các ngân hàng thanh toán
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán: là tổ chức phụ trợ, phục vụ các giao dịch
chứng khoán.
- Các tổ chức tài trợ chứng khoán
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung câp dịch vụ đánh giá năng
lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điều khoản đã cam kết
của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể.
VII. CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Giao dịch chứng khoán
Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán có thể diễn ra trên thị trường
tập trung (Trung tâmgiao dịch chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán) và thị trường phi tập
trung.
a) Mua chứng khoán của tổ chức phát hành
Đối với loại chứng khoán này, ta có thể thực hiện theo 2 hình thức:
- Mua trực tiếp tại tổ chức phát hành (công ty): nhà đầu tư phải đăng ký mua và nộp tiền trực
tiếp tại tổ chức phát hành chứng khoán. Hình thức này rất bất cập, nhất là về mặt địa lý.
- Mua thông qua trung gian: tức là mua thông qua các nhà đại lý hoặc bảo lãnh phát hành
thông thường là các công ty chứng khoán và các Ngân hàng Thương mại.
Nếu bạn mua chứng khoán của tổ chức phát hành chưa niêm yết trên Trung tâm giao dịch
chứng khoán thì việc chuyển nhượng hoặc bán lại chứng khoán đó cho người khác hiện nay
gặp nhiều khó khăn vì không dễ tìm được người mua và bạn cũng phải trực tiếp dến tổ chức
phát hành (hoặc quyền) để thực hiện chuyển nhượng cho người mua.
b)Mua bán chứng khoán niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán
Chứng khoán niêm yết là chứng khoán có đủ điều kiện và tiêu chuẩn được đăng ký để mua
bán tại Trung tâm giao dịch chứng khoán.
Khi mua chứng khoán niêm yết, phải tuân thủ theo một số nguyên tắc sau:
- Mọi giao dịch mua bán chứng khoán đều phải qua hệ thống tại Sở Giao dịch, Trung tâm
Giao dịch chứng khoán theo phương thức khớp lệnh hoặc phương thức thỏa thuận.
- Giao dịch chứng khoán thực hiện theo phương thức khớp lệnh trên nguyên tắc ưu tiên về
giá và ưu tiên về thời gian.
- Giao dịch chứng khoán niêm yết lô lẻ được thực hiện trực tiếp giữa người đầu tư với công
ty chứng khoán thành viên là thành viên của Trung tâm giao dịch chứng khoán trên nguyên
tắc thỏa thuận về giá.
Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng khoán:
(Toàn bội quy trình này được tiến hành theo 5 bước:
- Bước 1: Nhà đầu tư đến mở tài khoản và đặt lệnh mua bán chứng khoán tại một công ty
chứng khoán.
- Bước 2: Công ty chứng khoán chuyển lệnh đó cho đại diện của công ty tại Trung tâm giao
dịch chứng khoán để nhập vào hệ thống giao dịch của Trung tâm.
- Bước 3: Trung tâm giao dịch chứng khoán thực hiện ghép lệnh và thông báo kết quả giao
dịch cho công ty chứng khoán.
08NH1
12
Thị trường chứng khoán Việt Nam
- Bước 4: Công ty chứng khoán thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu tư.
- Bước 5: Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là người
bán) trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán sau 3 ngày làm việc kể từ ngày mua
bán.
2. Điều kiện và cách thức để một công ty có thể lên sàn giao dịch chứng khoán
Để được phép niêm yết và giao dịch cổ phần của mình trên sàn giao dịch các công ty cần
thiết đáp ứng được yêu cầu của sàn giao dịch cũng như thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý
quy định của pháp luật.
Điều kiện và thủ tục để tiến hành niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch, Trung tâm giao dịch
chứng khoán được quy định chi tiết tại Nghị định số 14/2007/NĐ – CP do Thủ tướng Chính
Phủ ký ngày 19/1/2007 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán. Cụ thể
như sau:
2.1. Điều kiện niêm yết cổ phiếu:
2.1.1. Điều kiện niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán
a) Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 80 tỷ đồng
Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán.
b) Hoạt động kinh doanh hai năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi và không có lỗ
lũy kế tính đến năm đăng ký niêm yết.
c) Không có các khoản nợ quá hạn chưa được dự phòng theo quy định của pháp luật , công
khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám
đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, cổ đông
lớn và những người liên quan.
d) Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắm giữ,
e) Cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị , Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc,
Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc và kế toán trưởng của công ty phải cam kết nắm giữ
100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ
phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc quyền sở hữu Nhà
nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ.
e) Có hồ sơ dăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ theo quy định.
2.1.1. Điều kiện niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán.
a) Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 10 tỷ đồng
Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán.
b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi, không có các
khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính với nhà nước.
c) Cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắm giữ;
d) Cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc,
Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty phải cam kết nắm giữ
100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ
phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do
các cá nhân trên đại diện nắm giữ;
đ) Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ theo quy định;
e) Việc niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng
hoặc công nghệ cao, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần
không phải đáp ứng điều kiện quy định tại điểm b.
2.2. Cách thức để một công ty có thể niêm yết cổ phiếu trên SGD, Trung tâm GDCK:
08NH1
13
Thị trường chứng khoán Việt Nam
Để có thể niêm yết cổ phiếu của mình trên SGD chứng khoán, Trung tâm GDCK, tổ chức
đăng ký niêm yết cổ phiếu phải nộp hồ sơ đăng ký niêm yết cho SGD chứng khoán, Trung
tâm GDCK. Hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu bao gồm:
a) Giấy đăng ký niêm yết cổ phiếu;
b) Quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua việc niêm yết cổ phiếu;
c) Sổ đăng ký cổ đông của tổ chức đăng ký niêm yết được lập trong thời hạn một tháng trước
thời điểm nộp hồ sơ đăng ký niêm yết;
d) Bản cáo bạch theo quy định tại Điều 15 Luật Chứng khoán;
đ) Cam kết của cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng
Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng nắm giữ 100% số cổ
phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này
trong thời gian 6 tháng tiếp theo;
e) Hợp đồng tư vấn niêm yết (nếu có);
g) Giấy chứng nhận của Trung tâm lưu ký chứng khoán về việc cổ phiếu của tổ chức đó đã
đăng ký lưu ký tập trung.Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, SGD
chứng khoán, Trung tâm GDCK có trách nhiệm chấp thuận hoặc từ chối đăng ký niêm yết.
Trường hợp từ chối đăng ký niêm yết, SGD chứng khoán, Trung tâm GDCK phải trả lời bằng
văn bản và nêu rõ lý do.
3. Phát hành và niêm yết chứng khoán
Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới gọi là phát hành chứng khoán. Việc đưa các
chứng khoán có đủ tiêu chuẩn vào đăng ký và giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung
(Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán) gọi là niêm yết chứng
khoán.
3.1. Phát hành chứng khoán
3.1.1. Khái niệm về phát hành chứng khoán: Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới
gọi là phát hành chứng khoán.
Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của một tổ chức lần đầu tiên
ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng. Nếu việc phát hành đó là việc phát
hành bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán cùng loại lưu thông trên thị trường thì gọi là
đợt phát hành chứng khoán bổ sung. Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng đều được phát
hành chứng khoán mà chỉ những chủ thể phát hành mới có được quyền này
3.1.2. Phương thức phát hành chứng khoán
Có 2 phương thức phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Đó là phát hành riêng lẻ và
phát hành ra công chúng.
a) Phát hành riêng lẻ(Private Placement)
Phát hành riêng lẻ là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán của mình trong phạm vi
một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức có ý định nắm giữ
chứng khoán một cách lâu dài) như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí... với những điều kiện hạn
chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng. Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia
vào việc phát hành riêng lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành. Đa số các đợt
phát hành trái phiếu đều thực hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, việc phát hành cổ phiếu
thường - cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này.
b) Phát hành chứng khoán ra công chúng
Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng khoán có thể chuyển
nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư nhất định (trong
08NH1
14
Thị trường chứng khoán Việt Nam
đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức
nhất định
Có sự khác nhau giữa việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng:
* Phát hành cổ phiếu ra công chúng được thực hiện theo một trong hai hình thức sau:
- Phát hành lần đầu ra công chúng (IPO): là việc phát hành trong đó cổ phiếu của công
ty lần đầu tiên được bán rộng rãi cho công chúng đầu tư.
- Chào bán sơ cấp (phân phối sơ cấp): là đợt phát hành cổ phiếu bổ sung của công ty đại
chúng cho rộng rãi công chúng đầu tư.
* Phát hành trái phiếu ra công chúng được thực hiện bằng một hình thức duy nhất, đó là chào
bán sơ cấp (phân phối sơ cấp).
Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải chịu sự chi phối của pháp luật về
chứng khoán và phải được cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán cấp phép. Những công
ty phát hành chứng khoán ra công chúng phải thực hiện một chế độ báo cáo, công bố thông
tin công khai và chịu sự giám sát riêng theo quy định của pháp luật chứng khoán.
Ở Việt Nam, việc phát hành chứng khoán ra công chúng để niêm yết tại Trung tâm giao
dịch chứng khoán phải tuân theo các qui định tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998
của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Nghị định này qui định việc phát
hành chứng khoán ra công chúng để niêm yết tại thị trường giao dịch tập trung phải được Uỷ
ban chứng khoán cấp phép trừ việc phát hành trái phiếu Chính phủ. Các chứng khoán này sau
khi được phát hành ra công chúng sẽ được niêm yết tại Trung tâm giao dịch choán.
Mục đích của việc phân biệt hai hình thức phát hành (phát hành riêng lẻ và phát hành ra
công chúng như trên là nhằm có các biện pháp bảo vệ cho công chúng đầu tư, nhất là những
nhà đầu tư nhỏ không hiểu biết nhiều về lĩnh vực chứng khoán. Nhằm mục đích này, để được
phép phát hành ra công chúng, tổ chức phát hành phải là những công ty làm ăn có chất lượng
cao, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đáp ứng được các điều kiện do cơ quan quản
lý nhà nước về chứng khoán( Ủy ban chứng khoán nhà nước).
c) Ý nghĩa cơ bản của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng
Việc phân biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để xác định những
người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động
sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà
đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một thị trường
chứng khoán an toàn, công khai và có hiệu quả.
Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ thông thường chịu sự điều chỉnh của Luật Công
ty. Chứng khoán phát hành dưới hình thức này không phải là đối tượng được niêm yết và
giao dịch trên thị trường chúng khoán sơ cấp.
3.1.3. Bảo lãnh phát hành chứng khoán
a) Khái niệm: Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện
các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp
bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Trên thế giới, các ngân hàng
đầu tư thường là những tổ chức đứng ra làm bảo lãnh phát hành.
Tổ chức bảo lãnh là người chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán chứng khoán của một
tổ chức phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán để hưởng hoa hồng.
b) Các phương thức bảo lãnh phát hành
Việc bảo lãnh phát hành thường được thực hiện theo một trong các phương thức sau:
08NH1
15
Thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh
cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng
khoán hay không. Trong hình thức bảo lãnh tổ hợp theo "cam kết chắc chắn", một nhóm các
tổ chức bảo lãnh hình thành một tổ hợp để mua chứng khoán của tổ chức phát hành với giá
chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng (POP) và bán lại các chứng khoán đó ra công
chúng theo giá POP. Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của các tổ chức bảo lãnh và giá
chào bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu.
Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: đây là phương thức thường được áp dụng khi
một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu thường ở các nước phát triển. Trong
trường hợp đó, công ty cần phải bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, và như vậy,
công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng
bên ngoài. Dĩ nhiên, sẽ có một số cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty. Do
vậy, công ty cần có một tổ chức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng mua những quyền mua không
được thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu để phân phối ra ngoài công chúng. Có thể
nói, bảo lãnh theo phương thức dự phòng là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số
chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra công
chúng. Tại các nước đang phát triển, khi các tổ chức bảo lãnh còn non trẻ và chưa có tiềm lực
lớn thì phương thức bảo lãnh phát hành dự phòng lại là phương thức bảo lãnh thông dụng
nhất.
Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh tổ
chức bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh không cam kết
bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường,
nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần còn lại.
Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: trong phương thức này, tổ chức phát
hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số lượng chứng khoán nhất định, nếu không phân
phối được hết sẽ huỷ toàn bộ đợt phát hành.
Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa: là phương thức trung gian giữa phương
thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh bán tất cả hoặc không. Theo
phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng
khoán nhất định (mức sàn). Vượt trên mức ấy, tổ chức bảo lãnh được tự do chào bán chứng
khoán đến mức tối đa quy định (mức trần). Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ thấp
hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ.
3.2. Niêm yết chứng khoán.
Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ tiêu chuẩn vào đăng ký và
giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung (Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch
Chứng khoán). Hay nói cách khác, để có thể được niêm yết tại một Sở giao dịch chứng khoán
nào đó thì công ty xin niêm yết phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn do Sở đó đặt ra. Mỗi Sở giao
dịch chứng khoán có những điều kiện đặt ra khác nhau để đảm bảo cho sự hoạt động an toàn
đồng thời phù hợp với mục đích hoạt động của Sở giao dịch đó.
4. Phương thức tổ chức và giao dịch
Sau khi chứng khoán mới được phát hành trên thị trường sơ cấp, chúng sẽ được giao dịch trên
thị trường thứ cấp. Khác với thị trường sơ cấp, tiền bán chứng khoán trên thị trường thứ cấp
thuộc về các nhà đầu tư và nhà kinh doanh chứ không thuộc về các công ty phát hành chứng
08NH1
16
Thị trường chứng khoán Việt Nam
khoán.
Xét về phương thức tổ chức và giao dịch, thị trường chứng khoán bao gồm 3 loại: Sở giao
dịch chứng khoán, Thị trường phi tập trung (OTC), và thị trường thứ 3.
- Thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán): là thị trường trong đó việc giao dịch
mua bán chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch (trading
floor). Các chứng khoán được niêm yết tại Sở giao dịch thông thường là chứng khoán của
những công ty lớn, có danh tiếng, đã qua thử thách của thị trường. Phương thức giao dịch tại
Sở giao dịch là phương thức đấu giá, trong đó các lệnh mua, bán được ghép với nhau để hình
thành giá cả cạnh tranh tốt nhất.
- Thị trường phi tập trung (OTC): là thị trường trong đó việc giao dịch mua bán chứng
khoán không diễn ra tại một địa điểm tập trung mà thông qua hệ thống computer nối mạng
giữa các thành viên của thị trường. Các chứng khoán được giao dịch trên thị trường phi tập
trung là chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ.
Phương thức giao dịch tại thị trường OTC là phương thức thỏa thuận, giá cả chứng khoán
được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa các thành viên của thị trường.
- Thị trường thứ 3: là thị trường, trong đó hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán không
được thực hiện thông qua hệ thống đấu giá của các Sở giao dịch và hệ thống computer của thị
trường OTC.
4.1. Sở giao dịch chứng khoán:
4.1.1. Hình thức sở hữu của Sở giao dịch
Sở giao dịch chứng khoán là một tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập theo quy định
của pháp luật. Lịch sử phát triển Sở giao dịch chứng khoán các nước đã và đang trải qua các
hình thức sở hữu sau đây:
- Hình thức sở hữu thành viên: Sở giao dịch chứng khoán do các thành viên là công ty
chứng khoán sở hữu, được tổ chức như một công ty trách nhiệm hữu hạn, có Hội đồng quản
trị mà thành phần đa số do các công ty chứng khoán thành viên cử ra. VD: Sở giao dịch
chứng khoán Hàn Quốc, New York, Tokyo, Thái Lan.
- Hình thức công ty cổ phần: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới hình thức
công ty cổ phần đặc biệt do các công ty chứng khoán thành viên, ngân hàng, công ty tài
chính, bảo hiểm sở hữu với mục tiêu là lợi nhuận theo qui định của Luật công ty. VD: Đức,
Malaysia, London, Hongkong…- Hình thức sở hữu nhà nước: Sở giao dịch chứng khoán do
Nhà nước sở hữu (phần lớn hoặc toàn bộ) như trường hợp Sở giao dịch chứng khoán
Warsawar, Istabul, Việt Nam…
Trong các hình thức trên, hình thức sở hữu thành viên là phổ biến nhất. Hình thức này
cho phép Sở giao dịch chứng khoán có quyền tự quản ở mức độ nhất định, nâng cao được
tính hiệu quả và sự nhanh nhạy trong vấn đề quản lý hơn là hình thức sở hữu nhà nước.
Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định, việc Chính phủ nắm quyền sở hữu
và quản lý Sở giao dịch sẽ cho phép ngăn ngừa sự lộn xộn, không công bằng khi hình thức sở
hữu thành viên chưa được bảo vệ bằng hệ thống pháp lý đầy đủ và rõ ràng.
Ví dụ :như trường hợp của Hàn Quốc, Sở giao dịch chứng khoán được thành lập từ năm 1956
nhưng đến năm 1963 bị đổ vỡ phải đóng cửa 57 ngày do các thành viên sở hữu Sở giao dịch
chứng khoán gây lộn xộn trong thị trường; sau đó Nhà nước đã phải đứng ra nắm quyền sở
hữu Sở giao dịch chứng khoán trong thời gian khá dài từ năm 1963 đến 1988.
4.1.2. Mô hình tổ chức của Sở giao dịch
a) Hội đồng quản trị
17
08NH1
Thị trường chứng khoán Việt Nam
Hội đồng quản trị bao gồm các đại diện là những người có liên quan trực tiếp hoặc gián
tiếp đến thị trường chứng khoán. Nói chung, thành viên Hội đồng quản trị gồm đại diện của
các công ty chứng khoán thành viên, và một số người bên ngoài như đại diện các công ty có
chứng khoán niêm yết, các tổ chức công nghiệp, các nhà chuyên môn và đại diện của Chính
phủ
b) Các vụ chức năng:
Thông thường các Sở giao dịch chứng khoán các nước có khoảng 20 – 30 Vụ chức năng. Tuy
nhiên, trong giai đoạn đầu, các sở có mức tối thiểu khoảng 7 vụ chức năng như sau:
- Các Vụ chuyên môn: Vụ giao dịch, Vụ niêm yết, Vụ kinh doanh
- Các Vụ phụ trợ: Vụ công nghệ tin học; Vụ nghiên cứu và phát triển; Vụ kế toán; Văn
phòng.
c) Thành viên Sở giao dịch chứng khoán:
Thành viên Sở giao dịch chứng khoán là các công ty chứng khoán được Uỷ ban chứng khoán
cấp giấy phép hoạt động và được Sở giao dịch chứng khoán chấp nhận là thành viên của Sở
giao dịch chứng khoán
* Tiêu chuẩn để trở thành thành viên :
Các Sở giao dịch chứng khoán khác nhau có những tiêu chuẩn khác nhau trong việc kết nạp
thành viên. Sự khác nhau này do trình độ phát triển thị trường qui định. Dưới đây là một số
tiêu chuẩn chính trong việc kết nạp thành viên.
- Yêu cầu về tài chính:
Các chỉ tiêu về vốn cổ đông, vốn điều lệ, và tổng tài sản có là những chỉ tiêu chủ yếu
thường được sử dụng khi xem xét kết nạp thành viên. Vốn cổ đông là tổng tài sản có trừ tài
sản nợ của công ty.
Vốn cổ đông bao gồm vốn cổ phần, thặng dự vốn và các khoản lợi nhuận giữ lại. Tại
Mỹ, vốn cổ đông quy định tối thiểu là 250.000 USD ở Thái Lan là 200 triệu Baht.
Ngoài ra, tỷ lệ nợ trên vốn cổ đông và thu nhập trên cổ phiếu cũng là những chỉ tiêu hay
được tính đến khi xét kết nạp thành viên. Thông thường tỷ lệ nợ trên vốn cổ đông không
được vượt quá 1,5 lần và thu nhập trên cổ phiếu phải đạt một tỷ lệ nhất định trong vòng 2-3
năm.
- Tiêu chuẩn về nhân sự:
Công ty chứng khoán thành viên phải có đội ngũ cán bộ kinh doanh có đủ trình độ, có
hiểu biết trong kinh doanh chứng khoán và tư cách đạo đức tốt.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Công ty xin làm thành viên phải có địa điểm và trang thiết bị điện tử cần thiết cho quá
trình nhận lệnh, xác nhận kết quả giao dịch và hệ thống bảng điện tử.
* Quyền hạn và trách nhiệm của thành viên:
Tuỳ theo hình thức sở hữu của Sở giao dịch chứng khoán, thành viên có các quyền hạn sau
đây:
- Quyền bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của Sở giao dịch chứng khoán
- Quyền được giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán
- Quyền được nhận các dịch vụ do Sở giao dịch chứng khoán cung cấp.
- Quyền bầu đại biểu đại diện cho thành viên tại Hội đồng quản trị
Ngoài các quyền hạn trên, các thành viên phải có trách nhiệm tuân thủ các quy định của Sở
giao dịch chứng khoán, phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và báo cáo bất thường theo quy
định.
08NH1
18
Thị trường chứng khoán Việt Nam
4.2 Hệ thống giao dịch
Hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán được khởi đầu bằng việc đặt lệnh mua bán
tại Văn phòng giao dịch của Công ty chứng khoán đặt tại các địa điểm khác nhau trong cả
nước. Trước khi đặt lệnh, khách hàng phải làm thủ tục mở tài khoản tại Công ty chứng khoán.
Lệnh của khách hàng được chuyền từ Văn phòng công ty chứng khoán đến người đại diện
của công ty tại sàn giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán. Các lệnh mua bán được đấu giá
với nhau. Kết quả giao dịch sẽ được thông báo lại cho công ty chứng khoán và khách hàng
của công ty. Những lệnh được thực hiện sẽ chuyển sang hệ thống thanh toán và lưu ký chứng
khoán làm các thủ tục thanh toán chuyển giao chứng khoán và tiền
Khách hàng ↔ Công ty Chứng khoán ↔ Sở giao dịch chứng khoán
4.2.2 Mở tài khoản:
Trước khi đặt lệnh, khách hàng mở tài khoản tại công ty chứng khoán. Việc mở tài khoản
phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa khách hàng và công ty chứng khoán.
a) Các thông tin liên quan đến tài khoản, khách hàng phải cung cấp các thông tin sau cho
công ty chứng khoán:
- Tên đầy đủ
- Địa chỉ thường trú
- Số điện thoại
- Số chứng minh thư
- Các thông tin khác như số tài khoản tại ngân hàng, số tài khoản chứng khoán tại công ty
chứng khoán khoán khác(nếu có), thu nhập và kiến thức về thị trường chứng khoán.
- Khi có bất kỳ sự thay đổi nào liên quan đến các thông tin trên, khách hàngmphair thông báo
ngay cho công ty chứng khoán.
b) Loại tài khoản:
- Tài khoản lưu ký:
Hầu hết tài khoản của khách hàng là tài khoản lưu ký. Khách hàng mua và bán chứng khoán
thông qua tài khoản này trên cơ sở giao ngay. Nếu khách hàng không thực hiện được việc
thanh toán vào ngày thanh toán quy định, công ty chứng khoán có quyền bán chứng khoán có
trên tài khoản để lấy tiền thanh toán
- Tài khoản lưu ký quỹ:
Khách hàng có thể sử dụng tài khoản này để vay tiền hoặc chứng khoán của công ty chứng
khoán
- Tài khoản ủy thác:
Là tài khoản qua đó khách hàng uỷ thác cho nhà môi giới quyền mua và bán chứng khoán mà
không cần khai báo hoặc có sự đồng ý của khách hàng.
c) Báo cáo tài khoản
Hàng tháng, công ty chứng khoán phải gửi cho khách hàng bản báo cáo về tình trạng tài
khoản của khách hàng. Báo cáo phải ghi rõ mọi sự thay đổi trên tài khoản.
4.2.3. Đặt lệnh và loại lệnh
a) Đặt lệnh
Khi khách hàng muốn giao dịch, họ phải đặt lệnh bằng một trong các hình thức sau đây:
- Đặt lệnh trực tiếp tại phòng lệnh của công ty chứng khoán.
- Đặt lệnh qua điện thoại
- Qua mạng vi tính nối mạng trực tiếp với phòng lệnh của công ty chứng khoán
Nội dung của mẫu lệnh gồm các thông tin sau:
08NH1
19
Thị trường chứng khoán Việt Nam
- Lệnh đó là Mua hay Bán, được in sẵn với mẫu khác nhau.
- Số lượng
- Tên chứng khoán, mã số loại chứng khoán
- Tên của khách hàng và mã số
- Ngày giờ đặt lệnh
- Thời gian có hiệu lực của lệnh.
b) Loại lệnh
* Lệnh thị trường(Market order): Người ra lệnh chấp nhận mua, bán theo giá trên thị
trường
* Lệnh giới hạn(Limit order): Đối với việc chào bán, giá giới hạn là giá thấp nhất sẵn sàng.
Đối với việc chào mua, là giá cao nhất sẵn sàng mua.
* Lệnh dừng( Stop order):
+ Lệnh dừng để bán: Khách hàng mua 100 cổ phần với giá 12 ngàn đồng/cổ phần. Sau
một thời gian giá cổ phiếu này lên tới 20 ngàn đồng/cổ phần. Khách hàng chưa muốn bán vì
ông ta cho rằng giá còn tăng nữa. Nhưng để đề phòng trường hợp giá không tăng mà lại
giảm, khách hàng này đặt lệnh dừng với người đại diện công ty chứng khoán để bán với giá
19 ngàn đồng/cổ phần chẳng hạn. Nếu thực tế giá cổ phiếu đó không tăng mà lại giảm thì giá
cổ phiếu đó giảm tới 19 ngàn người môi giới sẽ bán cho ông ta.
+ Lệnh dừng để mua: Lệnh này thường được dùng trong trường hợp bán khống để giới
hạn sự thua lỗ. Chẳng hạn khách hàng vay của công ty chứng khoán một số cổ phần và bán đi
với giá 30 ngàn đồng/cổ phần với hy vọng giá cổ phiếu giảm xuống tới 20 ngàn đồng/ cổ
phần, ông ta sẽ mua để trả. Nhưng để đề phòng trường hợp giá cổ phiếu không giảm mà lại
tăng, khách hàng đó đặt một lệnh dừng để mua với giá 35 ngàn đồng. Khi giá lên tới 35 ngàn
đồng, người môi giới sẽ mua cổ phiếu đó cho ông ta và ông ta đã giới hạn sự thua lỗ của
mình ở mức 5 ngàn đồng/ cổ phiếu.
Một lệnh dừng để mua được đưa ra trên mức giá thị trường hiện hành còn một lệnh dừng để
bán được đưa ra thấp hơn giá thị trường hiện hành.
Các lệnh khác: các loại lệnh được đưa ra nhằm những mục đích nhất định.
+ Lệnh giới hạn dừng( stop limit): cũng giống như một lệnh dừng nhưng nó sẽ chuyển
thành một lệnh giới hạn chứ không chuyển thành một lệnh thị trường khi đạt tới điểm dừng.
+ Lệnh thực hiện ngay hoặc huỷ bỏ (Immediate or cancel IOC): lệnh được thực hiện
ngay một phần nào đó, phần còn lại bị huỷ bỏ.
+ Lệnh toàn bộ hoặc không (All or None, AON): với một thời hạn cho trước, chẳng hạn
một ngày, lệnh phải được thực hiện toàn bộ, nếu không khách hàng sẽ không chấp nhận việc
thực hiện đó.
VIII. NGUYÊN TẮC CAN SLIM TRONG ĐÀU TƯ CHỨNG KHOÁN
William J. O'Neil là một mẫu nhà đầu tư chứng khoán thành công tại Mỹ. Khởi nghiệp bằng
nghề kế toán viên, ông đã trở thành một nhà “phù thuỷ” tại Wall Street khi thu về hàng triệu
USD lợi nhuận mỗi năm từ cổ phiếu.
CAN SLIM là tập hợp bảy chữ cái đầu tiên của bảy yếu tố cơ bản mà theo William là rất hiệu
quả khi đánh giá cổ phiếu.
C: Current Quaterly Earnings Per Share (lãi ròng trên mỗi cổ phiếu của quý gần nhất)
William nhận định rằng, hầu hết các cổ phiếu tốt đều có sự gia tăng lợi nhuận so với
cùng quý năm trước đó và tỷ lệ tăng càng cao thì chứng tỏ cổ phiếu càng có nhiều triển vọng.
08NH1
20
Thị trường chứng khoán Việt Nam
Theo ông, các nhà đầu tư trước khi bỏ tiền ra mua cổ phiếu cần xem xét tới sự gia tăng mạnh
mẽ lợi nhuận của cổ phiếu đó, cụ thể là mức tăng trưởng của lãi ròng trên mỗi cổ phiếu trong
3 tháng gần nhất.
A: Annual Earnings Increases (sự gia tăng lãi ròng hàng năm)
Theo ONeil, cổ phiếu tốt là cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận đều đặn trong vòng 5
năm trước đó. Các nhà đầu tư cần đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu có mức gia tăng lợi nhuận
hàng năm ổn định và đạt trên 25%, tuy nhiên nên chú ý tới chu kỳ kinh doanh của từng
ngành, từng công ty. Theo Oneil, tiêu chí này có thể giúp bạn loại bỏ khoảng 80% các cổ
phiếu tồi.
Để có được sự chính xác về mức gia tăng lợi nhuận, nhà đầu tư cần nghiên cứu tất cả
các thông tin liên quan đến công ty mà họ muốn đầu tư. Các thông tin này bao gồm lịch sử và
đặc điểm của công ty, tình hình tài chính, các chi tiết của đợt phát hành cổ phiếu và tổ chức
bảo lãnh phát hành cổ phiếu. Nhà đầu tư có thể tìm các thông tin này trong Bản thông cáo
phát hành, trong Báo cáo tài chính của công ty hoặc từ các công ty dịch vụ tư vấn đầu tư. Các
quyết định đầu tư chỉ nên đưa ra khi bạn đã có đủ cơ sở thông tin về cổ phiếu cũng như về
mức tăng trưởng lãi ròng hàng năm.
N: New Products, New Management, New Highs (sản phẩm mới, sự quản lý mới, mức
giá trần mới)
Những nghiên cứu của William chỉ ra rằng giá cổ phiếu tăng sẽ bắt nguồn từ một số
nhân tố nội tại nào đó. Những nhân tố này thường là sản phẩm mới của công ty, ban giám đốc
mới, phương thức quản lý mới hay mức giá trần mới của cổ phiếu trên thị trường chứng
khoán.
Do vậy, sẽ không bao giờ thừa nếu các nhà đầu tư quan tâm đến những nhân tố nội tại
này. Nếu xét thấy những nhân tố này có sự ổn định, không có biểu hiện đột biến theo chiều
hướng xấu, thì đó sẽ là một cổ phiếu có nhiều triển vọng tăng trưởng trên thị trường chứng
khoán.
S: Supply and Demand (nguồn cung và cầu)
Trong kinh doanh, quy luật cung cầu luôn có ảnh hưởng rất lớn đến giá thành sản phẩm,
và đầu tư chứng khoán cũng không phải là một ngoại lệ. Giá cổ phiếu cũng chịu tác động từ
quy luật cung cầu. William cho rằng cổ phiếu của các công ty đại chúng, có quy mô lớn, sản
phẩm chất lượng không phải lúc nào cũng đáng để mua, bởi lượng cầu của những cổ phiếu
này khá lớn, trong khi nguồn cung lại ít nên giá thường bị đẩy lên cao giả tạo, không phản
ánh đúng giá trị thực tế của cổ phiếu cũng như rất khó sinh lợi nhuận lớn.
Chính những cổ phiếu có số lượng lưu hành thấp trên thị trường mới có nhiều triển vọng
và có khả năng tăng giá hơn so với các cổ phiếu có số lượng lưu hành lớn. Từ đó suy ra, cổ
phiếu được các nhà quản trị hàng đầu nắm giữ với tỷ lệ lớn thường là những cổ phiếu có độ
an toàn cao. William đặc biệt lưu ý tới các cổ phiếu được công ty mua lại và cổ phiếu của các
công ty có tỷ lệ nợ dài hạn trên vốn tự có vừa phải, bởi theo ông thì tỷ lệ này càng cao bao
nhiêu công ty sẽ càng phải đương đầu với áp lực trả lãi trong tương lai nhiều bấy nhiêu. Các
nhà đầu tư nên so sánh tỷ số này ở công ty mình dự định đầu tư với tỷ số nợ bình quân ở các
công ty trong cùng ngành, đồng thời phân tích thêm khả năng thanh toán để có đánh giá xác
thực hơn về mức độ nợ của công ty.
L: Leader and Laggard (cổ phiếu đầu bảng và cổ phiếu tụt hậu)
Theo ONeil, nhà đầu tư trên thị trường chỉ nên mua 2 hay 3 cổ phiếu tốt nhất trong
nhóm những cổ phiếu đầu bảng hiện tại, còn lại nên dành tiền cho những cổ phiếu có khả
08NH1
21
Thị trường chứng khoán Việt Nam
năng sinh lời trong tương lai. Ðặc biệt, các nhà đầu tư cần tránh mua những cổ phiếu có mức
tăng trưởng cao nhưng không bền vững, chẳng hạn như cổ phiếu lên giá theo trào lưu, theo sự
kiện nổi bật… bởi vì các cổ phiếu này được đánh giá là những cổ phiếu tụt hậu, không sớm
thì muộn cũng mất giá.
I: Institutional Sponsorship (sự ủng hộ của các định chế tài chính và đầu tư)
Định chế tài chính đầu tư ở đây thường là các cơ quan chức năng, các cơ quan chính
phủ chuyên về tài chính đầu tư. Các cơ quan này có thể nắm giữ một số lượng cổ phiếu nhất
định của các công ty nào đó, nhờ vậy mà công ty sẽ có sự ủng hộ và trợ giúp mạnh mẽ từ
những cơ quan này, một điều kiện vô cùng thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, khiến giá cổ
phiếu tăng mạnh. Tuy nhiên, một số lượng quá lớn các định chế tài chính đầu tư nắm giữ cổ
phiếu lại trở thành yếu tố bất lợi, vì điều đó đồng nghĩa với việc nguồn cung sẽ hạn chế bởi
các cơ quan ít khi muốn bán từng phần cổ phiếu của mình, đẩy tính thanh khoản của cổ phiếu
xuống thấp.
M: Market Direction (định hướng thị trường)
Cho dù bạn hoàn toàn chính xác khi nhận định về cả 6 tiêu chí kể trên, nhưng đến tiêu
chí định hướng thị trường bạn mắc phải sai lầm thì sẽ có đến 5 trong số 7 cổ phiếu bạn mua
sẽ mất giá và khiến bạn thua lỗ. Yếu tố thị trường là rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng mạnh
mẽ đến giá cổ phiếu. Khi hàng loạt các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường bị mất giá, thì giá
cổ phiếu của công ty mà bạn lựa chọn chắc chắn cũng sẽ sụt giảm theo. Ngược lại, nếu giá cổ
phiếu của các công ty này tăng theo sự phát triển của thị trường thì cổ phiếu bạn mua vào
cũng được “ăn theo” những chỉ số tích cực đó. Do đó, William nhấn mạnh đến tầm quan
trọng của việc nghiên cứu các đồ thị biến động giá chứng khoán theo ngày, theo tuần và theo
tháng trước mỗi quyết định đầu tư cổ phiếu.
Đối với William O'Neil cũng như nhiều “cây đại thụ” khác tại phố Wall, các quyết định lựa
chọn cổ phiếu cần được dựa trên sự phân tích và phối kết hợp giữa các yếu tố định lượng và
định tính. Chìa khoá phân tích trong đầu tư cổ phiếu là tìm ra những cổ phiếu có tiềm năng
tăng trưởng lớn nhất trong thời điểm bạn mua chúng. Nói cách khác, bạn phải có kỹ năng
phán đoán, xem xét và phân tích vấn đề cùng với việc hoạch định một kế hoạch đầu tư thích
hợp để xác định thời điểm mua vào những cổ phiếu mạnh và bán đi những cổ phiếu yếu
08NH1
22
Thị trường chứng khoán Việt Nam
PHẦN II
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
I. SỰ RA ĐỜI CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
15 năm thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể: tăng trưởng kinh tế cao ổn định (tốc
độ tăng trưởng kinh tế luôn >7% năm). Công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng rất cao (trên 14%)
đặc biệt các ngành công nghệ mới, ngành công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng và đang
được ứng dụng rộng rãi, thành tựu trong nông nghiêp đã đưa nước ta không những thoát khỏi
sự thiếu lương thực mà còn đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới
(>4 triệu tấn /năm). Hàng hoá trên thị trường ngày càng phong phú đa dạng, các doanh nghiệp
mới được thành lập ngày càng nhiều, đời sống của người dân ngày càng cao. Những thành
tựu đó đã khẳng định đường lối kinh tế đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Nhưng nó cũng đặt
ra nhiều vấn đề lớn như: làm thế nào để duy trì tốc độ tăng trưởng đó đồng thời tiến tới phát
triển bền vững, đồng thời với các doanh nghiệp ra đời ngày càng nhiều là thiếu vốn, khả năng
cạnh tranh kém, nhà nước cần ngân sách để xây dựng cơ sở hạ tầng, đường xá…và vấn đề
không thiếu tầm quan trọng là làm sao xây dựng nền kinh tế nước ta trở thành kinh tế thị
trường theo đúng nghĩa. Một giải pháp đó là xây dựng thị trường chứng khoán.
Và Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi , ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghị định số
48/CP ban hành về chứng khoán và Thị trường chứng khoán chính thức khai sinh cho Thị
trường chứng khoán Việt Nam ra đời.
Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
đặt tại TP.HCM và Hà Nội. Việc chuẩn bị cho TTCKVN thực ra đã do Uỷ Ban Chứng khoán
Việt Nam ra đời bằng Nghị định 75/CP ngày 28-11-1996.
* Chỉ số VN - Index
VN - Index là ký hiệu của chỉ số chứng khoán Việt Nam. VN - Index xây dựng căn cứ
vào giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết. Với hệ thống chỉ số này, nhà đầu
tư có thể đánh gia và phân tích thị trường một cách tổng quát.
Chỉ số VN -Index so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường cơ sở vào
ngày gốc 28/07/2000, khi thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạt động.
II. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
Tính đến năm 2009 thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi qua 5 chặng đường chính
1.Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững biết đi của thị trường chứng khoán.
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào vận
hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 và thực hiện phiên
giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000. Ở thời điểm lúc bấy giờ, chỉ có 2 doanh nghiệp niêm
yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ
được niêm yết giao dịch.
08NH1
23
Thị trường chứng khoán Việt Nam
Từ đó cho đến 2005, thị trường luôn ở trong trạng thái “gà gật”, ngoại trừ cơn sốt vào
năm 2001(chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầu năm nhưng chỉ trong
vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết đã mất giá tới 70% giá
trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày 25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm
vào tháng 10/2001 .
Trong 4 tháng “hoảng loạn” này, trong khi nhiều nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường ,
một số nhà đầu tư khác vẫn bình tĩnh bám trụ, âm thầm mua bán và tiếp tục kiếm được lợi
nhuận, thì trong 5 năm chỉ số VN-Index lúc cao nhất chỉ có 300 điểm, mức thấp nhất xuống
đến130 điểm.
Lý do chính là ít hàng hoá, các doanh nghiệp niêm yết cũng nhỏ, không nổi tiếng, không
hấp dẫn nhà đầu tư trong nước.
Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN) chính thức đi
vào hoạt động. Giai đoạn tỉnh ngủ dần xuất hiện từ năm 2005 khi tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu
tư nước ngoài được nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngân hàng).
Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được sự quan tâm
của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trường chưa tạo ra tác động xã
hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh tế cũng như tới cuộc sống của
mỗi người dân.
Ta có thể nhận định rõ được điều đó thông qua bảng số liệu sau
Năm
2000
2001 2002
2003
2004 2005
Số CT NY/ĐKGD
5
5
20
22
26
32
Mức vốn hoá TTCP(% GDP)
0.28
0.34
0.48
0.39
0.64
1.21
Số lượng CTCK
3
8
9
11
13
14
Số tài khoản khách hàng
2908
8774 13520 15735 21616 31316
Theo thống kê của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tính đến hết năm 2005, tổng giá trị
thị trường chứng khoán việt Nam đạt gần 40.000 tỷ đồng, chiếm 0,69% tổng thu nhập quốc
nội (GDP).
Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng của thị trường chứng khoán gấp đôi so với năm
2004, huy động được 44,600 tỷ đồng, hiện giờ giá trị cổ phiếu so với GDP của cả nước đạt
gần 1%.
2. Giai đoạn 2006: Sự phát triển đột phá của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 được coi là mang tính chất phát triển “đột phá”, tạo
cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới với hoạt động giao dịch
sôi động tại cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp.Hồ Chí Minh, Trung tâm Giao dịch Hà Nội và thị
trường OTC. Với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trường chứng
khoán Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉ sau Dim-babuê. Và sự bừng dậy của thị trường non trẻ này đang ngày càng "hút hồn" các nhà đầu tư
trong và ngoài nước. Năm 2006 , Thị trường chứng khoán Việt Nam có sự phát triển vượt
bậc, chỉ số Vn-Index tại sàn giao dịch TP. Hồ Chí Minh (HASTC) tăng 144% năm 2006, tại
sàn giao dịch Hà Nội (HOSE) tăng 152,4%. Thị trường chứng khoán Việt Nam 2006: VNIndex cuối năm tăng 2,5 lần so đầu năm. Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006
(chiếm 22,7% GDP) giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4
tỉ USD, chiếm 16,4% mức vốn hóa thị trường.
Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193 công ty, số tài
khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần so với 6 năm trước. Trong vòng
08NH1
24
Thị trường chứng khoán Việt Nam
một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn 300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối
2006.
Trong khoảng từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổ phiếu ở nước ta
mang tâm lý “đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết, cả những người mua, bán theo
phong trào, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng “nóng”.
Diễn biến VN - Index
Mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng 12-2006 đạt
13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tư mới tham gia thị trường
ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên 120.000 tài khoản giao dịch chứng
khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài
Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm. Với HASTCIndex là nỗ lực chạm mốc 260 điểm.
Tính chung, so với đầu năm, chỉ số VN-Index đã có mức tăng trưởng tới 146% và
HASTC-Index tăng tới 170%. Đây là những mức tăng mà các thị trường trên thế giới phải
thừa nhận là quá ấn tượng. Tính đến phiên 29/12/2006, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
TP.HCM đã có sự góp mặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 trái phiếu với tổng giá
trị niêm yết theo mệnh giá là trên 72 nghìn tỷ đồng.
Còn tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, số lượng chứng khoán tham gia đã
lên đến 87 cổ phiếu và 91 trái phiếu với tổng mức đăng ký giao dịch theo mệnh giá đạt 29
nghìn tỷ đồng. Xét riêng về mức vốn hoá cổ phiếu, toàn bộ thị trường chứng khoán chính
thức Việt Nam với 193 cổ phiếu vào phiên cuối năm, đã lên tới 220 nghìn tỷ đồng, tương
đương với 13,8 tỷ USD.
3. Giai đoạn năm 2007: Giai đoạn thị trường chứng khoán bùng nổ
08NH1
25